1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

MÔ tả và PHÂN TÍCH các yếu tố môi TRƯỜNG CHUNG về NGÀNH KINH DOANH XĂNG dầu VIỆT NAM

18 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai đoạn tương

Trang 1

MÔ TẢ VÀ PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG CHUNG VỀ

NGÀNH KINH DOANH XĂNG DẦU VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU

Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường đều chịu sự tác động to lớn của các yếu tố môi trường như chính trị - luật pháp, kinh tế - xã hội, công nghệ đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh trong những lĩnh vực cần có sự điều tiết của Nhà nước để đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp cũng sự phát triển của nền kinh tế và an sinh xã hội, Công ty Xăng dầu Thành Linh là một ví dụ và cũng không thể nằm ngoài quy luật trên

I/ MÔ TẢ VÀ PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG CHUNG VỀ NGÀNH KINH DOANH XĂNG DẦU VIỆT NAM:

1 - Khái quát ngành xăng dầu Việt Nam:

Thị trường xăng dầu Việt Nam đã hình thành và phát triển theo sự đổi mới phát triển kinh tế của đất nước Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất do Nhà nước quy định đến mua bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế Khái quát thị trường xăng dầu trong 20 năm qua, kể

từ khi Việt Nam đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu năm 1989, quá trình chuyển đổi có thể phân chia thành 3 giai đoạn: trước năm 2000, từ năm 2000 đến cuối năm 2008 và từ cuối năm 2008 trở lại đây

2 - Phân tích các yếu tố môi trường chung (Mô hình PEST) ảnh hưởng đến ngành xăng dầu của Việt Nam.

2.1 Các yếu tố chính trị, luật pháp ảnh hưởng đến ngành xăng dầu (P).

Như đã nói ở trên, quá trình phát triển của thị trường xăng dầu Việt Nam chia làm

ba giai đoạn chính và mỗi giai đoạn đều có những chính sách của Nhà nước tác động mạnh mẽ lên thị trường xăng dầu, thể hiện:

a Giai đoạn trước năm 2000:

Trang 2

- Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, với sự gia tăng của các đầu mối nhập khẩu từ một đầu mối duy nhất, tăng dần lên 5 và đến năm 1999, đã có 10 đầu mối tham gia nhập khẩu xăng dầu cho nhu cầu nội địa Trong những năm từ 1989 đến 1992, khi không còn nguồn xăng dầu cung cấp theo Hiệp định với Liên xô (cũ), Nhà nước chuyển từ quy định "giá cứng" sang áp dụng giá chuẩn để phù hợp với việc hình thành nguồn xăng dầu nhập khẩu từ lượng ngoại tệ do doanh nghiệp đầu mối tự cân đối, mua của các doanh nghiệp xuất khẩu qua ngân hàng hoặc hình thức uỷ thác bao tiêu xăng dầu cho doanh nghiệp có ngoại tệ thu được từ xuất khẩu Vào giai đoạn này, nguồn ngoại tệ từ dầu thô do Nhà nước bảo đảm chỉ chiếm dưới 40% tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu Doanh nghiệp đầu mối được quyền quyết định giá bán +/- 10%

so với giá chuẩn để bảo đảm hoạt động kinh doanh

- Từ năm 1993, để thống nhất quản lý giá bán, Nhà nước ban hành quy định giá tối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn và bán lẻ trong phạm vi giá tối đa Nhà nước xác định mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối đa; việc điều chỉnh giá tối đa ở giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ điều tiết đã sử dụng hết Công cụ thuế nhập khẩu được sử dụng như một van điều tiết để giữ mặt bằng giá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và doanh nghiệp cũng không phát sinh lỗ sau một chu kỳ kinh doanh.Phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nước quản lý Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc tận thu cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và sau này đổi tên là phí xăng dầu

- Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá chuẩn,

doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc nguồn ngoại

tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp định Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định để Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà nước

từ dầu thô mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% so với tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc đó

Trang 3

- Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu thế giới ở mức đáy (dầu thô chỉ ở mức trên 10 usd/thùng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà nước đã đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể là (1)/ Cân đối cung - cầu được đảm bảo vững chắc; (2)/ Các hộ sản xuất và người tiêu dùng lẻ được hưởng mức giá tương đối ổn định; biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song mức tăng đều, không gây khó khăn nhiều cho sản xuất và tiêu dùng khi chủ động hoạch định được ngân sách cho tiêu thụ xăng dầu hàng năm; (3)/ Ngân sách Nhà nước tăng thu thông qua việc tận thu thuế nhập khẩu, phụ thu, phí xăng dầu; (4)/ Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư phát triển, định hình hệ thống cơ sở vật chất, từ cầu cảng, kho đầu mối, kho trung chuyển, phương tiện vận tải đến mạng lưới bán lẻ

- Mặc dù vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã bộc lộ khá rõ những nhược điểm mà nổi bật là tương quan giá bán giữa các mặt hàng không hợp lý dẫn đến tiêu dùng lãng phí, nhà đầu tư không có đủ thông tin để tính toán đúng hiệu quả đầu tư nên chỉ cần thay đổi cơ chế điều hành giá sẽ làm ảnh hưởng rất lớn sử dụng nhiên liệu, nhiều nhà sản xuất thậm chí đã phải thay đổi công nghệ do thay đổi nhiên liệu đốt (thay thế madut, dầu hoả bằng than, trấu, gas); gian lận thương mại xuất hiện

do định giá thấp đối với mặt hàng chính sách (dầu hoả); Nhà nước giữ giá ổn định trong một thời gian quá dài thoát ly giá thế giới tạo sức ỳ và tâm lý phản ứng của người sử dụng về thay đổi giá mà không cần xét đến nguyên nhân và sự cần thiết phải điều chỉnh tăng giá Ở cuối của giai đoạn này giá thế giới, nguồn thị trường đã có dấu hiệu biến động mạnh, ở mức cao hơn; các cân đối cung cầu và ngân sách, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát… đều có nguy cơ bị phá vỡ khi tình trạng đó kéo dài

b Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008):

- Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt động kinh doanh

xăng dầu vẫn chưa có sự thay đổi so với giai đoạn trước đó Trong khi đó, từ đầu những năm 2000, biến động giá xăng dầu thế giới đã có những thay đổi căn bản; mặt bằng giá mới hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để xác lập mặt bằng mới trong các năm tiếp theo Do tiếp tục chính sách bù giá cho người tiêu dùng thông qua doanh nghiệp nhập khẩu khi cố gắng giữ mức giá nội địa ở mức thấp nên số tiền ngân sách bù giá ngày càng gia tăng, từ 1000 tỷ (năm 2000) lên đến 22 nghìn tỷ đồng năm 2008; loại trừ yếu tố trượt giá thì đây cũng là một tốc tộ tăng quá cao; chưa có đánh giá nào đề cập đến khía cạnh này, song xét đơn thuần trên số liệu, nếu đầu tư hàng ngàn tỷ đồng này

Trang 4

cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh doanh xăng dầu, đã có thể tạo lập một hệ thống kinh doanh xăng dầu đủ lớn và hiện đại, có khả năng cạnh tranh khi mở cửa thị trường xăng dầu trong tương lai gần

- Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2; giá xăng dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước nguy cơ không thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng dầu Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm:

+ Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh tăng giá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt hàng dầu)

+ Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh nghiệp được phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa không vượt quá 2% so với giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu

+ Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhà nước không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng Nhà nước -doanh nghiệp

- Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong Quyết định 187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điều hành và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm Trong giai đoạn này, mặc dù chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra đời của Quyết định

187 năm 2003 và Nghị định 55/NĐ-CP năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn định, lành mạnh hóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ giữa người nhập khẩu

và các đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp đầu mối với các đại lý, tổng đại lý cũng như giúp cơ quan quản lý chức năng, người tiêu dùng cùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các đại lý, tổng đại lý trong việc chấp hành quy định kinh doanh xăng dầu

- Đánh giá chung cho giai đoạn này, có thể thấy quyết tâm rất cao để đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu thể hiện qua 2 văn bản pháp quy là Quyết định 187

và Nghị định 55 song cho đến hiện nay, văn bản đã không đi vào thực tế kinh doanh

Trang 5

(trừ hệ thống phân phối được thiết lập nhưng việc kiểm soát tính tuân thủ hầu như chưa thực hiện được) Yếu tố ổn định giá vẫn được đặt lên hàng đầu và chính nó đã làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước lúng lúng khi phải điều hành đạt các mục tiêu dường như mâu thuẫn nhau ở cùng một thời điểm Việc áp dụng một biện pháp duy nhất (biện pháp bù giá), làm cho giá nội địa thoát ly giá thế giới trong một chu kỳ quá dài với bối cảnh giá xăng dầu thế giới đã nhiều lần hình thành mặt bằng giá mới cao hơn; ngoài yếu tố cung cầu thì yếu tố địa chính trị cũng ảnh hưởng lớn đến biến động giá; biên độ dao động giá quá mạnh sau mỗi ngày… đã làm cân đối ngân sách bị phá

vỡ, doanh nghiệp bị kiệt quệ nguồn lực cho phát triển; việc kìm giá và điều chỉnh sốc tác động tiêu cực đến nền kinh tế, chưa kể hiện tượng đầu cơ chờ tăng giá làm méo mó nhu cầu, chuyển khá nhiều nguồn lực cho đại lý; phần lớn người tiêu dùng không được thông tin đầy đủ về cơ chế điều hành và lợi ích mà Nhà nước đem lại cho nhân dân nên thường xuyên có phản ứng tiêu cực sau mỗi lần điều chỉnh giá (kể cả tăng và giảm), từ

đó chưa tạo được sự đồng thuận trong xã hội; thẩm lậu xăng dầu qua biên giới ngày càng phức tạp, khó kiểm soát; Nhà nước thất thu ngân sách kể cả lúc giá thấp hơn và cao hơn nước lân cận do thẩm lậu xăng dầu qua biên giới Hệ quả rất xấu của cơ chế

bù giá xăng dầu kéo dài (mà người tiêu dùng vẫn hiểu là bù lỗ cho doanh nghiệp đầu mối) là việc khó chấp nhận điều chỉnh tăng giá, kể cả mức rất thấp và phản ứng mạnh trước thông tin doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu không có hiệu quả mà luôn được Nhà nước bù lỗ Cũng cần khẳng định rằng, chỉ khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ cho nhập khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá Đây chính

là điểm khác biệt so với giai đoạn trước, khi mà nguồn ngoại tệ từ dầu thô và các nguồn dự trữ tập trung khác của Nhà nước đã đủ lớn

c Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay:

- Có thể nói, giai đoạn này tuy rất ngắn nhưng đã bộc lộ nhiều nhất những bất cập

của cơ chế điều hành giá và thuế xăng dầu Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng một

cơ chế điều hành trong điều kiện giá xăng dầu thế giới biến động rất nhanh chóng theo hai xu hướng ngược nhau đã dẫn đến một nghịch lý là: trong thời kỳ giá thế giới đã giảm sâu, Nhà nước vẫn phải bỏ một số tiền bù giá tương đương, thậm chí cao hơn so với giai đoạn giá thế giới tăng đỉnh điểm; phân khúc số tiền bù giá cho từng giai đoạn trong năm 2008 có thể thấy rõ nhận định này (khoảng 12 ngàn tỷ đồng /11 ngàn tỷ đồng) Khái quát lại, từ khi công bố chấm dứt bù giá đến nay, doanh nghiệp vẫn không

có thực quyền về xác định giá bán như các văn bản quy định; Nhà nước không có biện

Trang 6

pháp kiểm soát các doanh nghiệp kết cấu giá bán xăng để hình thành nguồn trả nợ ngân sách, tạo ra sự mấp mô về giá bán, doanh nghiệp không bình đẳng trong cạnh tranh; các văn bản mới tiếp tục ra đời song cũng không đi vào thực tế (barem thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn giá); cơ chế đăng ký giá kéo dài mang nặng tính xin cho (phê duyệt), các cơ quan truyền thông khai thác và đưa ra thông tin về tăng giảm giá rất sớm, không những không có tính định hướng dư luận mà tạo ra áp lực nặng nề cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nguồn lực từ doanh nghiệp đầu mối chuyển qua đại

lý rất khó kiểm soát sự minh bạch và đúng đắn của các nhu cầu ở trước thời điểm tăng giá Trầm trọng hơn là xã hội không thừa nhận hoạt động kinh doanh xăng dầu là phải

có lãi (dù rất thấp) như tất cả các hoạt động kinh doanh khác, trong khi dễ dàng chấp nhận thông tin về hoạt động ngân hàng có thể lãi hàng ngàn tỷ đồng trong 6 tháng 2009

d Các lực lượng tham gia thị trường xăng dầu:

- Từ sau khi có Nghị định 84/NĐ-CP (vào năm 2009), chúng ta đã có thêm 4 doanh nghiệp đều là doanh nghiệp ngoài quốc doanh gia nhập vào cơ cấu là các doanh nghiệp được làm đầu mối kinh doanh xuất nhập khẩu và bán lẻ xăng, dầu Tính đến nay, thị trường xăng dầu đã có 13 doanh nghiệp (cả Nhà nước và tư nhân) hoạt động Trong đó Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) chiếm thị phần lớn Trong đó, Petrolimex chiếm 48 50% thị phần, PV Oil chiếm 15 -16%

- Sở dĩ có thị phần này, là do trước kia việc nhập khẩu xăng dầu cho các nhu cầu dân sự của nền kinh tế chủ yếu là do Petrolimex và PV Oil thực hiện Và để từng bước khắc phục sự bất cập trong việc doanh nghiệp chiếm thị phần lớn chi phối, từ năm

2011, Chính phủ đã thực hiện cổ phần hóa công ty mẹ Petrolimex Thời gian tới sẽ tiếp tục thực hiện việc sắp xếp, tái cơ cấu với tập đoàn này

2.2 Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến ngành xăng dầu (E).

- Thị trường xăng dầu Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào thế giới:

Xăng dầu tiêu dùng trong nước hiện nay chủ yếu phải nhập khẩu, giá trong nước

phụ thuộc vào sự biến động của giá thị trường thế giới Giá xăng dầu thế giới luôn dao động và tăng ở mức cao do tình hình bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi Một số

dự báo cho rằng giá dầu thô trong thời gian tới có khả năng tiếp tục tăng do tình hình thế giới tiếp tục bất ổn và nhu cầu sử dụng trong mùa đông tăng cao Trên thị trường

Trang 7

Singapore – thị trường cung cấp sản phẩm xăng dầu chủ chốt của nước ta cũng có diễn biến rất thất thường

(Nguồn: Petrolimex)

- Phân phối xăng dầu còn mang tính độc quyền:

+ Thực hiện nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 Chính phủ, chúng ta đã

có 13 đầu mối nhập khẩu xăng dầu và phân phối xăng dầu bao gồm cả tư nhân, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu xăng dầu cho nhu cầu sản xuất và đời sống trong nước + Độc quyền trong ngành xăng dầu có tính lịch sử Trước đây, tất cả các yêu cầu xăng dầu do Tổng công ty xăng dầu đảm nhận, đến nay chúng ta cho phép doanh nghiệp đầu mối khác Nhưng do vai trò của Tổng công ty xăng dầu và hệ thống phân phối hình thành nhiều năm nay, nên thị phần phân phối của Petrolimex chiếm khoảng 60% - là lực lượng chủ lực trong đáp ứng nhu cầu xăng dầu cả nước Nếu không có tập đoàn/tổng công ty nhà nước vì lợi ích đất nước, chịu lỗ, theo yêu cầu Chính phủ trước yêu cầu của đời sống nhân dân họ vẫn duy trì hoạt động

+ Theo Nghị định 84, hiện nay việc đa dang hóa các hình thức phân phối xăng dầu, thành phần tham gia vào ngành xăng dầu bước đầu thực hiện Tuy nhiên, đó vẫn là các doanh nghiệp trong nước và do nhà nước điều tiết, chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài

Trang 8

- Hoạt động kinh doanh xăng dầu còn nhiều bất cập: Qua kết quả kiểm tra của Ban chỉ đạo 127 Trung ương, Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố trên cả nước trong việc chấp hành các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu đã phát hiện một số tồn tại như: một số doanh nghiệp đầu mối, tổng đại lý ký hợp đồng đại lý với các tổng đại lý, đại lý không đủ điều kiện; có nhiều doanh nghiệp thực hiện mua bán xăng dầu với nhiều đầu mối, mua bán xăng dầu ngoài hệ thống phân phối của mình; doanh nghiệp đầu mối, tổng đại lý thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, kiểm soát các đơn vị trong hệ thống phân phối của mình; phần lớn doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ việc đăng ký hoặc chậm đăng

ký hệ thống phân phối…

- Điều hành giá xăng dầu nửa vời:

+ Hai nút thắt lớn nhất là điều kiện kinh doanh của hệ thống phân phối xăng dầu bị

bó hẹp và cào bằng giá bán lẻ Mặc dù đã cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tham gia kinh doanh xăng dầu; đồng thời trao cho DN quyền được định giá bán lẻ theo cơ chế thị trường, dựa trên công thức tính giá chung do Nhà nước quy định Tuy nhiên, từ khi thực hiện đến nay, diễn biến giá xăng dầu lúc tăng vọt như con ngựa bất kham, khi “đông cứng” trái ngược với xu hướng giá thế giới Theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu, chuẩn bị xây dựng nghị định sửa đổi bổ sung thay thế Nghị định 84 và các thông tư hướng dẫn thực hiện

+ Còn tồn tại thị trường ngầm trong kinh doanh xăng dầu: Các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu đều được tham gia thị trường nhưng lại chỉ được thực hiện cơ chế mua bán 1+1 Tức là tổng đại lý chỉ được ký hợp đồng với một doanh nghiệp đầu mối, đại lý chỉ được ký hợp đồng bán lẻ xăng dầu cho một tổng đại lý hoặc một doanh nghiệp và chỉ được mua bán xăng dầu với các doanh nghiệp trong cùng hệ thống phân phối Quy định này hạn chế việc tự do kinh doanh của các tổng đại lý, đại

lý vì triệt tiêu quyền lựa chọn đối tác có giá cả cạnh tranh cũng như có điều kiện cung ứng hàng tốt nhất Quan trọng hơn, không có tự do thương mại thì không thể có giá thị trường

+ Bỏ lỡ cơ hội giảm giá: Quy định giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường song công thức tính giá cơ sở thì chưa phải là giá cạnh tranh Về nguyên tắc thì xăng dầu là mặt hàng thuộc danh mục bình ổn và giá do doanh nghiệp quyết định

Trang 9

nhưng thực chất, Nhà nước vẫn khống chế giá bán lẻ Thay vì khống chế giá tối đa như trước đây, cơ quan quản lý khống chế giá bằng tỉ lệ tối đa

2.3 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến ngành xăng dầu (S).

- Sự gia tăng dân số:

+ Tốc độ tăng dân số khá nhanh đặc biệt là ở hai khu vực đô thị lớn nhất là Hà Nội

và TP.Hồ Chí Minh Theo số liệu của Tổng cục thống kê vừa công bố, dự báo năm

2012 dân số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 88 triệu người tăng 1.04% so với năm 2010 bao gồm: dân số nam 43,47 triệu người, chiếm 49,5 tổng dân số cả nước, tăng 1,1%; dân

số nữ 44,37 triệu người, chiếm 50,5%, tăng 0,99% Dân số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số cả nước, tăng 2,5% so với năm 2010; dân số khu vực nông thôn chiếm 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, tăng 0,41%

+ Theo viện nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh và đại diện ngân hàng Thế giới tại Việt Nam vừa công bố báo cáo đánh giá đô thị hóa tại Việt nam Ông Dean Cira, chuyên gia trưởng về đô thị của Ngân hàng Thế giới cho rằng, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của đô thị hóa và chuyển dần sang giai đoạn giữa Tỉ lệ dân đô thị trên toàn quốc tăng 3.4 % /năm so với 34% dân số Việt Nam sống ở đô thị Khoảng 20 - 30 năm nữa dân số Việt nam sẽ sống ở thành thị

- Thu nhập bình quân đầu người:

+ Tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010 Đến năm 2012 thì tốc độ tăng trưởng kinh

tế (GDP) tăng 5,2%, đưa quy mô nền kinh tế đạt khoảng 136 tỷ USD, với thu nhập

bình quân đầu người đạt khoảng 1.540 USD/người/năm

+ Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore Tốc độ tăng dân số của Việt nam là khá cao nhưng thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh

xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại Tiến sĩ Phạm Hồng Chương

Trang 10

và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991 Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm

- Sự tăng trưởng về đời sống vật chất và tinh thần:

+ Trong những năm gần đây, việc thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể Sự phát triển của nền kinh tế đã có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến đời sống của người dân Đời sống của người dân đã dần dần phát triển và từng bước cải thiện và nâng cao rõ rệt

+ Nếu như ở Việt nam khoảng một hai thập niên trước đây, chiếc xe gắn máy mang tính thiểu số được vị nể với tư các là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lới hơn là một phương tiện giao thông thì trong những năm gần đây,chiếc xe gắn máy đã trở nên phổ biến hơn và hầu như trở thành một phương tiện giao thông của đại đa số người dân Hiện nay có những gia đình có 1,2 thậm chí có đến 3, 4 chiếc xe gắn máy trong nhà

- Tốc độ cơ giới hóa:

+ Trong cơ cấu tham gia giao thông đô thị ở Việt nam, xe gắn máy chiếm vị trí đầu bảng với tỷ lệ khoảng 61%, nghĩa là cứ 10 người dân thì có tới 6 người sử dụng xe máy Chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh đã có 5 triệu xe máy, ở Hà Nội thì con số này xấp xỉ

3 triệu, còn không kể đến một số lượng xe không nhỏ ở các vùng khác

+ Theo thống kê vào tháng 8/2011 của Bộ Giao thông Vận tải thì số lượng xe máy đang lưu hành trên thị trường đã đạt đến 33,4 triệu chiếc và sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai Số lượng ôtô hiện nay vào khoảng 1,5 triệu chiếc

- Nhu cầu và thói quen tiêu dùng:

+ Qua những phân tích và con số nêu trên ta có thể thấy nhu cầu sử dụng xăng dầu

là rất lớn và xăng dầu là một mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống của người dân Việt Nam Hành vi tiêu dùng xăng của người dân Việt Nam khá đơn giản khi quyết định chọn loại xăng sử dụng, mức độ người tiêu dùng chịu ảnh hưởng từ phía người bán và mọi người là khá cao Người tiêu dùng có quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin có liên quan trong tiêu dùng nhưng mức độ quan tâm của họ không nhiều Các tiêu chí được người tiêu dùng quan tâm để so sánh giữa các cửa hàng là cửa hàng nhà nước,

Ngày đăng: 22/12/2017, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w