1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)

174 429 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

o0o

ĐINH THỊ THANH THỦY

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH

CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

o0o

ĐINH THỊ THANH THỦY

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH

CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 62.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS ĐẶNG VŨ HUÂN

2 TS VŨ QUANG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu nêu trong Luận án là trung thực Các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được công bố trong công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đinh Thị Thanh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận án xin được gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc nhất đến TS Đặng Vũ Huân và TS Vũ Quang - những người Thầy đã luôn tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả được học tập và hoàn thành được công trình nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đinh Thị Thanh Thủy

Trang 5

Thỏa thuận chung về thương mại dịch vụ

Hiệp định chung về thương mại hàng hóa và thuế quan

Luật KB, CB 2009 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009

Luật DN 2014 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Luật BHYT 2014 Luật Bảo hiểm y tế 2014

Tổ chức Y tế thế giới

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các hình vẽ, biểu đồ v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 21

Kết luận chương 1 24

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤKHÁM CHỮA BỆNH CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN 25

2.1 Khái quát dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân 25

2.2 Tổng quan pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân 45

Kết luận chương 2 63

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNHCỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64

3.1 Thực trạng pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam 64

3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân 96

Kết luận chương 3 121

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾTƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 122

4.1 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam 122

4.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam 130

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC BÀI VIẾT VÀ CÔNG TRÌNHCÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những hoạt động y

tế quan trọng và thiết yếu trong nền kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào, nhằm cung cấp cho người bệnh những phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh có hiệu quả nhất, đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân Mặc dù Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các dịch vụ y tế với mục tiêu đảm bảo cho người dân và các nhóm thu nhập được tiếp cận bình đẳng với y tế và chăm sóc sức khỏe, tuy nhiên, gánh nặng về tài chính, nhân lực dường như trở nên quá tải với hầu hết các Nhà nước Chính vì vậy, sự tham gia của các cơ sở y tế tư nhân trong cung ứng các dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh đã giúp người dân có nhiều

cơ hội lựa chọn loại hình dịch vụ khám chữa bệnh phù hợp với khả năng chi trả, giảm tình trạng quá tải của các cơ sở công lập và thực hiện mục tiêu xã hội hóa của chính sách y tế quốc gia là đạt tới sự công bằng hơn trong tiếp cận và sử dụng dịch

vụ khám chữa bệnh

Dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân là một ngành dịch vụ có điều kiện bởi, bên cạnh việc hàm chứa đặc tính tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp với mục tiêu phục vụ lợi ích của xã hội, dịch vụ khám chữa bệnh còn có tính đặc thù bởi tác động của nó đến an sinh xã hội và liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người, đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế điều tiết, quản lý, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ dịch vụ này bằng pháp luật, đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân và khắc phục các bất cập của nền kinh tế thị trường Thực hiện vai trò này, Nhà nước đã có những cơ chế kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế tư nhân thông qua việc quy định các điều kiện gia nhập thị trường (điều kiện hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, cơ sở vật chất, nguồn vốn, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề ), nhằm thừa nhận đây là ngành kinh doanh dịch vụ khám chữa bệnhcó điều kiện của các cơ sở y tế tư nhân, thực hiện mục tiêu xã hội hóa y tế Tuy nhiên, trên thực tế, Luật Khám bệnh, chữa bệnh

Trang 9

năm 2009 hiện đang có sự chồng chéo trong quy định về tổ chức, hoạt động cũng như quản lý Nhà nước đối với hệ thống cơ sở y tế công lập và y tế tư nhân, chưa phân tách được các dịch vụ y tế công do Nhà nước cung ứng và các dịch vụ y tế do

tư nhân cung cấp (vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường) để có cơ chế điều chỉnh thích hợp Sự lỏng lẻo trong quản lý nhà nước khi cho phép cán bộ y tế vừa làm việc tại cơ sở y tế công lập đồng thời cũng tham gia tại các cơ sở y tế tư nhân đã dẫn đến nhiều tác động tiêu cực như: Hiện tượng bác sĩ công làm tư do những mâu thuẫn lợi ích đã chuyển bệnh nhân từ cơ sở công lập về

cơ sở tư nhân của họ để khám và điều trị; sự thất thoát nguồn lực, lạm dụng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, vật tư, thuốc… của cơ sở y tế công lập để thực hành y tế tư nhân; hành vi lạm dụng điều trị vì mục đích lợi nhuận ở các cơ sở y tế tư nhân; hiện tượng hớt váng sữa (cream skimming) do các cơ sở y tế tư nhân chỉ phục vụ cho các khách hàng có khả năng chi trả và cung cấp các dịch vụ dễ thu lợi nhuận và đẩy các trường hợp khó cho các cơ sở công lập… Bên cạnh đó, trong thời gian qua, có rất nhiều cơ

sở tư nhân cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh hoạt động trái phép, không đủ điều kiện về cơ sở vật chất, bác sĩ thiếu năng lực chuyên môn cũng như điều kiện hành nghề , thậm chí, tình trạng thuê người có đủ tiêu chuẩn hành nghề khám chữa bệnh đứng tên nhưng điều hành cơ sở khám chữa bệnh lại là người khác cũng diễn ra khá phổ biến Cơ chế giá, mức giá do các cơ sở y tế tư nhân được tự quyết định và chỉ phải thực hiện niêm yết công khai giá nhưng việc kiểm soát giá cả dịch vụ này gần như không được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến việc nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư nhân tự ý đưa giá lên quá cao ảnh hưởng đến lợi ích người bệnh Thực tế này dẫn đến hậu quả, người bệnh không đạt được mục đích khám và điều trị bệnh cho mình, hoặc người bệnh phải điều trị dài ngày theo phác đồ của bác sĩ thay bằng những phương pháp điều trị dứt điểm hơn, gây tốn kém về chi phí mà không tương xứng với dịch vụ được cung ứng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh

Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng trên, trong đó có nguyên nhân về khả năng điều tiết toàn diện cũng như hiệu quả áp dụng của hệ thống quy phạm pháp luật trong việc điều tiết hành vi cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân chưa đáp ứng yêu cầu, chưa phù hợp với bản

Trang 10

chất của hoạt động cung ứng dịch vụ có tính đặc thù này Cơ quan quản lý Nhà nước chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí kiểm định chất lượng cơ sở khám chữa bệnh cho các bệnh viện, phòng khám tư nhân một cách toàn diện, tiến tới quản lý chất lượng bệnh viện theo chuẩn định, trong đó chất lượng điều trị và sự hài lòng của người bệnh được đặt lên hàng đầu Các chế tài xử lý của pháp luật hiện nay đối với các hành vi vi phạm quy chế chuyên môn, vi phạm điều kiện về đăng ký hành nghề khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân còn lỏng lẻo, thiếu tính răn đe

Với những lý do trên, việc nghiên cứu nhằm đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh trong các cơ sở

y tế tư nhân hiện nay là cần thiết, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân Đây cũng

chính là lý do để tác giả lựa chọn vấn đề “Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh

của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Luận án

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, các nhiệm vụ được xác định như sau:

Một là, thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về các

vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, từ đó, chỉ ra các vấn đề, luận điểm cần tiếp tục triển khai làm rõ trong phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài luận án

Trang 11

Hai là, nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ

sở YTTN, khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia đối với dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Ba là, khái quát, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật

về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra các vấn đề bất cập, hạn chế, phân tích nguyên nhân của những hạn chế, qua đó xác định căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Bốn là, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về

dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu về dịch vụ KCB trong các cơ sở

YTTN ở Việt Nam dưới góc độ là một dịch vụ được cung ứng cho con người nhằm mục tiêu lợi nhuận, hướng tới chủ thể là các cơ sở YTTN đáp ứng các điều kiện luật định và thực hiện cung ứng dịch vụ KCB cho người bệnh, có thu phí (không nghiên cứu các lĩnh vực y học cổ truyền, y học dự phòng, y tế công cộng và dược) Luận án cũng không nghiên cứu các dịch vụ KCB mà bên cung ứng là các cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cơ sở YTTN cho các đối tượng được thụ hưởng dịch vụ KCB nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc mục tiêu xã hội khác

Về không gian: Luận án nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực

hiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN trên phạm vi toàn quốc

Về thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở

YTTN từ năm 1989, thời điểm Luật Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành cho phép các cơ sở YTTN cung ứng các dịch vụ

y tế trên thị trường, đặc biệt là Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp điều chỉnh hoạt động KCB của các cơ sở YTTN

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra, Luận án còn áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp mô tả, tổng hợp, phân tích, thống kê, thu thập số liệu kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn…, cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nhằm nghiên cứu, tham khảo,

phân tích các sách, tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, các số liệu khoa học đã được công bố trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong luận án

để hình thành cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, cũng như xu hướng phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, xu hướng thị trường hóa ngành dịch vụ KCB trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay

- Phương pháp mô tả: được sử dụng để phác họa nội dung pháp luật liên quan

đến dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để chỉ ra những điểm tương đồng và

khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới về những vấn đề liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở các tài liệu thu thập được sẽ

phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn theo giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, đồng thời tổng hợp các số liệu mang tính định lượng và những vấn đề định tính nhằm đưa

ra các nhận định khách quan, toàn diện, khoa học về thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB của cơ sở YTTN, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam

5 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần luận giải rõ thêm

những vấn đề lý luận về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN và pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay; làm sáng tỏ vai trò của YTTN trong cung ứng các dịch vụ KCB trên thị trường, bên cạnh vai trò chủ đạo của y tế công lập thì chủ trương phát triển các cơ sở YTTN là bước đi đúng hướng của Đảng và Nhà nước ta

Trang 13

Thứ hai, Luận án đã góp phần làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực

hiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra các vấn đề tồn tại, hạn chế, đánh giá những nguyên nhâncủa hạn chế, qua

đó, xác định căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam

Thứ ba, những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB

trong các cơ sở YTTN được đề xuất trong luận án có khả năng ứng dụng ngay nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp luật trong điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch

vụ KCB của các cơ sở YTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về mặt khoa học, luận án là công trình khoa học được nghiên cứu chuyên sâu

dưới góc độ pháp lý về dịch vụ KCB, một loại dịch vụ đặc thù do các cơ sở YTTN cung ứng và nhu cầu điều chỉnh hiệu quả bằng pháp luật đối với loại dịch vụ này

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài luận án sẽ là công trình khoa

học có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu lập pháp, giảng dạy, học tập về pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ về y tế, đồng thời, sẽ góp phần trực tiếp vào việc nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu 4 chương (có kết luận cho từng chương), cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài

luận án

Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của

các cơ sở y tế tư nhân

Chương 3: Thực trạng pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y

tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám

chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CÁC VẤN ĐỀLIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TỔNGQUANTÌNHHÌNHNGHIÊNCỨU

Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách báo, bài viết của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh tổng quát tình hình nghiên cứu theo nhóm vấn đề như sau:

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về dịch

vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân

1.1.1.1 Nghiên cứu về dịch vụ, thương mạidịch vụ và dịch vụ y tế

Vấn đề dịch vụ được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Hồng Sơn - Nguyễn Mạnh Hùng định nghĩa dịch vụ “là quá trình lao động, sinh ra và mất đi cùng thời điểm với quá trình lao động đó, theo đó dịch vụ là một hàng hóa vô hình và có tính chất nhất thời” [39,tr.78].Dưới góc độ pháp luật, tác giả Phan Thảo Nguyên tiếp cận dịch vụ là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người, dịch vụ tham gia vào quá trình phân phối, lưu thông để thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, tổ chức và đời sống xã hội [31]

Giáo trình “Luật Thương mại” do TS Bùi Ngọc Cường chủ biên [13] đã xác

định cung ứng dịch vụ trong thương mại là những hoạt động được tiến hành nhằm mục đích sinh lợi, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại về bản chất giống như một hợp đồng dân sự tuy nội dung có những điểm khác biệt Bài viết của tác giả Bùi Ngọc Cường đã tóm tắt các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về thương mại dịch vụ và các cam kết cụ thể về mức độ mở cửa thị trường dịch vụ trong đó có dịch

vụ y tế, xác định lộ trình được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ kinh doanh kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO [14] Tác giả Cao Minh Nghĩa trong bài phân tích “Tổng quan lý thuyết về ngành kinh tế dịch vụ” lại đưa ra cách tiếp cận về dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn

Trang 15

đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời

sống sinh hoạt của con người [118]

Các nghiên cứu nói trên dù tiếp cận khái niệm, bản chất của dịch vụ dưới góc

độ của nhiều ngành khác nhau như kinh tế học, khoa học quản lý hay luật học theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, nhưng đều thống nhất, khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, được mua đi - bán lại trên thị trường, chịu sự chi phối của quy luật thị trường; mang tính chất đền bù, người sử dụng dịch vụ buộc phải trả một khoản tiền nhất định tương đương với giá trị dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ Đây là cơ sở nền tảng để tác giả luận án tiếp cận, kế thừa nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của dịch vụ KCB của các

cơ sở YTTN dưới góc độ là loại dịch vụ được cung ứng trong hoạt động thương mại

Ở ngoài nước, một công trình nghiên cứu đáng chú ý về đặc điểm thị trường

dịch vụ y tế là “The Economics of Public and private Roles in Health Care: Insights

from Institutional Economics and Organizational Theory”của nhóm tác

giảAlexander S Preker - April Harding đã khái quát đặc điểm thị trường DVYT, với những đặc điểm và rào cản gia nhập ngành của thị trường DVYT, đồng thời, nhóm tác giả cũng chỉ ra sự cần thiết của việc thiết lập môi trường cạnh tranh trong thị trường DVYT, bởi chỉ có cạnh tranh mới đảm bảo cho các chủ thể có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các nguồn vốn, hạn chế sức mạnh của các tập đoàn độc quyền chuyên nghiệptrong thị trường chăm sóc sức khỏe [61, tr10-19] Với đặc điểm của hệ thống y tế công tư hỗn hợp như Việt Nam, nghiên cứu này sẽ là nguồn tham khảo cho việc hoạch định chính sách thúc đẩy sự phát triển và cạnh tranh lành mạnh của y tế công tư

1.1.1.2 Nghiên cứu về y tế tư nhân và dịch vụ khám chữa bệnh của cơ sở y

tế tư nhân

Nghiên cứu về vai trò của YTTN trong cung ứng dịch vụ KCB, nhóm tác giả Sima Berendes, Peter Heywood, Sandy Oliver, and Paul Garner [96] đã thực hiện khảo sát nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại một số nước có thu nhập thấp và trung bình như khu vực Nam Á, Châu Phi, kết quả cho thấy, YTTN là nhà cung cấp các DVYT chính cho người nghèo ở Nam Á với tỷ lệ 65%, trẻ em bị bệnh

Trang 16

từ nhóm thu nhập nghèo nhất trên khắp 26 quốc gia Châu Phi là 45% Ngoại trừ giá

cả khá đắt đỏ của dịch vụ YTTN thì yếu tố tiện lợi, nhanh chóng và phục vụ chu đáo

là điểm cộng của khu vực YTTN Nhóm tác giả Sanjay Basu, Jason Andrews, Sandeep Kishore, Rajesh Panjabi, David Stuckler đã sử dụng phương pháp thu thập

dữ liệu để phân tích, so sánh hai hệ thống y tế công và YTTN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (một phần ba nghiên cứu thực hiện ở một số quốc gia khu vực Châu Phi và phần còn lại là khu vực Đông Nam Á) Các dịch vụ KCB của khu vực YTTN ở các nước thu nhập thấp và trung bình được đánh giá hiệu quả hơn, có trách nhiệm hơn so với khu vực y tế công Ngược lại, các khu vực công thường được đánh giá công bằng hơn trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với y tế tư Tác giả đưa ra giải pháp là đẩy mạnh đối tác công – tư, phối kết hợp hoạt động giữa y tế công

và tư để mang đến cho người bệnh những dịch vụ KCB có chất lượng và thuận tiện nhất [97] Một nghiên cứu về xu hướng phát triển của khối YTTN tại các quốc gia đang phát triển của tác giả S.Bennett đã phân tích nguyên nhân sự tăng trưởng mạnh

mẽ của các cơ sở YTTN Tác giả khẳng định, YTTN là một tồn tại tất yếu đối với các quốc gia đang phát triển do hạn chế về nguồn lực, vốn, ngân sách của khối y tế công, nhưng tác giả cũng chỉ ra những đe dọa nghiêm trọng của phương thức tài chính y tế này tới tính công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân [98, tr.97] Nhìn nhận về hiệu quả của mô hình bệnh viện hoạt động vì lợi nhuận so với các bệnh viện phi lợi nhuận, tác giả David M Cutler Jill R Horwitz đã tiến hành

nghiên cứu hai bệnh viện của Mỹ là: Wesley Medical Center in Wichita và

Colombia/HealthOne Symtem in Denver, Colorado Trường hợp Wesley Medical

Center in Wichita (tiền thân là Wesley Hospital) hoạt động phi lợi nhuận nhưng do gặp khó khăn về tài chính, không thể trả được các khoản nợ, trước áp lực phải đổi mới nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như cơ sở vật chất của bệnh viện, Wesley Hospital đã bị bán lại cho tập đoàn bệnh viện của Mỹ đó là bệnh viện Corporation of America (HCA), một tập đoàn bệnh viện hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận lớn nhất nước Mỹ, ngày nay có tên gọi Wesley Madical Center và đang hoạt động rất có hiệu quả Bệnh viện thứ hai là Columbia – Health One với mô hình phi lợi nhuận cũng gặp phải khó khăn về tài chính và khoản nợ lớn, sau khi chuyển sang mô hình hoạt

Trang 17

động vì mục tiêu lợi nhuận đã giúp họ tiếp cận được nguồn vốn, giảm bớt được gánh nặng nợ nần, có điều kiện đầu tư các trang thiết bị mới trong khi đó hầu hết các cơ sở cung ứng DVYT phi lợi nhuận gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc tiếp cận với những nguồn vốn đầu tư Nghiên cứu cũng không tìm thấy bằng chứng về việc các bệnh viện hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận giảm chất lượng và giảm bớt cơ hội tiếp cận DVYT của người nghèo, mặc dù thước đo tính hiệu quả vẫn chưa hoàn thiện [80,tr45-90] Nghiên cứu chỉ đề cập đến những tác động tích cực của việc mua bán sáp nhập và chuyển đổi mô hình bệnh viện từ hoạt động phi lợi nhuận sang mục tiêu lợi nhuận mà chưa đề cập đến những tác động tiêu cực của các vụ sáp nhập bệnh viện cũng như hạn chế của mô hình hoạt động vì lợi nhuận của các bệnh viện trên thực tế

Ở trong nước, tác giả Nguyễn Hoài Nam đã đề cập đến vai trò bước đầu của YTTN trong xã hội, chỉ ra bằng chứng về hiệu quả mà YTTN mang lại ở các nước phát triển, khi số lượng bệnh viện công chỉ chiếm 1/5 trong tổng số bệnh viện quốc gia, còn lại là các bệnh viện tư Các bệnh viện tư này thực sự hoạt động hiệu quả dưới sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ với đội ngũ thầy thuốc giỏi, được đào tạo bài bản, với hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ người bệnh và người thầy thuốc Khu vực YTTN phát triển được dựa trên cơ sở y tế dịch vụ và y tế phục vụ [114] Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh đã phân tích bản chất của kinh tế tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công, phân tích đánh giá thực trạng phát triển của dịch vụ YTTN ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Ở góc độ luận văn, tác giả cũng đã chỉ ra những bất cập trong việc phát triển dịch vụ YTTN ở Việt Nam hiện nay [30, tr32-43] Đề tài NCKH cấp Bộ về “Sự phát triển của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam” đã phân loại các cơ sở YTTN theo loại hình cung cấp dịch vụ, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới các dịch vụ đó và kết luận: Các bệnh viện tư nhân ở nước ta mặc dù được luật cho phép hoạt động nhưng đến nay vẫn không phát triển vì thiếu cơ chế bảo vệ về pháp lý cho các hoạt động của bệnh viện tư; tỷ lệ đóng thuế cao, không có chính sách khuyến khích đầu tư đối với các dịch vụ

y tế tư; thiếu chính sách khuyến khích vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp cho việc đầu tư các dịch vụ y tế; xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh giữa y tế công và

Trang 18

YTTN thông qua việc quảng cáo không đúng với chất lượng thực tế Đề tài cũng đưa

ra khuyến nghị cụ thể về việc cần thiết phải xác định vai trò và vị trí của bệnh viện tư nhân; bảo vệ về mặt pháp lý các hoạt động nghề nghiệp của khu vực YTTN; khuyến khích sự tham gia của các Hiệp hội chuyên môn trong việc đánh giá hoạt động của YTTN; niêm yết giá của các dịch vụ YTTN; xác định vai trò của y tế công trong việc thúc đấy sự phát triển YTTN; phát triển kỹ thuật y học và việc sử dụng hợp lý các loại hình dịch vụ [19] Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài đã lâu (năm 1998), nên các số liệu đánh giá cũng như phân tích thực trạng về DVYT do bệnh viện tư nhân cung ứng đã có nhiều thay đổi cùng với điều kiện phát triển của kinh tế xã hội đất nước Dưới góc độ một báo cáo nghiên cứu do tổ chức Actionaid VietNam thực hiện[8] đã đưa ra những đánh giá: khu vực YTTN đã có những đóng góp tích cực cho hoạt động chăm sóc sức khỏe người bệnh, nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, góp phần giảm thiểu quá tải bệnh viện cho các bệnh viện công…Bên cạnh đó, còn những hạn chế liên quan tới vấn đề công bằng xã hội và chất lượng KCB tại các

cơ sở YTTN, vì mục tiêu lợi nhuận nên nhiều cơ sở YTTN chỉ chú trọng cung cấp các loại hình dịch vụ ít rủi ro, lợi nhuận cao (như sản phụ khoa, răng hàm mặt, xét nghiệm cận lâm sàng ); chủ yếu phục vụ bệnh nhân có khả năng chi trả cho dịch vụ KCB với mức phí cao hơn tại các cơ sở công Các cơ sở YTTN được đánh giá tốt hơn các cơ sở y tế công ở thái độ phục vụ và các dịch vụ hỗ trợ, nhưng chưa đảm bảo chất lượng điều trị với các ca bệnh phức tạp Điều này dẫn tới sự mất công bằng trong xã hội, giảm khả năng tiếp cận loại hình DVYT của người dân đặc biệt là những người có thu nhập thấp, trong khi chưa chứng minh được chất lượng dịch vụ YTTN tốt hơn khu vực công lập Tuy nhiên, báo cáo cũng khẳng định, việc phát triển khu vực YTTN là cần thiết đối với Việt Nam hiện nay, vì vậy để khu vực này hoạt động có hiệu quả, thực hiện công bằng xã hội cũng như đảm bảo chất lượng KCB cần có sự quản lý chặt chẽ và định hướng quản lý phù hợp của Nhà nước Dưới cấp

độ luận văn, tác giả Bùi Thị Hằng đã tiếp cận vấn đề “Đẩy mạnh phát triển dịch vụ y

tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Định” nhằm làm rõ những vấn đề về mặt lý luận và

cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh phát triển YTTN trong điều kiện hiện nay, phân tích đánh giá thực trạng của YTTN trong cung ứng các dịch vụ KCB trên địa bàn

Trang 19

tỉnh Bình Định, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của khu vực YTTN trên địa bàn tỉnh Bình Định [23, tr65-80]

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu điều chỉnh pháp luật về dịch

vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân

Kinh nghiệm thành công của Xing-ga-po khi áp dụng quy định chuyển một phần gánh nặng chi phí y tế từ khu vực công sang khu vực tư nhân đã được phác họa trong nghiên cứu của tác giả Meng - Kin Lim [88] Nghiên cứu cho thấy, các khoản chi cho y tế của Xing-ga-po từ chỗ phụ thuộc vào nguồn thuế của Chính phủ đã chuyển sang huy động sự đóng góp của cả hai khu vực y tế công và tư nhân bằng việc thiết lập ba mạng lưới, đó là: (i) Tài khoản tiết kiệm y tế (medisave) cho cá nhân

và bắt buộc thu từ 6- 8% theo lương, đây là một phần mở rộng của quỹ tiết kiệm Trung ương (CPF) Tài khoản này được dùng để chăm sóc bệnh nhân khi mắc những bệnh cấp tính, hiểm nghèo, chia sẻ rủi ro cho các thành viên trong gia đình hoặc được chuyển quyền thụ hưởng tài khoản này cho thân nhân khi chủ tài khoản bị chết; (ii) Bảo hiểm y tế (medishield) được thiết kế bắt buộc đối với toàn bộ người dân Xing-ga-po phải mua trước khi mua các bảo hiểm bổ sung khác theo phương thức đồng chi trả; (iii) Bảo hiểm y tế cho người nghèo (medifund) dùng để thanh toán cho người nghèo không có khả năng chi trả các khoản thanh toán của bệnh viện Với cơ chế tài chính năng động, đa tầng, đa diện, Xing-ga-po đã xây dựng được hệ thống bệnh viện bao gồm cả hệ thống bệnh viện công và bệnh viện tư nhân, người bệnh hoàn toàn được tự do lựa chọn khám và điều trị ngoại trú tại các cơ sở KCB tư nhân Kinh nghiệm của Xing-ga-po cho thấy việc kết hợp sử dụng nguồn lực tư nhân và nhà nước để phục vụ cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà vẫn đảm bảo cho hệ thống

y tế đạt mục tiêu hiệu quả và công bằng, có nhiều điểm phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay khi ngân sách nhà nước còn quá eo hẹp, cần phải huy động nguồn lực từ khu vực YTTN.Tác giả Audrey Chapman tiếp cận quyền con người dưới khía cạnh được thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trên thực tế, vì yếu tố lợi nhuận nên nhiều DVYT do YTTN cung cấp trên thực tế không tương thích với các nội dung nhân quyền mà họ đã cam kết So sánh hệ thống quản lý của Nhà nước đối với khu vực YTTN trong các quốc gia phát triển có sự khác biệt với các quốc gia

Trang 20

đang/kém phát triển Đối với các quốc gia phát triển, hệ thống quản lý nhà nước về y

tế rất hiệu quả, điều tiết được giá cả, chất lượng dịch vụ do YTTN cung cấp trên thị trường, đảm bảo quyền con người Tính hiệu quả đó được thể hiện qua các chính sách về bảo hiểm, cơ chế khuyến khích sự cạnh tranh trong hai khu vực y tế công và

tư về pháp luật, thuế và ưu đãi xã hội [63, tr122-133] Đây là những kinh nghiệm quý cho các quốc gia trong việc quản lý và điều tiết hệ thống y tế công cộng và tư nhân,

trong đó có Việt Nam.Tác giả Nguyễn Huy Quang với Luận án tiến sĩ “Quản lý Nhà

nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay” trên cơ sở nghiên cứu

những vấn đề lý luận và thực trạng của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế, đồng thời phân tích thực trạng xây dựng, ban hành và thực hiện cũng như công tác xử lý các vi phạm pháp luật về y tế của nước ta hiện nay, qua đó tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế, trong đó có quản lý nhà nước đối với các cơ sở YTTN [38, tr157-176]

Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng dịch vụ, tác giả Phạm Hoàng Giang đã xác định bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận (thống nhất ý chí tự chủ) của các bên và xác định hai nội dung cơ bản của tự do giao kết hợp đồng, đưa ra nguyên tắc công bằng trong giao kết hợp đồng và sự cần thiết của sự can thiệp vào quan hệ hợp đồng nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do hợp đồng của bên yếu hơn [22] Nghiên cứu của TS Phạm Duy Nghĩa về sự cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước trong việc xử lý thông tin bất cân xứng giữa các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là nghĩa vụ tiết

lộ thông tin của bên có thông tin và quản lý rủi ro Đề xuất các biện pháp quản lý rủi

ro hợp đồng gồm nghĩa vụ trung thành, nghĩa vụ cẩn trọng và nghĩa vụ tiết lộ thông

tin [33]

Liên quan đến pháp luật về đối tác công - tư (PPP), cuốn sách “Guidebook on

Public–Private Partnership in Hospital Management”[62] được thực hiện khá công

phu với hệ thống bảng biểu, mẫu điều tra và báo cáo các mô hình PPP của một số nước trong khu vực như Philippin, Xing-ga-po, trong đó nêu lên sáu bước phát triển hình thức PPP trong quản lý bệnh viện, bao gồm: (i) Xác định nhu cầu và xem xét các DVYT hiện nay; (ii) Xác định các bên liên quan và vai trò của họ; (iii) Xây dựng

kế hoạch thực hiện PPP trong quản lý bệnh viện; (iv) Xây dựng kế hoạch tiếp thị và

Trang 21

xúc tiến xã hội; (v) Tiến hành ký kết hợp đồng; (vi) Thực hiện quan hệ PPP Những thách thức và cơ hội của quan hệ PPP cũng được đề cập Đề tài nghiên cứu cấp Bộ doViện Chiến lược và Chính sách y tế và Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ y tế)phối hợp thực hiện đã phân tích các hình thức phối hợp PPP trong lĩnh vực KCB và dự phòng

từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới; đồng thời tiến hành phân tích, rà soát khung pháp lý liên quan đến hoạt động của YTTN và phối hợp PPP trong lĩnh vực y tế của Việt Nam hiện nay, xác định 05 hình thức phối hợp PPP trong đầu tư tài chính thông qua hợp đồng liên doanh liên kết mua sắm trang thiết bị tại các cơ sở y

tế công lập; cung ứng dịch vụ KCB bảo hiểm y tế; cung ứng các dịch vụ cận lâm sàng; cung ứng các dịch vụ phi y tế; cung ứng nguồn nhân lực và đào tạo nhân lực Một số khuyến nghị cũng được nhóm nghiên cứu đề xuất nhằm mở rộng hợp tác PPP trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam hiện nay [21] Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài

từ năm 2011, hiện nay mặt trái của cơ chế thị trường đã bộc lộ rõ trong quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ sở YTTN nên những nghiên cứu và đề xuất đưa ra

chưa tổng quát hết thực trạng dịch vụ KCB của YTTN hiện nay Hội thảo “Kết hợp

công tư (PPP) trong cung cấp dịch vụ y tế Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình”, do Bộ Y tế và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các đại biểu tham gia đều

cho rằng, việc tìm kiếm mô hình PPP phù hợp, hiệu quả ở Việt Nam không đơn giản khi khung pháp lý về vấn đề này chưa hoàn thiện; chưa có chiến lược cụ thể cho hình thức hợp tác này; thiếu diễn đàn chia sẻ thông tin… Do đó, nhiều ý kiến cho rằng cần thực hiện thí điểm một vài dự án PPP cụ thể trong lĩnh vực y tế, qua đó tổng kết, rút kinh nghiệm để đưa ra những điều chỉnh cụ thể về cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó trọng nhất là phải xác định các chính sách cụ thể đối với hợp tác PPP trong lĩnh vực y tế với 3 lĩnh vực chính: Đất đai, vốn, nguồn nhân lực[24] Dưới góc độ luận văn thạc sĩ, tác giả Võ Quốc Trường đã đề cập đến hình thức PPP trong y tế, một trong những giải pháp chính tháo gỡ nút thắt huy động vốn trong bối cảnh các nước đều có xu hướng cắt giảm đầu tư công Đó là sự phối kết hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa khu vực y tế nhà nước và YTTN nhằm cung ứng các DVYT cho mọi đối tượng, mọi khu vực, với mục tiêu những người thu nhập thấp cũng được tiếp cận với các DVYT có chất lượng [42]

Trang 22

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN được nghiên cứu dưới khía cạnh quản lý nhà nước về chính sách, pháp luật Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện trong các lĩnh vực kinh tế học, hành chính hoặc y tế công cộng…và hiện còn khá hạn chế trong lĩnh vực luật học Liên quan đến chính sách dành cho các bệnh viện tư ở Việt Nam, Trịnh Hòa Bình và các cộng sự [10] đánh giá, mặc dù YTTN có tốc độ phát triển rất mạnh mẽ nhưng chưa được hưởng những ưu đãi cần thiết, đặc biệt về tài chính, điều này làm tăng tính bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe giữa các y tế công và tư Tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các bệnh viện tư như ưu đãi về tài chính, chính sách giá, đất đai Khi nghiên cứu hoạt động của YTTN tại thành phố Hà Nội, tác giả Trần Quang Trung đã chỉ ra những ưu điểm nổi bật của y tế tư nhân với chất lượng phục vụ cao Kết quả điều tra nghiên cứu cũng chỉ ra tình hình cơ sở vật chất nghèo nàn của các phòng khám (do hạn chế về mặt bằng, phí đầu tư cao ), nhiều cơ sở YTTN vi phạm quy chế chuyên môn, quy định về giá [40] Đề tài nghiên cứu cấp

Bộ được thực hiện giữa Viện Chiến lược và Chính sách y tế và Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc tế Nossal thuộc trường Đại học Melbourne, Australia điều phối, được nghiên cứu tại 3 nước là Indonesia, Papua New Guinea và Việt Nam [20] Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển của YTTN từ năm 2004 đến năm 2008, số lượng bệnh viện tư tăng gấp đôi Tuy nhiên bệnh viện tư chỉ chiếm 7% tổng số bệnh viện

và 4,4% tổng số giường so với bệnh viện công và tập trung chủ yếu tại các khu đô thị Chính sách hỗ trợ về đất đai và thuế cho các bệnh viện tư nhân không được thực hiện đồng bộ ở các địa phương Mặc dù Luật KB, CB 2009 khuyến khích các cơ sở YTTN hoạt động không vì lợi nhuận nhưng thực tế hầu như không thực hiện được Hiện nay còn thiếu những chính sách về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất cũng

như quản lý chất lượng dịch vụ phù hợp cho các bệnh viện tư Nghiên cứu“Thực

trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân”do Bộ y tế phối hợp thực hiện cùng tổ

chức Sida Thụy Điểnđã sử dụng hàng loạt các phương pháp nghiên cứu khá quy mô nhằm đánh giá thực trạng của khu vực YTTN (về quy mô, loại hình hoạt động, phân

bố, xu hướng phát triển cũng như các chính sách ảnh hưởng đến hoạt động của YTTN của một số quốc gia đang phát triển trên thế giới và ở Việt Nam), từ các

Trang 23

nghiên cứu bàn giấy và nghiên cứu thực địa (xây dựng bản đồ cơ sở y tế, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu người hành nghề YTTN, cơ sở YTTN, người sử dụng dịch

vụ YTTN…), xây dựng bản đồ phân bố các loại hình cơ sở YTTN và các cơ sở y tế Nhà nước tại hai địa điểm là Huyện Việt Yên và Thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang), làm rõ những vấn đề ưu tiên cần giải quyết của khu vực YTTN, trong đó có dịch vụ KCB do YTTN cung ứng Nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp để phát huy vai trò và tiềm lực của YTTN trong cung ứng DVYT có chất lượng dưới khía cạnh quản lý nhà nước, đào tạo nhân lực y tế, thu thập thông tin y tế [17, tr53-57] Có thể nói đây là nghiên cứu đầu tiên toàn diện, có sử dụng các điều tra y tế khoa học về hoạt động của YTTN, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và chất lượng cung ứng của YTTN

Tác giả Trần Văn Tiến với bài “Y tế tư nhân và kỳ vọng về khả năng đáp ứng

của y tế tư nhân cho mục tiêu hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân” đã đưa ra

một số bằng chứng về tính hiệu quả của YTTN ở một số nước phát triển, đặc biệt là những nước có nền tài chính y tế dựa trên thuế trong cung ứng dịch vụ KCB vì mục tiêu lợi nhuận theo hai khía cạnh: (i) chi phí ở YTTN vì lợi nhuận đắt đỏ hơn so với chi phí của y tế hoạt động phi lợi nhuận; (ii) chất lượng dịch vụ KCB ở khu vực tư nhân vì lợi nhuận kém hơn y tế công Quan điểm của tác giả cho rằng chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, trong đó có khuyến khích sự phát triển của YTTN trong giai đoạn hiện nay, khi YTTN mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong hệ thống cung ứng dịch vụ KCB, là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Song về lâu dài, cần có sự cân nhắc một cách thận trọng để đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe không trở thành một lĩnh vực kinh doanh vì lợi nhuận Bài viết của tác giả mặc dù trích dẫn những số liệu nghiên cứu của một số tạp chí có uy tín trên thế giới như tạp chí British Medical Journal của Anh, Tạp chí hiệp hội y khoa Canada, tuy nhiên, dưới khía cạnh pháp luật, bài viết chưa đánh giá những nguyên nhân, hạn chế của vấn đề này [41, tr39-44] Luận án của tác giả Trịnh Minh Hoan phân tích thực trạng vai trò YTTN trong chăm sóc sức khoẻ hiện nay dưới góc nhìn

xã hội học, đồng thời cũng đánh giá những tác nhân ảnh hưởng đến hoạt động của YTTN và dự báo xu hướng biến đổi của YTTN theo định hướng đẩy mạnh công

Trang 24

nghiệp hoá, hiện đại hoá [25] Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Nguyệt Nga phân tích các chính sách thu viện phí, chính sách bảo hiểm y tế và sự phát triển của khu vực YTTN, đánh giá những ảnh hưởng của các chính sách này trong việc sử dụng các DVYT của người dân nói riêng và hoạt động của ngành y tế nói chung [32]

Nghiên cứu của tác giả Trần Quang Trung với đề tài “Nghiên cứuthực trạng hoạt

động của các cơ sở hành nghề y tư nhân tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và một số giải pháp can thiệp” đã phân tích thực trạng hoạt động hành nghề y tư nhân

tại ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh với các số liệu điều tra khá cụ thể, từ cơ cấu lĩnh vực hành nghề, cơ sở hạ tầng, thiết bị nhân lực… đến thực trạng vi phạm các quy định về chuyên môn, kỹ thuật trong hành nghề y tư nhân Qua

đó, luận án cũng đề xuất một số giải pháp can thiệp có hiệu quả trong quản lý hành nghề y tư nhân ở nước ta hiện nay [43, tr65-100] Mặc dù không phải là luận án về luật học và khía cạnh điều chỉnh của pháp luật chưa được nghiên cứu, song các số liệu và đánh giá điều tra rất công phu của tác giả là nguồn tài liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh tham khảo để sử dụng phân tích, đánh giá cơ cấu, phạm vi hoạt động của các cơ sở YTTN khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về dịch vụ KCB của cơ sở YTTN

Không trực tiếpnghiên cứu về dịch vụ KCB của YTTN, song nhóm tác giả

Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hoài trong cuốn sách “Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở

Việt nam” đã chỉ ra tính tất yếu phải đổi mới dịch vụ công, trong đó có dịch vụ y tế -

với tính chất là dịch vụ công, kiến nghị một số giải pháp, trong đó có việc đẩy mạnh

sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ y tế, ngoài các cơ sở y

tế công lập thì cần phát triển YTTN như là cách thức tạo ra sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng y tế tại các cơ sở công và thỏa mãn nhu cầu của người dân Sự tham gia của xã hội dân sự trong kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các chủ thể cung ứng dịch vụ công cũng được tác giả nhấn mạnh bao gồm: đóng góp ý kiến hoàn thiện chính sách của Nhà nước; kiểm tra, giám sát chất lượng các dịch vụ công; quan tâm

và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng [2, tr56-70] Những phân tích, đề xuất giải pháp để đổi mới cung ứng dịch vụ công sẽ được nghiên cứu sinh tiếp cận, trong đó

có vai trò của các Hội nghề nghiệp y và các tổ chức nghề nghiệp trong quản lý hoạt

Trang 25

động dịch vụ KCB của YTTN Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Lệ Xuân với đề tài

“Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận – thực tiễn và giải pháp” đã đề xuất các giải

pháp nhằm hoàn thiện chính sách XHH y tế ở Việt Nam hiện nay, trong đó có giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống YTTN, bao gồm: hoàn thiện hệ thống văn bản về giá, các quy định về điều kiện hành nghề, quy mô tổ chức, mô hình hoạt động của YTTN, kiến nghị Nhà nước cần có các chính sách ưu đãi đặc biệt đối với hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân vào lĩnh vực KCB [58, tr87-160] Tuy nhiên, tác giả mới đề cập đến việc hoàn thiện chính sách pháp luật về phát triển YTTN ở góc

độ kinh tế học mà chưa phân tích và nghiên cứu dưới góc độ pháp luật đối với dịch

vụ KCB của các cơ sở YTTN Đây cũng là mảng trống cần tiếp tục nghiên cứu để

thực hiện tốt chủ trương XHH y tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Trong bài “Sự

phát triển và vai trò của y tế tư nhân trong chăm sóc sức khỏe ở Việt nam”,tác giả

Nguyễn Thị Thắng đã bước đầu đề cập đến các chính sách của nhà nước ta hiện nay đối với sự phát triển của YTTN (từ năm 1995 đến năm 2010), đưa ra nhận định, để khu vực YTTN phát triển bền vững và đúng định hướng công bằng và hiệu quả thì các công

cụ chính sách cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung phù hợp [44, tr56-57]

Nghiên cứu dưới khía cạnh chính sách cạnh tranh giữa các cơ sở y tế công và YTTN, tác giả Trương Bảo Thanh cho rằng, các tiêu chí hiệu lực thực thi của chính sách cạnh tranh trong cung ứng DVYT ở Việt Nam rất thấp, tính tuân thủ luật pháp chưa cao, tiêu chí công bằng và hiệu quả không đảm bảo Luận án cũng đề xuất một

số giải pháp hoàn thiện, đó là hoàn thiện hệ thống luật pháp và “luật chơi” kinh tế về cạnh tranh trong cung ứng DVYT, tạo dựng môi trường công bằng, lành mạnh giữa các chủ thể cung ứng DVYT [45]

1.1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án kế thừa Thứ nhất, các tác giả khi nghiên cứu về hệ thống YTTN trong cung ứng các

DVYT, trong đó có dịch vụ KCB đều cho rằng, YTTN là một bộ phận quan trọng trong hệ thống y tế công lập của các quốc gia, tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe người dân, giảm gánh nặng về tài chính cho ngân sách quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển

Thứ hai, bên cạnh những đóng góp tích cực của cơ sở YTTN, trên thực tế còn

Trang 26

những bất cập liên quan tới vấn đề công bằng xã hội và chất lượng KCB tại các cơ sở YTTN, bởi phần lớn mục đích hoạt động của cơ sở YTTN là kinh doanh vì lợi nhuận hơn hơn là thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội

Thứ ba, trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các tác

giả đều đánh giá: chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, trong đó khuyến khích sự phát triển của YTTN trong cung ứng dịch vụ KCB là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, để khu vực YTTN phát triển bền vững, đúng định hướng công bằng và hiệu quả thì các công cụ chính sách của Nhà nước cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung phù hợp

Thứ tư, nhiều công trình nghiên cứu đã thực hiện điều tra xã hội học, điều tra

thực địa…cung cấp các số liệu có giá trị và đáng tin cậy về thực trạng hoạt động của các cơ sở YTTN cũng như dịch vụ KCB do các cơ sở YTTN cung ứng trên thị trường Việt Nam hiện nay

Thứ năm, một số nghiên cứu thông qua việc đánh giá hoạt động của các cơ

quan quản lý Nhà nước về YTTN đã đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với YTTN hoặc đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật trong những lĩnh vực cụ thể như y tế dự phòng, y dược học cổ truyền, chăm sóc sức khỏe sinh sản…

Thứ sáu, nhiều công trình nghiên cứu khá chi tiết về mô hình đối tác công - tư

(PPP) trong cung ứng các DVYT tại các nước trên thế giới như Xingapore, Australia, Braxin, Ấn độ…đã áp dụng khá thành công Đối với Việt Nam, thực hiện mô hình PPP phù hợp thực sự là giải pháp cấp bách nhằm khai thông môi trường đầu tư trong

y tế và góp phần giảm tải cho các bệnh viện công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Thứ bảy, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các kết quả của các công

trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện luận án với các nội dung (i) Khái niệm, đặc điểm dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, từ yêu cầu điều chỉnh pháp luật, làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN; (ii) Thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, làm rõ nguyên nhân của

Trang 27

những hạn chế; (iii) Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực hiện thành

công chính sách XHH về y tế của Nhà nước ta

1.1.4 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được lý giải đầy đủ hoặc chưa được nghiên cứu sâu, đặc biệt dưới góc độ luật học, đó là:

Thứ nhất, nghiên cứu nội hàm của dịch vụ KCB do các cơ sở YTTN cung

ứng nhằm xác định bản chất của loại hình dịch vụ này là một loại hình dịch vụ công

mở rộng được Nhà nước cho phép tư nhân cung cấp, chịu sự quản lý của Nhà nước

về tổ chức và hoạt động

Thứ hai, nhận diện những đặc thù của dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN,

mặc dù với đặc tính tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động cung ứng các dịch vụ KCB cho người bệnh, tuy nhiên do tính chất của các dịch vụ KCB có liên quan chặt chẽ đến sức khỏe, tính mạng người bệnh nên cần thiết phải có những quy định nhằm điều chỉnh dịch vụ đặc thù này

Thứ ba,nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về

dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay.Các công trình nghiên cứu hiện nay phần lớn mới chỉ tiếp cận về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở một số địa phương cụ thể hoặc tiếp cận dưới góc độ kinh tế hay quản lý hành chính Nhà nước, trong khi đó, tính chất đặc thù của loại hình dịch vụ này liên quan mật thiết đến sức khỏe, tính mạng của con người Thậm chí, liên quan đến xác định vai trò,

vị trí của YTTN ở mức độ nào trong hệ thống y tế quốc gia để có những thiết chế

pháp luật điều chỉnh phù hợp, hiện vẫn tồn tại hai luồng quan điểm: Một là, YTTN

phần lớn vẫn dành cho người có thu nhập trong xã hội, có khả năng chi trả Theo quan điểm này, chi phí KCB của YTTN do yếu tố lợi nhuận nên đắt đỏ hơn y tế công

nhưng thực tế chất lượng điều trị kém y tế công; Hai là, sự đóng góp của YTTN với

nền kinh tế quốc gia là không thể phủ nhận thông qua việc san sẻ gánh nặng chi trả của Nhà nước cho y tế, tăng nguồn thu cho ngân sách và đáp ứng nhu cầu được KCB

có chất lượng của người dân Chính vì vậy, luận án cần khái quát, phân tích và

Trang 28

đánh giá thực trạng pháp luật và quá trình thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN hiện nay như:

(i) Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN thông qua việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hình thức tổ chức, phạm vi cung ứng dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN; các điều kiện cung ứng dịch vụ KCB; hợp đồng cung ứng dịch vụ KCB cũng như vấn đề quản lý nhà nước hiện nay đối với dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN

(ii) Chỉ rõ những vấn đề tồn tại, xác định nguyên nhân, bất cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, trên cơ sở đó,đề xuất định hướng hoàn thiện và giải pháp cụ

thểnhằmhoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về dịch vụ KCB của các

cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay

1.2 CƠSỞLÝTHUYẾTNGHIÊNCỨU

1.2.1 Một số lý thuyết nghiên cứu được sử dụng

- Luận án sử dụng học thuyết Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà

nước và pháp luật, trong đó đặc biệt là hệ thống các tri thức về thực hiện pháp luật

- Các học thuyết, tư tưởng về quyền con người dựa trên các nguyên tắc: dân chủ, công bằng, bình đẳng, thừa nhận giá trị con người, trong đó có quyền cơ bản của con người là quyền được khám chữa bệnh và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

- Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh với tính cách là một quyền cơ bản của công dân (được ghi nhận từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013) Các tổ chức, cá nhân được thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình theo trình tự, thủ tục luật định, đảm bảo an toàn trong kinh doanh và không xâm phạm các lợi ích xã hội khác

- Lý thuyết về hợp đồng dịch vụ (thương mại)

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Thế nào là dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN? Đặc điểm dịch vụ

KCB của các cơ sở YTTN trong hệ thống y tế là gì?

Câu hỏi 2: Thế nào là pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN? Đặc

điểm, yêu cầu điều chỉnh của pháp luật và nội hàm cơ bản của pháp luật về dịch vụ

Trang 29

KCB trong các cơ sở YTTN?

- Câu hỏi 3: Thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về dịch vụ KCB

trong các cơ sở YTTN như thế nào? Những quy định hiện hành liệu đã phù hợp với bản chất đặc thù của dịch vụ KCB và phù hợp với định hướng phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập của Việt Nam hay chưa? Thực tiễn thực hiện pháp luật và các vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay ra sao? Những yếu tố gì ảnh hưởng đến việc cung ứng dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN trong mối liên hệ với khu vực y tế nhà nước?

Câu hỏi 4: Những yêu cầu, định hướng nào được đặt ra khi nghiên cứu bổ

sung và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN?

Câu hỏi 5: Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao cơ

chế thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay?

1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Là một bộ phận của hệ thống y tế, YTTN đã từng bước phát huy vai trò của mình trong công tác KCB, tư vấn sức khỏe và chăm sóc y tế, làm gia tăng đáng kể khả năng tiếp cận DVYT của mọi tầng lớp người dân và có đóng góp nhất định trong

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tải bệnh nhân cho các cơ sở y tế Nhà nước

Với đặc tính tối đa hóa lợi nhuận của các cơ sở YTTN và đặc thù riêng của dịch vụ KCB liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người do các cơ sở YTTN thực hiện đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật phù hợp, với mục đích đảm bảo sự quản lý nhà nước bằng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cung ứng dịch vụ KCB tại các cơ sở YTTN Hiện còn nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến pháp luật về dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN Các nghiên cứu về mặt lý luận dưới góc độ pháp luật đối với dịch vụ KCB của YTTN còn hạn chế, việc tham khảo pháp luật các quốc gia về loại hình dịch vụ KCB của YTTN chưa đầy đủ, tổng thể

Hệ thống pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội và nhu cầu của người dân, bộc

Trang 30

lộ nhiều hạn chế và bất cập trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay như: các quy định về điều kiện cấp CCHN chưa phù hợp; thiếu quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bác sĩ và người hành nghề… Thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ KCB của YTTN hiện nay bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như cơ chế chính sách, định kiến xã hội đối với YTTN, thiếu những nghiên cứu toàn diện về YTTN… nên các cơ

sở YTTN gặp rất nhiều khó khăn trong tổ chức cung ứng các dịch vụ KCB trên thị trường

Hiện nay, chưa có phương hướng và giải pháp một cách tổng thể, hợp lý

để sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, nhằm thúc đẩy sự phát triển của loại dịch vụ YTTN ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp bách về KCB có chất lượng của nhân dân

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về dịch vụ, thương mại dịch vụ và những khía cạnh liên quan đến pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhâncho thấy, các nghiên cứu đã phác họa tương đối đầy đủ dưới phương diện lý luận về đặc điểm của dịch vụ, dịch vụ khám chữa bệnh Đồng thời, ở góc độ pháp luật, một số nghiên cứu cũng bước đầu tìm hiểu, phân tích thực trạng hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân hiện nay trong cung ứng các dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ khám chữa bệnh, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với dịch vụ y tế của các cơ

sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân, đánh giá những hạn chế và bất cập trong trong quy định của pháp luật hiện hành, xác định định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam Vì vậy, việc

lựa chọn đề tài“Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở

Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu là không trùng lặp và hoàn toàn mới so với

bất kỳ công trình nào đã công bố trước đây

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các nghiên cứu liên quan, tác giả đã xác định những nội dung cần triển khai nghiên cứu trong luận án Đồng thời, tác giả cũng đã

dự kiến lý thuyết nghiên cứu, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu nhằm hình thành các luận điểm nghiên cứu trong nội dung của luận án trong các chương tiếp theo

Trang 32

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ

KHÁM CHỮA BỆNH CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN

2.1 KHÁI QUÁT DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA CÁC CƠ SỞ Y

TẾ TƯ NHÂN

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ khám chữa bệnh

2.1.1.1 Khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh

Dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) là loại dịch vụ bao gồm hai hoạt động khám bệnh và chữa bệnh với mục tiêu cung ứng cho người bệnh các phương thức chăm sóc sức khỏe hiệu quả.Khái niệm khám bệnh hiện nay chưa có sự thống nhất trong các tài liệu nghiên cứu Theo từ điển Tiếng Việt, khám bệnh là xem xét thân thể người

ốm để nghiên cứu triệu chứng mà đoán bệnh và định cách điều trị [36, tr515] Việt Nam Tân từ điển lại định nghĩa khám bệnh là xem người bệnh, xem bệnh tình [35] Luật KB, CB 2009 định nghĩa khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận (Điều 2) Mặc dù chưa thống nhất trong cách định danh thuật ngữ “khám bệnh”, song các khái niệm trên đều tập trung ở một số đặc điểm chung như sau: (i) khám bệnh là hoạt động được thực hiện khi xuất hiện dấu hiệu bệnh Bệnh là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường [59, tr148] Bệnh có thể gặp ở người, động vật hay thực vật [27, tr.193] Tuy nhiên, đối tượng điều chỉnh của pháp luật là con người, do đó trong phạm vi luận án này hướng đến nghiên cứu đối tượng sử dụng dịch vụ khám bệnh là “người bệnh”; (ii) Mục đích của khám bệnh hướng đến việc chẩn đoán bệnh và chỉ định phương pháp chữa bệnh cho người bệnh; (iii) khám bệnh là một quá trình bao gồm từ hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể (khám lâm sàng) trực tiếp trên người bệnh nhằm phát hiện các triệu chứng thực thể của người bệnh Quy trình khám tuân thủ nguyên tắc “khám bệnh toàn diện, khám bệnh có hệ thống” [46, tr.63-65] Hiện nay có thêm nhiều phương pháp khám bệnh hiện đại và tiện ích khác như khám bệnh từ xa (qua điện thoại, qua internet, online…), tuy nhiên phương pháp thăm khám thực thể vẫn là phương pháp

Trang 33

chẩn đoán chính xác nhất tình trạng bệnh tật của người bệnh Ngoài ra, việc chỉ định kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm, siêu âm, chụp X quang…) đối với người bệnh là cần thiết để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp

đã được công nhận; (iv) Mục tiêu của khám bệnh hướng đến việc chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp với thể bệnh Phương pháp điều trị cũng nhằm hướng đến việc chữa khỏi bệnh cho người bệnh, tuy nhiên không phải mặt bệnh nào cũng có thể chữa khỏi được như một số bệnh AIDS, ung thư…vì vậy phương pháp điều trị không đồng nghĩa với phương pháp chữa khỏi bệnh

Khái niệm chữa bệnh được xem là “môn y học nghiên cứu các phương pháp chữa trị khỏi bệnh hoặc làm giảm bớt đau đớn, khó chịu cho người bệnh Có nhiều phương pháp chữa bệnh: Chữa bằng thuốc, bằng ăn uống, tâm lý, vật lý, lao động, thiền…[36, tr.545], hoặc chữa bệnh là “làm cho hết hoặc thuyên giảm bệnh tật”[59, tr.412] Luật KB, CB 2009 đưa ra khái niệm chữa bệnh là “việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh”(Điều 2) Sau quá trình khám bệnh, người thầy thuốc sẽ sử dụng phương pháp chữa bệnh gồm: (i) các phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận như phẫu thuật, điều trị laser, hóa trị… (ii) sử dụng thuốc được phép lưu hành nhằm chữa khỏi bệnh hoặc phục hồi chức năng, giảm đau đớn cho người bệnh Tùy từng mặt bệnh cụ thể, thầy thuốc có thể áp dụng cả hai phương pháp trên hoặc chỉ đơn thuần kê đơn thuốc cho người bệnh chữa bệnh.Như vậy, mặc dù khám bệnh và chữa bệnh là hai hoạt động khác nhau, có nội hàm khác nhau nhưng nó lại gắn kết chặt chẽ với nhau Khám bệnh là tiền đề của chữa bệnh, để chữa bệnh phải qua khám bệnh Nếu không khám bệnh thì không thể chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh tật để có phương pháp điều trị chữa bệnh Chính vì sự gắn kết thành thể thống nhất giữa khám bệnh và chữa bệnh nên trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng thuật ngữ chung là khám chữa bệnh (KCB) dưới góc độ điều chỉnh của pháp luật đối với loại dịch vụ

KCB Vì vậy, khái niệm KCB được xác định là “toàn bộ quá trình thăm khám thực

thể nhằm chẩn đoán và chỉ định các phương pháp chữa bệnh thuộc chuyên môn kỹ thuật được pháp luật cho phép để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng

Trang 34

cho người bệnh” Hoạt động KCB có thể do cơ sở y tế Nhà nước hoặc tư nhân thực

hiện, vì lợi ích xã hội, cộng đồng hoặc mục tiêu lợi nhuận hoặc kết hợp cả hai mục tiêu này Trong phạm vi của luận án, tác giả tiếp cận khái niệm KCB như một loại hình dịch vụ hướng tới mục tiêu lợi nhuận, do các cơ sở y tế tư nhân cung ứng

Việc coi KCB là một loại dịch vụ phù hợp với các thuộc tính đặc trưng của dịch vụ Theo Từ điển Tiếng Việt, dịch vụ là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”[35, tr256] Theo Đại từ điển Tiếng Việt, dịch vụ được hiểu là các hoạt động được thực hiện có tính chuyên môn hóa, có tổ chức Những chủ thể thực hiện chuyên môn hóa là những chủ thể

“làm về một phạm vi, một việc gì đó”[60, tr.309].Nhà kinh tế Philip Kotler định nghĩa dịch vụ là “mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó

có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”[37, tr.75] Tiếp cận dịch vụ theo nghĩa rộng, C Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”, theo đó, C Mác đã chỉ ra rằng, khi kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh[29, tr.576] Adam Smith khẳng định: “Dịch vụ không mang tính sản xuất vì không để lại một sản phẩm vật chất hữu hình, trong đó, những tầng lớp được coi trọng trong xã hội như cha đạo, luật sư, thầy thuốc, người viết thư thuê, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công…thực sự không sản sinh ra bất kỳ giá trị nào và không được hàm chứa trong một vật thể xác định hay một loại mặt hàng có thể bán được và công việc của người này tàn lụi đúng lúc nó được sinh ra”[64, tr.271]

Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), một hiệp định thuộc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời năm 1995 quy định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ, trong đó không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà chỉ định nghĩa

dịch vụ theo từng phân ngành cụ thể và qua các phương thức cung cấp dịch vụ (xem

thêm Phụ lục 2, tr.162) Theo “Bảng phân loại các ngành dịch vụ” của WTO (Tài

liệu mã số MTN.GNS/W/120) thì “(h) Dịch vụ y tế và nha khoa” được liệt kê với tư cách là tiểu ngành dịch vụ của “(A) Dịch vụ chuyên môn” nằm trong ngành dịch vụ

Trang 35

thứ nhất: “Dịch vụ kinh doanh”, tương ứng với mã số CPC 9311, 9312 của Liên hợp quốc[105] Như vậy, trong mục 93 (Dịch vụ y tế và xã hội), GATT đã chia thành hai loại gồm: (i) Dịch vụ bệnh viện (mã 9311) là những dịch vụ được cung cấp dưới sự hướng dẫn của bác sỹ chữa bệnh chủ yếu đối với các bệnh nhân trong bệnh viện, với mục đích chữa bệnh, hồi phục hoặc duy trì tình trạng sức khỏe của một bệnh nhân Dịch vụ bệnh viện bao gồm dịch vụ KCB và trợ y, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ phòng xét nghiệm và kỹ thuật gồm dịch vụ chụp X-quang và gây mê…; (ii) Dịch vụ

y tế và nha khoa (mã 9312) là những dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích ngăn ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh thông qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có dịch vụ điều dưỡng từ thiện, Ngoại trừ dịch vụ điều dưỡng do các cơ sở y tế phục vụ các bệnh nhân nằm ngoài bệnh viện cung cấp (một phần trong ngày) Dịch vụ y tế bao gồm:

- Dịch vụ y tế đa khoa: Dịch vụ bao gồm ngăn ngừa, chẩn đoán và điều trị bởi

các dược sĩ về các căn bệnh của thể trạng chung, như là thăm khám, tiêm thuốc (trong một thời hạn và/hoặc định kỳ), khám bệnh…Những dịch vụ này không hạn chế trong những điều kiện đặc biệt hoặc cụ thể, các loại bệnh hoặc các vùng giải phẫu Những dịch vụ này có thể do các bác sĩ chuyên khoa cung cấp, và cũng có thể

do các cơ sở y tế ngoại trú nằm trong các công ty, trường học cung cấp, ví dụ: khám bệnh, tư vấn sức khỏe, kiểm tra sức khỏe…(CPC 93121)

- Dịch vụ y tế chuyên khoa: Dịch vụ chẩn đoán và điều trị do các bác sĩ cung

cấp để chữa bệnh cho một loại bệnh cụ thể, trong một cơ sở y tế (gồm cả các cơ sở chữa bệnh cho các bệnh nhân nội và ngoại trú) Những dịch vụ này được định nghĩa

là những dịch vụ cung cấp trong những điều kiện cụ thể hoặc đặc biệt, để điều trị các loại bệnh hay vùng giải phẫu (ngoại trừ nha khoa) và gồm dịch vụ chữa bệnh trong các lĩnh vực sau: mắt; tai, mũi và họng; hệ hô hấp, hệ tuần hoàn; hệ tiêu hóa; hệ gan

và tuyến tụy, hệ cơ, mô, da, mô dưới da và ngực; tuyến nội tiết; 287 rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa; thận và hệ bài tiết; sinh sản nam, sinh sản nữ, mang thai, sinh nở; trẻ sơ sinh và trẻ em khác; máu và các tế bào tạo máu, rối loạn chuyển hóa xương; các bệnh truyền nhiễm và ký sinh; bệnh và rối loạn thần kinh; rối loạn trao đổi chất và thần kinh hữu cơ, chấn thương, ngộ độc và tác động của thuốc chữa bệnh, bỏng; các nhân tố ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và dịch vụ khác có liên quan với

Trang 36

chăm sóc sức khỏe (ví dụ như phục hồi, chăm sóc sau khi rời bệnh viện ) [3, 199],[18, tr.285-287] Mặc dù GATS không đưa ra khái niệm dịch vụ KCB, nhưng

tr.197-đã định danh các loại DVYT, trong đó có dịch vụ bệnh viện và dịch vụ y tế Như vậy, theo tinh thần Hiệp định GATS, các loại dịch vụ y tế này đã bao gồm dịch vụ

KCB và mang tính thương mại (xem thêm Phụ lục 2, tr.162)

Cũng theo GATS, có bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang tính thương

mại quốc tế bao gồm: (i) Cung cấp qua biên giới: việc cung cấp dịch vụ được tiến

hành từ lãnh thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác, ví dụ: khám bệnh từ xa, trong đó bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân từ hai nước khác nhau; (ii)

Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước đi đến

một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó, ví dụ như KCB ở nước ngoài; (iii)

Hiện diện thương mại: người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một nước đến một

nước khác, thành lập pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó, ví dụ: các nhà cung cấp DVYT ở nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp liên doanh, doanh

nghiệp 100% vốn nước ngoài tại nước sở tại…; (iv) Hiện diện thể nhân: người cung

cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc tịch một nước đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó, ví dụ: một bác sĩ phẫu thuật giỏi được mời sang một cơ sở y tế ở nước ngoài để mổ hoặc chuyển giao dịch vụ y tế[18, tr.8]

Từ các nghiên cứu ở trên, có thể đưa khái niệm dịch vụ KCB như sau: “Dịch

vụ KCB là loại hình dịch vụ y tế do các cơ sở KCB nhà nước hoặc tư nhân cung ứng bao gồm toàn bộ quá trình thăm khám thực thể nhằm chẩn đoán và chỉ định các phương pháp chữa bệnh thuộc chuyên môn kỹ thuật được pháp luật cho phép để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh”

2.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ khám chữa bệnh

Dịch vụ KCB, trước hết là một loại dịch vụ, bởi vậy sẽ bao hàm các thuộc tính chung của dịch vụ, như: (i) Tính không thể cất trữ, tức là không thể cất dự trữ, “để dành” như hàng hóa thông thường; (ii) Tính phi vật chất (vô hình) vì các dịch vụ KCB không tồn tại dưới các sản phẩm cụ thể bởi mục đích chẩn đoán và điều trị bệnh của dịch vụ Bản thân dịch vụ không thể đo lường hay “sờ nắm” thông thường

mà chỉ có thể cảm nhận bằng giác quan hay suy nghĩ; (iii) Tính không thể phân chia

Trang 37

do việc cung ứng và sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời, là một quá trình liền mạch, không tách rời Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung của dịch vụ thông

thường, dịch vụKCB cũng có những đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, dịch vụ KCB vừa mang tính thương mại vừa mang tính chất của

dịch vụ công

Từ việc tiếp cận các nghiên cứu về dịch vụ cho thấy, KCB là một loại dịch vụ theo quy định ở Hiệp định chung GATS, thuộc loại hình dịch vụ kinh doanh, các nhà cung cấp được trả phí và có thể có lợi nhuận khi cung cấp dịch vụ Hiện nay, dịch vụ KCB do các cơ sở KCB của Nhà nước và tư nhân cung cấp, được thu viện phí hoặc phí KCB Tuy nhiên, tính thương mại của dịch vụ KCBdo các cơ sở YTTN cung cấp

là hướng nghiên cứu của tác giả trong luận án, nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận,

áp dụng mức phí và chi phí như loại hình doanh nghiệp Bên cạnh tính thương mại, dịch vụ KCB lại bao hàm các đặc điểm của dịch vụ công(từ tiếng Anh là “public service”) Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này

Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng, đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm Dịch vụ công có quan hệ chặt chẽ với phạm trù dịch vụ công cộng Từ điển Le Petit Larousse của Pháp đã định nghĩa: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”[47, tr.934] Từ điển Oxford của Anh định nghĩa dịch vụ công là: (1) các dịch vụ như giao thông, chăm sóc sức khoẻ do nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung cấp cho tất cả mọi người dân trong một xã hội cụ thể; (2) dịch vụ được cung ứng nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận[48,

Trang 38

tr.1024] Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ lại cho rằng dịch vụ công được hiểu như: “(1) sự tham gia vào đời sống xã hội, hành động tự nguyện vì cộng đồng của một người nào đó; (2) việc làm cho Chính phủ, toàn bộ công nhân viên chức trong khu vực công cộng của quốc gia; (3) việc mà chính quyền làm cho cộng đồng của mình; (4) một cơ sở công ích của địa phương; (5) nghĩa vụ của một người đối với

nhà nước[28, tr.772] Như vậy, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động

phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện

Ở các nước phát triển, nhận thức về vai trò của Nhà trong cung ứng dịch vụ công đã có thay đổi đáng kể Nếu như trước đây, mô hình can thiệp của Nhà nước quản lý theo yêu cầu của chủ nghĩa Keynes và lý thuyết nhà nước phúc lợi chung đã làm cho vai trò của Nhà nước tăng lên đáng kể, tuy nhiên sau đó, bộ máy Nhà nước

đã trở nên cồng kềnh, sự kỳ vọng của người dân vào chất lượng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp ngày càng giảm sút Người dân và các doanh nghiệp phản ứng gay gắt đối với các loại dịch vụ công của Nhà nước bằng cách tránh bị đánh thuế [57, tr.14] Chính vì vậy, hiện nay, nhiều nhà nước trên thế giới đã thực hiện các phương thức chuyển giao dịch vụ công sang các tổ chức ngoài khu vực nhà nước, bao gồm: (i) Tư nhân hoá; (ii) Uỷ quyền (uỷ quyền toàn phần và uỷ quyền một phần); (iii) Hợp danh(là hình thức mà Nhà nước cấp vốn và chi phối việc cung cấp các dịch vụ công cộng, bảo đảm chất lượng ổn định và giá cả đáp ứng được nhu cầu của người dân); (iv) Mua của bên ngoài(Nhà nước hợp đồng với các chủ thể khác mua dịch vụ của họ

để cung ứng cho cộng đồng xã hội và Nhà nước vẫn chịu trách nhiệm về dịch vụ đối với xã hội); (v) Uỷ thác(Nhà nước chuyển giao trách nhiệm cung ứng cho các chủ thể phi nhà nước và đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động cung ứng dịch vụ đó); (vi)Cung ứng thông qua đại lý(có nhiều dạng đại lý khác nhau, thực hiện các nhiệm

vụ khác nhau) Xét theo tiêu chí phân loại về tính chất, dịch vụ KCB thuộc loại dịch

vụ công mang tính xã hội, thỏa mãn tiêu chíkhông cạnh tranh, nghĩa là việc sử dụng dịch vụ KCB của người này không làm tăng hay giảm nhu cầu/lượng sử dụng của người khác Nói cách khác, năng lực cung cấp dịch vụ cũng như khả năng tiêu dùng

Trang 39

dịch vụ KCB đều không mất đi sau khi cung ứng cho nhiều người[112, tr.3]

Tóm lại, dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết, đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường

Thứ hai, dịch vụ KCB khó xác định trước chất lượng, giá cả và kết quả

Tính khó xác định trước hết phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể xuất phát từ phía người sử dụng dịch vụ KCB (người bệnh) do họ không chủ động quyết định được mức độ, tình trạng bệnh của mình, phác đồ điều trị ra sao khi tham gia vào quan hệ KCB, vì thế họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào bên cung ứng dịch vụ KCB Đồng thời, cả phía cung ứng dịch vụ KCB cũng phải đương đầu với sự "khó đoán trước được" Thông thường, với một bệnh cụ thể, các thầy thuốc sẽ có những phương thức điều trị khác nhau, thay đổi theo thời gian và chẳng ai có thể đoán trước được một cách chắc chắn rằng, bệnh nhân sẽ tiến triển như thế nào với phương thức

mà họ điều trị cho bệnh nhân "Khó đoán trước được" có thể xảy ra khi sử dụng một loại thuốc mới và càng hay xảy ra khi áp dụng một kỹ thuật phẫu thuật mới hoặc phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của người hành nghề KCB Thậm chí, khi người hành nghề KCB có trình độ chuyên môn giỏi nhưng thiếu các trang thiết bị y khoa hiện đại để hỗ trợ cho việc khám và chẩn đoán bệnh thì cũng khó đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất.Yếu tố giá cả trong KCB cũng là vấn đề khó xác định bởi nhiều yếu

tố chi phối quá trình cung cấp dịch vụ KCB làm cho người sử dụng dịch vụ khó kiểm soát mức giá thế nào là hợp lý Do người sử dụng dịch vụ KCB không đủ thông tin

và trình độ để hiểu tính chất của dịch vụ mà mình sử dụng nên gần như việc giá cả do bên cung ứng dịch vụ KCB quyết định

Thứ ba, dịch vụ KCB thể hiện sự bất cân xứng về thông tin giữa bên cung ứng

dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ KCB

Lý thuyết “thông tin bất cân xứng” lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970

và có vai trò quan trọng trong kinh tế học hiện đại thông qua sự kiện các nhà khoa học

Trang 40

nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz vinh

dự nhận giải Nobel kinh tế năm 2001 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn hay có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch Hai hệ quả phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard).Lý thuyết này hoàn toàn phù hợp trong mối quan hệ đàm phán giữa bệnh nhân và thầy thuốc Thầy thuốc có rất nhiều tri thức, thông tin về chẩn đoán về điều trị so với bệnh nhân Sự “bất cân xứng” này sẽ xảy ra một trong hai trường hợp:

một là, với đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm nghề nghiệp sẽ làm cho người thầy

thuốc thực hiện tốt nghĩa vụ với bệnh nhân, hoặc hai là, trước những lợi ích vật chất,

người thầy thuốc sẽ lợi dụng sự “bất cân xứng” về thông tin bệnh tật để trục lợi của bệnh nhân Việc thầy thuốc lừa dối bệnh nhân cũng tương tự như người sửa xe ô tô đưa ra những nhu cầu không cần thiết cho việc chữa xe để thu thêm tiền của chủ xe Tuy nhiên, rõ ràng sự "bất cân xứng" trong lĩnh vực KCB lớn hơn rất nhiều so với các lĩnh vực khác, do đó, tác hại của nó cũng gấp hơn nhiều lần Trên thực tế, người bệnh hiểu rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị, do vậy, hầu như người bệnh hoàn toàn dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ KCB [16]

Dịch vụ KCB là cái mà người ta phải sử dụng khi ốm đau chứ không phải thích mua khi có tiền Mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở các mức độ khác nhau và có lúc ở thời điểm không dự đoán được Đối với cá nhân người sử dụng, dịch vụ KCB là thứ “hàng hóa vô giá” vì nó gắn liền với tính mạng, sức khỏe con người nên họ bắt buộc phải mua [58, tr.28-32] Pháp luật các nước đều quy định những điều kiện về đầu tư kinh doanh đối với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ KCB như yêu cầu các cơ sở YTTN muốn cung ứng dịch vụ KCB cần được cấp giấy chứng nhận ĐKKD hoặc GPĐT theo quy định của pháp luật, cơ sở vật chất phù hợp; người hành nghề KCB phải tuân thủ các nguyên tắc đăng ký hành nghề… Dịch vụ KCB là một loại dịch vụ cần đầu tư thời gian dài, nhưng thu hồi vốn lại lâu, mặt khác sản phẩm mà dịch vụ này cung cấp ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con

Ngày đăng: 22/12/2017, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoài (2005), Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt nam, NXB Thống kê, Hà Nội, tr. 56-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt nam
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoài
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
3. Bộ Công Thương "Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO: Bình luận của người trong cuộc", NXB Thống kê, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO: Bình luận của người trong cuộc
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Bộ Y tế và nhóm đối tác y tế (2012), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, tr. 72-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế và nhóm đối tác y tế
Năm: 2012
7. Bộ Y tế (2015), Báo cáo công tác kiểm tra, thanh tra hành nghề y tế tư nhân, Hà Nội, tr.7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác kiểm tra, thanh tra hành nghề y tế tư nhân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
8. Báo cáo nghiên cứu (2010) “Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam”, Actionaid VietNam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam”
9. Ban pháp chế, Cam kết chung về dịch vụ, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Hà Nội, tr.5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết chung về dịch vụ
10. Trịnh Hòa Bình và các cộng sự (2003), Bài toán công bằng và hiệu quả trong các bệnh viện tư ở Việt Nam hiện nay, Khóa họp lần thứ tư Diễn đàn kinh tế - tài chính Việt – Pháp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài toán công bằng và hiệu quả trong các bệnh viện tư ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trịnh Hòa Bình và các cộng sự
Năm: 2003
11. Chính phủ (2016), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
12. Chính phủ (2016), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
13. Bùi Ngọc Cường, Đồng Ngọc Ba, Lê Đình Vinh, Đoàn Trung Kiên (2011), Giáo trình Luật Thương mại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại
Tác giả: Bùi Ngọc Cường, Đồng Ngọc Ba, Lê Đình Vinh, Đoàn Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
14. Bùi Ngọc Cường (2007), Tổng quan pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ vàcam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO, Tạp chí Luật học số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ vàcam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Năm: 2007
15. Phạm Huy Dũng (2002), Tổng quan về tình hình y tế tư nhân Việt Nam, Viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tình hình y tế tư nhân Việt Nam
Tác giả: Phạm Huy Dũng
Năm: 2002
16. Michel, Grignon, Phạm Huy Dũng (2003), Tiếp cận dịch vụ y tế và đảm bảo tài chính cho y tế ở Việt Nam, Khóa họp lần thứ tư diễn đàn kinh tế, tài chính Việt - Pháp, TP Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận dịch vụ y tế và đảm bảo tài chính cho y tế ở Việt Nam
Tác giả: Michel, Grignon, Phạm Huy Dũng
Năm: 2003
17. Dự án thành phần chính sách y tế, (2007), Thực trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân, Chương trình hợp tác y tế Việt Nam – Thụy Điển, Nxb Y học, tr53-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân
Tác giả: Dự án thành phần chính sách y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
18. Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II (MUTRAP II) và Bộ Thương mại “ Cẩm nang các cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO”- Hà nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang các cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO
19. Đề tài NCKHcấp Bộ (1998), ”Sự phát triển của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam”,Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Sự phát triển của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam”
Tác giả: Đề tài NCKHcấp Bộ
Năm: 1998
20. Đề tài NCKH cấp Bộ (2011), “Nghiên cứu về y tế ngoài công lập”, Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ y tế hợp tác với ĐH Melbourne, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về y tế ngoài công lập”
Tác giả: Đề tài NCKH cấp Bộ
Năm: 2011
21. Đề tài NCKH cấp Bộ (2011) “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường phối hợp công tư trong lĩnh vực y tế” của Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường phối hợp công tư trong lĩnh vực y tế”
22. Phạm Hoàng Giang (2006), Sựphát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sựphát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng
Tác giả: Phạm Hoàng Giang
Năm: 2006
108. College of Physicians and Surgeons of British Columbia, https://www.cpsbc.ca/for-public/faqs/complaints-process (25/10/2016) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm