Từ những con số trên cho thấy giá trị tiềm năng của VQG Núi Chúa trong việc phát triển du lịch sinh thái là rất lớn vì giá trị này chỉ phản ánh một phần giá trị thực qua một bộ phận khác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
DIỆP THỊ THẾ XUÂN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH DU SINH THÁI
VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VƯỜN
QUỐC GIA NÚI CHÚA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
DIỆP THỊ THẾ XUÂN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH DU SINH THÁI
VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VƯỜN
QUỐC GIA NÚI CHÚA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh -Tháng 08/2013
Trang 3
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh Giá Tiềm Năng
Du Lịch Sinh Thái và Hướng Phát Triển của Vườn QuốcGia Núi Chúa” do Diệp
Thị Thế Xuân, sinh viên khóa 2009 - 2013, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường,
đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS Đặng Minh Phương Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 4iii
LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến gia đình, đến ba và những người luôn bên cạnh che chở, động viên và là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp
mẹ-tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
Xin cảm ơn các thầy cô trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và thầy cô khoa Kinh tế đã truyền dạy kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tại trường
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến GVHD thầy Đặng Minh Phương, người đã tận tình chỉ dạy trong thời gian thực hiện báo cáo kiến tập
Cám ơn các chú, các anh và các chị ở trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, khách du lịch tới VQG Núi Chúa đã giúp đỡ cung cấp thông tin cho đề tài của được hoàn thiện hơn
Cảm ơn tất cả bạn bè đã cùng tôi học tập, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn và cho tôi niềm vui trong học tập cũng như trong cuộc sống
Cuối cùng, xin kính chúc ba mẹ, toàn thể quý thầy cô cùng toàn thể các cô chú, các anh chị trong trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường dồi dào sức khỏe.Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Diệp Thị Thế Xuân
Trang 5mà tỉnh Ninh thuận chưa khai thác
Với nguồn số liệu từ cuộc điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 80 khách du lịch
tạiVQG Núi Chúa, đề tài đã tìm ra giá trị tiềm năng khi VQG Núi Chúa được đầu tư phát triển du lịch sinh thái trong 10 năm tới là 6.167,4tỷ đồng
Tổng giá trị của du lịch sinh thái VQG Núi Chúa năm 2022 ứng với các suất chiết khấu khác nhau từ 9% đến 12% là 6.921,7 ứng với suất chiết khấu 10%, 7.577,3
tỷ đồng ứng với suất chiết khấu 11%, 8.288,3 tỷ đồng ứng với suất chiết khấu 12%,
Từ những con số trên cho thấy giá trị tiềm năng của VQG Núi Chúa trong việc phát triển du lịch sinh thái là rất lớn vì giá trị này chỉ phản ánh một phần giá trị thực qua một bộ phận khách du lịch trong nước, trong khi lượng khách quốc tê đến Việt Nam ngày càng tăng
Thông qua kết quả nghiên cứu và phân tích đề tài cũng hướng đến đề xuất những giải pháp phù hợp để đủ điều kiện đưa loại hình du lịch sinh thái chất lượng cao phổ biến hơn tại VQG Núi Chúa
Trang 6v
MỤC LỤC
Trang NỘI DUNG TÓM TẮT iv DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii DANH MỤC CÁC BẢNG ix
Trang 73.1.2 Khái niệm du lịch 20
3.1.4 Cấu trúc của ngành du lịch sinh thái 22 3.1.5 Khái niệm đa dạng sinh học 27 3.1.6 Khái niệm cung và cầu du lịch 27 3.2 Phương pháp nghiên cứu 29 3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 29 3.2.2 Phương pháp thống kê mô tả 30
3.2.5 Phương pháp phân tích mô hình hồi quy 37
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.2 Các tiềm năng phát triển du lich sinh thái 41 4.2.1 Các dự án lớn của tỉnh Ninh Thuận 41 4.2.2 Điều kiện tự nhiên thuận lợi 43
4.3 Kết quả nghiên cứu thông qua điều tra 47 4.3.1 Cơ cấu giới tính của khách du lịch 47 4.3.2 Trình độ học vấn 48 4.3.3 Độ tuổi của khách du lịch 50 4.3.4 Đặc điểm về cơ cấu thu nhập của khách du lịch 50
4.3.7 Khách du lịch phân theo độ dài đường đi 54 4.3.8 Thái độ của khách sau khi đi du lịch 55 4.4 Kết quả chạy mô hình kết xuất 56
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73 5.1 Kết luận 73 5.2 Kiến nghị 74 5.2.1 Đối với cơ quan chính quyền địa phương 74
Trang 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
(Contingent Valuation Method)
(Ecotourism)
ITCM Phương pháp chi phí du hành cá nhân
(Individual Travel Cost Method) ZTCM Phương pháp chi phí du hành theo vùng
(Zone Travel Cost Method) OSL Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường
(Ordinary Least Squares) TCM Phương pháp chi phí du hành (Travel Cost Method) VQG Vườn Quốc Gia
VNĐ Việt Nam đồng
UBND Uỷ Ban Nhân Dân
IUCN Liên Minh Quốc Tế Bảo tồn Thiên Nhiên
(International Union for Conservation of Nature) WTP Mức giá sẵn lòng trả
(Willing To Pay)
Trang 10ix
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Tài Nguyên Thực Vật Rừng 16 Bảng 2.2 Tài nguyên động vât rừng 18 Bảng 3.1 Kỳ vọng dấu của các biến độc lập 39 Bảng 4.1 Danh Mục Các Dự Án Đầu Tư Phát Triển Vườn Quốc Gia Núi Chúa 43 Bảng 4.2 Kết Quả Ước Lượng 56 Bảng 4.3 Kiểm Tra Lại Dấu của Các Thông Số Ước Lượng 57 Bảng 4.4 R2aux của Các Mô Hình Hồi Quy Phụ 59 Bảng 4.5 Cơ Cấu Chi Phí của Du Khách ở Các Điểm Du Lịch Hiện Tại 65 Bảng 4.6 Số Lượng Khách Du Lịch đến Núi Chúa qua Các Năm 65 Bảng 4.7 Lượng Du Khách Hiện Tại đến Các Địa Điểm Du Lịch 65 Bảng 4.8 Cơ Cấu Chi Phí của Du Khách ở Các Điểm Du Lịch trong Tương Lai 66 Bảng 4.9 Số Lượng Khách Du Lịch đến Mũi Né qua Các Năm 67 Bảng 4.10 Bảng Giá Trị Dự Báo Lượng Du Khách đến Núi Chúa qua các năm 68 Bảng 4.11 Lượng Du Khách sẽ Đến Các Địa Điểm Du Lịch trong Tương Lai 68 Bảng 4.12 Bảng Giá Trị DLST Tiềm Năng Ứng với Các Suất Chiết Khấu 69
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Ninh Thuận 7 Hình 2.2 Bảng Đồ Hành Chính của Vườn Quốc Gia Núi Chúa 12 Hình 3.1 Mối Tương Quan Giữa Số Lần Tham Quan và Chi Phí Tham Quan 31 Hình 3.2 Đường Cầu Số Lần Du Lịch từ Vùng Z 34 Hình 3.3 Đường Cầu Số Lần Du Lịch Cá Nhân 36 Hình 4.1 Biểu Đồ Tỷ Lệ Nam Nữ Đi Du Lịch ở VQG Núi Chúa 48 Hình 4.2 Biểu Đồ Thể Hiện Trình Độ của Khách Du Lịch 49 Hình 4.3 Cơ Cấu Khách Du Lịch Phân theo Độ Tuổi 50 Hình 4.4 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Phân theo Thu Nhập Trung Bình 51 Hình 4.5 Biểu Đồ Phương Tiện Đi Lại của Du Khách 52 Hình 4.6 Biểu Đồ Tỷ Lệ Khách Du Lịch Phân Theo Lý Do Đi Du Lịch 53 Hình 4.7 Đồ Thị Khách Du Lịch Phân Theo Độ Dài Đường Đi 54 Hình 4.8 Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng của Du Khách 55 Hình 4.9 Đường Cầu Du Lịch Sinh Thái VQG Núi Chúa 60
Trang 12
xi
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết Xuất Eviews Mô Hình Đường Cầu Du Lịch
Phụ lục 2: Kết Xuất Kiểm Định White
Phụ lục 3: Kiểm Định Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test Phụ lục 4: Ma Trận Hệ Số Tương Quan Giữa Các Biến
Phụ lục 5: Kết Xuất Các Mô Hình Hồi Quy Phụ
Phụ lục 6: Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn
Phụ lục 7: Một số hình ảnh về VQG Núi Chúa
Trang 13và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế và xã hội của đất nước Số doanh nghiệp dịch vụ tăng, đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Trong những năm qua, lượng du khách (bao gồm khách quốc tế và nội địa) tăng không ngừng từ 250000 khách quốc tế năm 1990 lên 54,57 triệu lượt khách vào năm 2010 Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2010 thu nhập từ du lịch đạt 251 ngàn tỷ đồng
Du lịch sinh thái là một bộ phận của ngành du lịch nói chung ngày càng đóng vai trò lớn trong quá trình phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn tài nguyên tại các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên nước ta được ưu đãi với bãi biển trải dài hàng ngàn cây số rất đẹp hay những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, Mỹ Sơn, Sa Pa, Huế… Cùng với đó là truyền thống đầy tự hào trong mỗi con người Việt Nam từ chống giặc ngoại xâm cho đến lòng hiếu khách hay một sắc văn hóa đa dạng Đây là một ưu thế rất lớn cho ngành du lịch sinh thái còn non trẻ
ở nước ta
Trang 14khô hạn trên những giống cát dọc bờ biển, kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới, kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới, thực vật chủ yếu là các loài có gai, kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cao khô nhiệt đới, kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới, thực vật
là những loài thường xanh lá cứng dai, kiểu rừng kín thương xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp Bên cạnh đó, có một số loài thực vật điển hình mang lại giá trị kinh tế về gỗ như
họ sồi giẻ, họ vang, họ Bàng, họ Re… và các loại cây có giá trị dược liệu như xá xị,
Mã tiến, Quế chị, Trầm,… Cây làm cảnh như họ lan (quế lan hương, lan thủy tiên, lan vảy rồng…) Ngoài ra, vườn quốc gia Núi Chúa cần bảo vệ nghiêm ngặt một số loài thực vật quý hiếm như mun, trầm, Gỗ mật, Gỗ cà te Về động vật có một số loài quý hiếm cần bảo vệ nghiêm ngặt ở mức độ nguy cấp như gấu, ngựa, gấu chó, hổ,…Bên cạnh đó, Núi Chúa còn có nhiều địa điểm du lịch đẹp là những tiềm năng du lịch sinh thái tương lai như bãi Đá Đỏ, bãi Thịt, hồ treo trên núi, đỉnh Núi Chúa, suối Lồ Ô, Hang Rái… chưa được đưa vào khai thác Đây là những tiêm năng to lớn sẽ thu hút lượng lớn khách du lịch, mang lại giá trị kinh tế to lớn cho tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
Mặc dù, có tiềm năng lớnđể phát triển du lịch sinh tháinhưng du lịch sinh thái ở tại đây đang trong giai đoạn bắt đầu phát triển và chưa tương xứng với tiềm năng của
nó Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm kìm hãm sự phát triển kinh tế cho VQG Núi Chúa là sự kết hợp không chặt chẽ của các cơ quan, các ngành các cấp trong việc xây dựng chính sách phát triển và quy hoạch VQG Núi Chúa
Đồng thời việc xác định giá trị tài nguyên của VQG Núi Chúa sẽ thấy được lợi ích to lớn mà VQG Núi Chúa mang lại từ doanh thu thuần hằng năm, đáp ứng nhu cầu giải trí từ thiên nhiên của một số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước VQG Núi Chúa còn có vai trò lớn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, giảm thiên tai, lũ lụt cho tỉnh Ninh Thuận Từ đó, chính quyền địa phương có cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triển, đầu tư tài chính và đặc biệt bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên ở VQG Núi Chúa, để khai thác và phát triển bền vững nhất
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của khoa kinh tế trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng dẫn của thầy
Đặng Minh Phương tôi đã thực hiện đề tài “Đánh Gía Tiềm Năng Du Lịch
Trang 15SinhTháivà Hướng Phát Triển Du Lịchcủa Vườn Quốc Gia Núi Chúa” như một
giải pháp phù hợp để vừa phát triển kinh tế vừa góp phần bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan của VQG Núi Chúa
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định tiềm năng du lịch sinh thái và hướng phát triển du lịch của vườn quốc gia Núi Chúa
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích hiện trạng VQG Núi Chúa
- Xác định các tiềm năng khai thác và hướng sử dụng nguồn lợi từ VQG Núi Chúa
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới lượng du khách tới VQG Núi Chúa
- Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái
và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Núi Chúa
1.3 Phạm vị nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành trên địa bàn xã, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Số liệu sơ cấp được điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên tại VQG Núi Chúa Các thông tin về tình hình hoạt động du lịch, số lượng khách du lịch đến với Ninh Thuận qua các năm được thu thập từ Sở Văn Hóa Thể Thao Du Lịch tỉnh Ninh Thuận
1.3.2 Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện nghiên cứu từ ngày 18/03/2013 đến ngày 30/06/2013 Trong đó khoảng thời gian từ ngày 1/4 đến ngày 30/4 tiến hành thu thập số liệu thứ cấp, điều tra thử và điều tra chính thức thông tin về số liệu sơ cấp và nhập số liệu Thời gian còn lại tập trung vào xử lí số liệu, chạy mô hình, viết báo cáo
Trang 161.3.3 Phạm vi nội dung
Xác định tiềm năng khai thác du lịch sinh thái và hướng phát triển du lịch tại vườn quốc gia Núi Chúa
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Đề tài gồm 5 phần chính và được chia thành 5 chương như Chương 1: Trình bày sự cần thiết, lý do chọn đề tài này Từ đó đề ra những mục tiêu chính và cụ thể để thực hiện trong suốt thời gian thực hiện đề tài.Chương 2: Trình bày về tổng quan, mô
tả tổng quát về điều kiện tự nhiên và các vấn đề nghiên cứu có liên quan của địa bàn nghiên cứu.Chương 3: Trình bày các khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, cơ sở cho việc
sử dụng phương pháp tính toán và mô hình OLS được sử dụng để phân tích dữ liệu điều tra.Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.Chương 5: luận và kiến nghị
Trang 17
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp TCM để định giá giá trị du lịch của 1 địa điểm giải trí nào đó Đồng thời sử dụng kết hợp với phương pháp CVM
để xác định mức sẵn lòng trả (WTP) của du khách cho việc nâng cấp, tu sửa hay xây dựng cơ sở hạ tầng nào đó để cải thiện dịch vụ du lịch này và thặng dư này có ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của họ
Shery L Lparkin và Sergio (2007) đã dùng phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) để định giá giá trị du lịch vườn quốc gia Los Nevados ở Colombia Họ
đã tính được tổng thặng dư của người đến thăm vườn quốc gia này là 2,7 tỉ pe-so tương đương 1,3 tỉ USD Tác giả cũng sử dụng phương pháp CVM để tính toán mức sẵn lòng trả của khách tham quan đối với việc phục hồi hệ sinh thái đã bị cháy rụi vào năm 2006 là 197.739 USD
Phạm Khánh Nam và Trần Võ Sơn (2001) đã dùng Phương pháp TCM để xác định giá trị du lịch của Hòn Mun bằng cách ước lượng thặng dư của khách du lịch trong và ngoài nước Bằng phương pháp ZTCM đã ghi nhận giá trị du lịch hàng năm khoảng 17,9 triệu USD Tác giả cũng sử dụng phương pháp CVM để xác định mức sẵn lòng trả WTP của du khách cho khu vực bảo vệ hàng hải của Hòn Mun là 6.041.571.008 VNĐ
Nguyễn Thị Thuyền (2001) bằng phương pháp TCM tác giả đã xác định giá trị
du lịch sinh thái Cù Lao Chàm là 16,943 tỉ đồng Tác giả cũng sử dụng
Trang 18Một nghiên cứu khác của Nguyễn Hồng Hạnh, Khoa Kinh tế, Đại học Nha Trang đã tiến hành đánh giá giá trị giải trí du lịch của khách du lịch trong nước đến khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hoà Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng lợi ích giải trí của du khách trong nước đối với vịnh Nha Trang là 23.281,281 tỉ đồng và thặng dư tiêu dùng là 7760,427 tỷ đồng hàng năm (năm 2007) Giá sẵn lòng trả (WTP) của du khách được tính vào phụ phí tiền phòng tại khách sạn của Nha Trang cho 1 ngày đêm nghỉ là 7875 đồng/ du khách/ đêm và tổng mức sẵn lòng trả của du khách xấp xỉ là 21,224 tỉ đồng
2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận
a) Vị trí địa lí
Tỉnh Ninh Thuận có diện tích là 336.308,24 ha Trong đó, đất ở 2.681 ha, đất nông nghiệp 60.373 ha, đất lâm nghiệp 157.302 ha, đất chuyên dùng 11.518 ha, đất chưa sử dụng 104.132 ha
Ninh Thuận là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, phía bắc giáp Khánh Hoà, phía tây giáp Lâm Đồng, phía nam giáp Bình Thuận và phía đông giáp biển Đông
Trang 19
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Ninh Thuận
Nguồn: UBND tỉnh Ninh Thuận, 2009
b) Điều kiện tự nhiên
Ninh Thuận bao bọc 3 mặt là núi: phía bắc và phía nam là 2 dãy núi cao nhô ra sát biển, phía đông là vùng núi cao tỉnh Lâm Đồng Địa hình có 3 dạng: miền núi, đồng bằng, vùng ven biển Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 15,4% và đồng bằng là 22,4%
Tỉnh có 2 hệ thống sông chính: hệ thống sông Cái có chiều dài 246 km, gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông La, sông Quao và hệ thống sông suối nhỏ phân bố ở phía Bắc và Nam tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu, sông Quán Thẻ… với tổng chiều dài 184 km
* Một số đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất muối của tỉnh Ninh Thuận:
Nhiệt độ trung bình năm 27,20C Tổng nhiệt năm 9.861,60C Nhiệt độ cao rất thuận lợi cho phát triển nghề sản xuất muối nhưng gây ra bốc hơi nước nhanh Vì vậy cây trồng phải được tưới nước và bố trí sử dụng đất phải chú ý đến những cây trồng
Trang 20tiến quá trình kết tinh hạt muối, nhiệt độ càng cao càng kết tinh được nhiều muối, đem lại năng suất cao, nhiệt độ càng cao càng tốt
Độ ẩm không khí trung bình năm 75,7%, độ ẩm cao nhất là 79,8% (mùa mưa, tháng 10), độ ẩm thấp nhất là 70,8% (mùa khô, tháng 1) Độ ẩm không khí là yếu tố quyết định để nói rằng vùng này hay vùng kia có thích hợp cho việc sản xuất muối hay không
Ninh Thuận nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm có thời gian chiếu sáng dài Mùa khô kéo dài tới 8 – 9 tháng
Nghề làm muối nhờ nắng và gió Nắng nhiều ngày liên tục thì mỗi ngày 1ha thu được 1 tấn muối, nhưng nếu gặp một trận mưa trái mùa thì muối và nước bão hòa bị nước mưa hòa tan thành nước biển và phải sau 7 đến 10 ngày nắng thì mới có nước chạt bão hòa và có muối kết tinh Do đó, mưa nhiều sẽ làm số ngày muối được kết tinh kéo dài và làm cho năng suất muối giảm sút Mưa nhiều làm cho người sản xuất muối không có thu nhập Do vậy, điều kiện mưa thấp ở tỉnh Ninh Thuận, Bắc Bình Thuận
và một số nơi khác như An Giang và Khánh Hòa khá phù hợp để sản xuất muối
e) Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân số tỉnh Ninh Thuận là 573.925 người(16/6/2009) Mật độ dân số 168 người/km2 Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có 34 dân tộc anh em sinh sống Trong đó,
Trang 21đông nhất là người Kinh(Việt- 76,65%), người Chăm(11,93% dân số toàn tỉnh, 41,60% số người Chăm của cả nước) và người Raglai(10,44% dân số toàn tỉnh, 48,19
số người Raglai của cả nước)
Là tỉnh có đông người Chăm sinh sống, hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ Ninh Thuận mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc Chăm Nền văn hóa thể hiện qua chữ viết, trang phục dân tộc, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, nghề gốm, dệt thổ cẩm Nghệ thuật dân ca và múa Chăm đã trở thành di sản quí giá của nền văn hóa Việt Nam
Tỉnh Ninh Thuận gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chăm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai (Ba Tháp) xây dựng thế kỷ thứ 9, cụm tháp Po Klong Garai xây dựng thế kỷ 13 và cụm tháp Po Rome xây dựng thế kỷ
17
Đến nay, người Chăm vẫn giữ các nghi lễ như lễ khai mương, đắp đê, lễ chặn đầu nguồn sông, lễ mừng lúa non, lễ xuống gặt, lễ mừng cơm mới Đặc biệt một bộ phận người Chăm vẫn sống bằng nghề đánh cá, mà tục thờ cá voi ở tất cả các tỉnh ven biển ngày nay, chính là bắt nguồn từ tín ngưỡng của người Chăm
Nông nghiệp
Ninh Thuận là tỉnh trồng nho nhiều nhất cả nước với tổng diện tích 1709ha (2004), sản lượng đạt 22500 tấn (2004) Trong đó, địa phương trồng nhiều nhất là
huyện Ninh Phước và huyện Thuận Nam
Táo, hành, tỏi cũng là một trong những thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh
Ninh Thuận
Tỉnh đang hình thành các vùng sản xuất chuyên canh như nho, thuốc lá, mía,
đường, bông, hành, tỏi
Lâm nghiệp
Rừng của Ninh Thuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển các ngành kinh tế- xã hội và cải tạo môi trường sinh thái, là một thế mạnh cần khai thác trong thời kỳ tới Đất lâm nghiệp của tỉnh Ninh Thuận có 157,3 nghìn ha, bao gồm rừng tự nhiên là 152,3 nghìn ha, rừng trồng có 5 nghìn ha, tỷ lệ che phủ rừng là 46,8% diện
Trang 22nghìn ha, trữ lượng gỗ khoảng 5,5 triệu m3.Tuy nhiên, Ninh Thuận có diện tích rừng khá lớn nhưng khai thác chưa hiệu quả
Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130
nghìn tấn/năm với các nhà máy sản xuất muối lớn như Cà Ná, Phương Cựu
Nhờ thế mạnh về trồng nho, rượu nho tại Ninh Thuận cũng có cơ hội phát triển Tuy nhiên, lượng nho cho sản xuất rượu chưa nhiều, sản xuất còn nhỏ lẻ và phân tán,
sản lượng chưa cao
Ninh Thuận hiện 3 khu công nghiệp - cụm công nghiệp:
_ Khu công nghiệp Du Long
_ Khu công nghiệp Phước Nam
_ Cụm công nghiệp Thành Hải
Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản ở Ninh Thuận tương đối phong phú về chủng loại: nhóm khoáng sản kim loại có wolfram ở Krông Pha, núi Đất; molipđen ở Krông Pha, núi Đất (4.000 tấn), thiếc gốc ở núi Đất (24.000); nhóm khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể
ở núi Chà Bang, Mộ Tháp I, Mộ Tháp II; cát thuỷ tinh ở Thành Tín, sét gốm ở Vĩnh Thạnh, muối khoáng thạch anh ở Cà Ná, Đầm Vua, sô đa ở Đèo Cậu, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng có cát kết vôi ở Sơn Hải, Cà Ná, Mỹ Tường, Thái An, Cà Ná - trữ lượng 2,5 triệu tấn CaO, sét phụ gia, đá xây dựng …
Hiện nay chủ yếu mới khai thác đá, đất sét, cát làm vật liệu xây dựng, khai thác muối khoáng để sản xuất muối công nghiệp, khai thác nước khoáng ở Tân Mỹ Các khoáng sản làm nguyên liệu cho vật liệu xây dựng còn tiềm năng, có thể khai thác để sản xuất xi măng, làm gạch ngói, đá xây dựng
Du lịch
Trang 23Ninh Thuận nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt- Nha Trang-Phan Rang, Ninh Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa và nhiều thắng cảnh đẹp như bãi biển Ninh Chữ, bãi biển Cà Ná, đèo Ngoạn Mục, thủy điện Đa Nhim và di tích lịch sử quí giá là các tháp Chàm Nơi đây có nhiều loại hình du lịch: tắm biển, nghỉ dưỡng, du thuyền, leo núi, săn bắn, tham quan các di tích lịch sử, hoặc tham dự các lễ
hội của người Chăm
Du lịch biển: Bãi biển Bình Tiên, Bãi biển Ninh Chữ, Bãi biển Bình Sơn, Bãi biển Cà Ná
Du lịch văn hóa: có3 tháp Chăm, được xây dựng cách đây khoảng 400 - 1100 năm:
- Tháp Hòa Lai (Ba Tháp) - Xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc
- Tháp Po Klong Garai - Phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm
- Tháp Po Rame- Xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước
Các làng nghề Chăm cổ:
- Làng gốm Bàu Trúc - Thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước
- Làng thổ cẩm Mỹ Nghiệp- Thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước
Du lịch sinh thái:
- Vườn quốc gia Núi Chúa
- Vườn quốc gia Phước Bình
2.2.2 Tổng quan về vườn quốc gia Núi Chúa
a Vị trí địa lí
Vườn quốc gia Núi Chúa được thành lập ngày 09/07/2003 tại Quyết định số 134/2003/QĐ- TTG của Thủ Tướng Chính Phủ Núi Chúa có tổng diện tích tự nhiên là 29.673 ha với 4 thành phần dân tộc chính sinh sống bao gồm Kinh, Raglay, Chăm và người Hoa và nằm trên địa giới hành chính thuộc 5 xã Công Hải, Lợi Hải, Phương Hải, Vĩnh Hải, Nhơn Hải- huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, giáp với tỉnh Khánh Hòa
Ở vị trí cực đông của Nam Trung Bộ, nơi tiếp giáp giữa vùng Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, có toạ độ từ 11°35'25" đến 11°48'38" vĩ bắc và 109°4'5" đến 109°14'15"
Trang 24và đông nam là biển Đông với các xã Vĩnh Hải và Nhơn Hải thuộc huyện Ninh Hải Phía nam giáp biển Đông giới hạn bởi tỉnh lộ 702, phía tây và tây nam giới hạn bằng chính quốc lộ 1A
Hình 2.2 Bảng Đồ Hành Chính của Vườn Quốc Gia Núi Chúa
Nguồn: Trung tâm DLST và giáo dục môi trường VQG Núi Chúa
b Địa chất thổ nhưỡng
VQG Núi Chúa nằm trong miền Trường Sơn Nam thuộc địa đới Kon Tum, có tuổi địa chất cách đây hàng triệu năm, được cấu tạo chủ yếu trên nền địa chất vững chắc của khối magma xâm nhập và phún xuất xen kẽ nhau với 3 loại đá mẹ đặc trưng
là Andelit, đá Liparit (Riolit) và Granite chiếm chủ yếu ở khu vực này Ở ven rìa khối núi là trầm tích đệ tứ nguồn gốc biển và đầm lầy biển Trên cơ sở nền đá mẹ này, quá trình phong hoá hình thành đất có các loại đất chính như sau:
Đất bạc màu trên đá Magma acid và cát: có hầu hết ở các vùng đồi, núi thấp, phân bố ở độ cao dưới 700m Loại đất này được hình thành trên sản phẩm của đá mẹ
Trang 25magma acid và cát nên đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng, có nhiều kết von
và đá ong trong đất cũng như trên mặt, có độ chua cao, dễ thoát nước và nghèo chất dinh dưỡng Trong quá trình phong hoá bào mòn thì đây chính là loại đất dễ xói mòn
và rửa trôi nhất trong khu vực và là một trong những nguồn cung cấp sản phẩm cát tích tụ ở chân đồi núi
Đất xám nâu vàng bán khô hạn: có phân bố ở vùng bán sơn địa, cũng được hình thành trên đá mẹ magma acid và phù sa cổ thuộc vùng khí hậu khô hạn Đất có màu xám đen đến nâu xám, có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mặt có nhiều sỏi sạn và đá
lộ đầu (tỉ lệ đá lộ đầu có nơi tới 50-60%), hàm lượng dinh dưỡng thấp, chua, khô Nhóm đất này phân bố chiếm gần hết diện tích của khu núi chúa, có thành phần cơ giới nhẹ, đất khô, lẫn nhiều đá
Đất vàng đỏ trên đá mẹ magma acid: phân bố ở nhiều độ cao khác nhau, nhưng thường tập trung nhiều ở vùng núi cao > 700 m có độ chia cắt và độ dốc lớn, tầng đất khá dày, có thành phần cơ giới nhẹ, chua, nghèo mùn và chất dinh dưỡng và khả năng giữ nước kém
Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): phân bố ở các vùng sườn, dông, đỉnh vùng đồi, núi
có độ dốc lớn, đất bị bào mòn, rửa trôi mạnh, tầng đất mỏng < 50 cm, tỉ lệ đá lẫn và lộ đầu khá cao (từ 50-70%), nghèo chất dinh dưỡng, chua và khô, thảm thực vật rừng nghèo nàn (chủ yếu là cỏ và cây bụi, ) Phân bố rìa đông bắc
Đất cát: phần ven biển phía đông nam và đông còn có đất cát điển hình vùng ven biển, phân bố dọc bờ biển, kéo dài từ phía bắc xuống phía nam, trừ những đoạn có núi ăn lan ra biển, tạo thành những bãi cát có diện tích khá lớn
Đất phù sa: phân bố hẹp, chỉ có ở một số suối lớn, địa hình bằng phẳng như ở suối Đông Nha ở phía tây nam và ở Vĩnh Hy, xã Vĩnh Hải Đất không được bồi tụ, phẫu diện đất chưa phân hoá thành các tầng đất rõ rệt
Trang 26c Khí hậu thủy văn
Khu vực VQG Núi Chúa nằm lọt hoàn toàn trong khu vực khí hậu ven biển miền trung thuộc vùng khí hậu Nam Trung Bộ với đặc điểm là khô hạn cao trong toàn
bộ chế độ mưa-ẩm, mà đặc điểm này liên quan đến vị trí bị che khuất của vùng này bởi các vòng cung núi bao bọc phía bắc, tây và nam với hai luồng gió mùa chính Trong vùng khí hậu khô hạn này thì khu vực Phan Rang được coi là trung tâm khô hạn nhất nước, với lượng mưa trung bình năm dưới 700mm, có những năm dưới 500mm
Mùa mưa ở khu vực này đến muộn so với các vùng khác và kết thúc cũng sớm hơn, bắt đầu khoảng tháng 9- 10 và kết thúc khoảng tháng 12 Gió mùa đông bắc không ảnh hưởng nhiều đến khu vực nên không cung cấp thêm lượng ẩm vào mùa gió mùa đông bắc, còn gió mùa tây nam vào mùa mưa thì lại bị các khối địa hình cao hơn
ở vị trí bên trong hứng gần hết lượng ẩm mà gió mùa tây nam mang lại và chỉ có tác dụng vào gần cuối mùa gió mùatây nam Do vị trí tiếp giáp như vậy lượng mưa tại khu vực Núi Chúa có thể đạt xấp xỉ 1000mm hoặc hơn so với trung tâm khô hạn Phan Rang-Mũi Dinh chỉ đạt 650-750mm/năm
Chế độ nhiệt của khu vực mang những nét đặc trưng của chế độ nhiệt miền Nam, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 260C, nhiệt độ tháng lạnh nhất không xuống thấp hơn 230C (cho địa hình thấp, đồng bằng), nền nhiệt độ các tháng trong năm khá ổn định theo kiểu chuyển tiếp khí hậu xích đạo– nhiệt đới Các yếu tố cực trị về nhiệt có thể thấy qua các trị số cực tiểu như nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể đạt 14oC-150C ở đồng bằng và giảm thêm theo độ cao
Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ ẩm trung bình chỉ khoảng 80%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 85%, trong các tháng mùa khô, độ ẩm tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 20%-25%
Theo Luận chứng Khoa học của VQG Núi Chúa (4), tính toán các chỉ số nhiệt
và mưa hàng tháng thì khu vực này có 9 tháng khô, 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt và được xếp vào loại khô hạn nhất ở Việt Nam
Hệ thống dòng chảy– thủy văn: với địa hình là một khối núi nhỏ độc lập như vậy nên hệ thống thủy văn sông suối trong khu vực này có đặc trưng là dòng chảy
Trang 27ngắn, nhỏ và lưu lượng thay đổi theo mùa, diện tích lưu vực cho từng dòng chảy không lớn
Nhìn chung khu vực VQG Núi Chúa không có suối lớn, chỉ có một số suối nhỏ, ngắn đến mùa khô gần như không có nước Các suối có dòng chảy đáng kể như suối Nước ngọt, Suối Nước giếng, Suối Kiền Kiền, suối Đông Nha, suối Lồ ồ, suối Đá Các suối trên đều bắt nguồn từ trên núi cao chảy ra biển đông
- Suối Đồng Nha: bắt nguồn từ phía nam Núi Chuá chảy xuống đầm Nại, qua địa
bàn các xã Phương Hải, Tri Hải và Nhơn hải, chiều dài = 11km, diện tích lưu vực =37 km, dòng chảy chuẩn qo = 0,193 m3/giây
- Suối Nước Ngọt 3: bắt nguồn từ núi Ông, núi Chúa Anh, diện tích lưu vực =
33,7 ha dòng chảy chuẩn qo = 0,115 m3/giây và lưu lượng wo = 5,52.106 m3
- Suối Kiền Kiền: bắt nguồn từ Núi Chúa chảy về hướng tây thuộc địa bàn xã Lợi
Hải diện tích lưu vực = 22 km2, dòng chảy chuẩn qo = 0,115 m3/giây, lưu lượng wo = 3,63.106 m3
- Suối Nước Ngọt 1: (bãi cấp) bắt nguồn từ phía bắc Núi Chúa chảy về hướng
đông ra biển Bình Tiên ở bãi Cấp, diện tích lưu vực = 19,5 km, dòng chảy chuẩn q0 = 0,102 m3 /giây, w0 = 3,22.106m3
Ngoài ra trong vùng đệm còn có một số sông suối nhỏ khác, có lưu lượng không đáng kể, về mùa khô hầu như khô kiệt không có nước
Thủy văn: do địa hình hiểm trở, độ dốc cao 10o– 25o nên đã hình thành hệ thống suối trong vùng với mật độ khe suối 0,7 km/km2 Trong khu VQG có các suối với diện tích lưu vực nước lớn như suối Nước Ngọt, suối Kiền Kiền, suối Đông Nha
Hầu hết các suối trên đều bắt nguồn từ các khu vực núi cao chảy ra biển Đông Ngoài ra, VQG Núi Chúa có khoảng hơn 40 km bờ biển trong đó có một số bãi cát và cồn cát nhỏ, và có một hồ nước nhỏ trên núi Đá Vách, ở gần biển khu vực Vĩnh Hy có nước ngọt tồn đọng quanh năm, là nơi có khá nhiều thực vật thân thảo, cây bụi và động vật: thú, lưỡng cư, bò sát sinh sống
Trang 28Thủy triều trong khu vực mang tính bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lần triều lên và hai lần triều rút Độ lớn của thuỷ triều trong kì nước cường khoảng 2– 3,5m
Sóng biển: từ tháng 1– 4: Hướng thịnh hành là Tây– Tây Nam, độ cao trung bình 1– 1,1m, cực đại khoảng 2m; từ tháng 10– 12: hướng thịnh hành là Đông Bắc, độ cao trung bình khoảng 1,2m, cực đại khoảng 2,5m Nhiệt độ trung bình của nước biển trong các tháng trên 250C, Độ mặn trung bình của nước biển từ 31%– 33%
d Đa dạng sinh học
Vườn Quốc gia Núi Chúa nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ phần gần cuối của dãy Trường Sơn chuyển tiếp tới vùng Đông Nam Bộ nên hệ động và thực vật ở đây có liên hệ chặt chẽ với hệ động thực vật của dãy Trường Sơn Nam, của miền Đông Nam Bộ Thành phần thực vật bậc cao có mạch gồm 1.265 loài thực vật, nằm trong
596 chi, 147 họ, 85 bộ thuộc 7 ngành thực vật khác nhau
Những loài thực vật trên đã hình thành nên các sinh cảnh thực vật trên đồi cát ven biển; sinh cảnh thực vật trong bụi gai thưa trên đất khô hạn, sinh cảnh thực vật cây
lá rộng xen cây lá kim vùng núi…
Trang 29Đặc biệt tuy nằm trong vùng khô hạn nhưng vườn quốc gia Núi Chúa có 7 loài cây gỗ lá kim (thực vật khoả tử) phân bố: Thông lông gà (Podocarpus imbricatus), kim giao trước đào (Podocarpus neriiflius), kim giao Fleury (Decussocarpus fleuryi), kim giao Wallich (Decussocarpus wallichianus), hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), thanh tùng (Taxus baccata var baccata), Số loài cây rụng lá mùa khô chiếm 41,5% và có số lượng cá thể loài (số cây) rụng lá mùa khô chiếm 51,1%
Nét đặc trưng của thực vật ở vườn quốc gia Núi Chúa là có 35 loài thực vật được xếp trong loài thực vật quý hiếm, thuộc 13 loài họ thực vật khác nhau: Mun (Diospyrosmollis), cẩm lai (Dalbergia), gõ đỏ (Aflezia xylocarpa), gõ mật (Sindora siamensis), xây (Dialium cochinchinensis), găng néo (Manilara hexandra), dáng hương (Pterocarpus macrocarpus), thiên tuế (Cycas), quyển bá quấn (Selaginella involvens), quyển bá trường xanh (Selaginella tamaristica)…
Có 80 loài thuộc 48 loài thực vật khác nhau mang địa danh phân bố ở Phan Rang như: Thị Phan Rang (Diospyros phanrangensis), dẻ Phan Rang (Lithocarpus phanrangensis), da Phan Rang (Ficus phanrangensis), chòi mòi Phan Rang (Antidesma phanrangensis)
Thực vật của Vườn quốc gia Núi Chúa ngoài khả năng sinh khối về gỗ, có 390 loài có thể chế biến làm dược liệu Trên 100 loài thuộc nhóm cây làm cảnh và nhiều loài có thể làm thức ăn
Trang 30Bảng 2.2 Tài nguyên động vât rừng
Lớp Tổng số
loài
Loài quý hiếm
Xếp theo các tiêu chí phân loại quý hiếm Sách Đỏ
IUCN (2000)
Sách Đỏ Việt Nam (2000)
Nghị định 18/HĐBT
Bò sát,
Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam
Tài nguyên sinh vật biển
Diện tích vùng biển của vườn Quốc gia Núi Chúa là 7.352 ha, trên địa bàn xã Vĩnh Hải, đây là vùng biển nằm trên vùng giao lưu của hải triều từ Bắc xuống, từ Nam lên và chịu ảnh hưởng của hiệu ứng nước trồi lên có tính đa dạng và phong phú về tài nguyên sinh vật biển với năng suất sinh học cao Kết quả điều tra tài nguyên sinh vật biển bước đầu ghi nhận:
(+) về san hô: đã xác định được 197 loài thuộc 49 chi, phân bố từ Vĩnh Hải đến
Mỹ Hoà có độ phủ trung bình là 42.6% Trong đó có 14 loài san hô được xác định là loài mới của Việt nam gồm: Acropora tutuilensis, Âcropora wallaceae, Montipora delicatula, Cantharellus noumeae, Barabattoia laddi, Favites paraflexuosa, Platygyra acuta, Platygyra contorta, Echinopora pacificus, Alveopora minuta, Porites negrosensis, Porites horizontalata, Canthastrea brevis and goniopora burgosi
(+) Về cá rạn san hô: có 147 loài thuộc 81 chi, 32 họ; mật độ dao động 361 – 1.984 con/500m2, trung bình 739 ± 564 con/500m2
(+) Về động vật thân mềm: 45 loài, trong đó có các loài có kích thước lớn như:
Ốc đụn (Trochus), ốc nhảy (Strombidae) và trai tai tượng (Tridacna)
(+) Giun nhiều tơ: có 22 loài
(+) Giáp xác: 24 loài
(+) Da gai: 13 loài
Trang 31(+) Cỏ biển có 3 loài: Enhalus acorodes, Thalassia hemprichii và Cymodocea rotundata Phân bố từ Mũi thị đến Mỹ Hoà
(+) Về rùa biển: vùng biển xã Vĩnh Hải là vùng có nhiều Rùa biển thứ hai ở Việt Nam (sau vườn Quốc gia côn đảo), với 3 loài: Rùa xanh (Chelonia mydas), vích olive ridley (Lepidochelys olivines), đồi mồi (Eretmochelys imbricata)
Những thành phần sinh vật biển trên vùng ven bờ của vườn quốc gia Núi chúa tương đối đa dạng về thành phần và phong phú về loài Điều này cho thấy tầm quan trọng của các bãi triều ở khu vực này, sự đa dạng về các hệ sinh thái với các kiểu hình thức cấu trúc phức tạp và tính liên kết giữa chúng là môi trường thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của nhiều loài sinh vật
Tài nguyên sinh vật của vườn quốc gia Núi Chúa không chỉ phong phú và đa dạng về thành phần loài mà còn mang nhiều yếu tố đặc hữu, quý hiếm có giá trị, cho nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và các nguồn lợi kinh tế
Các cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường đại học và các tổ chức quốc tế khi đến làm việc tại khu rừng khô Núi Chúa cũng nhất trí nhận định giá trị của khu rừng và những triển vọng trong công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và phát triển du lịch sinh thái
Trong thời gian tới để làm tốt công tác bảo vệ sự đa dạng của tài nguyên sinh vật rừng, biển của vườn quốc gia Núi Chúa cần thực hiện tích cực một số giải pháp:
- Đối với những loài động, thực vật, sinh vật biển đặc trưng, quý hiếm, những loài bị đe doạ tuyệt chủng, những loài có số lượng cá thể ít cần đi sâu nghiên cứu và xây dựng các biện pháp kỹ thuật bảo tồn cho loài, nhóm loài
- Cần đầu tư thích đáng và cân đối giữa bảo tồn rừng và biển như trang bị tàu cao tốc, các phương tiện phục vụ cho bảo vệ và nghiên cứu biển, cần kết hợp giữa Vườn và lực lượng bộ đội biên phòng, chi cục bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ để thống nhất kiểm soát các phương tiện đánh bắt hải sản trong vùng và phạm vi vườn Quốc gia Xây dựng phương án phòng chống cháy rừng và trang bị đầy đủ các phương tiện chữa cháy để không xảy ra tình trạng cháy rừng
Trang 32
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Khái niệm vườn quốc gia
Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của IUCN loại II
3.1.2 Khái niệm du lịch
“Du lịch là sự phát triển tự nhiên của cuộc sống vật chất và văn hóa của loài người nhằm thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa bằng cách di chuyển lưu động cư trú tạm thời từ nơi này đến nơi khác” (Vương Lôi Đình)
3.1.3 Khái niệm du lịch sinh thái
Đối với DLST, định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999): “Du lịch sinh thái là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ nhằm gây ra ít tác hại với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục
du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”
Trang 33Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái cho Việt Nam năm 1999 đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái cũng phải đảm bảo 10 nguyên tắc của du lịch bền vững theo IUCN (1998), cụ thể là:
1 Sử dụng tài nguyên bền vững bao gồm: tài nguyên tự nhiên, xã hội và văn hoá
2 Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải, nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch
3 Duy trì, phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hoá tạo ra sức bật cho ngành du lịch
4 Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia
5 Hỗ trợ nền kinh tế địa phương
6 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương
7 Có sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng
8 Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch chuyên nghiệp
9 Marketing du lịch một cách có trách nhiệm
10 Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề, mang lại lợi
Trang 34Ngoài những nguyên tắc chung, DLST cũng cần có những nguyên tắc riêng: quan sát, chiêm ngưỡng, nghiên cứu giới tự nhiên gắn liền với mục tiêu bảo tồn, hạn chế sự can thiệp của con người hay tiêu dùng tài nguyên vượt mức cho phép; tích cực việc bảo vệ, cải thiện môi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên, duy trì và phát huy bản sắc văn hoá bản địa Đảm bảo phúc lợi cho cộng đồng địa phương như phát triển cơ sở
hạ tầng, dịch vụ giáo dục, y tế, giải quyết việc làm Bên cạnh đó, du khách cần được nâng cao hiểu biết về trách nhiệm của mình trong việc đóng góp phần chi phí nhất định như vé vào cửa, phí bảo tồn khi đến các khu DLST vì một phần doanh thu từ DLST được sử dụng trực tiếp cho hoạt động bảo tồn tự nhiên
3.1.4 Cấu trúc của ngành du lịch sinh thái
Để phát triển du lịch sinh thái, chúng ta phải biết đến những bên sẽ tham gia vào hoạt động này và cho biết họ sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định khi đưa
ra, khi bắt đầu và trong quá trình thực hiện Các bên tham gia này không phải là những bên độc lập với nhau mà là những cơ quan, nhóm hoặc cá nhân phải cùng nhau làm việc và có chung lợi ích Dưới đây là các bên tham gia chính trong hoạt động DLST ở các khu du lịch sinh thái:
- Các bộ ngành liên quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường kết hợp với Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa thông tin xây dựng và ban hành văn bản pháp qui về nguyên tắc hợp tác và trách nhiệm trong hoạt động DLST ở các khu du lịch sinh thái
Ban quản lý các khu du lịch sinh thái chịu trách nhiệm chính trong quản lý hoạt động DLST ở các khu du lịch sinh thái, nhưng nhiệm vụ chính sẽ là quản lý, bảo tồn
đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên nói chung
- Các hãng lữ hành:các hãng lữ hành trong và ngoài nước thường cung cấp những
tour trọn gói cho khách DLST trong đó các công ty DLST sẽ có cơ hội quảng bá hoạt động của mình thông qua đàm phán với du khách Các cơ quan này sẽ đặt trước và thiết kế các hoạt động mà các khách DLST thường thực hiện khi họ ở Việt Nam Đôi khi, cần phải đàm phán về chi phí tham quan để gộp nó vào chi phí dịch vụ chọn gói
do các hãng lữ hành cung cấp
Trang 35- Hướng dẫn viên: hướng dẫn viên đóng vai trò cơ bản trong các hoạt động DLST
Họ là bộ mặt của công ty trước khách hàng Họ cần phải được đào tạo, nhận biết được nhu cầu của khách hàng và có kỹ năng giao tiếp tốt để tiến hành các hoạt động và mang lại cho khách hàng ấn tượng khó quên Cùng với cuốn cẩm nang, hướng dẫn viên cần phải có nhiều công cụ hướng dẫn khác để thực hiện công việc một cách thành công và họ cũng cần quan tâm đến các thủ tục của các công ty khác, các hiệp hội và cơ
sở ở địa phương
- Các cơ quan tài chính: các cơ quan trong và ngoài nước sẽ nhận được những yêu
cầu xin tài trợ để đề xuất các dự án Các công ty DLST cần phải liên lạc với các cơ quan nhà nước và tư nhân liên quan đến du lịch nhằm có được thông tin về các tổ chức
có thể hỗ trợ cho các hoạt động của mình
- Tổng Cục du lịch Việt Nam: Tổng Cục du lịch Việt Nam là một cơ quan của nhà
nước quản lý du lịch ở Việt Nam Nó có vai trò tích cực trong quản lý du lịch tại các khu du lịch sinh thái Cơ quan này cần phải áp dụng và điều hành trên quy mô toàn quốc một quy hoạch và thiết kế hoàn chỉnh các hoạt động DLST, mặc dù việc thành lập một diễn đàn nhằm thảo luận giữa các vụ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là một điều bắt buộc nhằm đạt được sự nhất trí về tiêu trí và nhằm thực hiện quản
lý du lịch bền vững thực sự
- Cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương ở bên trong và xung quanh khu du
lịch sinh thái phải tham gia tích cực vào quản lý khu du lịch sinh thái Những người dân địa phương sẽ là những người tiếp xúc trực tiếp với du khách Họ thường không chuẩn bị tốt để làm việc này, vì vậy họ phải được đào tạo và hỗ trợ nhằm thực hiện tốt
sự tham gia vào hoạt động du lịch Chính quyền các cấp tỉnh/thành phố, huyện, xã, chính quyền địa phương phải đóng vai trò chính trong DLST vì nó phải được duy trì điều hòa các lợi ích nhằm đảm bảo phát triển bền vững Một số tác giả (Voure’h & Dennan, 2003) đã đề xuất chính quyền địa phương nên xem xét phát triển chiến lược phát triển bền vững liên quan đến chương trình nghị sự 21
Trang 36chung của chính phủ, UBND tỉnh sẽ chịu trách nhiệm ban hành các chính sách, các quy chế hoạt động DLST trong các khu du lịch sinh thái cũng như xây dựng chiến lược, phê duyệt và kêu gọi các dự án đầu tư phát triển DLST, ban hành quy định thu phí tham quan các khu du lịch sinh thái
- Các tổ chức phi chính phủ: các công ty DLST nên quan tâm tới những tổ chức phi
chính phủ làm việc với các khu du lịch sinh thái vì các tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm quản lý Các tổ chức phi chính phủ có thể cung cấp thông tin và kỹ thuật phát triển các dự án
Các tổ chức phi chính phủ có liên quan đến các hoạt động phát triển có thể sửdụng DLST như một công cụ thúc đẩy phát triển cộng đồng sống trong và ngoài các khu du lịch sinh thái
- Các nhà điều hành du lịch: các nhà điều hành du lịch là những tổ chức chuyên cung
cấp các tour chọn gói Giám đốc công ty có thể hợp tác với họ để cung cấp dịch vụ chung Các nhà điều hành du lịch nhận khách như tên gọi của nó là những tổ chức trong nước đón khách DLST Các nhà điều hành du lịch đưa khách ra nước ngoài là những tổ chức cung cấp các chuyến du lịch tới các nước khác
- Khách du lịch: khách du lịch đóng vai trò chính trong các hoạt động DLST và nên
tập trung quan tâm tới họ Cần biết những điều du khách, hay trong trường hợp này là khách DLST, nghĩ gì về cơ sở hạ tầng và những trải nghiệm của họ nhằm nâng cao chất lượng và điều chỉnh các chương trình và cơ sở hạ tầng Cần phải quan tâm tới khách du lịch trong các bước lập kế hoạch cho hoạt động DLST cũng như việc thực hiện và giám sát các hoạt động
Chúng ta phải luôn coi khách có vai trò chính trong hoạt động của mình và nếu quên đi điều này động nghĩa với việc chúng ta phải chấp nhận sự thất bại
Tác động của du lịch sinh thái và phát triển bền vững
Tác động của du lịch nói chung và DLST nói riêng là những ảnh hưởng (xấu hay tốt) do hoạt động phát triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế và các yếu tố môi trường xã hội - nhân
Trang 37văn Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên có thể là tác động tích cực
hoặc tiêu cực
* Tác động tích cực
- Đối với môi trường
Cung cấp động cơ khuyến khích bảo vệ môi trường, cả chính thức (các khu vực được bảo vệ) và không chính thức; cung cấp các động cơ khuyến khích cho việc phục hồi và bảo tồn nơi sinh sống cải biến; trợ giúp trong việc cải thiện nơi sinh sống (những khoản tặng biếu, việc giám sát, bảo dưỡng, v.v.); thúc đẩy sự cam kết rộng hơn đối với phúc lợi về môi trường; những khoảng đất trống được bảo vệ vì có DLST
- Đối với kinh tế
DLST làm tăng doanh thu cho nền kinh tế đất nước, vùng, địa phương có sẵn tiềm năng về du lịch; cơ sở hạ tầng, giao thông được cải thiện, thông tin liên lạc phát triển; tạo ra các cơ hội việc làm trực tiếp cho người dân lao động bản địa; phát triển tiềm năng liên kết với các khu vực khác của nền kinh tế địa phương; tạo nguồn doanh thu gián tiếp từ khách DLST, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đặc sản, các loại hình dịch vụ chất lượng; văn hóa và di sản theo đó được giữ gìn và phát huy như là "những điểm phụ trội"; các lợi ích kinh tế từ việc sử dụng bền vững các khu vực được bảo vệ (dược phẩm, dược liệu, nghiên cứu)
- Đối với xã hội – văn hoá
Một diện rộng dân số có thể tiếp cận được DLST, thúc đẩy nhận thức về môi trường trong số khách DLST và cư dân địa phương; tạo cơ hội giao lưu với các nền văn hoá đặc sắc, ngôn ngữ, phong tục tập quán từ khách du lịch trong nước và quốc tế
* Tác động tiêu cực
- Đối với môi trường
Ô nhiễm nguồn nước: nước phục vụ nhu cầu du lịch chủ yếu là nước ngầm và
tập trung chủ yếu ở vùng ven biển, nơi có tới trên 70% các điểm du lịch trong toàn quốc.Vì vậy, việc tăng nhanh nhu cầu nước sinh hoạt cho hoạt động du lịch sẽ làm
Trang 38ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thủy vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô
nhiễm các thủy vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản
Ô nhiễm không khí: tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du
lịch có thể gây ô nhiễm khí do chất phát thải do các phương tiện giao thông và thiết bị Nếu chỉ tính đến tác động của các thiết bị điều hòa nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn du lịch, thì lượng khí CFCs (loại khí thải chính ảnh hưởng đến tầng ozon của khí quyển) thải ra cũng có tác động không nhỏ đến môi trường khí Hơn nữa, vào mùa du lịch, đặc biệt vào các ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần, lượng tàu chở khách, chở hàng, tàu phục vụ cho mục đích vui chơi, giải trí gia tăng, kèm theo sự gia tăng hiện tượng rò
rỉ dầu trên mặt nước biển, sự cố tràn dầu do va chạm giữa các phương tiện và lượng xe
du lịch tập trung chuyên chở khách đến các trung tâm đô thị du lịch làm tăng đáng kể lượng khí thải CO2 vào môi trường không khí v.v
Rác thải: vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Ðây là
nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội
Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể
gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại
Ô nhiễm phong cảnh: ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà
hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cao nhất là dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường
tệ hại nhất
Nhiễu loạn sinh thái: việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát không
hợp lý có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng, v.v) Xây dựng đường giao thông, khu cắm trại gây cản trở động vật
Trang 39hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền
- Đối với kinh tế- xã hội
Doanh thu không được đảm bảo nếu không được định hướng đầu tư đúng và bền vững, dễ bị rò rỉ do hàng nhập khẩu, sự tham gia của người sống ở nước ngoài hay không phải người địa phương; mất đi các chi phí cơ hội; sự xâm nhập vào các nền văn hóa khác và làm cách ly với nền văn hoá địa phương; gây ảnh hưởng đến nền văn hóa, phong tục tập quán địa phương bởi các công viên, khu nghỉ dưỡng; gây ra sự xói mòn quyền kiểm soát của địa phương (các chuyên gia nước ngoài, việc nhập cư của những người tìm việc làm); nguy cơ tạo ra những phẫn nộ và đối kháng tiềm tàng của những người địa phương; mâu thuẫn dễ nảy sinh các khía cạnh của nền văn hóa địa phương" (thí dụ, săn bắn, nông nghiệp kiểu chặt và đốt)
3.1.5 Khái niệm đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity,
biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi,
bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
3.1.6 Khái niệm cung và cầu du lịch
a) Khái niệm cung du lịch
Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ du lịch và hàng hoá du lịch (cả hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định
b) Khái niệm cầu du lịch
Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu của xã hội, có khả năng thanh toán về vật chất và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại lưu trú tạm thời bên ngoài nơi ở thường
Trang 40* Các yếu tố tác động đến cầu du lịch
Yếu tố tự nhiên: với các yếu tố như cảnh quan đẹp, khí hậu ôn hoà, bầu không
khí mát mẻ trong lành, hệ sinh thái động thực vật phong phú đa dạng thường được
khách du lịch ưa thích
Yếu tố kinh tế: kinh tế phất triển sẽ là tiền đề cho sự phát triển của cầu du lịch
nơi có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển, mặc dù tài nguyên rất phong phú nhưng du
lịch không thể phát triển được; thu nhập dân cư tăng sẽ dẫn đến cầu du lịch tăng và ngược lại, giá cả tăng thì đi du lịch sẽ giảm;tỉ giá trao đổi và ngoại tệ cũng ảnh hưởng
nhiều đối với du khách nước ngoài vì khách du lịch sẽ quyết định đi đến những nơi mà
tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền nước họ với nơi đến du lịch cao hơn; cách mạng khoa
học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hóa tác động sâu sắc đến toàn bộ
hoạt động kinh tế- xã hội trong đó có du lịch vì khi phát triển, các yếu tố này phá vỡ sự cân bằng nhịp sống buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại sức khỏe và tinh
thần dẫn đến cầu du lịch tăng
Giao thông vận tải: giao thông là một trong những nhân tố quan trọng cho sự
phát triển của du lịch Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi như tiết kiệm được thời gian đi lại, cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi
du lịch, khách du lịch cảm thấy thoải mái trên suốt chuyến hành trình
Yếu tố văn hóa – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn: mỗi vùng miền đều
có bản sắc văn hoá khác nhau, chính điều đó đã hình thành nên nhu cầu về du lịch, nhu cầu khám phá Con người phát triển nhân cách một phần thông qua việc khám phá các nền văn hóa bên ngoài và các loại hình nghệ thuật Do vậy, du lịch là một cách thức
hữu hiệu giúp con người tìm hiểu, giao lưu với các nền văn hóa bên ngoài
Thời gian nhàn rỗi của các cá nhân nhờ cải tiến năng suất lao động và ứng dụng
các công nghệ mới vào đời sống là một trong những yếu tố tác động đến cầu du lịch Thực tế cho thấy các chuyến đi du lịch đều được thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của con người Hiện tượng đi du lịch sẽ tăng lên khi thời gian nhàn rỗi của mọi người trong xã hội tăng lên và kéo dài thời gian đi du lịch, nhất là loại hình du lịch cuối tuần