HỒ CHÍ MINH ***** VŨ VĂN HÙNG NGHIÊN CỨU SÂU ĐỤC TRÁI CÀ TÍM, Leucinodes orbonalis Guenée, VÀ HIỆU QUẢ PHÕNG TRỪ BẰNG THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI Chuyên ngành: Bả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****
VŨ VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU SÂU ĐỤC TRÁI CÀ TÍM, Leucinodes orbonalis
Guenée, VÀ HIỆU QUẢ PHÕNG TRỪ BẰNG THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60.62.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HOC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THỊ CHẮT
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 01/2010
Trang 3NGHIÊN CỨU SÂU ĐỤC TRÁI CÀ TÍM, Leucinodes orbonalis Guenée,
VÀ HIỆU QUẢ PHÕNG TRỪ BẰNG THUỐC HÓA HỌC
TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Đại học Nông Lâm TP HCM
3 Phản biện 1: PGS TS NGUYỄN VĂN HUỲNH
Đại học Cần Thơ
4 Phản biện 2: TS TRẦN TẤN VIỆT
Công ty Nhiệt Đới
5 Ủy viên: PGS TS NGUYỄN THỊ CHẮT
Đại học Nông Lâm TP HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4
Tình trạng gia đình: Vợ Võ Thị Mai Hương, kết hôn tháng 01 năm 2002, con:
Vũ Võ Hoàng Nam, sinh tháng 12 năm 2002
Địa chỉ liên lạc: Ban Nông Lâm, Cơ sở 2 – Trường Đại học Lâm nghiệp, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0613675925 – 0907505468
Email: hungnl2@yahoo.com.vn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2010
Ký tên
Vũ Văn Hùng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp gần xa Cho phép tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS-TS Nguyễn Thị Chắt đã tận tình dìu dắt, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài để luận văn hoàn thành đúng thời hạn
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Ban Lãnh đạo Cơ sở 2 – Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian để tôi tham gia lớp học và thực hiện đề tài nghiên cứu
Ban Chủ nghiệm Khoa Nông học, Bộ môn Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Quí thầy cô tham gia giảng dạy, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học và thực tế vô cùng quý báu
Nhân dịp này, cho phép tôi gửi tới tập thể cán bộ Bảo vệ thực vật địa phương cùng các hộ nông dân trồng rau ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai lời cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ, cộng tác và tạo điều kiện bố trí ruộng thí nghiệm để tôi hoàn thành tốt đề tài
Cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn đến Bố Mẹ và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện về vật chất, động viên tinh thần giúp con có được thành quả ngày hôm nay
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu sâu đục trái cà tím, Leucinodes orbonalis Guenée, và
hiệu quả phòng trừ bằng thuốc hóa học tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện tại vùng trồng cà tím ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm, Tp Hồ Chí Minh từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009
Kết quả ghi nhận tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai hiện nay nông dân trồng cà tím ở cả 2 mùa mưa và mùa khô, nhưng 57,69% trồng vào mùa khô Để phòng trừ sâu đục trái, đục đọt trên cà tím nông dân chủ yếu sử dụng thuốc gốc Pyrethroid, gốc Lân hữu cơ + Pyrethroid, gốc Chloronicotinyl và gốc vi sinh lên
men từ nấm Streptomyces avermitilis Đa số nông dân phun thuốc trừ sâu hại 7
ngày/lần và dùng theo khuyến cáo
Đã ghi nhận được 13 loài sâu và 1 loài nhện gây hại trên cây cà tím: Loài L
orbonalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae), Thrips palmi Karny (Thysanoptera: Thripidae),
Amrasca biguttula biguttula Ishida (Homoptera: Cicadellidae), Aphis gossypii Glov
(Homoptera: Aphididae), Bemisia tabaci Gennadius (Homoptera: Aleyrodidae),
Phenococcus solenopsis Tinsley (Homoptera: Pseudococcidae),
Trưởng thành của L orbonalis có màu trắng xen lẫn vệt màu nâu đậm Cánh
trước có điểm 3 vệt giống hình tam giác màu hồng nhạt hơi xanh, pha hồng cam hoặc nâu đen Kích thước con cái biến động 9,6 - 12,3mm, con đực khoảng 8,1 - 9,5mm Trứng hình bầu dục hoặc hình elip dài khoảng 1,0 – 1,2mm thời gian ủ trứng 5,0 – 6,0 ngày Ấu trùng có 6 tuổi, khi đẫy sức dài 14,85 – 22,50mm, thời gian phát dục 10,0 – 12,0 ngày Nhộng màu nâu hồng đậm, chiều dài biến động 11,47 – 15,33mm, rộng
khoảng 4,40 – 6,45mm và thời kỳ nhộng kéo dài 8,0 – 9,0 ngày Vòng đời của L
orbonalis khoảng 25,30 ± 0,92 ngày
Trang 8Loài Trathala flavoorbitalis Cameron (Hymenoptera – Ichneumonidae) ký sinh trên ấu trùng của L orbonalis nhưng đến giai đoạn nhộng mới xuất hiện Tỷ lệ
ký sinh tự nhiên biến động 8,00 – 23,74%, trung bình 17,08 ± 5,93%
Trong điều kiện phòng thí nghiệm theo dõi bảng sống của L orbonalis ghi
nhận trứng có tỷ lệ nở cao, chỉ 9,36% không nở Ấu trùng tuổi nhỏ chết nhiều (27,98%) chủ yếu do sát thương Ấu trùng tuổi lớn chết ít (10,12%) Nhộng vũ hóa cao, chỉ 4,10% không vũ hóa Trưởng thành đực, cái có tỷ lệ tương đương nhau Con cái có thể đẻ trứng trong 3 ngày, trong đó ngày thứ nhất đẻ nhiều nhất (113 trứng/con cái/ngày)
Mức độ gây hại của sâu đục trái cà tím – L orbonalis chủ yếu ở giai đoạn 95
- 150 ngày sau trồng và giảm xuống đến khi kết thúc thu hoạch
Thuốc Basutigi 50ND và thuốc Sherpa 10EC hiệu lực phòng trừ sâu đục trái cà tím đạt cao nhất (78,46 - 81,50%) ở thời điểm 5 ngày sau phun Thuốc Abatimec 1,8EC và Bacterin B.T WP hiệu lực phòng trừ sâu đục trái cà tím đạt thấp hơn, hiệu lực đạt cao nhất 69,22 - 70,27% ở thời điểm 5 ngày sau phun Hiệu lực phòng trừ sâu đục trái cà tím của 4 loại thuốc giảm mạnh ở thời điểm 14 ngày sau phun thuốc
Trang 9ABSTRACT
The thesis “Studay of biological characteristics of Leucinodes orbonalies
Guenée which destroyed young shoot and fruit of eggplant and the effect of management methods applied in Trang Bom district, Dong Nai province” was carried out at eggplant farms in Trang Bom district, Dong Nai province and the Insect Science Laboratory, Agronomy Faculty, Agriculture Forestry University, Thu Duc District, Ho Chi Minh City from September 2008 to July 2009
In Trang Bom district, Dong Nai province, most of famers grow eggplant in both dry and rainy season Of which 57,69 percents of famers grow eggplant in dry season
The unique method used to control L orbonalies on the eggplant’s young shoot and fruit
is using insecticides such as Pyrethroid, organic phosphate + Pyrethroid, Chloronicotinyl
and ferment in edible mushrooms Streptomyces avermitilis Most of farmers applied
those types insecticides every 7 day on eggplant as the guidance
There were 13 Insects species and 1 Spider species which causing impacts on
eggplant’s They were: L orbonalis (Lepidoptera: Pyralidae), Thrips palmi Karny (Thysanoptera: Thripidae), Amrasca biguttula biguttula Ishida (Homoptera: Cicadellidae),
Aphis gossypii Glov (Homoptera: Aphididae), Bemisia tabaci Gennadius (Homoptera:
Aleyrodidae), Phenococcus solenopsis Tinsley (Homoptera: Pseudococcidae),
The L orbonalies adult had white insert into dark brown colour Wings were
marked by three small triangular with a pinkish to bluish colour mixed pinkish
orangish or dark brown The L orbonalies female dimension were about 9,6 -
12,3mm, the dimension of male were 8,1 - 9,5mm Eggs were 1,0 – 1,2mm in length and oval or elliptical shape The incubation time was around 5,0 – 6,0 days Larvae are developed by six stages of age, Larval development period lasts 10,0 – 12,0 days The Pupae were pink to dark pink in colour and shiny with the length,
Trang 10width were 11,47 – 15,33mm, 4,40 – 6,45mm respectively The Pupae developed
about 8,0 – 9,0 days The life cycle of L orbonalies lasted 25,30 ± 0,92 days
There was Trathala flavoorbitalis Cameron (Hymenoptera – Ichneumonidae) which was parasitized on L orbonalies Larvae, but only appearing at pupal stage
The parasitized rate were 8,00 – 23,74 %, average rate was 17,08 ± 5,93%
The L orbonalies feeding in Laboratory had high hatching rate, just 9,36 %
were not hatched The early stage of larvae had high death-rate (27,98%) mainly due to dispersion The older larvae had lower death-rate (10,12%) Pupae had high developed rate, only 4,10% were not development There were equal rate between male and
female adult of L orbonalies Laying eggs period of female adult lasted 3 days, in there
the first day was the highest laying rate (113 eggs/female/day)
The L orbonalis densities were highest on the young shoot and fruit of
eggplant at the stage after planting 95 – 150 days and was reduced in a after growing
Among the insecticides tested Basutigi 50ND and Sherpa 10EC indicated the
best efficacies on controlling both the shoot and fruit - L orbonalies (78,46 -
81,50%) at 5 days after spraying Abatimec 1,8EC and Bacterin B.T WP indicated a
lower efficacies on controlling both the shoot and fruit - L orbonalies with its
highest value at 5 days after spraying 69,22 - 70,27% Generally effects of all tested insecticides significantly decreased at 14 days after spraying
Trang 122.2.1 Sâu hại trên cây cà tím 6
2.3 Tình hình nghiên cứu sâu đục trái – L orbonalis trên cây cà tím 10
3.2.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu 20
3.3.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cà tím
của nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 22
3.3.2.2 Nghiên cứu về sâu đục trái – L orbonalis trên cây cà tím 22
a Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của L orbonalis trên cây cà tím 22
b Đánh giá mức độ bị ký sinh đối với sâu đục trái cà tím L orbonalis 24
c Nghiên cứu bảng sống của L orbonalis trong phòng thí nghiệm 25
d Điều tra biến động mật độ L orbonalis trên cây cà tím 26
3.3.2.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu đục trái cà tím – L orbonalis của một
số thuốc hóa học tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 27
Trang 134.1 Hiện trạng canh tác cà tím của nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh
4.2.4 Bảng sống của sâu đục trái cà tím – L orbonalis trong phòng thí nghiệm 56
4.2.5 Biến động mức độ gây hại sâu đục trái – L orbonalis trên cây cà tím 58
4.3 Hiệu lực của thuốc hóa học đối với sâu đục trái – L orbonalis trên cây cà tím
Trang 14x - Độ tuổi sinh thái (các giai đoạn phát triển)
100 qx - Số lượng cá thể chết ở từng độ tuổi tính ra % theo lx
dx - Số lượng cá thể chết ở mỗi độ tuổi (x) do từng yếu tố
lx - Số lượng cá thể quan sát trung bình trong từng giai đoạn
mx - Khả năng đẻ trứng của con cái/ngày
Trang 15DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Loại và liều lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng phòng trừ sâu đục trái
Bảng 4.1 Thông tin chung về hiện trạng canh tác cà tím tại huyện Trảng Bom,
Bảng 4.2 Hiện trạng kỹ thuật canh tác cà tím của nông dân tại huyện Trảng Bom,
Bảng 4.3 Hiện trạng bảo vệ thực vật trên cây cà tím của nông dân tại huyện
Bảng 4.4 Một số sâu và động vật gây hại trên cây cà tím tại huyện Trảng Bom,
Bảng 4.8 Vòng đời của loài L orbonalis - ĐHNL Tp Hồ Chí Minh, năm 2009 49
Bảng 4.9 Mức độ phát triển các giai đoạn của L orbonalis - ĐHNL Tp Hồ Chí Minh,
Bảng 4.10 Thời gian phát dục và khả năng sinh sản của trưởng thành loài
Bảng 4.11 Mức độ bị ký sinh và khả năng đẻ trứng đối với L orbonalis thu từ ngoài
Trang 16tự nhiên - ĐHNL Tp Hồ Chí Minh, năm 2009 53
Bảng 4.12 Bảng 4.12 Bảng sống và khả năng sinh sản của – L orbonalis trong phòng thí
Bảng 4.13 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với L orbonalis trên cây cà tím
Bảng 4.14 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với L orbonalis trên đọt cà tím
Bảng 4.15 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với L orbonalis trên trái cà tím
Trang 17DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bố trí các điểm điều tra biến động mật độ sâu đục trái cà tím 26
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát hiệu quả phòng trừ sâu đục trái cà tím
Đồ thị 3.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình tại khu vực huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Đồ thị 3.2 Lượng mưa trung bình tại khu vực huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ sống sót và khả năng sinh sản của – L orbonalis trong phòng thí
Đồ thị 4.2 Biến động mức độ gây hại của L orbonalis trên cây cà tím tại xã
Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, năm 2009 59
Đồ thị 4.3 Biến động mức độ gây hại của L orbonalis trên cây cà tím tại xã
Sông Thao, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, năm 2009 60
Đồ thị 4.4 Biến động mức độ gây hại của L orbonalis trên cây cà tím tại xã
Cây Gáo huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, năm 2009 61
Trang 18
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Nuôi ấu trùng L orbonalis bằng trái cà tím và ấu trùng đang đục vào trái
Hình 3.2 Bố trí thí nghiệm khảo sát hiệu quả phòng trừ sâu đục trái cà tím
Hình 4.1 Một số sâu hại trên cây cà tím tại Trảng Bom, Đồng Nai, năm 2009 39
Hình 4.2 Triệu chứng gây hại của sâu đục trái – L orbonalis 41
Hình 4.3 Trưởng thành sâu đục trái cà tím – L orbonalis 44
Hình 4.4 Ấu trùng và vỏ đầu các tuổi sâu đục trái cà tím – L orbonalis 47
Hình 4.6 Hình thái loài Trathala flavoorbitalis Cameron ký sinh trên L orbonalis 55
Trang 19Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cà tím (Solanum melongena L.) là một trong những loại cây rau quả có giá
trị kinh tế, thời gian thu hoạch kéo dài, thành phần dinh dưỡng phong phú Trong quả có 90% nước, protein 0 - 4%, chất béo 0,05 – 0,1% ngoài ra còn có axit capheic, cholin và trigonellin, sắc tố violanin (Hazra và ctv, 2003) Cà tím dùng làm thuốc lợi tiểu, thông mạch và đề phòng chứng vữa động mạch, bệnh tiểu đường, điều trị chứng viêm khớp, làm giảm cholesterol trong máu (Khan, 1979;
Silva và ctv, 1999)
Cà tím được sử dụng trong ẩm thực của nhiều quốc gia, từ Nhật Bản tới Tây Ban Nha Nó thường được chế biến dưới dạng thức ăn hầm trong món ratatouille của người Pháp, hay món moussaka ở Đông Nam châu Âu, và nhiều món ăn khác trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á Nó cũng được đem nướng nguyên trái sau
đó lấy lớp cùi thịt và trộn lẫn với các thành phần khác trong món baba ghanouj của khu vực Trung Đông hay món melitzanosalata của người Hy Lạp Cà tím bỏ vỏ đem nướng và trộn lẫn với hành, cà chua và cùng một số gia vị để tạo hương vị của món
Baingan ka bharta (hay vangyacha bharta tại Marathi) trong ẩm thực Ấn Độ Là
loài thực vật bản địa, nên nó được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực ở miền Nam Ấn
Độ như món sambhar, tương ớt, cà ri hay kootus Do bản chất đa năng và sử dụng rộng rãi, cả hàng ngày lẫn khi có lễ hội trong ẩm thực Nam Ấn, nên cà tím được coi
là 'Vua rau cỏ' tại khu vực này (Silva và ctv, 1999)
Ở Việt Nam, cà tím thường được nấu cùng tía tô trong món cà bung, cà tím xào cần tỏi, cà tím om tôm thịt, cà tím nhồi thịt om cà chua, cà tím nấu mẻ,
Trang 20cà tím xào với ốc và lá lốt, cà tím tẩm bột rán, cà tím nướng với thịt, cà tím nướng trộn với hành, làm dưa muối xổi,
Ở nước ta, cây cà tím được trồng khá phổ biến, hiệu quả đem lại từ việc trồng cà tím khá cao, 1 ha trung bình cho năng suất khoảng 50 - 60 tấn, thu hoạch từ 100 - 150 triệu/ha/vụ Vì vậy trong những năm gần đây cà tím được trồng khá phổ biến, đặc biệt tại tỉnh Đồng Nai, tập trung chủ yếu các huyện như Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ và là loại cây trong cơ cấu chuyển dịch cây trồng, chiếm ưu thế trong diện tích trồng các loại rau ăn quả Điều kiện khí hậu của các tỉnh phía Nam thuận lợi cho việc trồng cà tím, nhưng khó khăn lớn nhất là bị nhiều loại sâu bệnh nguy hiểm phá hoại làm giảm năng suất và phẩm chất cà Trong đó sâu đục trái, đục đọt là đối tượng gây hại khá nghiêm trọng trong những năm gần đây làm ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất cà tím
Để đối phó với sâu bệnh hại, nông dân thường sử dụng thuốc hóa học thường xuyên không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng và gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, sức khỏe con người và môi trường
Để tìm hiểu thêm về đối tượng gây hại nguy hiểm này trên cà tím và phòng trừ chúng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sâu đục trái
cà tím, Leucinodes orbonalis Guenée, và hiệu quả phòng trừ bằng thuốc hóa học tại
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai”
1.2 Mục tiêu, yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
Đánh giá mức độ và tiềm năng gây hại của Leucinodes orbonalis Guenée
trên cây cà tím và những loại thuốc hóa học, sinh học phòng trừ chúng có hiệu quả tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
1.2.2 Yêu cầu
- Tìm hiểu hiện trạng canh tác và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cà tím của nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Trang 21- Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học, mức độ bị ký sinh, bảng sống và
biến động mật độ, tác hại của sâu đục trái, đục đọt cà tím – Leucinodes
orbonalis Guenée
- Khảo sát hiệu quả phòng sâu đục trái, đục đọt cà tím – Leucinodes
orbonalis Guenée bằng thuốc hóa học, sinh học
1.2.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 9/2008 đến tháng 7/2009, tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Nghiên cứu tập trung vào sâu đục trái, đục đọt – Leucinodes orbonalis
Guenée và thiên địch của chúng trên cây cà tím
Trang 22Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về cây cà tím
2.1.1 Vị trí phân loại của cà tím
Giới (regnum): Plantae
Chi (genus): Solanum
Loài (species): Solanum melongena L
(Nguồn: Choudhury, 1976; AVRDC, 2003)
2.1.2 Nguồn gốc và sự phân bố
Cây cà tím hay cà dái dê có tên khoa học Solanum melongena L., (tên
tiếng Anh Eggplant) thuộc họ cà (Solanaceae), là loài cây có quan hệ họ hàng gần gũi với cà chua, khoai tây, cà dừa, cà pháo có nguồn gốc ở miền Nam Ấn Độ
và Sri Lanka (Sun và ctv 1990) Dạng hoang dại được tìm thấy tại Plains Bengal của Ấn Độ và một số loài hoang dại khác được tìm thấy ở Đông Nam Châu Á
Nó có tính chống chịu cả ở khí hậu nóng, khô, ẩm ướt, với nhiều loại đất, tạo nên cây trồng tốt ở những vùng nhiệt đới (Hazra và ctv, 2003)
Cà tím (Solanum melongena L.) là giống cây trồng thực phẩm quan
trọng ở nhiều nước, thuộc họ Solanaceae, dễ nhiễm sâu bệnh hại trong sản xuất đại trà Năm 2003-2004, diện tích trồng cà tím trên thế giới là 1,707 triệu
ha, đạt sản lượng 29,90 triệu tấn (FAO, 2005) Cà tím được chia thành ba dạng
Trang 23chính: dạng quả giống hình trứng (S melongena var esculentum), dạng quả thon dài (S melongena var serpentium), dạng lùn (S melongena var
depressum) (Kalloo, 1993)
Theo CABI (2005), cà tím có nguồn gốc ở Indonesia, vùng Miến Điện,
Ấn Độ, Sri Lanka và Trung Quốc Cà tím được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới Diện tích trồng cà tím toàn thế giới năm 2004 là 1,7 triệu ha với tổng sản lượng đạt 29,9 triệu tấn Khu vực trồng cà tím chủ yếu ở Châu Á với diện tích 1,6 triệu ha, sản lượng đạt 27,8 triệu tấn Nước có diện tích trồng nhiều như: Trung Quốc 901.565ha, Nam Á 526.500ha, Ấn Độ 510.000ha, Near East 129.785ha, Indonesia 44.414ha, Thổ Nhĩ Kỳ 37.000ha, Egypt 36.000ha, Italy 12.800ha, Sudan 12.000ha, Thailand 11.800ha, Nhật Bản 11.500ha, Sri Lanka 9.300ha, Pakistan 7.200ha, Iran 5.000ha, Pháp 4.200ha,
Mỹ 2.100ha, Mexico 2.000ha…
Theo Ngô Quang Vinh và ctv (2002), cà tím là một loại cây khá quen thuộc của Việt Nam được trồng hầu khắp các vùng trồng rau trong nước Cây cà tím thuộc
họ Cà (Solanaceae) cùng họ với cà chua, ớt, thuốc lá… có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Châu Á Hiện nay loài cây này được trồng ở các nước như Trung Quốc,
Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Pakistan, Mexico, Nhật Bản, Italy, Thailand, Sri LanKa, Triều Tiên, Philippin…
Theo số liệu của Vụ Kế hoạch - Quy hoạch, Bộ NN & PTNT, diện tích trồng
cà tím cả nước trong các năm gần đây dao động trong khoảng 17.000 - 19.000 ha, năng suất bình quân 45-60 tấn/ha Hầu hết các địa phương, cà tím chủ yếu được trồng trong vụ Đông và vụ Xuân
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
Cà tím (Solanum melongena L.) là cây một năm, cao tới 40 - 150cm
(16 - 57 inch), thông thường có gai, với các lá lớn có thùy th ô, dài từ 20cm và rộng 5 - 10cm Hoa màu trắng hay tía, với tràng hoa năm thùy và các nhị hoa màu vàng Quả là loại quả mọng nhiều cùi thịt, đường kính nhỏ
Trang 2410-hơn 3cm ở cây mọc hoang dại, nhưng lớn 10-hơn rất nhiều ở các giống trồng Quả chứa nhiều hạt nhỏ và mềm Các giống hoang dại cây có thể lớn hơn, cao tới 225 cm (84 inch) và lá to (dài tới trên 30 cm và rộng trên 15 cm) , (Choudhury, 1976; AVRDC, 2003; CABI, 2005)
2.1.4 Giá trị dinh dưỡng
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của trái cà tím
Thành phần Trong 100g thịt trái Thành phần Trong 100g thịt trái
2.2 Sâu hại và thiên địch trên cây cà tím
2.2.1 Sâu hại trên cây cà tím
2.2.1.1 Ngoài nước
Capps (1963), đã ghi nhận trên cây cà tím có 11 loài côn trùng gây hại đó
là sâu đục trái – L orbonalis, bọ trĩ - Thrips sp., rầy xanh - Empoasca fabae Harris, rầy mềm - Aphis gossypii Glover, sâu đất - Agrotis spp., Epilachna spp., rầy phấn trắng - Bemisia tabaci Gennadius, bọ xít xanh - Nezara viridula Linnaeus, sâu cuốn lá - Eublemma olivacea Walke, sâu đo - Anomis flava Fab., nhện đỏ -
Tetranychus urticae Koch.
Trang 25Chen và Li (1995), ghi nhận trên cây cà tím xuất hiện các loài gây hại phổ
biến ở 3 bộ thuộc 7 họ côn trùng khác nhau như: sâu đục trái – L orbonalis, sâu cuốn lá - Haritalodes derogata Fab thuộc họ Crambidae bộ Lepidoptera; sâu đất -
Agrotis spp., sâu xanh - Alabama argillacea Hubner, sâu đo - Anomis flava Fab., Anomis illita Guenée, sâu khoang - Helicoverpa spp., sâu khoang - Spodoptera spp
thuộc họ Noctuidae bộ Lepidoptera; rầy mềm - Aphis gossypii Glover họ Aphididae
bộ Homoptera; rầy xanh hai chấm - Amrasca biguttula biguttula Ishida họ Jassidae
bộ Homoptera; rầy phấn trắng - Bemissia tabaci Gennadius họ Aleurodidae bộ Homoptera; bọ xít nâu - Acrosternum spp., bọ xít xanh - Edessa meditabunda Fab.,
bọ xít xanh - Nezara viridula Linn họ Pentatomidae bộ Hemiptera; bọ xít đỏ -
Dysdercus spp thuộc họ Pyrrhocoridae bộ Hemiptera
Theo CABI (2005), tổng hợp thành phần sâu hại xuất hiện trên cà tím
là những loài gây hại sau: Sâu đục trái – L orbonalis, Bọ xít nâu -
Acanthocoris scabrator Fab, Catorhintha guttala Fab, Rầy xanh lá - Amrasca biguttula biguttula Ishida, Rầy xanh - Empoasca fabae Harris, Aspidiotus excisus Green, sâu đo - Anomis flava Fab., Bemisia tabaci
Gennadius, Catorhintha guttala Fab., Cercospora melongenae Welles,
Chionaspis minor Maskell, Choanephora cucurbitarum Berk & Ravenel, Chrysodeixis includens Walker, Epilachna spp., Rầy mềm - Aphis gossypii
Glover, Bọ trĩ dưa - Thrips palmi Karny, Bọ trĩ - Thrips flavus Schrank, Nhện đỏ - Tetranychus cinnabarinus Boisduval
2.2.1.2 Trong nước
Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), thành phần côn trùng gây hại trên cây họ cà (Solanaceae) đã phát hiện được 14 loài sâu hại trong đó thường xuyên gây hại là các
loài sâu đục trái cà – L orbonalis (Pyralidae - Lepidoptera), sâu xám (sâu đất) -
Agrotis ypsilon Hufn (Noctuidae - Lepidoptera), sâu ăn tạp – Prodenia litura Fab = Spodotera litura Fab (Noctuidae - Lepidoptera), sâu xanh - Heliothis armigera
Hubner (Noctuidae - Lepidoptera), sâu xanh thuốc lá – Heliothis asulta Guenée
Trang 26(Noctuidae - Lepidoptera), bọ phấn trắng – Bemisia myricae Kuw (Aleurodidae – Homoptera), bọ trĩ – Thrips sp (Thripidae – Thysanoptera), rầy xanh - Amrasca sp (Cicadellidae - Homoptera), rầy mềm - Aphis sp (Aphididae - Homoptera), bọ rùa
ăn lá, rầy trắng, bọ xít hôi, bọ xít mép,
Theo Ngô Quang Vinh và ctv (2002), thành phần sâu hại trên cây cà tím như
sâu đục trái – L orbonalis, sâu xanh - Heliothis armigera Hubner (Noctuidae - Lepidoptera), sâu cuốn lá - Eublemma olivacea Walk (Pyralidae - Lepidoptera), sâu
đo - Anomis flava Fab (Noctuidae - Lepidoptera), rệp muội - Aphis gossypii Glov
(Aphididae - Homoptera), rầy xanh hai chấm – Amrasca biguttula biguttula Ishida (Cicadellidae - Homoptera), bọ trĩ - Thrips palmi Karny (Thripidae - Thysanoptera),
bọ phấn - Bemisia tabaci Gennadius (Aleyrodidae - Homoptera), nhện đỏ -
Tetranychus urticae Koch (Tetranychidae - Acarina)
Theo báo cáo của Trạm bảo vệ thực vật Trảng Bom (2007), cây cà tím
thường gặp các loài gây hại như sâu đục trái – L orbonalis (Pyralidae - Lepidoptera), bọ trĩ - Thrips palmi Karny (Thripidae – Thysanoptera), rầy xanh hai chấm – Amrasca biguttula biguttula Ishida (Cicadellidae - Homoptera), rầy mềm - Aphis gossypii Glov (Aphididae - Homoptera), bọ phấn - Bemisia tabaci Gennadius (Aleyrodidae - Homoptera), sâu xanh - Heliothis armigera Hubner (Noctuidae - Lepidoptera), sâu khoang - Helicoverpa spp., sâu đo - Anomis flava Fab., nhện đỏ - Tetranychus urticae Koch (Tetranychidae - Acarina)
Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), trên cây cà tím thường gặp những loài
sâu hại như sâu đục trái – L orbonalis, bọ trĩ - Thrips palmi Karny, rệp sáp -
Pseudococcus brevipes Cock., rầy mềm - Aphis gossypii Glov., sâu khoang - Spodoptera litura Fab., Sâu khoang - Prodenia litura Fab., sâu xám - Agrotis
ypsilon Rott, Epilachna spp., nhện đỏ - Tetranychus urticae Koch
2.2.2 Thiên địch trên cây cà tím và cây họ cà (Solanaceae)
Theo Khorsheduzzaman và ctv (1998), phát hiện thấy các loài thiên địch
ký sinh Trathala flavo-orbitalis Cameron (Ichneumonidae - bộ Hymenoptera)
Trang 27trên nhộng của sâu đục trái - L orbonalis, Pristomerus vulnerator Panzer (Ichneumonidae – Hymenoptera), Elasmus corbetti Ferriere (Elasmidae –
Hymenoptera)
Theo Srivastava và Butani (1998), thiên địch trên cây họ cà (Solanaceae) bao
gồm 5 bộ côn trùng, 8 họ và 18 loài Các loài xuất hiện phổ biến bao gồm: Orius
laevigatus Fieber (Anthocoridae – Hemiptera), Orius majusculus Reuter
(Anthocoridae – Hemiptera), Dicyphus tamaninii Wagner và Macrolophus
caliginosus Wagner (Miridae - Hemiptera)
Theo CABI (2005), trên rầy mềm phát hiện các loài thiên địch bắt mồi như
bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fab., Cheilomenes sexmaculata Fab (Coccinellidae – Coleoptera), bọ cánh lưới Plesiochrysa ramburi Schneider, ruồi
ăn rệp, loài Orius sp (Anthocoridae – Hemiptera), thiên địch ký sinh trên bọ trĩ như loài Ceranisus sp (Eulophidae – Hymenoptera)
Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), trên các cây trồng trong họ Solanaceae có một số thiên địch trên loại sâu như: Trên rầy mềm có các loài thiên địch như bọ rùa
họ Coccinellidae, bọ rùa đỏ - Micraspis discolor Fab., bọ rùa 6 vệt - Menochilus
sexmaculatus Fab., bọ rùa đen chấm vàng Scymnus sp., chuồn chuồn cỏ - Chrysopa
sp (Chrysopidae – Neuroptera), nhện - Oxyopes sp Trên sâu đo phát hiện có 2 loài ong ký sinh là Apanteles rufierus Haleday và Charopa formosanus End Trên nhộng ghi nhận có ong 8 chấm ký sinh - Xanthopimpla punctata Fab (Ichneumonidae – Hymenoptera) và ong đùi to Brachimeria sp
Trên sâu đục trái – L orbonalis phát hiện thấy các loài thiên địch như
Trathala flavo-orbitalis Cameron (Ichneumonidae - bộ Hymenoptera), Pristomerus
vulnerator Panzer (Ichneumonidae – Hymenoptera), Elasmus corbetti Ferriere
(Elasmidae – Hymenoptera) (Khorsheduzzaman và ctv., 1998)
Theo CABI (2005), ong ký sinh Trathala flavo-orbitalis Cameron là loài sống
ký sinh chính trên ấu trùng của loài L orbonalis và Diaphania indica Saunders
(Crambidae – Lepidoptera)
Trang 28Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), ở các tỉnh phía Nam trên cây họ cà
(Solanaceae) đã phát hiện được 11 loại ong ký sinh trứng, sâu non và nhộng của L
orbonalis tỷ lệ ký sinh có khi đạt tới 30%
2.3 Tình hình nghiên cứu sâu đục trái - Leucinodes orbonalis Guenée trên cây
cà tím
2.3.1 Ngoài nước
* Phân bố và ký chủ
Theo Atwal (1976), L orbonalis có nguồn gốc ở khu vực Nam Ấn Độ và
Sri Lanka chúng phân bố và gây hại hầu hết các nước trồng cà tím trên thế giới như Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Nhật Bản, Italy, Triều Tiên, Philippin… Sâu đục trái là loài đơn thực điển hình, chúng chủ yếu chỉ gây hại trên cây cà tím, tuy nhiên những cây khác thuộc họ cà Solanaceae cũng được báo cáo là những ký chủ của loài này như cà pháo, cà chua, khoai tây,
Theo CABI (2005), L orbonalis phát sinh phát triển và gây hại nặng trên
cây cà tím ở khu vực Nam Á như: Bangladesh, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Myanmar, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thailand,
* Mức độ gây hại
Theo Daniela và Entomology (2008), thống kê L orbonalis có thể tấn công
các cây trồng cùng họ cà (Solanaceae) như cà chua, khoai tây, ớt, … con non sau khi nở ra tấn công vào đọt hoặc trái ăn phần thịt trái làm cho đọt bị héo, trái bị hư hại nặng ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất Ở khu vực Châu Á hàng năm có tới 65% sản lượng cà tím bị hại do sâu đục trái gây ra
Leucinodes orbonalis Guenée là loài gây hại nguy hiểm trên cà tím ở khu vưc
Đông Nam và Nam Châu Á, gây thiệt hại tới 70% năng suất L orbonalis được
Guenée mô tả và đặt tên vào năm 1854 là loài côn trùng thuộc họ Pyralidae, bộ
Lepidoptera (Alam và ctv, 2003)
Trang 29Theo Daniela và Entomology (2008), ấu trùng của L orbonalis đục vào trong
nụ, đọt non, trái non nơi gần nhất Chúng đục chui vào bên trong để gây hại, sau đó bài tiết phân ra ngoài lỗ đục Những đọt bị hại thường héo và chết làm giảm khả năng sinh trưởng của cây Hoa và nụ bị hại thường rụng, trái bị hại thường thối không sử dụng được ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cà tím
* Đặc điểm sinh học và sinh thái
Trưởng thành đẻ trứng ở đọt non và nụ non, khả năng đẻ từ 80 - 253 trứng Trưởng thành đẻ trứng vào ban đêm, trứng được đẻ rải rác hoặc thành cụm từ 2 -
7 trứng trên đọt non và nụ hoa Trứng hình bầu dục dài khoảng 0,5mm Trứng mới đẻ có màu trắng trong, sau chuyển dần sang màu kem, đến khi trứng gần nở
có màu đỏ nhạt Giai đoạn trứng từ 3 đến 6 ngày Trứng thường nở vào lúc sáng sớm (Atwal, 1976)
Theo Daniela và Entomology (2008), ấu trùng mới nở bắt đầu bò đi tìm kiếm chồi, nụ hoa và trái non để gây hại Ấu trùng đẫy sức dài từ 18 – 23mm, đầu màu nâu, thân mình ửng hồng Ấu trùng có 6 tuổi, thời gian phát triển 12 –
15 ngày
Theo Alam và ctv (2003), ấu trùng của L orbonalis giai đoạn tuổi 1, thường
thích gây hại ở nụ hoa và hoa Ở tuổi 3 trở lên chúng gây hại mạnh ở trái và đọt non gây ảnh hưởng lớn đến năng suất cà tím Ấu trùng đẫy sức dài 12 - 15mm
Khi đẫy sức sâu nhả tơ kéo kén hóa nhộng ngay trong đường đục, trên ngọn cây hoặc dưới đất Nhộng có màu cánh gián, thời gian nhộng kéo dài 6 - 7 ngày (Atwal, 1976)
Trưởng thành vũ hóa vào ban đêm, sau khi vũ hóa chúng tìm nơi kín đáo để ẩn nấp, thường ẩn nấp ở mặt dưới của lá, khi khua động thì bay ngắt quãng (Alam và Sana, 1962) Trưởng thành là loài bướm nhỏ màu trắng, sải cánh rộng khoảng 20-21mm, cánh màu trắng có điểm 3 chấm giống hình tam giác nhỏ màu vàng, hồng cam
và đen hoặc cánh có những vệt màu nâu hồng (Daniela và Entomology, 2008)
Trang 30Theo Mofazzel và ctv (2002), thành trùng thường ẩn nấp dưới tán lá, trong các bụi cỏ dại trên ruộng hoặc xung quanh bờ, đường đi, đến chiều mát thì bay ra họat động Sau vũ hóa khoảng một ngày trưởng thành bắt đầu giao phối, sau khi giao phối 2 - 3 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng Con đực thường sau khi giao phối
là chết, thời gian sống của con đực 1,5 - 2,4 ngày và con cái sống từ 2,0 - 3,9 ngày, thời gian đẻ trứng của con cái thường keo dài 1,2 - 2,9 ngày
2.3.2 Trong nước
* Phân bố và ký chủ
Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), sâu đục trái, đục đọt – L orbonalis là
loài sâu đơn thực điển hình, chúng gây hại chính trên cà tím và cây họ cà (Solanaceae) Sâu đục trái phát sinh phát triển và gây hại hầu hết các khu vưc trồng cà tím trong nước Ở các tỉnh phía Nam sâu đục trái, đục đọt gây hại nặng vào vụ cà trồng trong mùa mưa
Theo Bùi Văn Sáu (2006), sâu đục trái, đục đọt có nguồn gốc ở khu vực Nam Á, phân bố khắp các vùng trồng cà trong nước Trên thế giới sâu đục trái, đục đọt phát triển và gây hại nặng ở khu vực Châu Á và là đối tượng gây
hại chính trên cây cà
* Mức độ gây hại
Theo Ngô Quang Vinh và ctv (2002), sâu đục trái, đục đọt gây hại mọi giai đoạn sinh trưởng của cây Chúng cắn phá đọt non, nu, bông và trái non tạo thành những đường hầm trong đọt, trong trái làm trái bị hư hại nặng không cho thu hoạch
Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), sâu đục trái – L orbonalis (Pyralidae -
Lepidoptera): là loại sâu hại lớn nhất cho cây cà tím, sâu phá hại đọt và trái cà với tỷ lệ hại khá cao (75% đọt và 87,5% trái) gây giảm năng suất và chất lượng; chẳng những thế mà việc phòng trừ cũng gặp nhiều khó khăn Tại Tp.HCM nông dân thường phun 15-20 lần/vụ mà thiệt hại vẫn rất cao
Trang 31* Đặc điểm sinh học và sinh thái
Theo Bùi Văn Sáu (2006), sâu đục trái cà tím – L orbonalis là đối
tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại trầm trọng Con trưởng thành là một loại bướm nhỏ, sải cánh rộng khoảng 20-22mm, cánh màu trắng có điểm 3 chấm giống hình tam giác nhỏ màu vàng, hồng cam và đen Ban ngày ẩn nấp đến chiều mát thì bay ra hoạt động Sau vũ hóa khoảng một ngày trưởng thành bắt đầu giao phối, sau khi giao phối 1 - 2 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng Trứng được đẻ rải rác hoặc thành từng cụm ở mặt dưới của lá Trứng dẹp, màu trắng sữa, xếp thành hình ngói lợp Sâu non có màu hồng đậm, dưới bụng màu trắng đục Sau khi nở vài ngày sâu đục vào trong trái để gây hại Ngoài ra sâu còn đục vào những đọt non, làm cho đọt non bị héo, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Khi đẫy sức sâu hóa nhộng trên ngọn cây, trên lá già, trên thân hoặc dưới thảm thực vật Nhộng dài 10-12 mm, bọc trong lớp kén dầy màu hồng đậm Sau khi vào nhộng khoảng 2 tuần thì nhộng vũ hóa thành con trưởng thành
Trưởng thành là loài bướm màu trắng, cánh trước có những vệt nâu hồng Trứng dẹp, màu trắng sữa, được đẻ thành ổ Sâu tuổi 1 - 2 nhỏ, dài cỡ 1,2 - 1,8mm, màu phớt xanh phủ tơ Sâu tuổi 3 - 4 màu trắng hồng Sâu đẫy sức màu hồng, mặt bụng trắng đục Nhộng dài 10 - 12mm bọc trong lớp kén dày màu hồng sậm Sâu non thường phát sinh và gây hại ở 30 ngày sau trồng (khi cây phân nhánh mạnh và nhiều cành non) Thường sâu đục trái, đục đọt có 2 đợt rộ vào khoảng 30 - 60 ngày sau trồng và 64 - 94 ngày sau trồng Đợt rộ 1 sâu gây hại trung bình 20 - 54% số đọt và 20 - 60 % số trái; đợt rộ 2 hại trên 60 % số đọt
và 30 - 45 % số trái (Chu Thị Thơm và ctv, 2005)
2.4 Biện pháp phòng trừ sâu đục trái cà tím
2.4.1 Ngoài nước
Krishna và Qaim (2007), thuộc Đại Học Hogenheim đã chuyển nạp thành công gen Bt vào cây cà tím và phát triển giống cà tím ưu thế lai, biến đổi gen
Trang 32kháng sâu L orbonalis tại Ấn Độ, thông qua công ty MAHYCO L orbonalis tấn
công trên đọt và trái cà tím, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất, năng suất có thể mất 60 % Nếu trồng cà tím Bt, lượng thuốc sâu chỉ cần 0,38 kg a.i./acre so với 2,67 kg a.i./acre khi trồng giống cà tím bình thường, giảm gấp 7 lần (Mall và ctv 1992) Ủy Ban Xét Duyệt Công Nghệ Di Truyền Ấn Độ (GEAC) đã chấp thuận đơn yêu cầu của Công Ty MAHYCO vào tháng 5-2008, cho phép sản xuất cà tím biến đổi gen Bt, kháng sâu
Sandanayake và Edirisinghe (1992) sử dụng ong ký sinh Trathala
flavoorbitalis Cameron để phòng trừ sâu đục trái, đục đọt – L orbonalis trên cây
cà tím đã làm giảm thiệt hại từ 19 ÷ 40,4% xuống còn 2,8 ÷ 3,6 % số trái và đọt
hại từ 18,9 ÷ 46,4% xuống còn 2 ÷ 3% số trái và đọt bị hại
AVRDC (2003), sử dụng hai loại pheromone (E) Axetat-11- hexadecenyl và
(E) Axetat -11- hexadecen-1- ol để sử dụng làm bẫy dẫn dụ trưởng thành của loài L
orbonalis Guenée trên cây cà tím
Tại Bangladesh để phòng trừ sâu đục trái – L orbonalis có thể loại bỏ những trái
bị nhiễm còn trên cây hoặc rơi xuống đất đem tiêu hủy, có thể sử dụng biện pháp bao trái hoặc phun thuốc có gốc thảo mộc hoặc vi sinh hoặc nhóm cúc tổng hợp và cần tiến hành vệ sinh vườn 2 tuần/lần (Khorsheduzzaman và ctv., 1998)
2.4.2 Trong nước
Theo Phạm Văn Lầm (2006), sử dụng biện pháp canh tác là tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng như thiên
Trang 33địch tự nhiên của sâu hại và không thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, tích lũy
và lây lan của sâu hại cây trồng
Theo Ngô Quang Vinh và ctv (2002), có thể sử dụng một số gốc thuốc Abamectin, Bacillus thuringiensis var kurstaki Padan 95, BT (thuốc vi sinh), Regent xanh, Nockthrin và Cypermethrin để phòng trừ một số loài sâu hại chính và nguy hiểm trên cây cà tím
Theo Bùi Văn Sáu (2006), có thể sử dụng một số thuốc Tập Kỳ 1.8 EC, Supracide 40EC, Sherpa 10EC, 25EC, Cymkill 10EC, 25EC để phòng trừ sâu đục
trái, đục đọt – L orbonalis trên cây cà tím có hiệu quả cao (hiệu lực đạt 96%)
Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), khuyến cáo nên sử dụng những loại thuốc Cyperan 25SC, Forvin 85WP, Forsan 50EC, Polytrin P440ND để trừ sâu đục trái, đục
đọt – Leucinodes orbonalis Guenée trên cây cà tím
2.5 Đặc điểm một số loại thuốc thí nghiệm
(1) Abamectin
Tên thương mại: Abatimec 1,8EC Tên hóa học: Abamectin là hỗn hợp của 2 loại hợp chất Avermectin B1a (80%) và B1b 920%)
Tính chất: Thuốc được sản xuất từ dịch phân lập qua lên men nấm
Streptomyces avermitilis Nguyên chất dạng bột rắn, màu vàng nhạt, điểm nóng
chảy 150 – 1550C, tan ít trong nước (0,01mg/l), tan nhiều trong dung môi hữu cơ Nhóm độc II, LD50 qua miệng 300mg/kg, LD50 qua da > 1800mg/kg, dễ kích thích
da và mắt, tương đối độc với cá, ít độc với ong, TGCL 14 ngày Thuốc trừ sâu và nhện tiếp xúc, vị độc Phổ tác dụng tương đối hẹp
Sử dụng: Phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, dòi đục lá, rầy, rệp, bọ phấn và nhện hại cà chua, các loại rau, cam, quýt và các loại quả khác Liêu lượng sử dụng trừ sâu 10 – 20g ai/ha, trừ nhện từ 15 – 25g ai/ha Chế phẩm Vertimec 1,8 EC dùng
từ 0,6 – 1,2 l/ha, pha nước với nồng độ 0,15 – 0,3% phun đẫm lên cây
Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác
Trang 34(2) Bacillus thuringiensis var kurstaki
Tên thương mại: Bacterin B.T WP Tên khoa học: Bacillus thuringiensis Berliner var Kurstaki
Nhóm hoá học: vi sinh vật
Tính chất: Là thuốc trử sâu sinh học, nguồn gốc vi khuẩn, được sản xuất
bằng phương pháp lên men vi khuẩn B thuringiensis (BT) Sản phẩm lên men là
độc tố ở dạng đạm tinh thể cao phân tử và dạng bào tử của vi khuẩn
Có 2 loại thuốc BT, loại chứa cả tinh thể độc tố và bào tử (khoảng 107
) bào tử/mg) và loại chỉ chứa tinh thể độc tố Sau khi phun, sâu ăn phải thuốc, tinh thể độc tố gây hiệu lực ngay và sau đó bị phân hủy, còn bào tử có thể tồn tại lâu, tiếp tục sinh sản và gây ra độc tố
Nhóm độc III, LD50 qua miệng > 8000 mg/kg Rất ít độc với người, môi trường và các loài thiên đich, không độc với cá và ong Thời gian cách ly 5 ngày Loại BT chứa bào tử rất mẫn cảm với tằm nên ở những nơi có trồng dâu nuôi tằm chỉ nên dùng loại BT không chứa bào tử
Tác động vị độc, không có hiệu lực tiếp xúc và xông hơi Sau khi ăn phải lá cây có thuốc, chỉ 1 giờ sau sâu sẽ yếu và ngừng ăn, cơ thể đen dần, teo lại và chết sau vài ngày Phổ tác dụng hẹp, chủ yếu có hiệu lực với sâu non bộ cánh vẩy
Sử dụng: Thuốc BT dùng phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, sâu đục trái, sâu khoang, sâu keo hại rau, đậu, thuốc lá, bông, ngô, đay
Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác, không pha chúng với thuốc có tính kiềm (như bordeaux), phân hoá học, các thuốc trừ bệnh có nguồn gốc kháng sinh (như kasugemycin, validamycin) và thuốc có đồng Thuốc rất mẫn cảm với nhiệt độ cao và ẩm, cần bảo quản nơi khô và mát
(3) Diazinon
Tên thương mại: Basutigi 50 ND Nhóm hoá học: Lân hữu cơ
Tính chất: Thuốc kỹ thuật dạng lỏng màu nâu nhạt Rất ít tan trong nước (0,004%), tan trong ethanol, acetone, xylene, toluene Không ăn mòn kim loại
Trang 35Nhóm độc II, LD50 qua miệng 1250mg/kg LD50 qua da 2150mg/kg Độc với cá và ong Dư lượng tối đa với ngũ cốc 0,1mg/kg, rau, quả 0,5 – 0,7mg/kg Thời gian cách ly 14 ngày
Tác động tiếp xúc và vị độc, có khả năng thấm sâu và một phần xông hơi Phổ tác dụng rộng
Sử dụng: Phòng trừ nhiều loại sâu đục thân, đục trái, ăn lá, chích hút và tuyến trùng cho nhiều loại cây trồng (lúa, rau, đậu, mía, ngô, bông, chè, cà phê, cây ăn quả)
Chế phẩm dạng sữa 40 – 50% dùng 1 – 2 l/ha cho lúa, rau, màu Với cây
ăn quả và cây công nghiệp lâu năm pha nuớc ở nồng độ 0,1 – 0,2% Chế phẩm dạng hạt 10% dùng trừ sâu đục thân, sâu xám, rệp, mối, bọ hung, dòi đục thân và tuyến trùng cho lúa, rau, đậu, ngô, mía, cà phê, rắc xuống đất hoặc theo hàng, quanh gốc cây với lượng 15 – 25kg/ha
Khả năng hỗn hợp: Có dạng hỗn hợp với Fenobucard (Vibaba), với Isoprocard (Diamix) với Chlorpyrifos Khi sử dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác
và acid nhẹ, thủy phân trong môi trường kiềm Không ăn mòn kim loại
Nhóm độc II, LD50 qua miệng 250mg/kg, LD50 qua da 1600mg/kg Độc với cá (LC50 = 2,0 – 2,8 µg/l), độc với ong Dư lượng tối ta với chè khô 20mg/kg, sữa 0,01mg/kg Thời gian cách ly với rau ăn lá 7 ngày, rau ăn quả 3 ngày, bắp cải 14 ngày, hành 21 ngày
Trang 36Tác động tiếp xúc và vị độc, ngoài ra còn có tác dụng xua đuổi và làm sâu biếng ăn Phổ tác dụng rộng
Sử dụng: Phòng trừ được nhiều loại sâu ăn lá, chích hút và nhện cho nhiều loại cây trồng như sâu tơ, sâu xanh, rệp hại rau, sâu xanh da láng, sâu khoang, thuốc lá, sâu xanh, sâu hồng, Còn dùng trừ ve, bét cho gia súc, trừ ruồi muỗi trong nhà
Liều lượng sử dụng từ 50 - 100 g a.i./ha Chế phẩm 25EC (250 g.a.i./l) dùng 0,2 – 0,4l/ha pha với 300 – 400l nước phun cho rau, màu, pha nước với nồng độ 0,05 – 0,1% Chế phẩm 10EC dùng liều lượng và nồng độ tăng gấp 2,5 lần, chế phẩm 5EC tăng gấp 5 lần so với chế phẩm 25EC
Khả năng hỗn hợp: Có dạng hỗn hợp với Chlorpyriphos (Nurelle D), với Dimethoate, Endosulfan, Naled, Profenofos (Polytrin - P), Isoprocard (Metox) Ngoài ra khi sử dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác
Qua tham khảo tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy
rằng chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về đối tượng sâu đục trái, đục đọt – L
orbonalis Guenée trên cây cà tím, vì vậy việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sâu
đục trái cà tím, Leucinodes orbonalis Guenée, và hiệu quả phòng trừ bằng thuốc
hóa học tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” là điều cần thiết
Trang 37Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng canh tác và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cà tím của nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Nghiên cứu về sâu đục trái trên cây cà tím – Leucinodes orbonalis
Guenée (đặc điểm hình thái, sinh học, mức độ bị ký sinh, bảng sống và biến động mức độ gây hại)
- Khảo sát hiệu quả phòng trừ sâu đục trái cà tím bằng thuốc hóa học tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học và bảng sống của sâu đục trái
cà tím – L orbonalis được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật
Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Nghiên cứu về mức độ bị ký sinh và biến động mức độ gây hại của sâu
đục trái cà tím – L orbonalis được lấy mẫu tại tại vườn trồng cà tím của nông
dân trồng ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và tiến hành nuôi theo dõi mức độ
bị ký sinh tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Các nghiên cứu ngoài đồng về thí nghiệm thuốc được tiến hành tại huyện Trảng Bom – Đồng Nai
3.2.2 Thời gian thực hiện
Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2008 và kết thúc tháng 7/2009
Trang 383.2.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu
Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thuộc khu vực Đông Nam Bộ, mỗi năm có hai mùa mưa và khô rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 hàng năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau (Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn Trị An – Trảng Bom – Đồng Nai)
Đề tài được tiến hành từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, tức là nằm trong giữa mùa mưa năm trước đến giữa mùa mưa năm sau
Thán
g 11/2008
Thán
g 12/2008
Mùa khô nhiệt độ trung bình biến động từ 26,20C đến 28,20C, ẩm độ không khí biến động từ 76,5 – 81,0%
Mùa mưa nhiệt độ trung bình biến động từ 26,80C đến 27,60C, ẩm độ không khí biến động từ 85,0 – 88,7%
Nhiệt độ trung bình cao nhất vào 4 tháng là 28,20C và nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 24,60C Ẩm độ trung bình cao nhất là 88,0% nằm vào tháng
Trang 397, ẩm độ trung bình thấp nhất là 74,0% nằm vào tháng 12 năm 2008 (Đồ thị 3.1) Tổng lượng mưa cao nhất là 327,0 mm nằm vào tháng 7 năm 2009, tổng lượng mưa thấp nhất là 0,0 mm rơi vào tháng 1 (Đồ thị 3.2)
2008
Thá 1
Vật liệu nuôi côn trùng: đĩa petri, hộp nhựa, giấy và bông giữ ẩm, vải mỏng Vật liệu thí nghiệm ngoài đồng ruộng: Thuốc bảo vệ thực vật, bình xịt Phương tiện ghi nhận đặc điểm hình thái của sâu: kính lúp cầm tay, kính sôi nổi, kính hiển vi, máy ảnh kỹ thuật số, thước đo kích thước côn trùng
Tài liệu định danh côn trùng: Borror và ctv (1981), Shepard và ctv (1999), Dennis’ và ctv (1998), Côn trùng cơ bản (Nguyễn Thị Chắt, 2000), CAB International, 2005 edition, crop protection compendium
Trang 40Phân tích thống kê và xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê bằng phương pháp ANOVA – 2 của phần mềm MSTATC; các đồ thị được vẽ bằng phần mềm EXCEL 2003
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác và biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cà tím của nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
* Phương pháp điều tra
Điều tra theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp nhà vườn qua phiếu điều tra
có nội dung đã soạn thảo trước Số lượng phiếu điều tra là 50 phiếu phân bổ tại các
hộ trồng cà tím thuộc 3 xã (Thanh Bình, Cây Gáo và Sông Thao thuộc huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) Chi tiết từng nội dung điều tra tham khảo phần Phụ lục 1 Sau
khi điều tra các phiếu được tổng hợp và xử lý số liệu
* Chỉ tiêu điều tra:
- Thông tin chung: Diện tích trồng, thời vụ trồng, giống
- Kỹ thuật canh tác: Làm đất, mật độ trồng, bón phân
- Bảo vệ thực vật: Loại thuốc, thời điểm phun, liều dùng, số lần phun, (phụ lục 1)
* Lịch điều tra: Tiến hành điều tra một lần trước khi triển khai đề tài và có bổ sung
trong quá trình nghiên cứu
3.3.2.2 Nghiên cứu về sâu đục trái – L orbonalis trên cây cà tím
a Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của L orbonalis trên cây cà tím
Phương pháp: Để khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học (phương pháp Borror &
De Long 1981), được tiến hành các bước như sau:
* Tạo nguồn
Mẫu ấu trùng thu được đem về để riêng trong hộp nhựa trong có nắp đã đục
lỗ và dán lưới thông hơi có đường kính d = 9cm, chiều cao h = 11cm Nuôi ấu trùng bằng trái cà tím cho đến khi ấu trùng làm nhộng Thu nhộng hình thành cùng ngày đặt vào 1 hộp và theo dõi cho đến khi vũ hóa Khi thành trùng mới vũ hóa, đưa thành trùng sang hộp mới nuôi bằng mật ong 10% để thành trùng đẻ trứng tạo nguồn
và đưa một số thành trùng mới vũ hóa cùng ngày sang khảo sát