1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ngoại giao đa phương trong chính sách châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

187 368 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, nghiên cứu về việc Mỹ triển khai ngoại giao đa phương ở khu vực còn giúp hiểu rõ về những kết quả cũng như hạn chế trong chính sách của Mỹ, hỗ trợ việc dự báo về sự cọ xát giữa

Trang 1

HOÀNG THỊ THANH NGA

NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 62 31 02 06

Hà Nội - 2017

Trang 2

HOÀNG THỊ THANH NGA

NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Mã số: 62 31 02 06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS Nguyễn Thái Yên Hương

Hà Nội - 2017

Trang 3

Tôi cam đoan luận án “Ngoại giao đa phương trong chính sách châu Á –

Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh” là công trình nghiên cứu

của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2017

Tác giả luận án

Hoàng Thị Thanh Nga

Trang 4

Trước hết, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thái Yên Hương, người đã luôn động viên và tận tình hướng dẫn tôi phát triển ý tưởng, triển khai nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Luận án

Tôi cũng xin cảm ơn Học viện Ngoại giao, Khoa Sau Đại học, đặc biệt là

TS Đỗ Thị Thanh Bình và ThS Hà Thị Huyền Trang đã luôn nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành các môn học, xây dựng chuyên đề và Luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp ở Vụ Châu Mỹ, Vụ Các Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao đã luôn hợp tác tích cực, tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và hoàn thành Luận án Tiến sĩ Tôi rất biết ơn những cuộc thảo luận với các đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao về chính sách đối ngoại của

Mỹ, quan hệ Việt – Mỹ và về ngoại giao đa phương

Trên hết, lòng biết ơn sâu sắc của tôi xin dành cho những người thân trong gia đình, những người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn ở bên tôi và sẵn lòng là điểm tựa cho tôi trong những thời điểm khó khăn nhất

Tác giả Luận án Hoàng Thị Thanh Nga

Trang 5

CHƯƠNG 1 - NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI

NGOẠI CỦA MỸ 16

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG 16

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của ngoại giao đa phương 16

1.1.2 Cách nhìn nhận của chủ nghĩa hiện thực về ngoại giao đa phương 19 1.1.3 Một số cách tiếp cận khác về ngoại giao đa phương 24

1.2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA MỸ TRONG LỊCH SỬ 29

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945 29

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 - 1991 32

1.2.2.1 Mỹ và các thể chế đa phương toàn cầu 32

1.2.2.2 Mỹ và một số cơ chế đa phương ở Bắc Đại Tây Dương 39

1.2.2.3 Mỹ và một số cơ chế đa phương ở Châu Á-Thái Bình Dương 44

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 47

1.3.1 Cấu trúc hệ thống quốc tế 47

1.3.2 Sự gia tăng các thách thức toàn cầu 50

1.3.2.1 Chủ nghĩa khủng bố, cực đoan 50

1.3.2.2 Nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt 53

1.3.2.3 Tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu 54

TIỂU KẾT 55

CHƯƠNG 2 - THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ VỚI CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH 57

2.1 CHÍNH SÁCH CỦA MỸ VỚI CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH 57

Trang 6

2.1.1.1 Lợi ích kinh tế 58

2.1.1.2 Lợi ích an ninh, chiến lược 61

2.1.1.3 Sự trỗi dậy của Trung Quốc 63

2.1.2 Các ưu tiên trong chính sách của Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương – Vị trí của các cơ chế hợp tác khu vực 65

2.1.2.1 Chính quyền George H.W Bush 67

2.1.2.2 Chính quyền Clinton 68

2.1.2.3 Chính quyền George W Bush 70

2.1.2.4 Chính quyền Obama 73

2.2 MỸ VỚI MỘT SỐ CƠ CHẾ ĐA PHƯƠNG Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH 76

2.2.1 Mỹ với các cơ chế hợp tác do ASEAN chủ trì 77

2.2.1.1 Cơ chế hợp tác ASEAN - Mỹ 77

2.2.1.2 Mỹ với Diễn đàn khu vực ASEAN 84

2.2.1.3 Mỹ với Hội nghị Cấp cao Đông Á 88

2.2.2 Mỹ với một số cơ chế kinh tế khu vực 92

2.2.2.1 Mỹ với Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương 93

2.2.2.2 Mỹ với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương 97

2.3 KẾT QUẢ TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA MỸ Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG 102

2.3.1 Củng cố vị trí số một của Mỹ ở khu vực và toàn cầu 102

2.3.2 Thúc đẩy tăng trưởng, khôi phục kinh tế Mỹ 105

2.3.3 Hỗ trợ ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc 109

2.3.4 Một số hạn chế trong triển khai ngoại giao đa phương của Mỹ 112

TIỂU KẾT 114

Trang 7

CHẾ KHU VỰC 117

3.1 MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA MỸ Ở CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG TƯƠNG LAI 117

3.1.1 Xu hướng liên kết khu vực 118

3.1.2 Sức mạnh Mỹ và mục tiêu chính sách khu vực của Mỹ 120

3.2 CHIỀU HƯỚNG TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA MỸ Ở KHU VỰC 124

3.2.1 Chiều hướng can dự của Mỹ vào các cơ chế an ninh khu vực 127

3.2.2 Chiều hướng can dự của Mỹ vào các cơ chế kinh tế 131

3.3 TRIỂN VỌNG HỢP TÁC VIỆT – MỸ TẠI CÁC CƠ CHẾ KHU VỰC 135

3.3.1 Tình hình hợp tác Việt – Mỹ tại một số cơ chế khu vực 135

3.3.2 Tiềm năng hợp tác Việt – Mỹ tại các cơ chế khu vực và kiến nghị chính sách với Việt Nam 138

TIỂU KẾT 145

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 8

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á

AIIB Asian Infrastructure Investment

ASEAN The Association of Southeast

Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM The Asia–Europe Meeting Hội nghị Á – Âu

BRICS Brazil, Russia, India, China, South

Africa

Nhóm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi CLMV Cambodia, Laos, Myanmar, Viet

Nam

Nhóm Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

Đông

DOC Declaration on the Conduct of

Parties in the South China Sea

Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở biển Đông

FAO

Food and Agricultural Organization of the United Nations

Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc

GATT General Agreement on Tariffs and

Trade

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

Trang 9

Reconstruction and Development triển Quốc tế ILO International Labour Organization Tổ chức Lao động Quốc tế IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

IMO International Maritime

ITU Internatioanl Telecommunication

Trans-Pacific Partnership

Bình Dương TTIP

Transatlantic Trade and Investment Partnership Agreement

Hiệp định Đối tác Thương mại, Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương

UNDP United Nations Development

Tổ chức Giáo dục, Khoa học

và Văn hóa Liên hợp quốc

Trang 10

Refugees Người tị nạn UNICEF United Nations Children’s Fund Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

UNIDO United Nations Industrial

Development Organization

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc UPU Universal Postal Union Liên minh Bưu chính quốc tế

WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới

WFP World Food Programme Chương trình Lương thực Thế

giới WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

WIPO World Intellectual Property

Organization

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

WMO World Meteorological

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 11

BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 - Tổng đóng góp của Mỹ cho các tổ chức quốc tế 35

Bảng 1.2 - Phân bổ viện trợ theo Kế hoạch Marshall 1948-1952 40

Bảng 1.3 - So sánh lực lượng NATO và VARSAW năm 1984 43

ĐỒ THỊ Hình 2.1 - Tỷ lệ GDP khu vực trên GDP toàn cầu 1990-2016 59

Hình 2.2 - Thương mại hàng hóa giữa Mỹ với châu Á 1991 – 2016 60

Hình 2.3 - Xuất nhập khẩu của Mỹ và các khu vực năm 2016 60

Hình 2.4 - Xuất khẩu của Mỹ sang APEC 1992-2016 106

Hình 2.5 - Xuất khẩu trong APEC 107

Hình 2.6 - Đầu tư vào APEC 107

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngoại giao đa phương đã trở thành một phần không thể thiếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến nay Tuy nhiên, mức độ cam kết với các cơ chế đa phương, cách thức Mỹ sử dụng công cụ đa phương trong chính sách đối ngoại không phải luôn luôn đồng nhất Mỹ từng là quốc gia dẫn dắt quá trình ra đời của những cơ chế đa phương toàn cầu quan trọng nhất, song cũng không ít lần trong lịch sử, Mỹ giảm cam kết hoặc thậm chí rút khỏi các cơ chế đa phương

Chiến tranh Lạnh kết thúc đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế Mỹ trở thành siêu cường số một toàn cầu nhưng cũng đã xuất hiện những cường quốc mới, đặc biệt là Trung Quốc với tham vọng và khả năng thách thức vị trí số một của Mỹ Trật tự hai cực đã được thay thế bằng một trật tự mới, trong đó các quốc gia, kể cả các siêu cường, cũng gắn kết đan xen lợi ích, phụ thuộc lẫn nhau Bên cạnh đó, tiến trình toàn cầu hóa, dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, sự gia tăng các thách thức toàn cầu đã đặt ra những yêu cầu khách quan với mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, cần tăng cường kết nối, đặc biệt thông qua các thể chế đa phương

Trong vài thập kỷ gần đây, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã nổi lên thành trung tâm kinh tế, chính trị mới của thế giới, là động lực của tăng trưởng toàn cầu, nhưng cũng là khu vực phản ánh sự gia tăng cọ xát, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc Trong bối cảnh đó, Mỹ đã có những điều chỉnh mạnh

mẽ trong chính sách với khu vực châu Á – Thái Bình Dương Một trong những khía cạnh đáng chú ý trong chính sách của Mỹ với khu vực, đó là sự can dự ngày càng sâu rộng của Mỹ vào các cơ chế đa phương ở châu Á – Thái Bình Dương

Xu hướng này cần được đánh giá kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về chính sách đối

Trang 13

ngoại của Mỹ nói chung và chính sách của Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, nhất là khi sự can dự của Mỹ vào các cơ chế khu vực đã và đang tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành cấu trúc an ninh, kinh tế khu vực, cũng như việc hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia trong khu vực

Với Việt Nam, việc nghiên cứu về ngoại giao đa phương trong chính sách của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương có ý nghĩa hết sức quan trọng

Thứ nhất, nghiên cứu cho phép hiểu rõ hơn về cách thức sử dụng công cụ đa

phương của Mỹ trên phạm vi toàn cầu, cũng như sự đấu tranh và hợp tác giữa các nước lớn tại các diễn đàn đa phương, để từ đó có sự chuẩn bị hiệu quả cho sự tham gia của Việt Nam ở các diễn đàn đa phương Điều này có ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ “nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đối ngoại đa phương và tích cực đóng góp, xây dựng định hình các thể chế đa phương” và “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương”

như Đại hội Đảng XII đề ra [13] Thứ hai, là một quốc gia nằm trong khu vực

Châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có nhu cầu và lợi ích trong việc hiểu thực chất những ưu tiên của Mỹ ở khu vực nói chung và với các cơ chế khu vực nói riêng Đây là thành tố quan trọng để xem xét trong quá trình hoạch định chính sách của Việt Nam với các nước lớn, các nước trong khu vực và các cơ chế khu vực Cụ thể hơn, hiểu được ưu tiên, cách thức can dự của Mỹ với các cơ chế khu vực sẽ giúp Việt Nam tận dụng được vai trò của Mỹ ở khu vực, nắm bắt được cơ hội gia tăng hợp tác Mỹ - Việt tại các diễn đàn khu vực, phục vụ cho mục tiêu

đối ngoại của Việt Nam Thứ ba, nghiên cứu về việc Mỹ triển khai ngoại giao đa

phương ở khu vực còn giúp hiểu rõ về những kết quả cũng như hạn chế trong chính sách của Mỹ, hỗ trợ việc dự báo về sự cọ xát giữa các nước lớn, thách thức

đặt ra trong tương lai với các quốc gia vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Ngoại giao đa

phương trong chính sách Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh” làm Luận án Tiến sĩ ngành Quan hệ quốc tế Do Đề tài nghiên cứu

Trang 14

của Luận án gắn liền với kinh nghiệm và lĩnh vực công tác của tác giả, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ tích cực cho công tác nghiên cứu, tham mưu hoạch định chính sách của tác giả trên thực tế Đồng thời, tác giả cũng mong muốn, công trình nghiên cứu sẽ đóng góp cho quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là trong quan hệ với Mỹ và các cơ chế ở khu vực châu Á –

Thái Bình Dương

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh

là nội dung được nhiều người quan tâm và khai thác ở nhiều khía cạnh Tuy nhiên, không có nhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về ngoại giao đa phương trong chính sách của Mỹ với khu vực từ sau Chiến tranh Lạnh, nhất là từ cách tiếp cận của Việt Nam Các công trình nghiên cứu cho đến nay tập trung vào một

số cụm vấn đề sau: (i) Các công trình về ngoại giao đa phương, các thể chế đa phương; (ii) Các công trình về chính sách đối ngoại của Mỹ; (iii) Các công trình

về ngoại giao đa phương của Mỹ; (iv) Các công trình về chính sách của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương

2.1 Về ngoại giao đa phương, các thể chế đa phương

Có nhiều nghiên cứu thuộc các trường phái lý thuyết khác nhau liên quan đến nội dung này Các học giả theo trường phái hiện thực thể hiện quan điểm về

ngoại giao đa phương trong một số cuốn sách tiêu biểu như “Politics among

nations, the struggle for power and peace” của Hans Morgenthau (Nxb Alfred A

Knopf năm 1948), “American Diplomacy” George Kennan (University of Chicago Press, tái bản năm 2012), “Diplomacy” của Henry Kissinger (Nxb Simon & Schuster, năm 1994), bài viết “Structural Realism after the Cold War”

của Kenneth Watlz trên tạp chí International Security (2000) Các công trình này xem ngoại giao đa phương như một công cụ trong chính sách đối ngoại; cách thức, mức độ sử dụng công cụ này tùy thuộc vào các ưu tiên, sức mạnh và lợi ích

Trang 15

quốc gia Các hiệp ước hòa bình đa phương, các cơ chế đa phương phản ánh việc phân chia quyền lực giữa các quốc gia, đồng thời bảo đảm cân bằng quyền lực giữa các cường quốc Các quốc gia, trong đó có Mỹ, lựa chọn công cụ đa phương nhằm tối đa hóa sức mạnh của họ Với sức mạnh vượt trội, Mỹ dẫn dắt phần lớn các cơ chế đa phương sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhưng cũng sẵn sàng hành động đơn phương khi cần Sự can dự của Mỹ vào các cơ chế đa phương không vì các giá trị mang tính phổ quát mà hoàn toàn dựa trên các tính

toán lợi ích Đáng chú ý, bài “Globalization and Governance” của Kenneth Waltz trên tạp chí Political Sciences and Politics (12/1999) và bài viết “The false

promise of international institutions” của John Mearsheimer trên tạp chí

International Security (mùa đông 1994/1995) đã chỉ ra rằng bản thân các cơ chế

đa phương không tự đưa ra quyết định mà phải do các quốc gia thương lượng, trong đó các cường quốc luôn có vai trò chi phối Các cường quốc vẫn quyết định luật lệ, hoạt động của các thể chế đa phương kể cả trong thế giới toàn cầu hóa, phụ thuộc lẫn nhau ngày nay

Cũng cần kể đến các nghiên cứu về ngoại giao đa phương thuộc trường

phái tự do hoặc kiến tạo Tiêu biểu cho trường phái tự do có bài viết “The

Contingent Legitimacy of Multilateralism” của Robert Keohane trong cuốn sách

“Multilateralism under challenge? Power, international order, and structural change” (UN University Press năm 2006) Nghiên cứu này cho rằng các cơ chế

đa phương giúp giảm chi phí giao dịch, bảo đảm thông suốt về thông tin giữa các quốc gia, giúp tạo dựng hệ thống luật lệ, quy chuẩn chung Các nghiên cứu theo

trường phái kiến tạo, tiêu biểu như cuốn sách “Multilateralism Matters - The

theory and Praxis of an institutional form” (Colombia University Press năm

1999) của James Gerard Ruggie, nêu đậm yếu tố bản sắc, vai trò của cá nhân, nhận thức của giới lãnh đạo Mỹ, mong muốn truyền bá hệ thống giá trị, chuẩn mực của Mỹ ra phạm vi toàn cầu thông qua các cơ chế đa phương

Trang 16

Ở Việt Nam, cuốn sách “Ngoại giao đa phương trong hệ thống quan hệ

quốc tế đương đại” của tác giả Lưu Thúy Hồng (Nxb Chính trị Quốc gia năm

2015) và bài viết“Tìm hiểu về ngoại giao đa phương” của tác giả Vũ Dương

Huân trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2013) đưa ra bức tranh tổng thể về ngoại giao đa phương, thực tiễn ngoại giao đa phương của Việt Nam Một số bài viết

có phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, ví dụ như bài viết của tác giả Vũ Lê Thái

Hoàng, Lê Linh Lan về “Vai trò của ngoại giao đa phương trong chính sách đối

ngoại của quốc gia tầm trung: Trường hợp của In-đô-nê-xi-a”, trong tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế (2014), nhận định rằng các quốc gia tầm trung ưu tiên ngoại giao đa phương nhằm khắc phục sự bất cân xứng về sức mạnh và giảm thiểu rủi

ro trong chính sách với các nước lớn

Cũng có nhiều nghiên cứu đánh giá về sự phát triển của các cơ chế đa phương toàn cầu và ở châu Á – Thái Bình Dương, từ đó liên hệ với đường lối đối ngoại hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam, tiêu

biểu như cuốn sách của tác giả Bùi Thanh Sơn (chủ biên) về “Hội nhập quốc tế

và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia năm 2015)

hay cuốn “Hướng tới cộng đồng kinh tế Đông Á” của Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (Nxb Thế giới năm 2005), cuốn “Liên kết kinh tế ASEAN: Vấn đề và

triển vọng” của Trần Đình Thiên (Nxb Thế giới năm 2005)

2.2 Về chính sách đối ngoại của Mỹ

Có nhiều cuốn sách phân tích về chính sách đối ngoại của Mỹ qua các thời

kỳ, trong đó có cuốn “American Foreign Policy, The dynamics of choice in the

21 st Century” của Bruce W Jentleson (Nxb W Norton năm 2013) Tác giả giải

thích chính sách đối ngoại của Mỹ xoay quanh bốn chữ: hòa bình, sức mạnh, sự thịnh vượng và nguyên tắc, trong đó tùy từng Tổng thống có thể có thái độ khác

nhau với các cơ chế đa phương Bên cạnh đó, cuốn sách “From Colony to

Superpower, US Foreign Relations since 1776” của George Herring (Oxford

Trang 17

University Press năm 2008), “American Exceptionalism and the Legacy of

Vietnam US Foreign Policy since 1974” của Trevor B McCrisken (Nxb Palgrave

năm 2003) làm rõ các trụ cột và các nhân tố tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ, đồng thời giúp hiểu rõ những bước chuyển trong cách tiếp cận của Mỹ, từ chỗ mang nặng tư tưởng biệt lập, đến việc đề xuất, thúc đẩy hàng

loạt các cơ chế đa phương sau Chiến tranh thế giới thứ II Đặc biệt, cuốn“U.S

Foreign Policy since 1945” của Alan P Dobson và Steve Marsh (Nxb Routledge

năm 2006) chỉ ra rằng thế giới đã thay đổi sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ phải thích ứng, điều chỉnh chính sách theo hướng ngày càng coi trọng các cơ chế đa phương hơn Nếu muốn duy trì vị trí lãnh đạo, Mỹ không thể quay trở lại chủ nghĩa biệt lập, mà phải tận dụng vai trò của các cơ chế đa phương

Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ tập

trung vào giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, tiêu biểu có cuốn “US foreign policy

after the Cold War: Global Hegemon or Reluctant Sheriff” của Fraser Cameron

(Nxb Routledge năm 2003), “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh

Lạnh” do Randall Ripley và J Lindsay chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia năm

2002) Các tác phẩm trên đều dành một phần nhất định để phân tích về chính sách của Mỹ đối với với các cơ chế đa phương như LHQ, các cơ chế thuộc hệ thống Bretton Woods, NATO, đến các cơ chế ở châu Á – Thái Bình Dương Các tác giả Việt Nam cũng có các công trình nghiên cứu về chính sách đối

ngoại Mỹ Tiêu biểu là cuốn sách “Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ” (Nxb

Giáo dục Việt Nam năm 2011) do tác giả Nguyễn Thái Yên Hương và Tạ Minh Tuấn (đồng chủ biên), cung cấp đánh giá tổng thể về lịch sử, văn hóa Mỹ cũng như chính sách đối ngoại của Mỹ Phân tích ở một góc độ hẹp hơn có bài

viết“Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ lụy đối với khu vực châu Á - Thái Bình

Dương: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực” của tác giả Nguyễn Vũ Tùng,

Khổng Thị Bình, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2009)

Trang 18

2.3 Về ngoại giao đa phương của Mỹ

Cuốn sách “The United States and multilateral Institutions: Patterns of

Changing Instrumentality and Influence” do Margaret P Karns và Karen A

Mingst đồng chủ biên (Nxb Routledge năm 1992) tập hợp nhiều bài viết về sự tham gia của Mỹ trong các cơ chế đa phương Cuốn sách chỉ ra những điều chỉnh

về chính sách của Mỹ với các cơ chế đa phương từ sau Chiến tranh thế giới thứ

II đến nay Mỹ đã dẫn dắt sự ra đời của hàng loạt thể chế đa phương, song từ những năm 1960, Mỹ giảm quan tâm và đã rút ra khỏi một số cơ chế (ILO, IAEA), cho đến nay Mỹ vẫn chưa phê chuẩn nhiều công ước của LHQ Tác giả cho rằng tuy sức mạnh suy yếu tương đối, Mỹ vẫn có thể duy trì vai trò lãnh đạo tại các thể chế đa phương nếu nỗ lực thích ứng với những thay đổi trong hệ thống quan hệ quốc tế

Cuốn sách “The US Hegemonie and International Organizations” do

Rosemary Foot, MacFarlane, M Mastanduno đồng chủ biên (Nxb Oxford University Press năm 2003) đánh giá tổng thể về ngoại giao đa phương của Mỹ,

từ sự tham gia trong các thể chế toàn cầu như LHQ, WB, IMF, cho đến các thể chế khu vực ở châu Phi, châu Á – Thái Bình Dương, châu Âu, châu Mỹ Các tác giả chứng minh rằng Mỹ sử dụng các cơ chế đa phương để đưa các quốc gia khác vào một trật tự ổn định do Mỹ chi phối Mỹ sẽ tiếp tục sử dụng các cơ chế đa phương để phục vụ các mục tiêu kinh tế, an ninh và để truyền bá các giá trị của

Mỹ Tuy nhiên, Mỹ không có cách tiếp cận chung cho tất cả các cơ chế đa phương

mà tùy thuộc vào những phân tích chi phí - lợi ích của các vấn đề cụ thể Bên cạnh

đó, chủ nghĩa biệt lập vẫn có ảnh hưởng ở mức độ nào đó đến thái độ của Mỹ với các cơ chế đa phương Đặc biệt trong cuốn sách này, tác giả Ralph Cossa, với bài

viết “US Approach to Multilateral Security and Economic Organizations in

Asia-Pacific”, cho rằng Mỹ ngày càng coi trọng các cơ chế đa phương ở châu Á – Thái

Bình Dương, nhưng đây là công cụ bổ sung, không thay thế các mối quan hệ song phương Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ không thể xây dựng ở khu vực một cơ chế an

Trang 19

ninh toàn diện như NATO, nhưng Mỹ có thể đóng vai trò tích cực trong các cơ chế đa phương chủ yếu nhằm xây dựng niềm tin

Một số tác giả khác chỉ trích cách tiếp cận của Mỹ với các cơ chế đa

phương, như trong cuốn sách “Multilateralism and U.S Foreign Policy:

Ambivalent Engagement” do Steward Patrick và Shepart Forman chủ biên (Nxb

Lynne Rienner năm 2002), bài viết "Assertive Multilateralism: Rhetoric vs

Reality” của William H Lewis (National Defense University, tháng 11/1993)

Các tác giả cho rằng tình hình thế giới đang thay đổi, Mỹ không thể tồn tại một mình mà cần có sự hợp tác của các quốc gia khác, nhất là trong việc ứng phó với các thách thức toàn cầu Các học giả chỉ trích việc Mỹ tham gia vào các cơ chế

đa phương nhưng chủ yếu chạy theo lợi ích vị kỷ, đáp ứng các yêu cầu nội bộ Khi cần, Mỹ sẵn sàng bỏ qua các cơ chế đa phương và hành động đơn phương Các ưu tiên của Mỹ với các cơ chế đa phương cũng thay đổi qua từng thời kỳ, phụ thuộc vào lợi ích của Mỹ đối với từng nội dung cũng như các yếu tố chính trị nội bộ của Mỹ Đối với Mỹ, hợp tác đa phương không phải là “chủ nghĩa đa phương” với tư cách là một tư tưởng hay giá trị mà là một chính sách nằm trong tổng thể chính sách đối ngoại

2.4 Về chính sách của Mỹ với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Trong số các công trình nghiên cứu về chính sách của Mỹ với khu vực, tiêu

biểu có cuốn sách “By more than Providence – Grand Strategy and American

Power in the Asia Pacific Since 1783” của Michael J Green (Columbia

University Press năm 2017), phân tích chính sách của Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương qua các giai đoạn lịch sử: từ sự nổi lên của Mỹ với Đại Chiến lược của Roosevelt; sự nổi lên của Nhật Bản đầu thế kỷ XX và cuộc chiến chống Nhật Bản; sự nổi lên của Liên Xô, chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và cuộc chiến ở Việt Nam; cho đến sự nổi lên của Trung Quốc và chiến lược tái cân bằng của Mỹ ở khu vực Cuốn sách chỉ ra rằng, trải qua 200 năm, Mỹ đã xây dựng một chiến lược với khu vực và có khả năng triển khai Đại chiến lược châu Á

Trang 20

Với vai trò ngày càng tăng của mình, châu Á xứng đáng nhận được đầu tư lớn hơn cả về ngoại giao, quân sự, kinh tế và Mỹ cần thúc đẩy một hệ thống dựa trên luật lệ ở châu Á – Thái Bình Dương

Bên cạnh đó, cuốn “The Pivot: The Future of American Statecraft in Asia”

(Nxb Twelve năm 2016) của cựu Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell, công trình

sư của chiến lược “xoay trục”, cung cấp những đánh giá cụ thể về chính sách của

Mỹ với khu vực dưới thời chính quyền Tổng thống Obama và những yêu cầu của

“xoay trục” trong tương lai Tác giả phân tích nguyên nhân và lý giải các tầng nấc của chiến lược xoay trục, trong đó gia tăng can dự với các cơ chế khu vực được xem là một trong những trụ cột chính

Nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về quan hệ Mỹ – Trung Quốc, đánh giá đây sẽ là quan hệ chi phối khu vực châu Á – Thái Bình Dương Tiêu biểu có

cuốn sách “Easternisation: Asia's Rise and America's Decline From Obama to

Trump and Beyond” của Gideon Rachman (Nxb Other Press năm 2017), cuốn

“The Hundred-Year Marathon: China's Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower” của Micheal Phillsbury (Nxb Henry Holt năm 2016),

cuốn sách “Destined for War – Can America and China escape from

Thucydides’s Trap” của Graham Allison (Nxb Houghton Mifflin Harcourt năm

2017) Các cuốn sách này phân tích về sự suy yếu tương đối của Mỹ trong khi Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ và có khả năng thách thức ảnh hưởng của

Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Các học giả cảnh báo về sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa hai cường quốc và các nguy cơ xung đột có thể xuất hiện ở khu vực, nhất là khi nhìn lại bài học lịch sử, phần lớn sự nổi lên của một cường quốc với tham vọng phá vỡ trật tự hiện hành sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh Chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có việc sử dụng các công cụ đa phương từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay đều nhằm vào mục tiêu duy trì vị trí và ảnh hưởng số một toàn cầu và khu vực của Mỹ, ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trang 21

Các tác giả Việt Nam có nhiều nghiên cứu về chính sách của Mỹ với châu

Á – Thái Bình Dương, đặc biệt tập trung nhiều vào quan hệ Mỹ – Trung Cuốn

sách “Quan hệ Mỹ - Trung, hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân

bằng quyền lực”, do Nguyễn Thái Yên Hương chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia

năm 2011), dựa trên cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực, giải thích khía cạnh hợp tác và cạnh tranh trong quan hệ Mỹ – Trung từ vài thập kỷ nay Một số công trình nghiên cứu phân tích chính sách của Mỹ với các cơ chế khu vực, tiêu biểu

như cuốn “Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh

lạnh” của Lê Khương Thùy (Nxb Khoa học Xã hội năm 2003), đánh giá vị trí

của ASEAN trong chiến lược toàn cầu của Mỹ và rà soát chính sách của Mỹ đối với ASEAN kể từ khi ASEAN ra đời

2.5 Qua nghiên cứu các tác phẩm, có thể thấy một số nội dung sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu riêng về ngoại giao đa phương, chủ

nghĩa đa phương, các thể chế đa phương và về ngoại giao đa phương của Mỹ xuất hiện nhiều vào giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh và chịu ảnh hưởng nhiều của các lý thuyết tự do, kiến tạo Trong khi đó, các tác giả theo trường phái hiện thực thường không có các nghiên cứu riêng về ngoại giao đa phương, mà nghiên cứu ngoại giao đa phương như một công cụ của chính sách đối ngoại Các nghiên cứu theo trường phái hiện thực tập trung phân tích các nhân tố như sức mạnh quốc gia, lợi ích quốc gia, sự cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc để lý giải cho việc lựa chọn các công cụ chính sách, trong đó có ngoại giao đa phương

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ thường

phân tích chính sách qua các thời kỳ, tập trung vào quan hệ giữa Mỹ với các nước lớn, đặc biệt là quan hệ Mỹ – Trung, hoặc chính sách của Mỹ với các khu vực, trong đó có chính sách với châu Á – Thái Bình Dương Trong khi đó, các công trình nghiên cứu riêng biệt về ngoại giao đa phương của Mỹ, việc Mỹ sử dụng ngoại giao đa phương trong chính sách với Châu Á – Thái Bình Dương có

số lượng ít hơn hẳn

Trang 22

Thứ ba, từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, cùng với sự quan

tâm của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, có sự gia tăng mạnh các công trình nghiên cứu về chính sách của Mỹ với khu vực Phần lớn các công trình này tập trung nghiên cứu chính sách dưới từng thời kỳ Tổng thống Số ít hơn đề cập đến ngoại giao đa phương của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng cũng theo cách tiếp cận nghiên cứu về từng nhiệm kỳ Tổng thống Không có nhiều công trình đánh giá công cụ đa phương của Mỹ ở khu vực một cách xuyên suốt từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay

Thứ tư, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngoại giao đa phương

không nhiều, nếu so với các công trình nghiên cứu về các cặp quan hệ song phương giữa các cường quốc, chính sách khu vực của các cường quốc Phần lớn các công trình nghiên cứu về một số cơ chế đa phương cụ thể, hoặc thực tiễn tham gia của Việt Nam vào các tổ chức đa phương, tổng kết quá trình tham gia của Việt Nam Các công trình nghiên cứu cũng chưa cập nhật được những biến động nhanh và phức tạp của tình hình hiện nay

Trong bối cảnh đó, Luận án có dư địa để nghiên cứu về ngoại giao đa phương trong chính sách của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay Kế thừa các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước, Luận án dự kiến triển khai nghiên cứu về về lịch sử sự tham gia của Mỹ trong các cơ chế đa phương, áp dụng các trường phái lý thuyết, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực, nhằm lý giải việc sử dụng ngoại giao đa phương như một công

cụ trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và chính sách của Mỹ với châu

Á – Thái Bình Dương nói riêng Luận án sẽ tập trung nghiên cứu về sự can dự của Mỹ đối với một số các cơ chế đa phương ở khu vực sau Chiến tranh Lạnh và đánh giá kết quả của việc triển khai công cụ đa phương đối với việc thực hiện mục tiêu của Mỹ ở với khu vực Trên cơ sở đó, Luận án có thể dự báo được xu hướng chính sách của Mỹ với khu vực và sự can dự của Mỹ trong các cơ chế đa phương ở khu vực trong tương lai Những đánh giá này có thể đóng góp thiết

Trang 23

thực vào quá trình xây dựng chính sách của Việt Nam với Mỹ và phục vụ tốt hơn cho sự tham gia của Việt Nam tại các cơ chế đa phương ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của Luận án là từ góc độ của Việt Nam làm rõ vai trò, đặc điểm của ngoại giao đa phương trong chính sách của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, làm rõ việc Mỹ sử dụng ngoại giao đa phương như một công cụ trong chính sách khu vực sau Chiến tranh Lạnh

Để thực hiện mục tiêu đó, Luận án giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, xác định các nhân tố chủ yếu tác động đến việc Mỹ sử dụng công

cụ đa phương trong chính sách đối ngoại nói chung từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay Để xác định được các nhân tố này, cần nghiên cứu cả từ góc độ lý thuyết và thực tiễn việc triển khai ngoại giao đa phương của Mỹ trong lịch sử

Thứ hai, phân tích chính sách châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ sau

Chiến tranh Lạnh và việc sử dụng công cụ đa phương trong chính sách khu vực qua các thời kỳ Tổng thống

Thứ ba, phân tích một số trường hợp cụ thể về sự tham gia của Mỹ trong

các cơ chế đa phương ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương để chứng minh cho các nhận định về vai trò, đặc điểm ngoại giao đa phương của Mỹ Đồng thời, làm

rõ kết quả của việc triển khai công cụ đa phương và những hạn chế của công cụ này trong việc thực hiện các mục tiêu của Mỹ ở khu vực

Thứ tư, dự báo khả năng Mỹ sử dụng ngoại giao đa phương trong chính

sách với khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai; đánh giá tiềm năng của quan hệ Việt – Mỹ tại các cơ chế khu vực và đưa ra những kiến nghị về chính sách đối với Việt Nam

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là việc triển khai ngoai giao đa phương

trong chính sách đối ngoại của Mỹ Ngoại giao đa phương của Mỹ có nhiều tầng

Trang 24

nấc, song Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về việc sử dụng ngoại giao đa phương ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Về phạm vi nghiên cứu, xét từ khía cạnh khung thời gian, Luận án nghiên

cứu giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay Giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ trong trật tự quốc tế cũng như chính sách đối ngoại của Mỹ, trong

đó có chính sách ngoại giao đa phương Luận án tập trung nhiều hơn vào thời kỳ Chính quyền Obama do đây là thời kỳ Mỹ tăng cường can dự sâu rộng vào các

cơ chế đa phương, đặc biệt là các cơ chế đa phương ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Ngoài ra, Luận án cũng tham khảo thực tiễn ngoại giao đa phương

của Mỹ trong lịch sử Xét về phạm vi địa lý, Luận án tập trung vào khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương Cụ thể, Luận án nghiên cứu ngoại giao đa phương của

Mỹ trong tổng thể chính sách của Mỹ với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

5 PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế cơ bản dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách, phương pháp nghiên cứu lý thuyết quan hệ quốc tế Trong đó, tác giả tập trung vận dụng lý thuyết hiện thực trong nghiên cứu việc sử dụng ngoại giao đa phương như một công cụ trong chính sách của Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương do lý thuyết này

đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ trong chính giới, học giả Mỹ Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tham khảo và áp dụng một số khía cạnh của các lý thuyết khác về chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế

Tác giả vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic khi tham chiếu lịch sử hình thành chính sách đa phương của Mỹ, chính trị nội bộ Mỹ, đường lối truyền thống của các Đảng phái Mỹ đối với các cơ chế đa phương Bên cạnh đó, tác giả cũng vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh khi đánh giá về chính sách của Mỹ qua các thời kỳ tổng thống và một số phương pháp thông thường

Trang 25

khác như phân tích tổng hợp, dự báo chính sách Tác giả cũng tham khảo ý kiến của một số chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ và về ngoại giao đa phương

Chính sách đối ngoại của Mỹ đã và đang là trọng tâm nghiên cứu của các

cơ quan hoạch định chính sách và trung tâm nghiên cứu Tuy nhiên, như đã trình bày tại phần trước, hầu như chưa có nghiên cứu từ góc độ của Việt Nam về ngoại giao đa phương của Mỹ trong chính sách đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương Luận án có thể đóng góp ở một số khía cạnh sau:

Về khía cạnh khoa học, Luận án có thể góp phần lý giải rõ hơn việc sử dụng ngoại giao đa phương như một công cụ trong chính sách của Mỹ với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thông qua lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực Mặc dù quan niệm thông thường mặc nhiên xem chủ nghĩa hiện thực không đánh giá cao các cơ chế đa phương, song qua nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực, tác giả nhận thấy đây là cách tiếp cận hợp lý để hiểu về cách tiếp cận của Mỹ với các cơ chế trong khu vực

Về kết quả nghiên cứu, Luận án sẽ cung cấp những đánh giá về ngoại giao

đa phương trong tổng thể chính sách của Mỹ với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Qua đó, Luận án sẽ đưa ra những dự báo về các định hướng của Mỹ với các thể chế khu vực trong thời gian tới, cũng như khả năng thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ ở các cơ chế khu vực Những đánh giá này hoàn toàn có thể áp dụng trong các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam, trong đó có đơn vị công tác của tác giả

Luận án cũng có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm nghiên cứu về Mỹ, chính sách đối ngoại của Mỹ và về ngoại giao đa phương

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận án chia thành ba Chương như sau:

Chương 1 - Ngoại giao đa phương trong chính sách đối ngoại của Mỹ

Trang 26

Chương này phân tích khái quát về sự hình thành và phát triển của ngoại giao đa phương, xây dựng khung lý thuyết, trong đó chủ yếu vận dụng lý thuyết hiện thực Sau đó, Luận án đi vào phân tích thực tiễn triển khai ngoại giao đa phương trong lịch sử Mỹ, trong đó có việc thúc đẩy sự ra đời các cơ chế đa phương toàn cầu, các cơ chế khu vực ở Bắc Đại Tây Dương và châu Á – Thái Bình Dương và xác định các nhân tố tác động đến việc sử dụng ngoại giao đa phương như một công cụ trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh

Chương 2 - Thực tiễn triển khai ngoại giao đa phương trong chính sách của Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh

Chương này tập trung phân tích chính sách của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh, làm rõ vị trí của ngoại giao đa phương trong chính sách đó Tác giả đi sâu phân tích hai trường hợp nghiên cứu cụ thể:

sự can dự của Mỹ trong cơ chế do ASEAN chủ trì và sự dẫn dắt của Mỹ trong các cơ chế kinh tế của khu vực, trong đó có APEC và TPP, qua đó minh chứng

về vai trò và đặc điểm của công cụ đa phương trong chính sách của Mỹ với khu vực Chương này cũng đưa ra đánh giá về kết quả và những hạn chế của trong triển khai ngoại giao đa phương của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Chương 3 - Triển vọng ngoại giao đa phương của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương và quan hệ Việt – Mỹ tại các cơ chế khu vực

Trong chương này, Luận án dự báo về một số nhân tố sẽ có thể tác động đến việc sử dụng công cụ đa phương của Mỹ ở khu vực trong tương lai và phân tích chiều hướng chính sách của Mỹ, xu hướng can dự của Mỹ đối với các cơ chế an ninh, kinh tế của khu vực Luận án cũng đánh giá về tình hình và dự báo

về hợp tác Việt – Mỹ ở các cơ chế khu vực trong tương lai Đồng thời, Luận án đưa ra một số kiến nghị chính sách đối với Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 1

NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của ngoại giao đa phương

Từ điển bách khoa toàn thư Britannica định nghĩa chủ nghĩa đa phương là một tiến trình tổ chức các mối quan hệ giữa các nhóm gồm ba quốc gia hoặc nhiều hơn [297] Về ngoại giao đa phương, Sổ tay Oxford về ngoại giao hiện đại của tác giả Kishore Mahbubani định nghĩa ngoại giao đa phương là cách thức tập hợp nhiều hơn hai quốc gia hay hai bên nhằm đạt được những giải pháp ngoại giao cho các vấn đề [101] Như vậy, theo cách hiểu chung, nếu chủ nghĩa đa phương cho thấy xu hướng thì ngoại giao đa phương tập trung vào phương thức Dựa vào cách định nghĩa này, khi nhìn lại lịch sử văn minh loài người thì thấy hình thức hợp tác đa phương đã xuất hiện từ cách đây nhiều thế kỷ Ở Trung Quốc thời Chiến quốc, trong khoảng từ những năm 323 – 240 tr CN, đã xuất hiện các liên minh “hợp tung”1 và “liên hoành”2 Các nước lớn có kế sách “liên hoành”

để gây sức ép với các nước nhỏ Trong khi đó, các nước nhỏ cũng tìm cách lập liên minh “hợp tung” thông qua các cuộc thương thuyết, ngoại giao, để ứng phó với các nước lớn, chủ yếu nhằm chống lại nước Tần, nước mạnh nhất thời đó [22] Tuy nhiên, “hợp tung” chỉ là một hình thức hợp tác nhiều bên sơ khai, không mang tính bền vững Ban đầu “hợp tung” có đem lại thắng lợi nhất định, song cuối cùng đã bị nước Tần phá vỡ và dần thôn tính tất cả các quốc gia khác

Trang 28

Trong lịch sử văn minh phương Tây, các hình thức hợp tác nhiều bên cũng xuất hiện từ sớm Thời Hy Lạp cổ đại, vào khoảng những năm 400 tr CN, đã xuất hiện hàng loạt liên minh giữa các thành bang như liên minh Pelopnonnesus

do Sparta lãnh đạo (liên minh các thành bang ven biển và quốc đảo), liên minh Delos do Athens lãnh đạo (liên minh các thành bang trên đất liền) Các liên minh nhiều bên được thành lập chủ yếu nhằm tập hợp lực lượng, củng cố quyền lực, kiểm soát giao thương trên biển Cuối cùng hai liên minh lớn đã dẫn đến chiến tranh Peloponnesian từ 431-404 tr CN [297]

Bước vào thời kỳ cận đại, ở châu Âu cũng có một số thỏa thuận nhiều bên, tiêu biểu là thỏa thuận về liên minh Pháp – Thổ Nhĩ Kỳ – Ottoman vào thế kỷ XVI nhằm chống lại Đức Song phải đến Hòa ước Westphalia ở Châu Âu thì mới có thể xem như trường hợp đầu tiên đạt được thỏa thuận ở tầm khu vực thông qua các cuộc thương lượng đa phương Sau nhiều cuộc thương lượng của

109 đoàn Châu Âu, các bên đã đạt được nhiều thỏa ước, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm giữa vương triều Habsburg của Áo với Tây Ban Nha, Đan mạch, Thụy Điển, Pháp và nhiều vương quốc ở châu Âu (1618-1648) và cuộc chiến tranh kéo dài 80 năm giữa Đức và Tây Ban Nha (1568-1648) [161, tr.36] Một trường hợp khác là Hiệp ước Den Haag (ký ngày 7/9/1701), thành lập liên minh Augsburg, bao gồm Áo, Bavaria, Brandenburg, Hà Lan, Anh, Ireland, Bồ Đào Nha, Savoy, Saxony, Scotland, Tây Ban Nha, Thụy Điển, chống lại sự bành chướng của Pháp dưới thời Louis XIV Sau khoảng một thập kỷ chiến tranh, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Savoy, Hà Lan đã đi vào đàm phán và ký kết Hòa ước Utrecht, gồm nhiều thỏa thuận từ tháng 4/1714 đến tháng 9/1714, theo

đó ngai vàng Tây Ban Nha dành cho cháu vua Louis XIV; Pháp công nhận Nữ hoàng Anh Anne, giành được công quốc Orange từ Phổ, nhưng phải nhượng lại cho Anh New Foundland, St Kitts, Nova Scotia, Hudson Bay; thu hẹp thuộc địa

ở Mỹ La tinh [297]

Trang 29

Đến thế kỷ XIX, những hình thức hợp tác nhiều bên xuất hiện thường xuyên hơn, mức độ thể hóa cũng cao hơn, trong đó đặc biệt phải kể đến Hội nghị Viên kéo dài từ tháng 11/1814 đến 6/1815 sau khi Napoleon thất bại, nhằm thương lượng một kế hoạch hòa bình lâu dài Trên thực tế, đây là một hội nghị phân chia quyền lực, đất đai với kết quả là sự ra đời của trật tự đa cực hòa hợp quyền lực ở Châu Âu giữa các cường quốc Anh, Nga, Đức, Pháp, Phổ Hội nghị Viên đã mở ra một khuôn khổ cho trật tự chính trị ở Châu Âu cho đến trước khi Chiến tranh thế giới thứ I nổ ra năm 1914 [220, tr 149] Trên nền tảng của trật tự

đa cực Viên, nhiều thỏa thuận đa phương, cơ chế đa phương khác ở Châu Âu cũng có điều kiện được ra đời và phát huy vai trò, trong đó có các Hội nghị Geneva về các vấn đề nhân đạo, sự ra đời của Ủy hội sông Ranh (1815), Tổ chức chữ thập đỏ quốc tế (1863), Liên hiệp bưu chính quốc tế (1865)…

Bước sang thế kỷ XX, các cơ chế đa phương, thỏa thuận đa phương đã xuất hiện ngày càng nhiều Hội Quốc Liên ra đời năm 1919 và đặc biệt sau đó là LHQ năm 1945 đã đặt nền móng cho sự ra đời của chủ nghĩa đa phương và ngoại giao

đa phương hiện đại Cho đến nay, ngoại giao đa phương đã thành một hình thức phổ biến trong quan hệ quốc tế, cũng là công cụ không thể thiếu của mỗi quốc gia trong triển khai chính sách đối ngoại

Các hình thức hợp tác đa phương hiện nay rất đa dạng và có nhiều cách phân loại khác nhau Theo cách phân loại thường được sử dụng trong các văn

kiện của LHQ thì có thể phân thành ba nhóm chính [304] Thứ nhất, đó là nhóm

các thỏa thuận, cơ chế hợp tác toàn cầu, bao gồm LHQ, WB, IMF, WTO, Các công ước quốc tế về các lĩnh vực khác nhau như Công ước luật biển, Công ước chống ma túy và các chất hướng thần, Công ước đa dạng sinh học, các công ước

quốc tế về quyền con người Thứ hai, đó là các nhóm thỏa thuận, cơ chế hợp

tác ở cấp độ khu vực Có rất nhiều ví dụ thuộc nhóm này ví dụ như EU, ASEAN, Liên minh Châu Phi, các hiệp định khu vực như MECOSUR, NAFTA, AFTA, các cơ chế hợp tác tiểu vùng như Ủy hội Mê Công, hợp tác CLMV, NATO

Trang 30

Nhóm này có thể bổ sung thêm các tổ chức, cơ chế hợp tác liên khu vực như APEC (gồm 21 nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương), ASEM (53 thành viên

châu Âu và châu Á) Thứ ba, các hình thức hợp tác giữa một nhóm quốc gia theo từng lĩnh vực cụ thể như Nhóm BRICS, G7, G20, Nhóm Pháp ngữ

Tuy vậy, cách phân nhóm trên đây chưa thể hiện được sự đa dạng và phong phú của các hình thức hợp tác đa phương hiện nay Thời gian gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều các cơ chế, sáng kiến đa phương Có cơ chế mang tính thể chế cao, song có cơ chế chỉ mang tính chất tạm thời hoặc chỉ dừng lại ở các hội nghị, diễn đàn trao đổi thông tin, các sáng kiến trong một số lĩnh vực cụ thể như năng lượng, môi trường, nhân đạo, phòng chống tội phạm Nhiều sáng kiến không chính thức đã tạo thương hiệu riêng và trở thành các cơ chế định kỳ như Đối thoại Shangri-La3, Diễn đàn châu Á Bắc Ngao4, Hội nghị tương lai châu Á5 Bên cạnh đó, khái niệm ngoại giao đa phương hiện nay đang ngày càng mở rộng không chỉ thể hiện hoạt động ngoại giao nhà nước Quốc hội, các tổ chức nhân dân, các Đảng chính trị cũng tổ chức các hình thức trao đổi, gặp gỡ với quy mô ngày càng lớn và ngày càng phát huy vai trò trong quan hệ quốc tế nói chung

1.1.2 Cách nhìn nhận của chủ nghĩa hiện thực về ngoại giao đa phương

Trường phái hiện thực đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và chính sách với các cơ chế đa phương nói riêng từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến nay Không chỉ giới học giả, mà còn không ít chính khách Mỹ tự nhận mình là những người theo trường phái hiện thực, trong đó có công trình sư của Chiến tranh Lạnh George Kennan, Cố vấn

3

Đối thoại Shangri-La: diễn đàn về an ninh tổ chức thường niên tại Shangri-La, Singapore, với sự tham gia

của các nhà Lãnh đạo chính phủ, các Bộ trưởng Quốc phòng, giới quân sự, học giả

4

Diễn đàn châu Á Bắc Ngao (Boao Forum for Asia): diễn đàn về kinh tế, phát triển, tổ chức thường niên ở

Bắc Ngao, Trung Quốc, với sự tham gia của các nhà Lãnh đạo chính phủ, giới doanh nghiệp, học giả

5

Hội nghị tương lai châu Á: diễn đàn được tổ chức thường niên tại Nhật Bản, với sự tham gia của các nhà

Lãnh đạo, giới học giả, doanh nghiệp

Trang 31

An ninh quốc gia, Ngoại trưởng Henry Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia Zbigniew Brzezinski và kể cả Tổng thống George H.W Bush

Nhà hiện thực John Mearsheimer định nghĩa các thể chế đa phương là tập hợp các luật lệ quy định cách thức quốc gia hợp tác và cạnh tranh với nhau Các luật lệ này do các quốc gia thương lượng, quy định các hành vi có thể chấp nhận được và những hành vi không thể chấp nhận được, tạo thành chuẩn mực về quyền và nghĩa vụ Các luật lệ thường được xây dựng thành các thỏa thuận quốc

tế, gắn với sự thành lập các tổ chức quốc tế với nhân sự và ngân sách riêng [184, tr.8] Từ định nghĩa này có thể thấy, quốc gia là bên quyết định hoạt động của các thể chế đa phương Các thể chế đa phương không phải là nhân tố quyết định

và có ảnh hưởng rất nhỏ đến hành vi của các quốc gia Các tổ chức quốc tế không phải là chính phủ ở tầm toàn cầu để có thể bắt buộc các quốc gia tuân theo luật lệ [184, tr.7]

Cách tiếp cận hiện thực về ngoại giao đa phương thể hiện một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, các nhà hiện thực cho rằng các thỏa thuận đa phương, các tổ chức

quốc tế phản ánh sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia Hans Morgenthau cho rằng chính trị quốc tế là cuộc chiến để đạt quyền lực giữa các quốc gia và các bản hiệp ước đa phương ra đời chủ yếu là nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý

để dịch chuyển quyền lực từ bên thua trận sang bên thắng trận Các hiệp ước, các

tổ chức quốc tế bảo đảm việc phân chia lại quyền lực và duy trì một “hiện trạng” mới được thiết lập Chẳng hạn Hòa ước Paris và việc thành lập Liên minh Thần thánh năm 1815 phân chia lại quyền lực sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Napoleon Các hòa ước năm 1919 và việc thành lập Hội quốc liên tạo nền tảng pháp lý cho việc phân chia lại quyền lực sau Chiến tranh thế giới thứ I Hiệp ước giữa 9 cường quốc về các nguyên tắc và chính sách trong các vấn đề liên quan đến Trung Quốc ngày 6/2/1922 là sự phân chia quyền lực giữa các nước lớn

Trang 32

trong quan hệ thương mại với Trung Quốc [199, tr 22, 23, 24] Mearsheimer cũng chia sẻ quan điểm này và bổ sung rằng các thỏa thuận đa phương trong nhiều trường hợp ra đời nhằm đáp ứng quan tâm của các cường quốc, kiểm soát quyền lực của nhau, ví dụ như các thỏa thuận kiểm soát vũ khí giữa các cường quốc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh [184, tr.13]

Thứ hai, ngoại giao đa phương được các quốc gia sử dụng như một công cụ

chính sách nhằm tối đa hóa quyền lực Theo Hans Morgenthau, các quốc gia có thể thành lập các liên minh đa phương để bảo đảm cân bằng quyền lực Đó có thể là các liên minh giữa nhiều nước nhằm ứng phó với một cường quốc, ví dụ như Liên minh Pháp – Thổ Nhĩ Kỳ – Ottoman vào thế kỷ XVI ở châu Âu chống lại việc Đức mở rộng đế chế Hapsburg, các liên minh hình thành xung quanh Anh, Hà Lan nhằm chống lại sự lớn mạnh của Pháp, các liên minh trong Chiến tranh thế giới thứ II nhằm chống lại Đức, Nhật Đồng thời, đó cũng có thể là các liên minh được thành lập để tập hợp lực lượng, tranh giành quyền lực, ví dụ như liên minh dưới sự lãnh đạo của Pháp, Thụy Điển chống lại liên minh dưới sự lãnh đạo của Áo trong Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648), hay các liên minh

ra đời trong Chiến tranh thế giới I [199, tr.138] Mearsheimer cũng nhất trí với quan điểm của Morgenthau và cho rằng chính mục tiêu cân bằng quyền lực khiến các quốc gia có thể hợp tác, thành lập các liên minh chống lại kẻ thù chung [184, tr.13]

Thứ ba, các quốc gia sử dụng ngoại giao đa phương vì lợi ích của chính

mình, không phải vì giá trị, lý tưởng hợp tác Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, một học giả theo trường phái hiện thực, luôn nhìn nhận các thể chế đa phương như một công cụ được sử dụng phù hợp với yêu cầu của các quốc gia Ông cho rằng Hòa ước Westphalia là “một sự dàn xếp thực dụng” đáp ứng với tình hình thực tế, là việc hệ thống các quốc gia độc lập “ngăn cản việc can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” và “kiểm soát tham vọng của nhau bằng một trạng thái cân bằng quyền lực” [168, tr.496] Tương tự như vậy, Mearsheimer

Trang 33

cho rằng các cường quốc sử dụng các cơ chế đa phương nhằm duy trì hoặc gia tăng quyền lực của họ trong hệ thống quốc tế, ví dụ như tổ chức NATO trong Chiến tranh Lạnh “chủ yếu là công cụ của Mỹ để quản lý quyền lực trước mối đe dọa của Liên Xô” [184, tr.14]

Trên cơ sở nhận định này, các nhà hiện thực không tin vào “những giá trị phổ quát” và nghi ngờ vai trò của Liên hợp quốc Morgenthau cho rằng ở các diễn đàn LHQ, “các đại biểu nói với thế giới nhiều hơn là nói với nhau Mục tiêu không phải là thuyết phục lẫn nhau về các điểm chung mà là thuyết phục thế giới

và quốc gia của họ rằng họ đúng và bên kia sai” [199, tr.433,436] Ông đánh giá không cao việc các quyết định ở LHQ được thông qua bằng đa số mà không có

cơ chế giám sát như Quốc hội, không bị Tổng thống phủ quyết, không bị Tòa án xem xét lại Sự tồn tại của hai khối đối lập cũng khiến cho các quyết định ở LHQ mang nặng màu sắc chính trị và có thể bị vô hiệu hóa Quyền phủ quyết của các thành viên thường trực Hội đồng bảo an đưa cho thiểu số vũ khí để chống lại mong muốn của số đông Morgenthau cho rằng trên hết, sức mạnh mới là điều có thể hạn chế các quốc gia, luật pháp quốc tế và sự đồng thuận đạo đức chung chỉ

có thể hạn chế các quốc gia trong một số trường hợp LHQ không thể xử lý xung đột giữa các cường quốc; các cường quốc giải quyết vấn đề này bên ngoài LHQ [199, tr.427, 428]

George Kennan, người tham mưu chính sách ngăn chặn Liên Xô của Mỹ, cũng thể hiện quan điểm tương đồng với Morgenthau Trong Báo cáo ngày 24/2/1948 gửi Ngoại trưởng Mỹ, Kennan chỉ trích cách tiếp cận ủng hộ các giải pháp phổ quát, áp dụng cho tất cả quốc gia như tại LHQ, ITO, UNESCO, Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế, không tin vào thủ tục quyết định kiểu nghị viện của LHQ và cho rằng việc ủng hộ nguyên tắc phổ quát là phí phạm, chạy trốn khỏi thực tế vì không thể dồn nén các vấn đề quốc tế trong các khái niệm pháp lý Kennan ủng hộ cách tiếp cận đặc thù với từng vấn đề, đúng như thực tế vốn có vì nội dung quan trọng hơn hình thức Các hình thức liên minh đa phương

Trang 34

“có thể hiệu quả nếu xây dựng trên cơ sở cộng đồng thực sự về lợi ích và tầm nhìn, và chỉ có giữa những nhóm chính phủ hạn chế chứ không thể dựa trên những hình thức trừu tượng về luật pháp quốc tế phổ quát hay tổ chức quốc tế” Chính vì vậy, Mỹ cần tập trung vào thực hiện Kế hoạch phục hồi kinh tế Châu

Âu, ý tưởng liên minh Châu Âu [159, tr.527] Cách lý giải này cho thấy Kennan tiếp cận các cơ chế đa phương một cách có chọn lựa, không căn cứ vào những chuẩn mực chung, mà căn cứ vào thực tế và lợi ích của Mỹ Đây có lẽ cũng là cách tiếp cận có tính chi phối đối với chính sách ngoại giao đa phương của Mỹ trong nhiều thập kỷ sau này

Các nhà hiện thực thời nay, thuộc trường phái hiện thực mới, hiện thực cấu trúc, dường như coi trọng hơn công cụ đa phương trong việc nâng cao quyền lực của quốc gia Là những người luôn đề cao “thực tế”, họ nhận thấy những thay đổi mạnh mẽ trong trật tự thế giới Họ thừa nhận tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, sự xuất hiện của các thách thức toàn cầu, cũng như nhu cầu tận dụng nhiều hơn công cụ đa phương Dù vậy, các nhà hiện thực mới vẫn luôn nhấn mạnh vai trò quyết định của quốc gia đối với các thể chế đa phương, đặc biệt là các cường quốc Kenneth Waltz cho rằng các tổ chức quốc tế ra đời và tồn tại chừng nào còn phục vụ cho những lợi ích của các quốc gia lớn mạnh và “Các công ước, hiệp định và tổ chức quốc tế hoặc là duy trì gắn bó với sự phân bổ quyền lực giữa các quốc gia hoặc là chúng sẽ thất bại [278, tr.26] Kenneth Waltz luôn nhấn mạnh rằng các tổ chức quốc tế trên hết là công cụ của các quốc gia, là phương tiện theo đuổi lợi ích quốc gia Tác động của các tổ chức là mạnh hay yếu phụ thuộc vào ý đồ của các quốc gia, “các cường quốc sử dụng các tổ chức theo cách phù hợp với họ, cũng giống như khi họ diễn giải luật pháp theo cách có lợi cho mình” Sở dĩ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ vẫn ủng hộ NATO vì đó là phương tiện duy trì sự thống trị của Mỹ đối với chính sách quân

sự, đối ngoại của Châu Âu; và “việc Mỹ có khả năng kéo dài sự sống của một tổ chức đang hấp hối cho thấy rõ cách các tổ chức quốc tế được tạo ra và duy trì bởi

Trang 35

các quốc gia lớn mạnh hơn để từ đó phục vụ cho những lợi ích có thể đúng đắn hoặc sai lầm”[278, tr.26]

So với các nhà hiện thực truyền thống, các nhà hiện thực mới ít phê phán LHQ hơn, nhưng cho rằng LHQ cần cải tổ để thích ứng với tình hình mới, đáp ứng lợi ích của các quốc gia Suzanne Nossel cho rằng Mỹ cần ủng hộ LHQ không phải vì tính pháp lý, giá trị phổ quát mà vì “những lợi ích thực tế” và cần xóa bỏ “niềm tin mù quáng vào chủ nghĩa đa phương để xây dựng một cơ chế toàn cầu hoàn thành các nhiệm vụ của mình” [209, tr.140] Bên cạnh đó, một số nhà hiện thực mới thừa nhận vai trò của các cơ chế đa phương trong xử lý các vấn đề toàn cầu như Andrew Bacevich và Amy Chua Họ tin rằng tại các cơ chế

đa phương, các quốc gia có thể đạt được lợi ích của mình một cách dễ dàng hơn khi những lợi ích này phù hợp với lợi ích của người khác Amy Chua đề xuất Mỹ thúc đẩy các cơ chế đa phương, trong và ngoài khuôn khổ LHQ hoặc tạo ra những thể chế hoàn toàn mới: “Mỹ nên nhìn nhận chủ nghĩa đa phương mới, không phải như một sự đầu hàng mà là một cơ hội Với việc nhận thức xem có thể đóng góp như thế nào trong xử lý các vấn đề toàn cầu…, giữ vị trí dẫn dắt trong các nỗ lực quốc tế, Mỹ có thể bảo đảm lợi ích quốc gia của mình” [93, tr.341] Như vậy, các thể chế đa phương được nhìn nhận từ lợi ích thực tế các cơ chế mang lại để Mỹ có thể duy trì quyền lực Nhưng khái niệm quyền lực, sức mạnh ngày nay đã được mở rộng Các thể chế đa phương có thể giúp Mỹ tạo ra

“sức mạnh mềm”, “sức mạnh thông minh” Bản thân việc Mỹ áp dụng “sức mạnh thông minh” cũng là một sự lựa chọn thực tế, chứ không phải là sự lựa chọn mang tính chất ý thức hệ [238, tr.293]

1.1.3 Một số cách tiếp cận khác về ngoại giao đa phương

1.1.3.1 Chủ nghĩa tự do

Các nhà tân tự do như Robert Keohane định nghĩa chủ nghĩa đa phương là

“hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với

Trang 36

nhau” thông qua những dàn xếp mang tính thời vụ hoặc các công cụ mang tính thể chế [162, tr.731,733] Những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng hợp tác quốc tế là kênh hiệu quả trong xử lý các vấn đề quốc tế và dùng “lý thuyết trò chơi”6 để lý giải nhu cầu hợp tác quốc tế Để bảo đảm các quốc gia cùng tham gia hợp tác, cần hình thành các thể chế đa phương để khắc phục tình trạng thông tin bất đối xứng, giúp các bên hiểu nhau, giảm chi phí giao dịch, tạo ra một khuôn khổ mang tính pháp lý chung Một điểm khá tương đồng với trường phái hiện thực là việc Robert Keohane khẳng định các thể chế đa phương không thể vượt trên các quốc gia; các quốc gia tạo ra và kiểm soát tiến trình ra quyết sách của các tổ chức quốc tế Tuy nhiên, ông đề cao khía cạnh hợp tác hơn các nhà hiện thực Ông cho rằng các tổ chức toàn cầu như LHQ, WTO và các cơ chế đa phương khác có tác dụng tích cực vì có “thể giảm chi phí xây dựng và triển khai các thỏa thuận, giúp cung cấp thông tin về chính sách các quốc gia, và làm tăng chi phí của việc không thực hiện các cam kết, do đó nâng cao uy tín của các lời hứa” [163, tr 57]

Các học giả James Caporaso và Lisa Martin cũng chia sẻ quan điểm trên và nhấn mạnh các cơ chế đa phương, với sự tham gia của nhiều “người chơi”, giúp giảm chi phí giao dịch vì thông tin cung cấp hiệu quả hơn, khả năng đánh lừa lẫn nhau cũng giảm Các cơ chế đa phương tăng cơ hội trao đổi, thảo luận và thuyết phục lẫn nhau giữa các quốc gia, do đó cũng tăng khả năng hợp tác Không chỉ là nguồn cung cấp thông tin, các cơ chế đa phương còn giúp chuẩn mực hóa, thể chế hóa dữ liệu, tiêu chí, luật lệ [87]

Các học giả theo chủ nghĩa tự do giải thích việc Mỹ ủng hộ sự hình thành các thể chế đa phương từ sau Chiến tranh thế giới thứ II do nhiều lý do Trước

6

Lý thuyết trò chơi hiện đại được cho là “con đẻ” của nhà toán học John von Neumann và nhà kinh tế học Oskar Morgenstern Đây là hai đồng tác giả của cuốn sách có tựa đề "Theory of Games and Economic Behaviour", xuất bản năm 1944 Lý thuyết trò chơi hiện nay được áp dụng rộng rãi trong tâm lý học, kinh tế học và khoa học chính trị để phân tích hành vi hợp tác, xung đột của các chủ thể, dựa trên giả thuyết mỗi chủ thể đều hành động lý tính

Trang 37

hết, đó là các thể chế đa phương giúp giảm chi phí giao dịch vì có một chuẩn mực chung sẽ tiết kiệm hơn là việc Mỹ phải đi thương lượng với nhiều quốc gia Hơn thế, khi các xung đột lợi ích nảy sinh thì chủ nghĩa đa phương có nhiều ưu thế Trong khuôn khổ cơ chế đa phương do Mỹ dẫn dắt, sẽ có ít thách thức hơn

từ các quốc gia nhỏ vì cơ chế đa phương bảo đảm sự phân chia quyền lợi một cách tương đối công bằng Như vậy, ngoại giao đa phương giúp Mỹ hạn chế được thách thức cũng như giảm chi phí giao dịch [178]

Robert Keohane và nhiều người theo trường phái tự do cho rằng LHQ vẫn

là có thể là sự lựa chọn hợp lý cho các vấn đề toàn cầu hiện nay Tuy nhiên, Robert Keohane cũng cho rằng cần cải tổ LHQ Những ưu điểm về tính toàn diện của chương trình nghị sự, tính đa dạng về thành viên, khả năng khai thác nguồn thông tin của LHQ hiện nay chưa đủ để đáp ứng với kỳ vọng của các thể chế đa phương trong thế kỷ XXI Ông khuyến nghị LHQ và các thể chế đa phương cải tổ theo hướng tập trung xây dựng các nguyên tắc dân chủ, hơn là chủ quyền quốc gia

Như vậy, so với chủ nghĩa hiện thực, lý thuyết tự do cũng dựa trên cách tiếp cận lý tính, cũng giải thích chính sách ngoại giao đa phương từ góc độ làm tối đa lợi ích của quốc gia Tuy nhiên, lý thuyết tự do chú trọng khía cạnh hợp tác trong ngoại giao đa phương hơn, coi trọng các chuẩn mực, luật lệ hơn so với

lý thuyết hiện thực Trong khi đó, các nhà hiện thực tập trung vào vai trò của ngoại giao đa phương như một công cụ trong việc tăng cường quyền lực của quốc gia và kiểm soát quyền lực của các đối thủ cạnh tranh Cách tiếp cận hiện thực giải thích hợp lý hơn thái độ của Mỹ với nhiều cơ chế đa phương từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến nay

1.1.3.2 Chủ nghĩa kiến tạo

Từ việc đề cao vấn đề giá trị, bản sắc, các nhà kiến tạo chủ nghĩa cũng có cách nhìn khác đối với sự phát triển của chủ nghĩa đa phương nói chung và ngoại

Trang 38

giao đa phương của Mỹ nói riêng Miles Kahler định nghĩa chủ nghĩa đa phương

là việc “số nhiều” tham gia vào công việc quản trị quốc tế với nguyên tắc cơ bản

là nhằm chống lại những dàn xếp song phương mang tính chất phân biệt đối xử, vốn được xem là công cụ tăng cường quyền lực của nước mạnh đối với nước yếu

và là nguyên nhân làm gia tăng xung đột quốc tế [150, tr.681] Ở đây, ông nhấn mạnh các mục tiêu thúc đẩy dân chủ và công bằng trong quan hệ quốc tế

John Ruggie định nghĩa chủ nghĩa đa phương là mối quan hệ phối hợp giữa

ba hay nhiều quốc gia nhưng phải theo các nguyên tắc nhất định điều phối cách thức quan hệ giữa họ, đó là nguyên tắc quy định cách ứng xử phù hợp với hành động, không tính đến lợi ích đặc thù của các bên hay các đòi hỏi chiến lược trong các hoàn cảnh cụ thể [233, tr.11] Ruggie cho rằng, các cơ chế đa phương có thể tạo dựng các hệ thống luật lệ, quy chuẩn chung được các nước chấp nhận, có thể

tự tạo nên lý do tồn tại Trong bối cảnh hiện nay, các thể chế đa phương đóng vai trò ngày càng quan trọng và chúng tồn tại không phải chỉ “theo yêu cầu” của các cường quốc Các cơ chế đa phương, với sự đóng góp của nhiều quốc gia, đã tạo nên những đặc tính giúp chúng tồn tại lâu dài, có khả năng thay đổi và thích ứng với hoàn cảnh mới Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ II xem chủ nghĩa đa phương như là nguyên tắc kiến trúc cơ bản để tái thiết thế giới hậu chiến, bởi vì Mỹ mong muốn truyền bá hệ thống giá trị, chuẩn mực của mình đối với thế giới Về mặt kinh tế, Mỹ muốn đưa các chuẩn mực của Chính sách kinh tế mới (New Deal) ra phạm vi toàn cầu Về mặt an ninh, các liên minh song phương không đủ để trung hòa với xu hướng biệt lập của Mỹ nên

Mỹ cần tham gia vào các thể chế đa phương

Trong bối cảnh các thể chế đa phương phát triển mạnh về số lượng và hình

thức, cách giải thích của các nhà kiến tạo chủ nghĩa gây được sự chú ý Thứ

nhất, một trong những ưu điểm của các nhà kiến tạo chủ nghĩa là họ đề cập được

các yếu tố ngoài những tính toán lý tính trong chính sách của các quốc gia, trong

đó đặc biệt là nhận thức của giới lãnh đạo Với chính sách đa phương của Mỹ

Trang 39

cũng vậy, các nhà kiến tạo chủ nghĩa nhấn mạnh đến sự thay đổi nhận thức trong giới lãnh đạo Mỹ, nhất là từ “chủ nghĩa biệt lệ” đến việc can dự nhiều hơn

vào các vấn đề quốc tế và tham gia vào các cơ chế đa phương Thứ hai, các nhà

kiến tạo chủ nghĩa nêu được vai trò của các chủ thể phi nhà nước trong việc hoạch định chính sách của Mỹ Điều này là hợp lý vì trên thực tế, quan hệ quốc

tế ngày nay không chỉ diễn ra giữa các quốc gia Chính sách đối ngoại của Mỹ cũng không phải do chính quyền Mỹ quyết định mà còn sự tham gia của giới học

giả, các nhóm lợi ích, giới doanh nghiệp Thứ ba, các nhà kiến tạo giúp lý giải

được vai trò của giá trị văn hóa, lịch sử, yếu tố cá nhân, vai trò của Đảng phái trong quá trình xây dựng các chính sách đa phương của Mỹ Họ chứng minh bằng dẫn chứng sinh động trong lịch sử Mỹ về cách tiếp cận khác nhau của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đối với ngoại giao đa phương; hay sự khác nhau trong cách tiếp cận giữa các Tổng thống kể cả trong cùng một Đảng Các nhà kiến tạo chủ nghĩa cũng có xu hướng cho rằng Mỹ tham gia các cơ chế đa phương không phải chỉ vì vấn đề lợi ích mà còn vì vấn đề giá trị, vì niềm tin của

Mỹ vào những chuẩn mực chung Cũng chính vì vậy, Mỹ luôn tìm cách thúc đẩy các giá trị của Mỹ tại các thể chế đa phương, cũng như muốn xây dựng các khuôn khổ hợp tác với các nước ủng hộ hệ thống giá trị của Mỹ và trừng phạt những nước đi ngược lại giá trị của Mỹ Các nhà kiến tạo chủ nghĩa nhấn mạnh lịch sử đấu tranh tìm kiếm tự do của người dân Mỹ, địa lý của nước Mỹ đã tạo nên những bản sắc riêng biệt của nước Mỹ, và chính bản sắc đó là cơ sở để nước

Mỹ quyết định đâu là lợi ích quốc gia của mình, chứ không phải lợi ích quyết định bản sắc, giá trị của nước Mỹ

So với chủ nghĩa hiện thực, lý thuyết kiến tạo có ưu thế hơn trong việc giải thích vấn đề giá trị của Mỹ, yếu tố cá nhân, Đảng phái trong việc xây dựng chính sách ngoại giao đa phương của Mỹ, nhất là trong bối cảnh các cơ chế đa phương chằng chịt và đan xen lẫn nhau như hiện nay Tuy nhiên, các nhà kiến tạo chủ nghĩa bỏ qua một thực tế là nhận thức của giới lãnh đạo phải phù hợp với sức

Trang 40

mạnh và lợi ích quốc gia Những thay đổi về sức mạnh quốc gia sẽ dẫn đến những thay đổi trong cách đánh giá của nước Mỹ, chính giới Mỹ về lợi ích của nước Mỹ và các biện pháp để bảo đảm lợi ích của Mỹ Rõ ràng chủ nghĩa hiện thực lại cung cấp cách giải thích hợp lý và logic hơn về những tính toán của Mỹ khi thúc đẩy ngoại giao đa phương, bởi vì quan điểm của các nhà hoạch định chính sách Mỹ, các đảng phái của Mỹ cũng chính là cách họ nhìn về lợi ích của nước Mỹ và phương pháp để có thể duy trì sức mạnh Mỹ, lợi ích của Mỹ ở khu vực và toàn cầu

Với những ưu điểm này, cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực có thể phù hợp để tìm hiểu về vai trò và đặc điểm của ngoại giao đa phương của Mỹ và việc ngoại giao đa phương được sử dụng như một công cụ trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và chính sách với châu Á – Thái Bình Dương nói riêng

1.2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA

MỸ TRONG LỊCH SỬ

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ II, tư tưởng “biệt lệ”, “biệt lập” vẫn rất phổ biến ở Mỹ Người Mỹ tin rằng nước Mỹ là “Thành phố ở trên đồi”7 để cả thế giới chiêm ngưỡng về mô hình đạo đức, tự do, mô hình tổ chức chính phủ, điều khiến họ trở nên biệt lệ so với bất cứ nơi nào trên thế giới [105, tr.4] Chính

vì vậy, trong suốt một thời gian dài, chính sách đối ngoại của Mỹ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Học thuyết Monroe, với nội dung chủ yếu là Mỹ không can thiệp vào công việc nội bộ của châu Âu nhưng sẽ chống lại hành động “mở rộng

hệ thống” của châu Âu ở Tâu Bán cầu [127, tr.156-159] Đây có lẽ là một trong những nhân tố dẫn đến việc Mỹ ngần ngại tham gia các liên minh đa phương trong Chiến tranh thế giới thứ I và duy trì trung lập cho đến gần hết Chiến tranh

7

City Upon a Hill - Bài giảng trên núi “Muối và ánh sáng” của đạo Thiên Chúa

Ngày đăng: 22/12/2017, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Daron Acemoglu, James A Robinson (2013), Tại sao các quốc gia thất bại - Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói , Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao các quốc gia thất bại - Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói
Tác giả: Daron Acemoglu, James A Robinson
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
2. Lê Hải Bình (2017), Donald Trump thắng cử và sự thắng thế của chủ nghĩa dân túy Mỹ, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 01 (226), 2017, trang 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Lê Hải Bình
Năm: 2017
3. Nguyễn Phương Bình (chủ biên) (2003), Ngoại giao Phòng ngừa ở Đông Nam Á, Học viện Quan hệ Quốc tế, Nhà in Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Phòng ngừa ở Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Phương Bình (chủ biên)
Năm: 2003
4. Bộ Ngoại giao Mỹ (2005), Khái quát về lịch sử nước Mỹ – Outline of US History, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ – Outline of US History
Tác giả: Bộ Ngoại giao Mỹ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
6. Zbigniew Brzezinski (1999), Bàn cờ Lớn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn cờ Lớn
Tác giả: Zbigniew Brzezinski
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
7. Lê Văn Cương (2010), “Các trung tâm sức mạnh và khuynh hướng phát triển quan hệ Trung – Mỹ”, Nghiên cứu Quốc tế, số 2 (81), tháng 6/2010, trang 185 – 194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trung tâm sức mạnh và khuynh hướng phát triển quan hệ Trung – Mỹ”, "Nghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Lê Văn Cương
Năm: 2010
8. Nguyễn Nam Dương (2011), “Về cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (86), tháng 9/2011, trang 119 – 136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, "Nghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Nam Dương
Năm: 2011
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
14. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Mai Hoài Anh, Ngô Phương Anh (2013), Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Mai Hoài Anh, Ngô Phương Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
15. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Quế, Thái Văn Long (2014), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Quế, Thái Văn Long
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
16. Hà Hoàng Hải (2014), “Những điều chỉnh gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2 (97), 6/2014, trang 71-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chỉnh gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ”, "Tạp chí Nghiên cứu quốc tế
Tác giả: Hà Hoàng Hải
Năm: 2014
70. ASEAN – US (2009), Joint Statement, 15/11/2009, http://asean.org/joint- statement-1st-asean-us-leaders-meeting-singapore-15-november-2009-2/,accessed on 10/12/2017 Link
82. Bush, George W. (2006), Remarks at the National University of Singapore, https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/news/releases/2006/11/20061116-1.htm, accessed on 10/12/2017 Link
297. Bách khoa toàn thư Britanica, https://www.britannica.com 298. Ban Thư ký ASEAN, www.aseansec.org Link
299. Bộ Ngoại giao Mỹ, www.state.gov; chuyên trang về lịch sử đối ngoại https://history.state.gov/ Link
305. Ngân hàng Thế giới, http://worldbank.org 306. Nhà Trắng, www.whitehouse.gov Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w