1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU CẦU DẦU THÔ TẠI VIỆT NAM

82 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó đề tài còn phân tích lượng cầu và giá cả để từ đó tiến hành dự báo nhu cầu dầu thô trong tương lai, qua đây có thể đưa ra một số nhận xét khách quan về khả năng cung dầu thô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU CẦU

DẦU THÔ TẠI VIỆT NAM

DƯƠNG HUYỀN TRANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG HUYỀN TRANG

PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU CẦU

DẦU THÔ TẠI VIỆT NAM

Ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

GVHD: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2012

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học Khoa Kinh Tế, Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “PHÂN TÍCH VÀ

DỰ BÁO NHU CẦU DẦU THÔ” do Dương Huyền Trang, sinh viên khóa 35, ngành

Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước Hội đồng vào ngày:

TS.ĐẶNG MINH PHƯƠNG Giáo viên hướng dẫn (Ký tên)

Ngày tháng năm Ngày tháng năm

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Sau những cố gắng và nỗ lực hết mình, cuối cùng khóa luận tốt nghiệp cũng đã được hoàn thành Trong suốt thời gian qua, tôi luôn nhận được sự quan tâm động viên, giúp đỡ hỗ trợ rất nhiều của thầy cô, bạn bè và đặc biệt là những người thân trong gia đình

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ba mẹ và anh chị luôn bên cạnh động viên, vận động và hỗ trợ hết mực cả về vật chất lẫn tinh thần

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh cùng toàn thể các quý thầy cô Khoa Kinh tế đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Đặng Minh Phương, thầy đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Cảm ơn các bạn, những người luôn bên cạnh giúp đỡ và ủng hộ tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiên Dương Huyền Trang

Trang 5

NỘI DUNG TÓM TẮT

DƯƠNG HUYỀN TRANG Tháng 12 năm 2012 “Phân tích và dự báo nhu

cầu dầu thô tại Việt Nam”

DUONG HUYEN TRANG December 2012 “Analysis and forecasting

demand crude oil in Vietnam”

Đề tài được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu thứ cấp từ Cơ quan năng lượng quốc tế về giá và nhu cầu dâu thô trong giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2011 Đề tài tập trung phân tích thực trạng cũng như tình hình nhu cầu của việc sử dụng dầu thô của các nước trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng để giúp có một cái nhìn khái quát hơn về tình hình dầu thô Brent trong thời gian qua Bên cạnh đó đề tài còn phân tích lượng cầu và giá cả để từ đó tiến hành dự báo nhu cầu dầu thô trong tương lai, qua đây có thể đưa ra một số nhận xét khách quan về khả năng cung dầu thô trong tương lai và đưa ra các chiến lược an ninh năng lượng, cũng như là chính sách khai thác năng lượng tái sinh, sinh học Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình dầu thô trong những năm vừa qua có rất nhiều biến động, giá dầu lên xuống thất thường làm ảnh hưởng đến sản xuất và năng suất của một số hoạt động kinh doanh lớn nhỏ khác nhau Ngoài ra, qua phân tích và khai thác số liệu, chúng tôi đã tiến hành dự báo về nhu cầu dầu thô trong giai đoạn từ nằm 2012 đến năm 2020 là bất ổn, có xu hướng giảm dần qua các năm và khó nắm bắt được tình hình

Trang 7

4.1.1 Thực trạng sử dụng dầu thô 17 

4.4 Dự báo giá nhiên liệu dầu mỏ trong thời gian sắp tới 33 

4.4.1 Diễn biến tình hình giá dầu thô trong thời gian vừa qua 33 

4.6 Chính sách khai thác năng lượng tái sinh, sinh học 45 

4.6.2 Tổng quan về năng lượng tái tạo ở Việt Nam 45 

5.3 Chính sách khai thác năng lượng tái sinh, sinh học 51 

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

LPG khí dầu mỏ hóa lỏng

GTVT giao thông vận tải

IEA Cơ quan năng lượng quốc tế

NLTT Năng lượng tái tạo

NLSH Năng lượng sinh học

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 4.1 Sản Lượng Và Giá Dầu Thô Tại Việt Nam Giai Đoạn 1989 – 2011 23 

Bảng 4.3 Lượng Cầu Dầu Thô Tại Việt Nam Giai Đoạn 1987 – 2011 26 

Bảng 4.4 Các Thông Số Ước Lượng Của Mô Hình Hồi Quy 28 

Bảng 4.5 Kết Quả Dự Báo Lượng Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 2012 - 2020 30 

Bảng 4.6 Kết Quả Dự Báo Lượng Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 2012 – 2020 32 

Bảng 4.7 Giá Dầu Thô Brent (FOB Europe) Giai Đoạn 1987 – 2011 35 

Bảng 4.8 Các Thông Số Ước Lượng của Mô Hình Hồi Quy 36 

Bảng 4.9 Kết Quả Dự Báo Giá Dầu Thô Giai Đoạn 2012 - 2020 38 

Bảng 4.10 Kết Quả Dự Báo Giá Dầu Thô Giai Đoạn 2012 - 2020 40 

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 4.1 Biểu Đồ Dường Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 1999 - 2011 25 

Hình 4.2 Đồ Thị Diễn Biến Lượng Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 1988 – 2011 27 

Hình 4.3 Dự Báo Lượng Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 1988 – 2020 Bằng Phương Pháp

Hình 4.4 Dự Báo Lượng Cầu Giai Đoạn 1988 – 2020 Mô Hình ARIMA (7,2,1) 32 

Hình 4.5 Đồ Thị Diễn Biến Giá Dầu Thô Brent Giai Đoạn 1987 – 2011 35 

Hình 4.6 Dự Báo Giá Dầu Thô Giai Đoạn 1987 – 2020 Bằng Phương Pháp OLS 38 

Hình 4.7 Dự Báo Giá Dầu Thô Giai Đoạn 1987 – 2020 Mô Hình ARIMA (1,1,3) 41 

Hình 4.8 Đồ Thị Biểu Diển Sản Lượng Dầu Thô Việt Nam Giai Đoạn 2001 - 2011 43 

Hình 4.9 Đồ Thị Biểu Diễn Nhu Cầu Dầu Thô Việt Nam Giai Đoạn 2001 – 2011 43 

Hình 4.10 Sản Lượng Khai Thác Và Tiêu Thụ Dầu Tại Việt Nam 44 

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy lượng cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 2: Kết Xuất Kiểm Định LM Cho Mô Hình Hồi Quy Lượng Cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 3: Kết Xuất Kiểm Định White Cho Mô Hình Hồi Quy Lượng Cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 4: Kết Xuất Các Mô Hình Hồi Quy Phụ Kiểm Định Đa Cộng Tuyến 

Phụ lục 5: Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy lượng cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 6: Kết Xuất Kiểm Định LM Cho Mô Hình Hồi Quy Lượng Cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 7: Kết Xuất Kiểm Định LM Cho Mô Hình Hồi Quy Lượng Cầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS Để Khắc Phục Hiện Tượng Tự Tương Quan 

Phụ lục 8: Kết Xuất Các Mô Hình Hồi Quy Phụ Kiểm Định Đa Cộng Tuyến 

Phụ lục 9: Kết Xuất Mô Hình ARIMA Dự Báo Lượng Cầu 

Phụ lục 10: Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Giá Dầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 11: Kết Xuất Kiểm Định LM Cho Mô Hình Hồi Quy Giá Dầu Chạy Bằng Phương Pháp OLS 

Phụ lục 12: Kết Xuất Các Mô Hình Hồi Quy Phụ Kiểm Định Đa Cộng Tuyến 

Phụ lục 13: Kết Xuất Mô Hình ARIMA Dự Báo Giá Dầu 

Trang 12

vì hầu hết các nước đều lệ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp dầu trên thế giới Do đó,

an ninh dầu mỏ phải được xem xét dựa trên chiến lược tổng thể về các mối quan hệ chính trị và kinh tế trên thế giới Vì tính chất hàng hóa đặc biệt chiến lược của nó, dầu

mỏ đã trở thành một loại vũ khí trong các cuộc xung đột về chính trị và ngoại giao quốc tế Nó là một vấn đề chiến lược lớn lao, có hệ số liên quan đến an ninh quốc gia

và quốc tế

Với tốc độ khai thác như hiện nay, trong vòng 3 thập niên tới nguồn dầu lửa dưới lòng đất sẽ không còn nhiều Theo đó, thế giới sẽ chỉ sản xuất được 39 triệu thùng dầu/ ngày vào năm 2030 thay vì 81 triệu thùng/ ngày như hiện nay Trong khi

đó, theo tính toán của Tổ chức APEC dự báo vào năm 2030, nhu cầu dầu mỏ sẽ đạt mức 105,5 triệu thùng/ngày, tăng 40% so với mức hiện tại (dự báo tháng 10/2010) Dầu mỏ là mặt hàng quan trọng, là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành để sản xuất ra các hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống con người mà không loại nguyên liệu nào thay thế được; do vậy những biến động của giá dầu, dù lớn hay nhỏ, cũng đều gây tác động sâu sắc đến đời sống con người, không phân biệt giàu nghèo, màu da hay địa vị xã hội Chính vì có được vai trò trung tâm đối với nền kinhh tế như vậy, nên giá cả của dầu

mỏ luôn luôn bị chi phối bởi các mưu tính kinh tế - chính trị của các thế lực chủ chốt

Trang 13

2

trên thị trường , sau đó mới đến sự chi phối của các quy luật cung – cầu của thị trường Xuất phát từ ý nghĩ cần phải xem xét những nguyên nhân nào đã ảnh hưởng đến giá dầu mỏ, các quy luật kinh tế hay những mưu tính chính trị đã chi phối thị trường này Giá dầu tăng cao hiện đang là một vấn đề quan trọng đối với nền kinh tế thế giới, ai được lợi và ai bị tổn thương, cần những giải pháp gì để hạn chế các tác động

tiêu cực đó mà tôi đã chọn đề tài: “PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU CẦU DẦU

- Phân tích thực trạng nhu cầu dầu thô Việt Nam

- Dự báo lượng cầu dầu thô trong thời gian tới

- Dự báo giá dầu thô

- Phân tích khả năng cung

- Kiến nghị chính sách: Chiến lược an ninh năng lượng quốc gia; chính sách năng lượng tái sinh, sinh học

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Phạm vi thời gian

Đề tài được thực hiện trong 4 tháng từ ngày 01/08/2012 đến ngày 01/12/2012 Trong đó, thời gian từ 01/08/2012 đến 01/11/2012 tiến hành điều tra, thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp thời gian còn lại tiến hành nhập số liệu, chỉnh sửa, xử lý số liệu, chạy mô hình và viết báo cáo

1.3.2 Phạm vi không gian

Phân tích những ảnh hưởng của giá dầu thô trong lương lai

1.3.3 Phạm vi nội dung thực hiện

Do biến động của giá dầu thô tác động đến rất nhiều nghành nghề, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài không thể đánh giá sâu sắc tất cả các tác động này

Trang 14

3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về nhu cầu dầu thô tại Việt Nam, phân tích thực trạng lượng cầu dầu thô thời gian trước đây và từ đó đưa ra những dự báo về lượng cầu và giá trong thời gian tới Qua đó, phần nào có thể đánh giá được tốc độ công nghiệp hóa hiện nay đang tăng cao đến mức nào, nguồn nguyên liệu dầu mỏ trong tương lai có thể cung ứng cho nhu cầu nội địa, cũng như cho nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ như hiện này hay không Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tài liệu nghiên cứu được tổng hợp từ rất nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực khác nhau và từ internet Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn tham khảo các bài giảng của các Thầy, Cô và nhiều đề tài nghiên cứu của khoá trước có liên quan

Luận văn “Phân tích triển vọng phát triển năng lượng phong điện ở Việt Nam”

do Trịnh Hữu Thuận, sinh viên khóa 2008 – 2012 Đề tài đã tiến hành phân tích, dự báo khả năng phát triển công nghệ và giá bán các thiết bị phong điện trong những năm tiếp theo Kết quả cho thấy chi phí đầu tư cho 1 MW phong điện có xu hướng giảm dần theo thời gian Đồng thời, áp dụng phương pháp dự báo giá theo xu hướng thời gian bằng mô hình hồi quy và mô hình ARIMA, đề tài đã dự báo được giá nhiên liệu dầu mỏ từ năm nay đến năm 2020 sẽ tăng khoảng 90% lên mức 213,5 USD/thùng, kèm theo đó là giá nhiệt điện cũng sẽ tăng khoảng 60% (ở mức 2.400 đồng/kWh) Do

đó, dự báo phong điện sẽ phát triển một cách mạnh mẽ trong vòng 5 – 7 năm tới vì các nhà máy phong điện sẽ đạt hiệu quả kinh tế rất cao do chi phí sản xuất điện từ gió chỉ khoảng 1.800 đồng/kWh. 

Trang 15

4

Đồng thời, đề tài còn tham khảo những tài liệu nghiên cứu về dầu mỏ như: tài

liệu “ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu” của nhóm tác giả Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Đào Nguyên Thắng; tài liệu “tổng quan về thị trường vận tải dầu thô”; tài liệu

“báo cáo phân tích ngành dầu khí” của công ty cổ phần chứng khoán An Bình.Các tài

liệu này tập trung phân tích về thực trạng ngành dầu khí của nước ta về nhu cầu sử dụng và khả năng cung cấp, những khó khăn và thách thức mà Việt Nam đang gặp phải trong thời gian qua Ngoài ra, tài liệu cũng nói đến ảnh hưởng của việc giá dầu tăng cũng gây không ít những cái bất cập để phát triển kinh tế. 

Ngoài ra, đề tài này sử dụng mô hình ARIMA để dự báo giá nhiên liệu dầu mỏ trong thời gian sắp Phương pháp dự báo bằng mô hình ARIMA này đã được thực hiện trong một số luận văn tốt nghiệp như: luận văn của Hà Cẩm Hằng, 2011, luận văn tiến

hành “Xác định đường cung, cầu đất sét cho sản xuất vật liệu xây dựng và một số biện

pháp trong quản lý nguồn tài nguyên ở huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương” Luận văn

đã xác định được đường cầu sét cho mỗi cơ sở, doanh nghiệp sản xuất gạch dưới dạng hàm Cobb - Douglas: Q = e-3,667*P-0,2037*LSP0,996*e0,231D1*e0,189D2

Đường cung sét gạch thực tế Q = 2.197.021 m3/năm

Ứng dụng kết quả đường cầu và đường cung khai thác thực tế, luận văn đã xác định được giá sét là khoảng 298.385 đồng/m3

Áp dụng phương pháp dự báo ARIMA, luận văn cũng đã dự báo được từ quý 1 năm 2011 đến quý 1 năm 2015 lượng sét sử dụng cho sản xuất gạch khoảng 768.936

m3/quý, lượng sét khai thác trong một quý của thời gian này gần bằng với lượng hiện nay cho phép khai thác trong một năm Để quản lý và sử dụng tài nguyên sét trên địa bàn có hiệu quả cao cần có kế hoạch khai thác theo quy hoạch đã được đề ra, biện pháp xử lý các hành vi vi phạm trong khai thác sét gạch không phép

2.2 Tổng quan nhu cầu dầu mỏ thế giới

Mặc dù, nhu cầu tăng của mỹ yếu đi – OECD dự đoán chỉ bằng 70% năm 2003, nhưng nhu cầu của các nước ngoài OECD sẽ tăng lên đáng kể Thêm vào đó là mức dầu trong kho dự trữ của hầu hết các nước OECD đều không ở mức dư thừa, còn các nước ngoài OECD lại có nhu cầu xây dựng các kho dự trữ chiến lược của mỉnh, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ nên nhu cầu trong mấy năm tới của hầu hết các nước sẽ

Trang 16

mỏ tăng chậm hơn mức trung bình của thế giới rất nhiều, ở mức 1,3% mỗi năm, vì thị trường dầu mỏ ở các nước này đã đạt mức bão hòa ở hầu hết các ngành công nghiệp, ngoại trừ ngành điện Đồng thời việc sử dụng dầu mỏ cũng giảm đi vì ga (LPG) sẽ trở thành nhiên liệu chủ yếu cho ngành điện trong những năm tới

Các nước đang phát triển ở Châu Á có nhu cầu dầu mỏ tăng cáo nhất, khoảng 3,7%/năm và chiếm tới 35%tổng lượng dầu tiêu dùng tăng trong những năm tới Và hàm lượng dầu mỏ trong các sản phẩm ở các nước phát triển vẫn nhiều hơn ở các nước phát triển Quá trình công nghiệp hóa ở các nước này sẽ vẫn đòi hỏi nhiều năng lượng

so với sản lượng Thậm trí trong ngành giao thông vận tải, xăng dầu cho xe cộ ở các nước đang phát triển cũng cần nhiều nhiên liệu hơn

Nếu như trong các năm 2001 – 2003 nhu cầu dầu mỏ trên thế giới tăng khá khiêm tốn, chỉ khoảng 100.000 thùng/ngày, thì từ năm 2004, theo nhiều dự đoán nhu cầu mặt hàng này sẽ tăng đáng kể do nên kinh tế thế giới sẽ có khả năng phục hồi

Trong các lĩnh vực tiêu thụ dầu mỏ trong nên kinh tế thì ngành GTVT sẽ tiêu thụ nhiều nhất Theo ước tính của IEO 2002, vào năm 2020, ngành GTVT sẽ tiêu thụ 55% tổng nhu cầu năng lượng toàn cầu, và sẽ không có bất kỳ loại nguyên liệu nào có thể thay thế hiệu quả cho dầu trong khi lượng xe môtô – ôtô cá nhân sẽ tăng lên đáng

kể ở hầu hết các nước đang phát triển

Tóm lại, trong hai thập kỷ tới, dầu mỏ vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của thế giới, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này thì ngày một tăng còn trữ lượng dầu thì lại có hạn

Do đó, trong thời gian tới các nước cần phải thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng đồng thời tìm ra các năng lượng khá thay thế đề đáp ứng tốt nhu cầu tăng lên

Trang 17

6

2.3 Tổng quan nhu cầu dầu thô Việt Nam

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng, không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của ngành giao thông do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều… Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằng nguồn năng lượng khác Theo Viện phân tích ANNL toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu sẽ tăng khoảng 60% trong năm 2020 so với hiện nay Theo Tổ chức quản trị thông tin năng lượng (Business Monitori Intemational), nhu cầu tiêu thụ dầu lỏng của thế giới tăng lên khoảng 107 triệu thùng/ngày trong năm 2030, ở Việt Nam mức tiêu thụ dầu sẽ tăng

và đạt mức 460.000 thùng/ngày vào năm 2014

Do tầm quan trọng của ngành dầu mỏ trong nền kinh tế Việt Nam, việc phân tích những ảnh hưởng của WTO lên ngành dầu mỏ Việt Nam, và từ đó nên nền kinh tế Việt Nam có giá trị lớn trong việc hoạch định chính sách Là một nước xuất khẩu dầu

mỏ (chiếm khoảng hơn một phần năm tổng giá trị xuất khẩu), Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào nguồn thu này Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sắp tới đây của Việt Nam được cho là có tác động lớn đến ngành khai thác, chế biến và xuất khẩu dầu mỏ (dưới đây gọi tắt là ngành dầu mỏ) của Việt Nam

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, giá dầu thô giảm mạnh về dưới 40 USD/ thùng trong năm 2009 Kinh tế phục hồi là cơ sở để giá dầu thô liên tiếp tăng và lấy lại mốc hơn 110 USD/thùng trong 2 năm sau đó Từ đó đến nay, giá dầu biến động khá phức tạp do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công Châu Âu và các cuộc chiến liên quan đến dầu mỏ Nhiều khả năng giá dầu sẽ tăng trở lại trong các năm tới cùng với

sự phục hồi kinh tế thế giới Việt Nam chỉ là nước xuất khẩu dầu ở mức nhỏ nên doanh thu và lợi nhuận của nước ta phụ thuộc lớn vào sự biến động giá dầu thế giới

Theo như xu hướng của nhu cầu dầu mỏ thế giới và tình hình thị trường xăng dầu mấy năm gần đây có thể thấy rằng nhu cầu về xăng dầu cũng như các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới Nhất là Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nhu cầu về năng lượng phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ rất lớn Hơn nữa với tốc độ phát triển kinh tế đời sống của người dân được nâng cao nhu cầu sử dụng các phương tiện cá nhân đi lại, cũng như sử dụng

Trang 18

7

gas và các loại chất đốt tăng nhanh Nói tóm lại, trong 20 năm tới nhu cầu xăng dầu của Việt Nam sẽ tăng mạnh Báo cáo mới nhất về tình hình dầu khí Việt Nam dự báo lượng dầu tiêu thụ ở Việt Nam dự kiến tăng 101% trong giai đoạn 2007- 2018 Nhu cầu khí đốt của Việt Nam dự kiến tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên tới 22 tỷ m3 vào năm

2013 và sản lượng khí đốt cũng tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên 25 tỷ m3 vào 2018 Với

dự báo này, sản lượng khí đốt của Việt Nam chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước

Theo Viện phân tích An ninh Năng lượng toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu sẽ tăng khoảng 60% trong năm 2020 so với hiện nay Theo Tổ chức quản trị thông tin năng lượng (Business Monitori Intemational), nhu cầu tiêu thụ dầu lỏng của thế giới tăng lên khoảng 107 triệu thùng/ngày trong năm 2030, ở Việt Nam mức tiêu thụ dầu sẽ tăng và đạt mức 460.000 thùng/ngày vào năm 2014

Trang 19

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Khái niệm dầu thô

Dầu mỏ hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục Dầu thô tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ trái đất Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, phần lớn là những hợp chất của hydrocarbon, thuộc gốc alkane, thành phần rất đa dạng Hiện nay dầu mỏ chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen và xăng nhiên liệu Ngoài ra, dầu thô cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu

để sản xuất ra các sản phẩm của ngành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường Khoảng 88% dầu thô dùng để sản xuất nhiên liệu, 12% còn lại dùng cho hóa dầu Do dầu thô là nguồn năng lượng không tái tạo nên nhiều người lo ngại về khả năng cạn kiệt dầu trong một tương lai không xa

Ngành công nghiệp dầu mỏ phân chia "dầu thô" theo khu vực mà nó xuất phát (ví dụ "West Texas Intermediate" (WTI hay Brent) thông thường theo tỷ trọng và độ nhớt tương đối của nó ("nhẹ", "trung bình" hay "nặng"); các nhà hóa dầu còn nói đến chúng như là "ngọt", nếu nó chứa ít lưu huỳnh, hoặc là "chua", nếu nó chứa đáng kể lưu huỳnh và phải mất nhiều công đoạn hơn để có thể sản xuất nó theo các thông số hiện hành

3.1.2 Đặc điểm của dầu thô Việt Nam

Hiện nay, tổng công ty dầu khí Việt Nam đang khai thác dầu mỏ tại 6 mỏ trên thềm lục địa VN Sáu mỏ dầu này cho ta sáu loại hỗn hợp dầu thô: dầu Đại Hùng, Bạch Hổ, Rồng Ngọc, Rạng Đông và Bungakekwa Tất cả sáu loại hỗn hợp này đều có chất lượng cao và nhìn chung được bán với giá trung bình so với dầu thô Brent chuẩn trên thị trường thế giới Thông qua những đánh giá về đặc điểm của dầu thô khai thác

ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam như sau:

Trang 20

Dầu thô Việt Nam thuộc loại nhẹ vừa phải Tỷ trọng dầu thô Việt Nam nằm trong giới hạn 0,830 – 0,850 Tỷ trọng của dầu Bạch Hổ là 0,8391 và của dầu thô Đại Hùng là 0,8403 nên theo cách phân loại phổ thông của thế giới, dầu thô nước ta được xếp vào loại nhẹ vừa điều đó có nghĩa là khi đem lọc dầu thô VN, người ta sẽ thu được hàm lượng các chất nhẹ sáng màu cao Đó là những chất naphta (xăng thô), kerosene (dầu hỏa), DO (dầu diesel), những sản phẩm dầu mỏ hiện đang có giá trị trên thị trường Thực tế, các sản phẩm sáng màu này chiếm từ 50%- 60% trong dầu thô

VN

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu

Thu thập thông tin là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu Đặc điểm các dữ liệu thu thập số liệu thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá, phân tích và dự báo hướng phát triển của vấn đề cần nghiên cứu

Chủ yếu các thông tin, số liệu là thu thập từ các nguồn

 Sách báo, tạp chí, truyền hình

 Internet qua các trang tìm kiếm: www.google.vn , www.gos.vn … sử dụng các từ khóa có liên quan đến các trang web cần thu thập thông tin

3.2.2 Phương pháp thống kê mô tả

Trong phạm vi của đề tài, sử dụng phương pháp mô tả để báo cáo về thực trạng nhu cầu dầu thô tại Việt Nam

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

Sau khi thu thập xong số liệu thứ cấp, ta bắt đầu phân tích và sử dụng các phần mềm: excel, eviews… để xử lý

3.2.4 Dự báo

a) Định nghĩa dự báo

Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai Tiên đoán là sự nhận thức khách quan vượt thời gian theo chủ quan con người dựa trên

xu hướng vận động vừa qua

Trang 21

b) Tính chất của dự án

Tính chất của dự báo gồm các vấn đề sau: Dự báo mang tính xác suất Mỗi đối tượng dự báo đều vận động theo một quy luật nào đó, đồng thời trong quá trình phát triển nó luôn chịu tác động của môi trường hay các yếu tố bên ngoài Bản thân môi trường hay các yếu tố tác động không phải đứng im mà luôn trong trạng thái vận động

và phát triển không ngừng Về phía chủ thể dự báo, những thông tin hiểu biết về đối tượng ở tương lai bao giờ cũng nghèo nàn hơn hiện tại Vì vậy, dù trình độ dự báo có hoàn thiện đến đâu cũng không dám chắc rằng đánh giá dự báo là hoàn toàn chính xác

mà nó chỉ mang tính xác suất Dự báo là đáng tin cậy, dự báo mang tính xác suất nhưng đáng tin cậy vì nó dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học

c) Chức năng của dự báo

Có hai chức năng cơ bản:

‐ Chức năng tham mưu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích xu hướng vận động và phát triển trong quá khứ, hiện tại và tương lai dự báo sẽ cung cấp thông tin cần thiết, khách quan làm căn cứ cho việc ra quyết định quản lý và xây dựng chiến lược, kế hoạch hóa các chương trình, dự án v.v

‐ Chức năng khuyến nghị hay điều chỉnh: Với chức năng này dự báo tiên đoán các hậu quả có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện các kế hoạch nhằm giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh các mục tiêu cho phù hợp với điều kiện thực tế

d) Vai trò của dự báo

Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý Quản lý là

sự tác động liên tục có tổ chức, có chủ đích vào đối tượng quản lý bằng các hệ thống biện pháp kinh tế, xã hội v.v Nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển sản xuất Kết quả hoạt động quản lý là các quyết định quản lý Cơ chế ra quyết định quản

lý bao gồm ba bước

‐ Thu nhập thông tin về đối tượng trong quản lý

‐ Xây dựng mô hình thống kê thực nghiệm và thông tin tiên nghiệm

‐ So sánh cân nhắc đưa ra quyết định

Trong các bước trên thì vấn đề xây dựng mô hình là khâu cơ bản nhất Vì quá trình ra quyết định quản lý đòi hỏi phải mô hình hóa các mối quan hệ trong quá trình

Trang 22

vận động và phát triển cùa đối tượng quản lý, cho phép liên hệ từ quá khứ đến hiện tại sang tương lai nên xét về mặt thời gian các mô hình như vậy đều mang ý nghĩa dự báo

e) Các phương pháp dự báo

Phân tích xu hướng theo thời gian Đây là phương pháp dựa vào số liệu quá

khứ dự báo cho tương lai, giả định rằng xu hướng ở hiện tại cũng xảy ra cho tương lai

Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng hàm Phương pháp phân tích hồi quy đơn là một trong những công cụ phổ biến nhất cho mô hình hóa mối quan hệ tuyến tính hay xu thế Ở đây, chúng ta giới hạn chỉ nghiên cứu những mô hình

có hàm số không thay đổi theo thời gian làm biến giải thích

Dạng hàm được xác định từ điễn biến thực tế của số liệu có thể là:

Xu hướng dạng tuyến tính đơn giản

Y=a+b*t

Xu hướng dạng hàm số mũ

Y=a*tb Trong đó:

‐ Giả định phân tích hồi quy

Điều kiện cho mô hình xu thế sử dụng phân phối hồi quy

Giá trị trung bình của sai số là 0 Hay nói cách khác đi giá trị mong đợi của đối tượng dự báo sẽ là giá trị của hàm dự báo

Sai số sẽ tuân theo quy luật phân phối chuẩn

Phương sai của sai số sẽ hông thay đổi theo thời gian cho tất cả giá trị dự báo Sai số sẽ độc lập một cách thống kê Điều này có ý nghĩa rằng giá trị của đối tượng dự báo sẽ không có tương quan theo ý nghĩa thống kê (theo thời gian)

Trang 23

Kiểm định tự tương quan

Khi các sai số trong mô hình hồi quy có hiện tượng tự tương quan, hay nói khác

đi là có sự phụ thuộc giữa các giá trị liên tiếp của ai số Nếu điều này xảy ra sẽ dẫn đến giá trị thống kê kiểm định lớn, từ đó dẫn tới kết luận mô hình có giá trị Để kiểm định

hệ số tự tương quan ta sử dụng phương pháp Durbin-Watson

Có các trường hợp sau:

1) Nếu d<dl hay d>4-dl Chuỗi thời gian có hiện tượng tự tương quan

2) Nếu dU<d<(4-dU) Chuỗi không có hiện tượng tự tương quan

3) Nếu dL<d<dU hay (4-dU)<d<(4-dL) Chuỗi chưa có thể đi đến kết luận có hiện tượng tự tương quan hay không, chuỗi cần thiết phải gia tăng thêm số quan sát Trong đó, d tìm được qua phần mềm dự báo và kinh tế lượng, dL và dU là giá trị tới hạn tra bảng với mức ý nghĩa 5%, k’ là biến số độc lập, và n là số quan sát của chuỗi thời gian

Khi mô hình dự báo đã xây dựng, chúng ta sẽ sử dụng để dự báo cho những giá trị tương lai Chúng ta có thể sử dụng để dự báo với điểm công thức:

Yhat t+L=a+b*(t+L) Trong đó : L là khoảng cách dự báo

Phương pháp Box-Jenkins (ARIMA)

Mô hình ARIMA được xây dựng dựa trên phương pháp Box – Jenkins do hai nhà thống kê G.E.P Box và G.M Jenkins sáng lập

Theo Box – Jenkins, mọi quá trình ngẫu nhiên có tính dừng đều có thể biểu diễn bằng mô hình ARIMA Mô hình ARIMA có tên gọi là mô hình tự hồi quy kết hợp trung bình trượt (ARIMA = AutoRegessive Integrated Moving Average)

‐ Mô hình tự hồi quy bậc p – AR (p)

Trong mô hình tự hồi qui quá trình phụ thuộc vào tổng có trọng số của các giá trị quá khứ và số hạng nhiễu ngẫu nhiên Có dạng:

‐ Mô hình trung bình trượt bậc q – MA (q)

Trong mô hình trung bình trượt, quá khứ được mô tả hoàn toàn bằng tổng có trọng số của các ngẫu nhiên hiện hành có độ trễ

t p

t p t

t

Trang 24

Có dạng:

‐ Mô hình sai phân (d)

Loại ngẫu nhiên không dừng Có dạng

Để loại bỏ tính không dừng – tức biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng

ta phải lấy sai phân bậc d (d=1, 2)

‐ Mô hình bình quân trung bình trượt tự hồi quy – ARMA (p, q)

Mô hình kết hợp tự hồi quy với trung bình trượt, có dạng

Mô ARIMA (p, d, q)

Mô hình kết hợp 3 quá trình: tự hồi quy, sai phân và trung bình trượt Dạng:

Trong đó:

Yt : biến phụ thuộc là biến dự báo trong tương lai tại thời điểm t

Yt-1, , Yt-p: biến phụ thuộc tại các độ trễ t-1, ,t-p (biến hồi quy tự động)

εt-1, ,εt-q : các sai số ở các thời điểm trước t-1, , t-q ( biến trung bình trượt)

 : giá trị trung bình cố định

1, ,q: các hệ số ước lượng của trung bình trượt

p : số độ trễ của phần tự tương quan

q: số sai số quá khứ của phần trung bình trượt

d: số lần lấy sai phân của phần sai phân

Xây dựng mô hình ARIMA

t t

Y    1 1  2 2       

Y t= +1Y t‐1+2Y t‐2+…+pY t‐p+ εt ‐ θ1εt‐1 ‐ θ2εt‐2 ‐  ‐ θqεt‐q

Y t= + 1Y t‐1 + 2Y t‐2 +…+ p Y t‐p + εt  ‐ θ 1εt‐1  ‐ θ 2 εt‐2  ‐  ‐ θ q εt‐q   

Trang 25

thời đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thời gian giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà đồng phương sai được tính Cụ thể:

- Trung bình: E (Yt ) = μ = const

- Phương sai: Var (Yt ) = σ2 = const

- Đồng phương sai: Covar (Yt , Yt-k ) = Zk

Tính dừng của một chuỗi thời gian có thể được nhận biết dựa trên đồ thị của chuỗi thời gian, đồ thị của hàm tự tương quan mẫu hay kiểm định Dickey-Fuller

- Dựa trên đồ thị Yt = f(t), một cách trực quan chuỗi Yt có tính dừng nếu như đồ thị cho thấy trung bình và phương sai của quá trình Yt không thay đổi theo thời gian

- Dựa vào hàm tự tương quan mẫu (SAC – Sample Auto Correllation)

Nếu SAC = f(t) của chuỗi thời gian giảm nhanh và tắt dần về 0 thì chuỗi có tính dừng

- Kiểm định Dickey-Fuller (kiểm định nghiệm đơn vị) nhằm xác định xem chuỗi thời gian có phải là Bước Ngẫu Nhiên (Random Walk; nghĩa là Yt = 1*Yt-1 + et) hay không Nếu chuỗi là Bước Ngẫu Nhiên thì không có tính dừng Tuy nhiên, Nếu chuỗi không có tính dừng thì chưa chắc là Bước Ngẫu Nhiên

Để biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng, thông thường nếu lấy sai phân một lần hoặc hai lần thì sẽ được một chuỗi kết quả có tính dừng

- Chuỗi gốc: Y t

- Chuỗi sai phân bậc 1: W t = Y t – Y t-1

- Chuỗi sai phân bậc 2: V t = W t – W t-1

Khảo sát tính mùa vụ

Tính mùa vụ là hành vi có tính chu kỳ của chuỗi thời gian trên cơ sở năm lịch Tính mùa vụ có thể được nhận ra dựa vào đồ thị SAC = f(t) Nếu cứ sau m thời đoạn thì SAC lại có giá trị cao (nghĩa là đồ thị SAC có đỉnh cao) thì đây là dấu hiệu của tính

Trang 26

mùa vụ Chuỗi thời gian có tồn tại tính mùa vụ sẽ không có tính dừng Phương pháp đơn giản nhất để khử tính mùa vụ là lấy sai phân thứ m Nếu Yt có tính mùa vụ với chu

kỳ m thời đoạn thì chuỗi Z t = Y t − Y t-m sẽ được khảo sát thay vì chuỗi Yt

Nhận dạng mô hình ARIMA

Nhận dạng mô hình ARIMA (p,d,q) là tìm các giá trị thích hợp của p, d, q Với

d là bậc sai phân của chuỗi thời gian được khảo sát, p là bậc tự hồi qui và q là bậc trung bình trượt Việc xác định p và q sẽ phụ thuộc vào các đồ thị SPAC = f(t) và SAC

= f(t) Với SAC đã được giới thiệu ở trên và SPAC là Tự Tương Quan Riêng Phần Mẫu (Sample Partial Auto - Correlation); nghĩa là tương quan giữa Yt và Yt-p sau khi

đã loại bỏ tác động của các Y trung gian

+ Chọn mô hình AR (p) nếu đồ thị SPAC có giá trị cao tại độ trễ 1, 2, , p và giảm nhiều sau p và dạng hàm SAC giảm dần

+ Chọn mô hình MA (q) nếu đồ thị SAC có giá trị cao tại độ trễ 1, 2, , q và giảm nhiều sau q và dạng hàm SPAC giảm dần

Ước lượng các thông số của mô hình ARIMA (p, d, q)

Các thông số j và j của mô hình ARIMA sẽ được xác định theo phương pháp bình phương tối thiểu (OLS – Ordinary Least Square) sao cho:

Kiểm tra chẩn đoán mô hình

Sau khi xác định p, d, q và các fi , qj; nghĩa là đã xác định được phương trình cho mô hình ARIMA, điều cần phải làm là tiến hành kiểm định xem số hạng et của mô hình có phải là một nhiễu trắng (white noise, nhiễu ngẫu nhiên thuần túy) hay không Đây là yêu cầu của một mô hình tốt

Về mặt lý thuyết, Zt được tạo ra bởi quá trình nhiễu trắng nếu

Trang 27

Việc kiểm định tính nhiễu trắng sẽ dựa trên đồ thị SAC của chuỗi t

Kiểm định hệ số hồi quy: hệ số hồi quy này phải luôn bằng 1 trong bất kỳ bậc của hệ số hồi quy tự động và trung bình trượt

Kiểm tra Theil (U):là thước đo về độ chính xác dự báo Nếu hệ số này càng nhỏ thì mô hình càng có ý nghĩa Mô hình lý tưởng khi U = 0.Thông thường : 0 <U < 1, 2 Kiểm tra Decomposition : nếu hế số sai lệch (Bias), phương sai (Varian) và hệ

số hồi quy tự động càng tiến về 0 thì mô hình càng lý tưởng Còn hệ số hiệp phương

sai (Convariance) và số dư càng tiến về 1 thì mô hình càng hoàn hảo

Lựa chọn mô hình (hồi quy hoặc ARIMA) để dự báo

Mô hình được lựa chọn khi độ chính xác của mô hình càng cao Muốn vậy, ta phải dùng độ lệch chuẩn

Mô hình nào có độ lệch chuẩn  thấp hơn thì sẽ được chọn

Trang 28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân tích thực trạng nhu cầu dầu thô

Khu vực Tây Âu: Dầu mỏ vẫn là nguồn năng lượng lớn nhất phục vụ đời sống

và sản xuất của khu vực này Tuy nhiên nhu cầu dầu mỏ trong những năm tới lại tăng thấp nhất thế giới, chỉ 0,6%/ năm Nếu như mức tiêu thụ năm 1999 là 13,9 triệu thùng/ngày thì ước tính năm 2020 lượng tiêu thụ mỗi ngày chỉ khoảng 15,8 triệu thùng, và lượng tăng thêm cũng chủ yếu phục vụ ngành GTVT

Các nước công nghiệp hóa ở Châu Á: Danh sách các nước này gồm: Nhật Bản,

Úc, New Zealand – đều là các nước phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ, và Nhật chiếm 81% tổng lượng nhập khẩu của cả khu vực Nhu cầu dầu mỏ của khu vực này tăng ở mức khá khiêm tốn khoảng 0,9%/năm - tức là tăng mức tiêu thụ từ 6,9 triệu thùng/ngày năm 1999

Các nước đang phát triển ở Châu Á: Các nước đang phát triển ở Châu Á là tâm điểm chú ý của nhu cầu dầu mỏ gia tăng Trong một thập kỷ tới, Trung Quốc được dự đoán là sẽ vượt qua Nhật Bản vươn lên thành nước tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất ở Châu Á

và đứng thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ Với ngành GTVT đang phát triển mạnh, đặc biệt

là lượng ôtô tiêu thụ mạnh ở thị trường nước này, sẽ làm nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ tăng

Trang 29

lên ở mức 4,3% Nước láng giếng của Trung Quốc là Ấn Độ cũng được dự đoán là có nhu cầu dầu mỏ tăng 4,6%/năm

Các khu vực khác: Nhìn chung các khu vực khác trên thế giới đều có nhu cầu tiêu thụ dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ tăng lên Ví dụ ở Châu Á có Hàn Quốc, nước nhập khẩu đứng hàng thứ 4 ở khu vực có nhu cầu tăng hàng năm được dự đoán là tăng 1,9% năm 2020 nhu cầu của nước này ước tính khoảng 3,0 triệu thùng/ngày trong đó 90% là dựa vào nhập khẩu

Hay các nước ở khu vực Trung và Nam Mỹ có nhu cầu được dự đoán là tăng từ 4,7 triệu thùng/ngày lên 8,8 triệu thùng vào năm 2020, trong đó nhu cầu dầu mỏ của Brazil chiếm tới 47% của cả khu vực với nhu cầu tăng từ 2,0 triệu thùng/ngày hiện nay lên 3,9 triệu thùng vào năm 2020 (tỉ lệ tăng 3,3%/năm tương đương của Ấn Độ)

Trong khi đó nhu cầu ở các nước đang phát triển ở các khu vực trên thế giới đều có nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu tăng cao ở khu vực Trung Đông – rốn dầu khổng lồ của thế giới lại dược dự đoán có nhu cầu tiêu thụ chỉ tăng 2,1%/năm (tương đương mức trung bình của thế giới) trong đó tập trung chủ yếu là ở các nước đông dân như Thổ Nhĩ Kỳ và Iran

4.1.2 Tầm quan trọng của dầu thô

a) Đối với nền kinh tế

Nửa cuối thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự bứt phá và chiếm lĩnh vị trí thống soái của dầu mỏ và khí thiên nhiên với nền công nghiệp và dịch vụ xã hội, bỏ xa nhiên liệu hóa thạch truyền thống là than đá Và cho đến nay dầu mỏ là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất trong một nền kinh tế

- Dầu thô được coi là “vàng đen”, chính vì sự ứng dụng rộng rãi trong gần như mọi hoạt động sống của con người Nó là nguồn nhiên liệu cho hầu hết các phương tiện giao thông vận tải, và các ngành sản xuất khác (ngành công nghiệp hóa dầu để sản xuất các chất dẻo (plastic)…)

- Đối với nhiều quốc gia xuất khẩu dầu lửa, thì ngành công nghiệp khai thác dầu lửa là xương sống cho cả một nền kinh tế Nó đóng vai trò là nguồn thu nhập chính cho cả một nền kinh tế quốc gia

- Đối với những nước nhập khẩu dầu mỏ, mọi ảnh hưởng dù là nhỏ nhất tới lượng cung, làm thay đổi giá dầu đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc

Trang 30

ngành sản xuất của những nước này Dầu mỏ, tại các nước nhập khẩu, có thể coi là thứ thuốc bôi trơn cho nền kinh tế phát triển Đối với nhiều quốc gia xuất khẩu, thì ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ là xương sống cho cả một nền kinh tế Nó đóng vai trò là nguồn thu nhập chính cho cả một nền kinh tế quốc gia

Một quốc gia muốn duy trì được một nền kinh tế ổn định, và phát triển đều cần phải có một chiến lược năng lượng dầu mỏ một cách hợp lý, một chính sách an ninh năng lượng toàn diện đảm bảo đủ nguồn dầu mỏ cần thiết cung cấp cho cả nền kinh tế

b) Đối với nền chính trị

Chưa bao giờ trong lịch sử, dầu mỏ được coi là một công cụ đắc lực trong chính trị quốc tế như hiện nay Chính vì tầm quan trọng và tính chất ngày càng khan hiếm của dầu mỏ đã khiến cho nó luôn ở trung tâm của rất nhiều các cuộc tranh cãi, được nhiều nước sử dụng để mặc cả cho những vấn đề chính trị khác Sức nặng của nó trên bàn đàm phán và sức thu hút mạnh mẽ của nó đối với các nước lớn là thứ luôn được cân nhắc tới

Với tầm quan trọng của mình, Dầu mỏ có thể được coi là một loại hàng hóa đặc biệt nhất, chịu nhiều sự chi phối áp đặt bên ngoài các yếu tố kinh tế, thị trường thông thường trong Thương mại quốc tế

4.1.3 Thực trạng và nguyên nhân nhu cầu dầu thô

Việt Nam nằm trong khu vực có tiềm năng dầu thô không nhỏ Nhiều bể trầm tích có triển vọng về dầu đã được xác định trong đó có bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn có trữ lượng lớn nhất, điều kiện khai thác lại thuận lợi, trữ lượng đánh giá khoảng 3-4 tỷ m3 dầu quy đổi, trong đó 0,9 - 1,2 tỷ m3 dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m3 khí, phần lớn tập trung ở vùng nước sâu xa bờ So với các nước Đông Nam Á, trữ lượng dầu khí của nước ta đứng thứ 3, sau In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a Tuy nguồn phát hiện chưa thật lớn, song đối với nước ta nó có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong giai

đoạn khởi động nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng, không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của ngành giao thông do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều…

Trang 31

Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằng nguồn năng lượng khác

Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới, cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn Từ ở mức gần như con số không vào năm 1986, vốn đăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008 Việt Nam hiện có 10.700 dự án đầu tư trực tiếp của 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư gần

170 tỉ USD Chính vì thế để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất thì buộc các nhà máy phải tiêu hao một khối lượng nhiên liệu dầu thô khá lớn để phục vụ cho sản xuất

Dân số tăng nhanh và chất lượng cuộc cũng được nâng cao Một điển hình trong cách sống của người VN là sử dụng xe máy trung bình hai người trên 1 chiếc, dân số VN tăng nhanh và mạnh từ năm 1990 đến 2011, đến nay với một số dân tăng đến tốc độ chóng mặt như vậy đó là những chiếc máy tiêu thụ dầu khổng lồ Ước tính năng lượng dầu dùng trong giao thông 69% (2001) Ngoài ra, dân số tăng nhanh cũng dẫn tới tăng các nhu cầu khác như sử dụng điện, gas, các đồ dùng gia dụng khác cũng tăng Như vậy sự tăng trưởng KT và dân số tác động làm nhu cầu tiêu thụ dầu khá lớn

Yếu tố thời tiết cũng là một nguyên nhân gây tác động đến nhu cầu dầu Mùa đông khắc nghiệt với những luồng không khí lạnh ở khu vực miền Bắc Việt Nam làm

Trang 32

nhu cầu nhiên liệu dùng cho sưởi ấm tăng mạnh Hay tác động của cơn nắng nóng mùa

hè cũng là nguyên nhân phụ trợ thêm cho sự tăng cao về nhu cầu về dầu

Những bất ổn chính trị trên thế giới kể từ sau cuộc chiến tranh Iraq Trong thời gian gần đây, tình hình bất ổn chính trị, các cuộc bạo động, biểu tình liên tiếp xảy ra ở Trung Đông với các cuộc bạo động, đánh bom cũng như bầu cử ở Iraq, cuộc bầu cử ở Iran, bạo động ở Nigieria Những nước hiện nay hay xảy ra bạo động lại chính là những nước nằm trong OPEC, là tổ chức kiểm soát trên 40% lượng dầu thô xuất khẩu của toàn thế giới nên có thể nói tình hình chính trị ở những nước này là vô cùng nhạy cảm với diễn biến của nhu cầu dầu

Việc giá dầu liên tục biến động đã tác động đến VN trên nhiều góc độ Với các gia đình họ phải chi trả nhiều hơn cho vấn đề năng lượng dẫn tới xu hướng tiêu dùng giảm theo sức mua vì thế cũng giảm Đối với chính phủ phải tăng gấp đôi hay gấp 3 lần mức tiền của hoá đơn năng lượng Đối với các doanh nghiệp giá dầu tăng làm chi phí sản xuất tăng dẫn tới giá cả hàng hoá tăng đe doạ lợi nhuận của doanh nghiệp Đối với tổng thể nền KT VN làm ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng lạm phát thâm hụt cán cân thương mại

b) Tóm lại

Hiện nay, Việt Nam là một nước xuất khẩu ròng dầu thô, nhưng vẫn còn là một nước nhập khẩu ròng các sản phẩm dầu.Theo EIA, nhu cầu dầu mỏ đã tăng gần gấp đôi trong thập kỷ qua từ 175.000 thùng /ngày trong năm 2000 lên một ước tính khoảng 320.000 thùng /ngày trong năm 2010 Việt Nam vẫn cần phải nhập khẩu khoảng 70% sản phẩm tinh chế và hóa dầu kể từ khi đầu ra từ nhà máy lọc dầu Dung Quất không đáp ứng nhu cầu trong nước Như nhà máy lọc dầu được dự kiến sẽ đến trực tuyến, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam dự kiến đáp ứng 50 đến 60% nhu cầu sản phẩm trong nước năm 2015

Toàn cầu FACTS Năng lượng dự báo nhu cầu sản phẩm dầu khí trong nước sẽ tăng hơn gấp đôi vào năm 2030 đến gần hơn 830.000 thùng /ngày từ khoảng 375.000 thùng /ngày vào năm 2011 Lĩnh vực giao thông vận tải, trong đó sử dụng xăng, diesel, nhiên liệu phản lực, dầu nhiên liệu cho đường sắt, ổ đĩa khoảng 60% nhu cầu sản phẩm dầu khí Nhu cầu sản phẩm dầu còn lại có nguồn gốc từ dầu mỏ hóa lỏng sử

Trang 33

dụng gas (LPG) trong khu vực dân cư và một lượng nhỏ các sản phẩm được sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp và năng lượng

4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lượng cầu

Cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (tất cả các yếu tố khác là không đổi) Như vậy, khi nói đến cầu chúng ta phải hiểu hai yếu tố cơ bản là khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hoá và dịch cụ thể đó

Cầu khác với nhu cầu Nhu cầu là sự mong muốn và nguyện vọng vô hạn của

con người Sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thoả mãn Một khái niệm quan trọng nữa đó là lượng cầu Lượng cầu là lượng hàng hoá và dịch vụ mà người mua sẵn sàng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định Như vậy, ta nhận thấy cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá Chính

vì thế, phân tích lượng cầu là thích hợp nhất trong trường hợp này, yếu tố làm lượng cầu dịch chuyển dọc theo đường cầu là giá cả của dầu thô trong thời gian tới

Lượng cầu hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng muốn và có khả năng mua phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:

- Giá hàng hoá đó: hầu hết đối với các loại hàng hoá thì đây là yếu tố tác động trực tiếp tới lượng tiêu dùng hàng hoá Giá cả tỷ lệ nghịch với lượng hàng hoá được tiêu thụ

- Thu nhập của người tiêu dùng: thu nhập là yếu tố quan trọng xác định cầu Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hoá hơn và ngược lại Tuy nhiên phụ thuộc vào từng loại hàng hoá cụ thể mà mức độ thay đổi của cầu hàng hoá sẽ khác nhau Những hàng hoá có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên được gọi là các hàng hoá thông thường, còn các hàng hoá mà cầu giảm đi khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng hoá thứ cấp

- Giá cả của hàng hoá có liên quan: Cầu đối với hàng hoá không chỉ phu thuộc vào giá của bản thân hàng hoá Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá có liên quan gồm hai loại là hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung Hàng hoá thay thế

là hàng hoá có thể sử dụng thay cho hàng hoá khác, hàng hoá bổ sung là hàng hoá sử dụng đồng thời với hàng hoá khác

Trang 34

- Dân số: Với mặt hàng mà hầu hết được người dân sử dụng rộng rãi thì quy mô dân số tác động không nhỏ tới cầu thị trường của hàng hoá đó Cầu hàng hoá tăng khi dân số tăng

- Thị hiếu: Thị hiếu có ảnh hưởng lớn tới cầu của người tiêu dùng thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ Không thể quan sát thị hiếu được , các nhà kinh tế thường giả định rằng thị hiếu không thay đổi hoặc rất chậm chạp và thị hiếu độc lập với các yếu tố khác của cầu

- Các kỳ vọng: Cầu đối với hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi ) của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm trong tương lai thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại….các kỳ vọng cũng có thể về thu nhập,

về thị hiếu, về số lượng người tiêu dùng….đều tác động tới cầu đối với hàng hoá

Bảng 4.1 Sản Lượng Và Giá Dầu Thô Tại Việt Nam Giai Đoạn 1989 – 2011

Nguồn: thu thập và thông kê

Dựa vào bảng 4.1 và hình 4.1 cho ta thấy rằng sản lượng biến động một cách

khó kiểm soát, khi tăng khi giảm Trong đó, năm 2004 sản lượng tăng cao đỉnh điểm

403.29 thùng/ngày, tại thời điểm này giá dầu thô chạm mốc 38.27 USD/thùng, trong

khi thu nhập tăng chậm và đều qua các năm 2.7 USD/người Nhưng đến năm 2008 thì

sản lượng dầu thô lại giảm một cách mạnh mẽ chỉ còn 299.65 thùng/ngày, cứ tưởng

sản lượng giảm như vậy thì giá dầu thô cũng chịu tác động không ít, nhưng trong năm

2008 giá dầu thô còn tăng cao hơn 96.94 USD/thùng, trong khi thu nhập trong giai

Trang 35

đoạn này tăng giảm không đáng kể 2.8 USD/người Sau đó, đến năm 2011 sản lượng

là 308.7 thùng/ngày có xu hướng tăng lên từ từ nhưng chỉ chội hơn mức sản lượng

289.8 thùng/ngày của năm 1999, giá cả cũng tăng theo đạt 111.26 USD/thùng, trong khi thu nhập vẫn rất biến động 3.4 USD/người

Thiết lập mô hình đường cầu để mô tả quan hệ giữa các biến số Để xác định

đường cầu, chúng tôi dùng mô hình đường cầu:

Q = f(P, I)

Sử dụng phương pháp kinh tế lượng dưới hàm tuyến tính để xây dựng mô hình:

Q = 0 + 1 P + 2 I

Q: sản lượng dầu thô (thùng/ngày)

P: giá dầu thô (USD/thùng)

I: Thu nhập người dân (USD/người/năm)

(phần kiểm định xem phụ lục 1)

Bảng 4.2 Các Thông Số Ước Lượng Của Mô Hình

Biến độc lập Hệ số ước lượng Sai số chuẩn Trị số t Mức xác suất

Durbin Watson start = 1.626268

Kiểm định trị thống kê đo lường độ thích hợp của mô hình R2

Hệ số R2 = 0.573057, như vậy mô hình hồi quy giải thích được 57% sự biến động của biến lượng cầu dầu thô

Từ bảng 4.2, ta viết lại phương trình hàm hồi quy lượng cầu dầu thô theo thời gian như sau: 

Trang 36

Q = 191.4268724 - 1.496888071*P + 85.70035965*I

Q là sản lượng dầu thô (thùng/ngày) P: giá dầu thô (USD/thùng)

I: thu nhập cá nhân (USD/người/năm)

Ta cố định mức thu nhập I trong giai đoạn này là 2.5 USD/người Với mức thu nhập I này ta tiến hành tìm ra phương trình đường cầu của dầu thô, qua đó thiết lập mô hình đường cầu được minh họa qua đồ thị như sau:

Hình 4.1 Biểu Đồ Dường Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 1999 - 2011

Nguồn: ước lượng và thống kê

Qua chạy mô hình hối quy bằng kinh tế lượng, ta tìm được hệ số tương quan 1

= - 1,49 nên khi giá tăng lên 1 đơn vị thì lượng cầu về dầu sẽ giảm 1,49 đơn vị Ngoài

ra, tác động biên 2 của biến thu nhập là 85,7 điều này có nghĩa là khi thu nhập tăng lên 1 đơn vị thì nhu cầu về dầu sẽ tăng lên 85,7 đơn vị Do đó, thu nhập tác động rất ít đến nhu cầu về dầu Qua việc xác định được hệ số tương quan đường cầu của Việt Nam, ta thấy giá cả là yếu tố tác động chính đến nhu cầu dầu

Hệ số co giãn lượng cầu theo giá |ED| = 0,06 <1 khi giá thay đổi 1% sẽ làm lượng cầu thay đổi 0,06% Cùng với sự phát triển xã hội, nhu cầu về dầu mỏ ngày càng ngày tăng, bên cạnh đó cầu trong nước đối với loại hàng hoá này rất không co giãn vì hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực đều phụ thuộc vào dầu và có quá ít hàng hoá thay thế sẵn có đối với sản phẩm dầu Biểu diễn đường cầu trên đồ thị là đường có độ dốc

Trang 37

từ trái qua phải nhưng độ dốc tương đối lớn Điều này cho thấy người tiêu dùng sẽ là người trực tiếp hứng chịu những thiệt thòi khi có bất cứ loại thuế nào đánh vào dầu thô

và ngay cả khi giá mặt hàng này ngày một tăng cao đột ngột Còn đối với hệ số co giãn cầu theo thu nhập |EI|= 1.64 >1, đây là loại hàng hóa xa xỉ Thu nhập tăng dẫn đến sản lượng cũng tăng theo, và với mức tăng của sản lượng lớn hơn mức tăng của thu nhập

4.3 Dự báo lượng cầu giai đoạn 1987 – 2020

Nguồn tài nguyên thiên nhiên từ biển đã trở thành tiêu điểm cạnh tranh quốc tế Dầu thô vẫn được coi là nguồn năng lượng chính giúp Việt Nam tăng đáng kể nguồn thu của mình từ việc kinh doanh Thống kê của IEO 2004 cho thấy, với nhu cầu đòi hỏi về dầu mỏ tăng lên 1,9% mỗi năm thì trong vòng 24 năm tới, mức tiêu thụ 77 triệu thùng/ngày năm 2001 sẽ tăng lên tới 121 triệu thùng/ngày vào năm 2025, mà nhu cầu lớn nhất sẽ là từ Mỹ và các nước đang phát triển ở châu Á như Việt Nam… có thể sẽ chiếm tới 60% nhu cầu của thế giới

Trong cuộc sống đô thị hóa ngày nay, bất cứ việc làm gì cũng cần đến dầu thô, các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu thô rất gần cho cuộc sống và ứng dụng của nó là vô cùng sâu rộng Chính vì thế, dầu thô có một vị trí nhất định trong xã hội hiện nay

Bảng 4.3 Lượng Cầu Dầu Thô Tại Việt Nam Giai Đoạn 1987 – 2011

STT Năm

Lượng cầu (thùng/ngày) STT Năm

Lượng cầu (thùng/ngày)

Trang 38

Lượng cầu dầu tại Việt Nam trong giai đoạn 1988 đến năm 2011 có xu hướng tăng dần nhưng có rất nhiều biến động Để có thể thấy rõ hơn xu hướng biến động này

ta có thể nhìn vào đồ thị được thể hiện ở hình 4.1 Như sau:

Hình 4.2 Đồ Thị Diễn Biến Lượng Cầu Dầu Thô Giai Đoạn 1988 – 2011

Nguồn: Ước lượng và tổng hợp

Dựa vào đồ thị 4.1 có thể thấy khoảng mười năm gần đây, lượng cầu dầu thô tại Việt Nam đã tăng rất cao và có nhiều biến động Từ năm 1987 đến năm 2004, lượng cầu vẫn tăng đều đặn qua từng giai đoạn từ 59.928 thùng/ngày năm 1987 lên tới 73.447 thùng/ngày năm 2004, nguyên nhân là do trong gia đoạn này Việt Nam triển khai thực hiện Luật Đầu Tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) nên thu hút được rất nhiều nguồn đầu tư từ các quốc gia trên thế giới Nhưng sang năm 2008 thì lại tăng nhẹ, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đẩy giá dầu lên cao 96.94 USD/thùng, giá tăng quá cao cũng khiến cho lượng cầu tăng mạnh lện tới 77.505 nghìn thùng/ngày Sau đó, lượng cầu về dầu thô cũng tăng trở lại đến năm 2011 là 79.000 thùng/ngày Đề tài tiến hành dự báo lượng cầu dầu thô tại VN cho những năm tiếp theo (2012 – 2020) để xác định được thị hiếu của số đông người dân

4.3.1 Dự báo bằng mô hình hồi quy

Quan sát diễn biến lượng cầu trên đồ thị ta thấy lượng cầu dầu thô có xu hướng bậc 2 nên xây dựng hàm hồi quy như sau:

Y T = a + b*T+c*TxT

Trang 39

Căn cứ vào bảng kết suất của phụ lục 6, ta có kết quả ước lượng tham số của

mô hình:

Bảng 4.4 Các Thông Số Ước Lượng Của Mô Hình Hồi Quy

Biến độc lập Hệ số ước lượng Sai số chuẩn Trị số t Mức xác suất

3.178670 3.090193

0,0045 0,0055

Nguồn: Ước lượng và tổng hợp

Ghi chú: ***, **, * thể hiện mức ý nghĩa về mặt thống kê tương ứng ở mức α = 1%, 5%, 10%

Biến phụ thuộc là lượng dầu thô (USD/thùng)

R-square = 0.969759

F-statistic = 336.7149

Durbin Watson start = 0.541340

Từ bảng 4.2, ta viết lại phương trình hàm hồi quy lượng cầu dầu thô theo thời gian như sau:

Y t = 55539.51 + 554.6468*T + 20.93901*TxT

Trong đó:

+ Y là giá dầu thô ở năm thứ T

+ T = 1,2,3,…là số năm (năm 1987 nhận giá trị 1)

+ TxT = 1,4,9,…là bình phương của T tương ứng (T = 1,2,3,…)

Kiểm định

- Kiểm định ý nghĩa thống kê các hệ số ước lượng: T và TxT

Với mức ý nghĩa 5% ta tiến hành kiểm định mức ý nghĩa của hệ số trong mô hình hồi qui mẫu

Giả thiết:

H0: β = 0 (mô hình hồi quy không có ý nghĩa thống kê)

H1: β ≠ 0 (mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê)

Trang 40

Ta có trị thống kê P-value = 0,000 < 5% = 0,05 Như vậy bác bỏ giả thiết H0 Vậy biến T và TxT thật sự có ảnh hưởng đến sự biến động lượng cầu Y

- Kiểm định trị thống kê đo lường độ thích hợp của mô hình R 2

Hệ số R2 = 0.969759, như vậy mô hình hồi quy giải thích được 96% sự biến động của biến lượng cầu dầu thô

Kiểm định về độ thích hợp mô hình tổng thể của mô hình: Fisher

Giả thiết:

H0: β = 0 (mô hình hồi quy không thích hợp)

H1: β ≠ 0 (mô hình hồi quy thích hợp)

F-statistic = 336.7149, Pro(F-statistic) = 0,0000 < α = 0,05, Như vậy bác bỏ giả thiết H0 , vậy mô hình hồi quy thích hợp

- Kiểm định các bệnh của mô hình

Vì đây là mô hình sử dụng chuỗi số liệu theo thời gian nên phải kiểm tra hiện tượng tự tương quan Dựa vào kết quả kiểm định được trình bày ở phần Phụ lục 7, kết luận mô hình xảy ra tự tương quan

Vì đây là số liệu thời gian, nên để khắc phục hiện tượng tự tương quan, ta tiến hành thêm biến AR(1) vào mô hình Dựa vào kết quả kiểm định được trình bày ở phụ lục 8, kết luận mô hình không xảy ra hiện tượng tự tương quan

Bên cạnh đó, do mô hình có 2 biến độc lập là T và TxT nên nghi ngờ có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra Sau khi chạy mô hình hồi quy phụ để kiểm tra, phát hiện

có hiện tượng đa cộng tuyến (Phụ lục 9) Nhưng đây là mô hình dự báo, các hệ số xác định tương đối cao, biến giải thích đưa vào mô hình có ý nghĩa thống kê nên có thể chấp nhận và dùng để dự báo.Giá trị dự báo lượng cầu dầu thô cho những năm kế tiếp (2012 – 2020) thể hiện qua bảng 4.3

Ngày đăng: 22/12/2017, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w