1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non

111 1,5K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON

Trang 2

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON

Trang 3

Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Ban chủ nhiệm khoa và các giảng viên Khoa Giáo dục mầm non trường Đại học Sài Gòn và đặc biệt là giáo viên hướng dẫn đề tài ThS Nguyễn Phương Thảo đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài, để đề tài đạt được kết quả tốt nhất

Đồng thời chúng tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể giáo viên mầm non Trường mầm non 6- Quận 3 và trường mầm non Đồng Xanh- huyện Nhà Bè đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn!

Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 5 năm 2017 Nhóm tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giả thuyết nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6

TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non 12

1.2.1 Khái niệm công cụ 12

1.2.2 Đặc điểm hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 22

1.2.3 Bản chất của hoạt động ca hát ở trường mầm non 23

1.2.4 Đặc điểm ca hát của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 26

1.2.5 Nội dung giáo dục hứng thú đối với hoạt động âm nhạc trong Chương trình giáo dục Mầm non và chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 27

1.2.6 Biểu hiện hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát 29 1.2.7 Các yếu tố tác động đến việc nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát 30

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON 33

2.1 Tiêu chí và thang đánh giá hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non 33

2.1.1 Tiêu chí đánh giá hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non 33

Trang 5

2.1.2 Thang đánh giá hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca

hát ở trường mầm non 33

2.2 Tổ chức nghiên cứu 36

2.2.1 Mục đích nghiên cứu 36

2.2.2 Khách thể nghiên cứu 36

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3 Kết quả nghiên cứu 41

2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát 41

2.3.2 Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non 43

2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng 51

2.4 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát 55

2.4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 55

2.4.2 Các biện pháp cụ thể 55

Tiểu kết chương 2 62

KẾT LUẬN 64

KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

BẢN TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON

Mã số: SV2016 – 41

1 Vấn đề nghiên cứu

Hứng thú có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người, làm nảy sinh khát vọng được hoạt động, hình thành cảm xúc tích cực, là cơ sở, điều kiện để chủ thể nổ lực khám phá, tích cực tìm tòi, bộc lộ và phát triển năng lực vốn có của mình

Ca hát là một nội dung quan trọng trong dạy học âm nhạc Trên thực tế không phải trẻ nào cũng cảm thấy hứng thú với hoạt động ca hát

Nhận thấy được những vấn đề trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu vấn đề: “Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non.”

2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, điều tra thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non và đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ

3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát; Điều tra thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận; Phương pháp nghiên cứu thực tiễn; Phương pháp thống kê toán học

Trang 7

5 Kết quả nghiên cứu

Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường Mầm non 6, quận 3 và trường mầm non Đồng Xanh, huyện Nhà Bè đều đạt mức độ trung bình, cụ thể: Giáo viên mầm non chưa có nhận định đúng về mức độ hứng thú của trẻ trong hoạt động ca hát; Mức độ hứng thú đối với hoạt động ca hát của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Đồng Xanh, huyện Nhà Bè (Ngoại thành) thấp hơn trẻ ở trường mầm non 6, quận 3 (Nội thành) ở cả 3 tiêu chí; Mức độ hứng thú của trẻ nữ cao hơn trẻ nam; Giữa các yếu tố cấu thành nên một bài hát thì yếu tố giai điệu tạo được hứng thú cao hơn cho trẻ so với yếu tố lời ca

- Nguyên nhân thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát:

Cách tổ chức hoạt động ca hát chưa mang được hình ảnh nghệ thuật đến với tình cảm và ý thức của trẻ; Cách lựa chọn bài hát còn đơn điệu về giai điệu và nội dung; Học

cụ phục vụ cho hoạt động ca hát chưa phong phú, cách bố trí không gian lớp học chưa thu hút; Các trò chơi âm nhạc rèn kỹ năng hát chưa phong phú, chưa phù hợp với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát:

o Biện pháp 1: Đa dạng hóa các thể loại bài hát dạy cho trẻ

o Biện pháp 2: Sử dụng phong phú đồ dùng phương tiện trong hoạt động ca hát

o Biện pháp 3: Tăng cường tổ chức các trò chơi âm nhạc cho trẻ nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ

o Biện pháp 4: Tạo nhiều cơ hội để trẻ biểu diễn sáng tạo lời bài hát theo giai điệu quen thuộc

o Biện pháp 5: Rèn luyện kỹ thuật biểu diễn diễn cảm của giáo viên mầm non và trẻ

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tiêu chí và thang đánh giá hứng thú của trẻ MG 5 -

6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non 33

2 Bảng 2.2 Giáo viên mầm non đánh giá thực trạng hứng thú

của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát 42

3 Bảng 2.3 Đánh giá mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo

5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát 43

5 Bảng 2.5 So sánh kết quả hứng thú trong hoạt động ca hát

6 Bảng 2.6 So sánh mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

đối với hoạt động ca hát ở hai trường mầm non 49

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Đánh giá mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi đối với hoạt động ca hát 44

3 Biểu đồ 2.3 So sánh điểm trung bình kết quả hứng thú đối với

hoạt động ca hát giữa trẻ nam và trẻ nữ 48

4 Biểu đồ 2.4 So sánh mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

đối với hoạt động ca hát ở 2 trường mầm non 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt (Quyết định 149/2006/QĐ- TTg) xác định rõ quan điểm chỉ đạo là “Từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc đảm bảo đồng bộ, phù hợp, tiên tiến gắn với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục”

Dựa trên quan điểm tiếp cận hoạt động, tích hợp và cá thể hóa người học, việc đổi mới trong giáo dục mầm non hiện nay nói chung và giáo dục âm nhạc nói riêng đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ

Âm nhạc có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con người, nó gắn bó mật thiết với chúng ta và là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Theo nghiên cứu khoa học cho thấy, âm nhạc có tác dụng giúp trẻ thông minh hơn, là cơ sở để trẻ phát triển toàn diện Giáo dục âm nhạc ở trường mầm non bao gồm các dạng hoạt động: ca hát, vận động theo nhạc, nghe nhạc và trò chơi âm nhạc Trong các dạng hoạt động kể trên thì ca hát là một nội dung quan trọng trong dạy học âm nhạc Thông qua hoạt động ca hát, trẻ có thể tiếp thu những kiến thức, khái niệm âm nhạc một cách cụ thể, tích lũy những ấn tượng, cảm xúc chân thực về tác phẩm âm nhạc

Theo J.Piaget: “Nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thực sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân” Hứng thú có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng Hứng thú làm nảy sinh khát vọng được hoạt động, hình thành cảm xúc tích cực, là cơ sở, điều kiện để chủ thể nổ lực khám phá, tích cực tìm tòi, bộc lộ và phát triển năng lực vốn có của mình

Trong trường mầm non, hoạt động ca hát hiện nay đang chiếm thời lượng khá lớn của trẻ cả trong lẫn ngoài giờ học, điều này giúp trẻ được nâng cao giáo dục thẩm mỹ, tạo nên đời sống văn hoá lành mạnh, góp phần phát triển trí tuệ, thể chất cho trẻ

Trang 11

Tuy nhiên, trên thực tế không phải trẻ nào cũng cảm thấy hứng thú với hoạt động

ca hát bởi phương pháp tổ chức thực hiện các nội dung chưa linh hoạt, cứng nhắc theo một khuôn mẫu gò bó, thiếu sự hấp dẫn trong khi làm mẫu hay cùng múa, hát với trẻ, hoạt động chưa phong phú, chưa chủ động, chưa mang tính nghệ thuật…

Nhận thấy được những vấn đề trên, chúng tối quyết định nghiên cứu vấn đề: “Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non”

2 Mục đích nghiên cứu

Điều tra thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non và đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu chính: Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Khách thể nghiên cứu hỗ trợ: Giáo viên mầm non đang trực tiếp chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non TP Hồ Chí Minh

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát, cụ thể là hứng thú đối với giai điệu, lời ca, tính chất sắc thái của bài hát trong chủ đề Tết, chủ đề 8/3, chủ đề Trường mầm non và chủ đề Bản thân

4.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

- 60 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trong đó 30 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trường mầm non Đồng Xanh huyện Nhà Bè và 30 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trường mầm non 6, quận

3 TP.Hồ Chí Minh

Trang 12

- 60 giáo viên mầm non đang trực tiếp chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

ở một số trường mầm non TP Hồ Chí Minh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

5.2 Điều tra thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở một

số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa cao có thể do giáo viên mầm non chưa có những biện pháp hữu hiệu để phát triển hứng thú cho trẻ

- Mức độ hứng thú của trẻ phụ thuộc vào giới tính và môi trường địa bàn sinh sống

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Thu thập các loại sách báo, tạp chí, truy cập các thông tin trên internet, tài liệu

có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phân tích tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Tìm hiểu thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt

động ca hát và những biện pháp giáo viên mầm non đã sử dụng để phát triển hứng thú cho trẻ

- Đối tượng: Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, giáo viên mầm non dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Cách thực hiện: Quan sát trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, quan sát cách giáo viên mầm non tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ

Trang 13

7.2.2 Phương pháp sử dụng bài tập

- Mục đích: Khảo sát thực trạng mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát

- Đối tượng: Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Cách thực hiện: Quan sát trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thực hiện hệ thống bài tập

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: Tìm hiểu thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đối với hoạt

động ca hát và những biện pháp giáo viên mầm non đã sử dụng để phát triển hứng thú cho trẻ

- Đối tượng: Giáo viên mầm non dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Cách thực hiện: Phỏng vấn giáo viên mầm non với một số câu hỏi soạn sẵn 7.2.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Tìm hiểu những hiểu biết và những biện pháp giáo viên mầm non sử dụng để phát triển hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát

- Đối tượng: Giáo viên mầm non dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

- Cách thực hiện:

o Soạn thảo câu hỏi: mở, đóng

o Đề nghị giáo viên mầm non trả lời câu hỏi trong phiếu điều tra

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý các số liệu của đề tài bằng phần mềm SPSS như thống kê mô tả, kiểm định

sự tin cậy của thang đo bằng Cronbach Alpha, kiểm định trung bình (T-test).

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CA HÁT Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú, có thể chia làm các xu hướng sau:

 Xu hướng thứ I: Giải thích bản chất tâm lý của hứng thú

Đại diện cho xu hướng này là Herbart (1776-1841) - nhà tâm lý học, nhà triết học, nhà giáo dục học người Đức người sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế

kỷ XIX Ông đã đưa ra 4 mức độ của dạy học: Tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú Đặc biệt, ông đã chỉ ra rằng, hứng thú là yếu tố quyết định kết quả học tập của người học [13]

Ovide Decroly (1871 – 1932) - bác sĩ và nhà tâm lý người Bỉ khi nghiên cứu về khả năng tập đọc và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực

Từ những năm 1940 của thế kỷ XX, các nhà tâm lý học người Nga như S.Lrubinstein, N.G.Morodov đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú, con đường hình thành hứng thú, và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm

Đến năm 1946, nhà tâm lí học Thụy Sĩ E.Claparède khi nghiên cứu “Tâm lý trẻ em

và thực nghiệm sư phạm” đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học [14]

Trong giáo dục chức năng, Claparède đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất

mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó

Năm 1957 nhà nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề hứng thú M F Belaep đã đưa ra những lý giải hết sức khác nhau về hứng thú; Những lý giải này làm tước bỏ đi tính xác định và giá trị tâm lý của khái niệm hứng thú Ông chỉ ra rằng khái niệm “hứng thú” bao hàm một số lượng lớn các quá trình mang nhiều nét đặc trưng riêng biệt không kể

Trang 15

một vài nét đặc trưng chung Liệt vào đây có cả hứng thú của trẻ với các trò chơi, các

sự vận động, hứng thú tìm giải đáp cho câu đố, tìm ra cái mới, cái bí ẩn, hứng thú của người chơi giành chiến thắng, hứng thú chơi cờ, chơi bóng đá, hứng thú biểu diễn, hứng thú đọc truyện

Năm 1979, nhà tâm lý học Pháp J.B.Dupont có tác phẩm “Tâm lý học hứng thú” thể hiện hướng nghiên cứu hứng thú như một khuynh hướng, một nguyện vọng, một

xu hướng

Theo tác giả V.A.Krutseski trong quyển sách Tâm lý học được xuất bản năm 1980,

đã quan niệm hứng thú như là một khuynh hướng nhận thức tích cực của con người

 Xu hướng thứ II: Xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng

Đại diện cho xu hướng này là L.Lbôgiôvích với “Hứng thú trong quan hệ hình thành nhân cách”; Lukin, Lêvitôp nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ với năng lực” L.P.Bơlagôna Dejina, L.X.Xlavi, B.N.Mione lại xem xét “Hứng thú trong mối quan hệ với hoạt động” Các tác giả này đã coi hứng thú là động cơ có ý nghĩa của hoạt động Trong xu hướng này còn có nhiều nhà nghiên cứu khác như: L.X.Rubinstêin, A.V.Daparôzét, M.I.Bôliép, L.A.Gôđôn

Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về “Sự phụ thuộc của tri thức học viên với hứng thú học tập” Kết quả cho thấy tri thức của học viên có mối quan hệ mật thiết với hứng thú học tập Trong đó sự hiểu biết nhất định về môn học được xem

là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với môn học [13]

D.Super trong “Tâm lý học hứng thú” (1961) đã xây dựng phương pháp nghiên cứu về hứng thú trong cấu trúc nhân cách

Năm 1970, Lukin và Lêvitôp đã nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”

Năm 1974, V.N.Macsimôva đã nghiên cứu “Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đến hứng thú nhận thức của học sinh”

Những công trình của A.G.Côvaliôp , A.V.Zapôrôzet đã góp phần quan trọng trong nghiên cứu về hứng thú nói chung, hứng thú nhận thức nói riêng

Trang 16

 Xu hướng thứ III: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi

Đại diện là D.P.Xalônhisư nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo V.G Ivanôp đã phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớn trong trường trung học [13]

G.I Sukina đã “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi” Ngoài ra Sukina còn phân tích “Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục” và đã đưa ra khái niệm

về hứng thú nhận thức cùng với biểu hiện của nó, đồng thời bà còn nêu lên nguồn gốc

cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh John Dewey (1859 – 1952) - nhà giáo dục học, tâm lý học người Mỹ, đã sáng lập lên trường thực nghiệm vào năm 1896, trong đó ưu tiên hứng thú của học sinh và nhu cầu của học sinh trong từng lứa tuổi Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tuởng hoặc một vật thể đồng thời tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ Năm 1956, V.G.Ivanôp đã phân tích “Sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớp trên trong trường trung học”

Năm 1966, N.I.Ganbiô bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài “Vận dụng tính hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga” Tác giả cho rằng, hứng thú học tập của học sinh là một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong nhà trường Trong khi

đó, V.N.Lepkhin nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú nhận thức cho học sinh trong công tác nghiên cứu địa phương” [13]

Năm 1957, M.G Marôzôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình thường” Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú của từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ Năm 1967 ông đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việc giảng dạy, nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên” [8]

Trong công trình nghiên cứu của mình, L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ giữa hứng thú tính tích cực học tập của học sinh

Trang 17

Năm 1976, M.G Marôzôva còn đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh

Trong khoảng thời gian đó, A.K.Marcôva nghiên cứu về vai trò của dạy học nêu vấn đề với hứng thú học tập của học sinh Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập

J.Piaget (1896 – 1996) - nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục Ông rất chú trọng đến hứng thú của học sinh Ông nhấn mạnh, cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khơi gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa

Vậy từ những công trình nghiên cứu trên ta có thể thấy lịch sử nghiên cứu về hứng

thú trên thế giới đã xuất hiện từ rất sớm, và được tổng hợp theo ba xu hướng Đó là: Giải thích bản chất tâm lý của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối quan hệ với

sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng và nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi Những nghiên

cứu trên sẽ là tiền đề, là cơ sở, tạo điều kiện quan trọng và có tác dụng định hướng cho quá trình xây dựng những cơ sở lý luận của đề tài

1.1.2 Ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú theo một số hướng sau:

a Nghiên cứu những vấn đề lý luận mang tính đại cương của hứng thú

Từ những năm 1960, các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân trong cuốn tâm lý học giảng dạy ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về hứng thú

Sau đó, các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn cũng nghiên cứu về vấn đề này

Trang 18

b Nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp

Năm 1973, luận án PTS của Phạm Tất Dong đã nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp của học sinh nữ ở ba thành phố Matxcơva, Mytsưsin, Hà Nội Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú nghề nghiệp giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và công tác hướng nghiệp trong các trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi

Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên khoa Tự nhiên, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội I” [13]

Đến năm 1981, tác giả Phùng Minh Nguyệt với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình” [7]

Năm 1988, Hoài Thị Kim Thu có đề tài “Việc hình thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh qua giảng dạy môn Vật lý” [7]

c Nghiên cứu hứng thú học tập các bộ môn của học sinh

Năm 1972, Nguyễn Hải Khoát nghiên cứu “Hứng thú học tập các bộ môn của học

sinh”

Tác giả Nguyễn Hữu Long đã nghiên cứu hứng thú học tập bộ môn Tâm lý học của sinh viên Đại học Sư phạm và đề xuất cách tác động đến hứng thú bằng cách hướng

dẫn phương pháp học tập cho sinh viên

Năm 1970, Phạm Huy Thụ trong Luận văn “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp II một số trường tiên tiến” đã điều tra hứng thú học tập các môn của 3 trường tiên tiến và đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hứng thú học

tập cho học sinh

Tác giả Lê Bá Chương đưa ra hai biện pháp tác động đến hứng thú trong Luận văn

“Bước đầu tìm hiểu về dạy học Tâm lý học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn” bao gồm trang bị tri thức mới, cách nhìn mới về Tâm lý học và tiến hành dạy học nêu vấn

đề

Trang 19

Năm 1987, tác giả Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sự phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục” [7]

Năm 1993, Nguyễn Công Vinh với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học tập và nguyên nhân hứng thú đối với môn Tâm lý của sinh viên ba trường Đại học Sư phạm, Trung học Sư phạm, Trung học Sư phạm mầm non thành phố Hồ Chí Minh” Ngoài ra còn có các tác giả sau: Nguyễn Thúy Hường với “Hứng thú học môn giáo dục học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang”, hay “Hứng thú học môn tin học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội” của Phan Hạnh Dung

Năm 1994, tác giả Hoàng Hồng Liên đã chỉ ra biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh chính là dạy học trực quan trong nghiên cứu “Bước đầu nghiên

cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông”

Với đề tài nghiên cứu “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối với các môn học

cụ thể”, tổ Nhân cách, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã

chỉ ra sự không đồng đều trong hứng thú học tập các môn của học sinh

Phạm Thị Ngạn với đề tài “Nghiên cứu hứng thú học tập môn Tâm lý học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ” đã kết luận biện pháp hữu hiệu để nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên là cải tiến và sử dụng hợp lý bài tập thực hành Tâm lý học vào chương trình giảng dạy Năm 2005, tác giả Phạm Mạnh Hiền đã chỉ ra phương pháp giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa to lớn tác động tới hứng thú của học viên trong đề tài “Hứng thú học tập của học viên thuộc trung tâm phát triển kỹ năng con

người Tân Việt”

 Một số công trình nghiên cứu về hứng thú và biện pháp gây hứng thú trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non:

 Nghiên cứu về hứng thú:

Năm 2004, tác giả Hoàng Thị Oanh đã khảo sát mức độ hứng thú của trẻ đối với từng loại trò chơi (vận động, học tập, …) trong đề tài “Tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động chơi của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn” [13]

Năm 2007, Trần Thị Hồng Minh với đề tài “Nghiên cứu hứng thú của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh” Tác giả đã chỉ ra môi

Trang 20

trường hoạt động, phương pháp tổ chức, bản thân trẻ và nội dung hoạt động có ảnh

Năm 2001, Hoàng Thị Hoài nghiên cứu “Tìm hiểu một vài thủ thuật nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ 5-6 tuổi trong tiết học làm quen với môi trường xung quanh” [13]

Tác giả Lê Thị Hiền đã nghiên cứu “Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi”

Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Thu Hạnh với đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi làm quen với thế giới thực vật” [13]

Phan Thị Ngọc Châu với đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh” [13]

Từ những nghiên cứu trên có thể thấy, trên thế giới và tại Việt Nam, các tác giả đã có sự quan tâm đến vai trò của hứng thú, thực trạng hứng thú trong các hoạt động giáo dục và các biện pháp gây hứng thú, nâng cao hứng thú trong các hoạt động ở trường mầm non Tuy nhiên các hoạt động giáo dục được đề cập đến là toán, hoạt động vui chơi, hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Vẫn chưa có những nghiên cứu về hứng thú trong hoạt động âm nhạc và cụ thể là hoạt động ca hát Đây chính là

cơ sở lý luận quan trọng để tiến hành đi sâu nghiên cứu về hứng thú của trẻ mẫu giáo

5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non

Trang 21

1.2 Cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát ở trường mầm non

1.2.1 Khái niệm công cụ

Các nhà tâm lý học Phương Tây đã coi hứng thú là một thuộc tính tâm lý có sẵn, bẩm sinh của con người Do vậy, một số quan điểm về hứng thú của các nhà tâm lý học đã không tránh khỏi những quan điểm duy tâm, phiến diện, hạ thấp vai trò của giáo dục, những hoạt động có ý thức khác trong việc hình thành và phát triển hứng thú của con người trước sự tác động của hiện thực khách quan

Khắc phục những sai lầm của các nhà Tâm lý học Phương Tây, Tâm lý học Mác

xit đã chỉ ra rằng: Hứng thú không phải là cái gì đó trừu tượng, cũng không phải là một thuộc tính tâm lý có sẵn mang tính bẩm sinh mà là kết quả của quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, nó phản ánh một cách khách quan thái

độ đang tồn tại ở con người

Các nhà tâm lý học Xô Viết cũng có rất nhiều cách giải thích khác nhau về hứng thú Nó phản ánh nhiều quá trình quan trọng, từ những quá trình riêng lẻ (như chú ý) đến tổ hợp nhiều quá trình Hứng thú được thể hiện trước hết ở xu hướng lựa chọn của các quá trình tâm lý nhằm vào các đối tượng của thế giới xung quanh Sau đó là nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân muốn hiểu được một lĩnh vực cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thõa mãn của cá nhân Ngoài ra, hứng thú còn được thể hiện thông qua thái độ của cá nhân đối với đối tượng

Trang 22

Theo khái niệm hứng thú của Từ Điển Tâm lý học: “Hứng thú là một biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm thích thú” Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”

Theo cách hiểu của các tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy thì khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu

ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt với nó, do đó hứng thú lôi kéo hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó

Như vậy trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau về hứng thú, nhóm nghiên cứu sử dụng khái niệm hứng thú trong giáo trình tâm lý học đại cương làm khái niệm công cụ của đề tài

Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có

ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động

dễ chịu, một cảm xúc tích cực, một thiện cảm đặc biệt với nó Từ đó hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận và đi sâu vào nó Còn đối tượng gây ra nhu cầu thì đôi khi có những trường hợp mặc dù ta ý thức đầy đủ, sâu sắc, nhưng đối tượng đó lại không thể gây cho ta một thiện cảm nào Chẳng hạn, ta ý thức được rất rõ thuốc làm cho ta khỏi bệnh, nhưng không phải lúc nào thuốc cũng tạo cho ta một khoái cảm đặc biệt với nó

Trang 23

Như vậy, để hứng thú tồn tại cần có hai điều kiện:

- Điều kiện 1: Cái gây ra hứng thú phải được cá nhân ý thức, hiểu rõ ý nghĩa của nó đối với đời sống riêng của mình

- Điều kiện 2: Cái gây ra hứng thú phải tạo ra ở cá nhân một khoái cảm đặc biệt

Mỗi hứng thú đều bao gồm cả hai điều kiện trên Thiếu một trong hai điều kiện ấy thì hứng thú không tồn tại Chính vì hai điều kiện trên mà hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận sâu vào đối tượng và những đặc điểm trên đã khẳng định hứng thú

là thái độ đặc biệt

c Cấu trúc của hứng thú

Tiến sĩ tâm lý học N.GMavôzôva: Ông đã dựa vào 3 biểu hiện để đưa ra quan niệm của mình về cấu trúc của hứng thú:

- Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú

- Có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú

- Cá nhân tiến hành những hành động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó

Hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm tình cảm thực sự với đối tượng

mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú

Cách phân tích này nhấn mạnh yếu tố xúc cảm với đối tượng và thái độ xúc cảm của nhận thức chứ chưa chú trọng đến nội dung nhận thức đối tượng trong hứng thú Dựa vào khái niệm công cụ về hứng thú nêu trên, chúng tôi cho rằng, hứng thú là

sự kết hợp của ba thành tố: xúc cảm, nhận thức và hoạt động Trước hết, hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng Do đó, giống với cách phân tích nêu trên, xúc cảm với đối tượng được xem là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong cấu trúc của hứng thú Đó là sự thích thú với đối tượng và làm nảy sinh ham muốn được hoạt động chiếm lĩnh đối tượng Tuy nhiên, những cảm xúc đó phải là “cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân với đối tượng mới có thể trở thành một dấu hiệu không thể thiếu được, một mặt của hứng thú”

Trang 24

Bất kỳ hứng thú nào cũng đều bao hàm khía cạnh nhận thức Không có nhận thức thì không có hứng thú Khi bản thân trẻ thích thú với một đối tượng, chúng sẽ mong muốn được tìm hiểu, được hoạt động với đối tượng đó Càng nhận thức sâu sắc, tỉ mỉ

về đối tượng và được trực tiếp trải nghiệm bao nhiêu thì hứng thú càng bền vững bấy nhiêu

1.2.1.2 Khái niệm giáo dục âm nhạc ở trường Mầm non

a Định nghĩa

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan bằng những hình tượng có sức biểu cảm của âm thanh Với các yếu tố diễn tả như: giai điệu, âm sắc, cường độ, hòa âm, cách cấu tạo, hình thức… âm nhạc có thể truyền đạt sự vận động của tình cảm và ý tưởng với sắc thái tinh tế nhất

Giáo dục âm nhạc là một trong các bộ môn giáo dục nghệ thuật, đó chính là giáo dục bằng phương tiện âm nhạc nhằm phát triển khả năng cảm thụ tác phẩm, hình thành năng lực và thị hiếu thẩm mỹ của trẻ trong các hoạt động biểu diễn, hoạt động sáng tạo trong âm nhạc

b Phân loại

- Hoạt động ca hát:

Ca hát có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống, hát gần gũi và phù hợp với trẻ, có giá trị biểu hiện tình cảm cao vì nó tác động bằng âm nhạc và lời ca Ca hát phản ánh cuộc sống sinh hoạt của con người Quá trình dạy hát đòi hỏi hoạt động trí tuệ một cách phức tạp Hoạt động ca hát có ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể trẻ, giúp cho trẻ thở sâu phát triển giọng cũng cố thanh quản, phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy, đặc biệt

là sự tái hiện chính xác âm điệu, nhịp điệu, trí nhớ âm nhạc Ca hát là quá trình tạo ra

âm thanh cần có sự phối hợp tai nghe và giọng hát Để giúp trẻ tự điều khiển giọng của mình, ta cần xác định âm vực giọng của từng lứa tuổi

- Vận động theo nhạc:

Âm nhạc giữ vai trò chủ động, còn vận động là công cụ thể hiện hình tượng âm nhạc Thông qua múa, trẻ bộc lộ cảm xúc để giao tiếp với xung quanh và cũng là giải phóng năng lượng Múa là phương tiện góp phần tạo cơ sở hình thành và phát triển

Trang 25

nhân cách toàn diện cho trẻ Vận động theo nhạc giúp trẻ phát triển cảm giác nhịp điệu Ngoài ra, Vận động theo nhạc còn giúp trẻ có tri thức múa và tâm hồn của trẻ hồn nhiên trong trắng

- Trò chơi âm nhạc:

Trong trường mầm non, hoạt động vui chơi các trò chơi, luôn có trong sinh hoạt của trẻ Việc chuyển tải nội dung tới trẻ bằng trò chơi luôn được chú trọng Trò chơi âm nhạc được coi là hình thức hoạt động tích cực Trò chơi âm nhạc là hoạt động âm nhạc tổng hợp có sử dụng các dạng hoạt động âm nhạc khác dưới hình thức hấp dẫn vừa sức và được trẻ ưa thích Qua trò chơi âm nhạc, trẻ được động viên, được tự do thể hiện bản thân, những suy nghĩ và sáng tạo Trò chơi âm nhạc có sự tham gia của nhiều trẻ

là hình thức để kết hợp giáo dục trẻ tình đoàn kết Không khí hào hứng của cuộc chơi làm cho mọi trẻ đều vui vẻ sung sướng, những trẻ rụt rè nhút nhát thêm tự tin, yêu thương và hòa nhập cùng các bạn

- Hoạt động nghe nhạc:

Khơi dậy, phát triển những cảm xúc âm nhạc Tích lũy dần những ấn tượng, những khái niện sơ giản, riêng lẻ về âm nhạc, từ đó biết ghi nhớ tác phẩm âm nhạc Bước đầu hình thành ở trẻ thói quen nghe nhạc có kiến thức Thông qua việc tổ chức cho trẻ nghe nhạc giúp trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp của bài hát, bản nhạc, góp phần tích cực vào việc giáo dục thẩm mỹ Đồng thời phát triển trí tuệ, đạo đức và thể chất của trẻ Nghe nhạc là cơ sở để trẻ học hát, vận động theo nhạc, thực hiện trò chơi âm nhạc

c Hình thức tổ chức giáo dục âm nhạc ở trường Mầm non

Trong các trường mầm non, hoạt động giáo dục âm nhạc có vai trò quan trọng trong chế độ sinh hoạt chung của trẻ Chương trình giáo dục âm nhạc bao gồm các dạng hoạt động âm nhạc: ca hát, nghe nhạc (không lời hoặc có lời), vận động theo nhạc (múa, vận động minh họa, vỗ tay hoặc gõ đệm theo phách, nhịp, tiết tấu), trò chơi âm nhạc Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và chế độ sinh hoạt chung trong trường mầm non, nội dung các dạng hoạt động âm nhạc được thực hiện dưới các hình thức sau:

Trang 26

- Giờ học:

Giờ học âm nhạc là hình thức cơ bản nhất để giáo dục kỹ năng âm nhạc cho trẻ Chúng được thực hiện có hệ thống, có mục đích và kế thừa nhằm hình thành khả năng âm nhạc ở mỗi trẻ Giờ học góp phần giáo dục các phẩm chất tốt đẹp về nhân cách trẻ, kích thích cảm xúc thẩm mỹ, lôi kéo sự tập trung chú ý, suy nghĩ và sáng tạo Dựa vào số lượng trẻ tham gia giờ học, có thể chia thành các thể loại sau: giờ học tập thể (tập trung cả lớp), giờ học theo nhóm (từng nhóm nhỏ, 3-4 trẻ), giờ học

cá nhân, giờ học liên hợp (2-3 nhóm lứa tuổi cùng học) Đồng thời dựa vào nội dung giờ học có thể có giờ học theo chủ đề và giờ học tổng hợp

Ngoài giờ học dạy kỹ năng âm nhạc, các kỹ năng âm nhạc cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc làm tăng mức độ hứng thú của trẻ vào bài học ở các giờ học khác: Trên các giờ học khác, âm nhạc là phương tiện giới thiệu hay dẫn dắt trẻ vào các hoạt động Âm nhạc tạo hứng thú trong quá trình trẻ hoạt động, đồng thời khắc sâu những kiến thứ mà trẻ học được

Ví dụ: Chuyện “Ếch con đi du lịch” – hát bài “Chú ếch con” (Phan Nhân); Thơ

“Bó hoa tặng cô” – hát bài “Bông hoa mừng cô” (Trần Thị Duyên) Sau khi nghe

cô kể chuyện “Nhổ củ cải”, cho trẻ nhập vai các nhân vật thực hiện các động tác nhịp nhàng theo nhạc (vận động theo nhạc) Âm nhạc kết hợp trong giờ học tạo hình, làm phát triển trí tưởng tượng và kích thích óc sáng tạo của trẻ trong khi nặn,

vẽ, cắt dán Trẻ có thể hát hoặc nghe bài hát có nội dung mà trẻ sẽ tạo hình.Ví dụ trước khi trẻ vẽ hay xé dán “Con cá”, trẻ hát bài “Cá vàng bơi” (Hà Hải) Nặn “Gà con”, nghe nhạc bài “Đàn gà trong sân” (dân ca Pháp)…

- Giờ sinh hoạt:

Chất lượng giáo dục âm nhạc chỉ thực sự đạt được khi trẻ biết sử dụng vốn âm nhạc như: những bài hát, điệu múa, những khái niệm về âm nhạc, cả những cảm xúc, những ấn tượng về âm nhạc vào mọi sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non Giáo viên sư phạm mầm non cần tìm ra những khoảng thời gian để đưa âm nhạc vào trong sinh hoạt của trẻ (giờ ngủ, giờ đón – trả trẻ) một cách tự nhiên,

Trang 27

không gò bó Mục đích tạo nên sự vui tươi, thoải mái, đồng thời qua đó trẻ được làm quen hoặc củng cố những kiến thức mà trẻ đã học

Ví dụ: Trước giờ ngủ trưa, đặc biệt là ở nhà trẻ, để dễ đưa trẻ vào giấc ngủ ngon,

cô có thể nhẹ nhàng hát bài “Ru con Nam Bộ”, “ru em” dân ca Xê Đăng, “khúc hát

ru của người mẹ trẻ” (Phạm Tuyên), “mẹ yêu con” (Nguyễn Văn Tý)

- Giờ chơi:

Âm nhạc trong các hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường mầm non: Thể dục sáng, dạo chơi, hoạt động ngoài trời, vui chơi kích thích trẻ thích cực, hăng say, vui thích trong hoạt động

Phụ thuộc vào hoàn cảnh các buổi dạo chơi khác nhau, âm nhạc ảnh hưởng lên trẻ cũng khác nhau Ví dụ dạo chơi công viên, cô cùng trẻ hát bài “ra chơi vườn hoa”, hay dạo chơi vườn hoa vào mùa xuân, cô và trẻ cùng hát “mùa Xuân đến rồi”, tạo cho trẻ niềm hân hoan, vui thích hơn Trong lúc quan sát, âm nhạc làm tăng thêm khả năng tri giác vẻ đẹp thiên nhiên xung quanh và khơi gợi sự thích thú, khi trẻ hát bài “lá xanh”

Cô có thể gợi ý cho trẻ lựa chọn bài hát thích hợp với hoàn cảnh nếu trẻ không nhớ cô có thể nhắc, bằng cách hát lên và lúc đó trẻ có thể hát theo

- Giờ làm việc với chủ đề:

o Giờ làm việc với chủ đề là các hoạt động biểu diễn âm nhạc trong ngày hội, ngày lễ

o Vai trò của âm nhạc trong các ngày lễ:

+ Trẻ tiếp thu những tư tưởng lớn của ngày hội lễ

+ Trẻ được thể hiện tình cảm của mình các tiết mục biểu diễn

+ Tạo cho trẻ một tâm thế náo nức, phấn khởi và ý thức tư tưởng ngày hội lễ + Phát triển tình cảm thẩm mỹ

o Cấu trúc các buổi lễ:

Trang 28

+ Phần 1: Thời gian khoảng 5-7 phút, bao gồm: sự diễu hành vào hội trường, trẻ

ăn mặc rực rỡ, tay cầm cờ, hoa, nêu lý do tổ chức lễ, trẻ đọc thơ và biểu diễn

1-2 bài

+ Phần 2: Nó được tạo nên từ các tiết mục tập thể và cá nhân gồm những bài hát, điệu múa, trò chơi mà trẻ được học Các tiết mục được sắp xếp xen kẽ nhau: cá nhân - tập thể, các lứa tuổi, đa dạng các thể loại

+ Phần 3: Phần kết thúc, sự chú ý của trẻ một lần nữa được tập trung lên tư tưởng chính của buổi lễ, người tổ chức cám ơn các vị đại biểu đã có mặt trong buổi lễ, trẻ đồng thanh đọc thơ hay hát bài hát có nội dung phù hợp với ngày lễ Cuối cùng là sự diễu hành của trẻ ra khỏi phòng trong tiếng nhạc rộn rã

+ Nên chuẩn bị một số trò chơi đơn giản, gây bất ngờ cho trẻ và trò vui giải trí xen kẻ trong buổi lễ

+ Chuẩn bị cho trẻ những vật tượng trưng trong tay như cờ, hoa, bóng bay, nơ,… tạo nên sự phấn chấn cho trẻ trong ngày lễ

+ Kế hoạch trang trí cụ thể, nên trang trí trước ngày lễ 1, 2 ngày để cho trẻ được quan sát trước, như vậy tránh được sự bỡ ngỡ của trẻ trong ngày lễ

Trang 29

+ Trong ngày lễ, có nhiều ấn tượng mạnh mẽ, nên nhiều lúc cũng có thể gây sự

ức chế ở trẻ, thói quen ở trẻ chưa bền vững và trẻ dễ quên, vì vậy cô coi việc nhắc nhở trẻ thường xuyên là việc bình thường

+ Trong chương trình buổi lễ, trẻ nhóm nhỏ thường thực hiện các tiết mục cùng

cô, trẻ nhóm lớn chủ yếu hoạt động độc lập, chúng tự do trong các hoạt động tập thể, tham gia tích cực trong các trò chơi hay đố vui

+ Nên tạo điều kiện để tất cả các trẻ đều có tiết mục tham gia, với trẻ tiếp thu nhanh để cho trẻ phát triển tốt thì trẻ được thực hiện các tiết mục phức tạp, thể hiện khả năng sáng tạo; với trẻ chậm thì có thể thực hiện tiết mục đơn giản + Cô giáo có thể vừa là người dẫn chương trình vừa tham gia biểu diễn với trẻ

Cô cần phải nhanh nhẹn, hoạt bát, tình cảm, có kỹ năng giao tiếp tốt, các lời dẫn trình bày diễn cảm, xử trí nhanh những sự cố bất ngờ xảy ra

+ Cô phụ trách giúp đỡ hóa trang và chuẩn bị các tiết mục kịp thời để chương trình được thực hiện liên tục

1.2.1.3 Khái niệm hoạt động ca hát

Hoạt động ca hát là hoạt động giúp trẻ thể hiện tình cảm, tâm trạng, giao tiếp với mọi người, giúp trẻ phát triển nhân cách toàn diện nói chung và khả năng âm nhạc nói riêng thông qua việc trải nghiệm bằng giọng hát và việc tiếp xúc với các ca từ, giai điệu, tính chất sắc thái của bài hát

b Đặc điểm

Ca hát là loại hình hoat động nghệ thuật có giá trị biểu cảm cao, nó tác động đến người nghe bằng sự thống nhất của âm nhạc và lời ca, thúc đẩy sự phát triển cảm giác

âm nhạc của trẻ

Trang 30

Ca hát như một phương tiện giúp trẻ thể hiển tình cảm, tâm trạng, giao tiếp với mọi người, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục âm nhạc nói riêng và đóng vai trò chủ yếu trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển trẻ toàn diện và hài hòa nói chung

Thông qua hoạt động ca hát, trẻ được hình thành, ôn luyện, củng cố các kỹ năng ca

hát một cách chính xác:

- Tư thế hát: đứng hát và ngồi hát

Tư thế đẹp là đứng thẳng, đầu thẳng, không được co vai, nhún cổ Tư thế ngồi

là tư thế ngồi thẳng, đầu và lưng thẳng Tuy nhiên, tư thế đứng thuận lợi cho việc lấy hơi, cần luyện tập thường xuyên ngoài giờ, tạo thói quen khi bắt đầu hát và nhắc nhở trên giờ học

- Cách thở, cách lấy hơi:

Hít vào nhanh, sâu, thở ra từ từ, chậm rãi Luyện tập ngoài giờ, có thể kết hợp giờ tập thể dục Trên tiết thể hiện rõ những chỗ lấy hơi cho trẻ, bằng cách đánh nhịp của cô, đầu và tay nhấc nhẹ lên một chút Ví dụ: trên tiết thể dục, thực hiện cho trẻ chơi thổi bóng, thổi nơ, ngửi hoa,

- Hát rõ lời (nhã tiếng):

Tách riêng chỗ hát chưa rõ lời ra tập cho trẻ, bằng cách cô đọc lại từ đó, nếu trẻ chưa đọc được, cô dạy cho trẻ phát âm và đọc lại trong câu Sau đó cho trẻ hát lại câu

- Hát chính xác:

Hát chính xác về cao độ, trường độ, giai điệu, nhịp điệu, tiết tấu của bài hát Nếu trẻ sai, cô tách riêng chỗ sai ra, hát mẫu lại chậm, rõ, chuẩn kết hợp với nghệ thuật chỉ huy Khi hát tập thể, trẻ hòa giọng mình trong giọng hát của các bạn Biết

Trang 31

bắt đầu và kết thúc cùng một lúc, hát đuổi nhau, hát nối đuôi nhau, phụ thuộc vào động tác chỉ huy của cô phải rõ ràng, dứt khoát Khi trẻ hát tập thể tương đối tốt, có thể cho trẻ thực hành dưới hình thức tổ, nhóm, cá nhân Trong quá trình dạy trẻ hát,

để gây hứng thú, phát triển tai nghe âm nhạc, cảm nhận đucợ sự phong phú, đa dạng của bài học, có thể cho trẻ sử dụng các bộ gõ (phách tre, trống lắc, đồ dùng, đồ chơi, ) Xen kẽ, cô đặt câu hỏi về xuất xứ của bài hát, hay hỏi về nội dung, tính chất của bài như ở phần cho trẻ làm quen bài hát

- Cách ngắt giọng:

Dạy trẻ hát bằng âm thanh vang tự nhiên, để trẻ hát thoải mái, không bị ức chế hay căng thẳng, giúp trẻ hát đúng, hát hay Có thể dịch giọng (transpose) cho phù hợp giọng trẻ

- Cách ngắt nhịp:

Trẻ học hát thông qua bắt chước, do đó cô vừa hát vừa ngắt nhịp bằng tay để giữ tốc độ đều cho trẻ Chú ý những bài có nhịp lấy đà, để bắt nhịp cho đúng, không ngược phách, nếu có nhạc đệm cô chú ý lắng nghe điều khiển trẻ hát khớp nhạc

1.2.2 Đặc điểm hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Cấu trúc của hứng thú bao gồm 3 yếu tố đó là nhận thức, xúc cảm và hành vi Bất

kì hứng thú nào cũng là thái độ cảm xúc tích cực của chủ thể đối với đối tượng Thái

độ cảm xúc này phản ánh nhận thức của chủ thể về đối tượng Nhận thức luôn là tiền

đề, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động đối với đối tượng

Ba thành tố trên có mối liên hệ mật thiết với nhau và tương tác lẫn nhau trong cấu trúc của hứng thú

Theo PGS Nguyễn Thị Ánh Tuyết “Thường thì sự hứng thú đối với một hiện tượng nào đó xuất hiện nhanh chóng ở trẻ cũng lại biến mất và liền được thay thế bằng một hứng thú khác” Điều đó cho thấy hứng thú của trẻ thường không bền vững, dễ bị gián đoạn, dập tắt vì thế, giáo viên cần có những biện pháp tác động, kích thích, duy trì hứng thú cho trẻ, thúc đẩy khả năng hoạt động ở trẻ một cách tích cực nhất Trẻ hứng thú với đối tượng nào đó khi nó kích thích được sự tò mò, ham muốn khám phá ở trẻ Những hoạt động mới lạ, hấp dẫn, giàu cảm xúc và mang tính trải nghiệm đều có sức hút lớn

Trang 32

đối với trẻ, trẻ có thể say mê hoạt động trong một thời gian dài Có thể nói, niềm say

mê với cái mới, sự tìm tòi, khả năng bộc lộ óc sáng tạo đã thu hút trẻ và giúp chúng hoạt động quên mệt mỏi Đối với trẻ 5-6 tuổi thì hứng thú của trẻ không đơn thuần là thích thú tham gia một hoạt động nào đó mà còn thể hiện ở chỗ trẻ biết cách lựa chọn phương tiện và hình thức hành động phù hợp, tự vận dụng những kinh nghiệm đã biết vào trong những điều kiện mới hoàn cảnh mới trong khi chơi để giải quyết được nhiệm

vụ đặt ra Với những hoạt động trẻ đã thật sự hứng thú thì trẻ sẽ tham gia hoạt động đó đến cùng Cũng như trong hoạt động ca hát có 3 yếu tố cấu thành nên bài hát đó là giai điệu, lời ca và tính chất sắc thái của bài hát Và trong 3 yếu tố này thì giai điệu là yếu

tố giúp trẻ hứng thú nhiều nhất Trẻ có thể lắc lư, nhún nhảy, hòa theo giai điệu của bài hát khi giai điệu đó thật sự làm trẻ hung thú Từ đặc điểm này, giáo viên cần nắm rõ để

có thể tạo hứng thú cho trẻ qua hoạt động ca hát

Nói tóm lại hứng thú có mối liên hệ chặt chẽ đến các quá trình tâm lý của con người Thông qua những đặc điểm này của trẻ giáo viên sẽ dễ dàng nhìn thấy và phát huy những khả năng của trẻ cũng như khắc phục và tìm cách nâng cao hứng thú cho trẻ trong các hoạt động Từ đó tạo động cơ giúp trẻ học tập và học tập một cách toàn diện

để phát triển một cách tốt nhất

1.2.3 Bản chất của hoạt động ca hát ở trường mầm non

1.2.3.1 Tổ chức hoạt động ca hát ở trường mầm non

Cho trẻ làm quen với bài hát, cần giới thiệu bài hát sắp học cũng như cần cho trẻ nghe trọn vẹn bài hát: tình cảm, nội dung, hình tượng, âm nhạc, sự vật, sự kiện sẽ nói đến trong bài hát

Trang 33

o Bên cạnh đó có thể dùng lời kết hợp, phương tiện trực quan như hình ảnh, thú nhồi bông…có gắn với nội dung bài hát

Tùy theo tính chất mức độ phức tạp hay đơn giản của bài hát, giáo viên có thể chọn lựa linh hoạt trong cuộc họp lời giới thiệu phải hết sức ngắn gọn, dễ hiểu, sinh động Các phương tiện trực quan khi sử dụng phải được lựa chọn phù hợp gây hứng thú, hấp dẫn trẻ đến với bài hát sắp học

Phần hát mẫu:

- Hát mẫu là phần trình bày của giáo viên để trẻ có cảm xúc đầy đủ về bài hát, tính chất

âm nhạc, giai điệu tiết tấu, lời ca, sắc thái, tình cảm, phong cách Cô thể hiện tốt sẽ tạo

ấn tượng mạnh mẽ đến trẻ: sự hứng thú, yêu thích và có nhu cầu học hỏi Trẻ không chỉ nhanh chóng nắm được giai điệu, tiết tấu, mà còn cảm nhận được hình tượng âm nhạc ngay sau khi nghe lần đầu tiên không chỉ nhanh chóng nắm được giai điệu tiết tấu mà còn cảm thụ được hình tượng ngay sau khi nghe lần đầu tiên

- Hát mẫu được thể hiện theo nhiều cách như:

o Giáo viên hát chính xác, trọn vẹn bài hát Hát thể hiện tình cảm, sắc thái bài hát kết hợp cử chỉ điệu bộ minh hoạ

o Hát kết hợp với đệm đàn hoặc gõ dụng cụ âm nhạc đệm theo bài hát Điều này giúp trẻ hình dung được hình tượng âm nhạc một cách đầy đủ, hấp dẫn

o Cho trẻ nghe giai điệu bài hát qua việc trình bày trên đàn Trẻ sẽ cảm nhận được tính chất của bài hát (vui, buồn, sôi nỗi, ), sau đó giáo viên hát cho trẻ nghe

o Có thể cho trẻ nghe giai điệu của bài hát qua phần ghi nhớ của đàn phím, băng xét

cat- Phần dạy trẻ hát:

- Dạy trẻ hát đúng, thuộc bài hát và thể hiện tình cảm, kết hợp rèn kỹ năng hát

- Tuỳ mức độ khó hay dễ, dài hay ngắn, phức tạp hay đơn giản của bài hát, cô có thể dạy hát sao cho phù hợp với trẻ

- Có các cách dạy hát sau:

o Với bài hát ngắn, dễ hát, đơn giản: cô bắt nhịp cho trẻ hát theo cô cả bài Cô hát to, chậm, rõ lời, trẻ vừa nghe vừa hát theo cô cho đến khi hát được

Trang 34

o Với bài hát dài, khó hát, giáo viên có thể chia thành từng câu hay từng đoạn ngắn Dạy hát nối tiếp từng câu, từng đoạn với nhau Không nhất thiết dạy thuộc câu này rồi dạy tiếp câu sau Cần dạy liên tiếp như vậy sẽ giúp trẻ dễ hát và cảm nhận tác phẩm trọn vẹn và dễ dàng hơn

o Trong quá trình học hát, nếu hát sai giai điệu hay lời ca, cô có thể đọc lời trọn vẹn câu hát đó, hướng cho trẻ nghe giai điệu trên đàn và chính xác câu hát đó hoăc hát lại cùng cô

o Luyện tập và củng cố:

Trong quá trình luyện tập, ngoài việc giúp trẻ hát thuộc, hát đúng Cô giúp trẻ thể hiện sắc thái, tình cảm của bài hát Khi thực hiện, giáo viên chú ý luyện tập cho trẻ: phát âm chính xác (hát rõ lời); hát đồng đều, nhịp nhàng; hát ngân giọng, ngắt giọng tuỳ theo bài hát cụ thể

Với bài hát trẻ đã hát đúng, hát thuộc có thể cho trẻ hát nhiều hình thức khác nhau nhau: nối tiếp, hát to, nhỏ, nhanh, chậm, hát kết hợp vỗ tay hay phối hợp dụng cụ âm nhạc Hát theo nhóm, tổ, hát xen kẻ Theo sự chỉ huy của cô

Tất cả các bước này chủ yếu giúp trẻ thể hiện lại được bài hát, rèn luyện kỹ năng ca hát cho trẻ, cũng như giúp trẻ biết được cái hay cái đẹp được thể hiện qua ca từ của lời bài hát Đây cũng chính là kết quả mong đợi sau quá trình cho trẻ tiếp xúc với bài hát Nếu chỉ áp dụng đầy đủ các bước dạy hát mà không đặt trẻ vào những tình huống có vấn đề để kích thích trẻ suy nghĩ, tìm kiếm hướng giải quyết khác nhau, thì sẽ không làm tăng mức độ hứng thú ở trẻ Do đó giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm theo những cách xử lý riêng nhưng phải đảm bảo cho trẻ tâm lý thật tự do và thoải mái Muốn vậy, người giáo viên mầm non cần hiểu rõ về mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi để việc tổ chức hoạt động ca hát cho trẻ được hiệu quả hơn

1.2.3.2 Vai trò của hoạt động ca hát đối với sự phát triển hứng thú cho trẻ

mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trang 35

Ca hát là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mọi tầng lớp mọi lứa tuổi trong mọi xã hội

Ca hát đặt biệt gần gũi quan trọng trong đời sống trẻ em Từ những năm tháng đầu đời nằm trong nôi, được nghe tiếng ru của người mẹ, em bé ngủ sâu hơn ngon giấc hơn mặc dù còn chưa hiểu được nội dung bài hát Theo năm tháng, đứa trẻ lớn dần lên mang theo trong tiềm thức trọn vẹn âm hưởng của những bài đồng dao gắn bó với những trò chơi thời thơ ấu giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống xung quanh Ca hát luôn gắn bó với trẻ em trong mọi hoạt động học, chơi, ăn, ngủ khi còn ngồi trên ghế nhà trưởng mọi cấp bậc

Việc trẻ hát gắn liền với việc phát triển sinh lý ở trẻ, đẩy mạnh chức năng hoạt động của các cơ quan phát thanh, hô hấp, làm cho giọng hát của trẻ tốt hơn

Việc hát đòi hỏi trẻ phải quan sát, chú ý, nhạy bén, trẻ không chỉ tiếp thu về giai điệu, tiết tấu, lời ca, mà còn phát triển ngôn ngữ (Phát âm chính xác , biểu cảm, mở rộng vốn từ) Khi trẻ nghe nhạc và hát trẻ cảm nhận được tình cảm, tình cảm của âm nhạc nên hưởng ứng, cảm xúc với những trạng thái cảm xúc có trong tác phẩm giúp trẻ hình thành sự liên tưởng, tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động ca hát của trẻ bắt đầu có mầm móng từ đây

Khi hát trẻ phải thực hiện các kỹ thuật hát đồng đều, hát rõ lời và hát diễn cảm

 Tóm lại hoạt động ca hát có vai trò giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ Thông qua hoạt động ca hát, hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên, tổ quốc, tình yêu thương con người Không chỉ vậy, đây còn là phương tiện nâng cao khả năng trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức trẻ qua học tập, vui chơi, giúp hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực Chính vì vậy, hoạt động ca

hát cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng

1.2.4 Đặc điểm ca hát của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Ở độ tuổi này, âm thanh trẻ phát ra yếu do các dây thanh đới còn mảnh và ngắn, hơi thở ngắn, nông Giọng trẻ cao và yếu hơn người lớn, đồng thời sự phối hợp giữa tai

Trang 36

nghe và giọng hát chưa thật chủ động (đôi khi còn hát sai, hát ngọng), khoang ngực chứa hơi chưa phát triển do đó không hát được những câu hát dài Trong quá trình học hát sẽ tạo sự phối hợp giữa tai nghe và giọng: Tai nghe âm thanh – giọng bắt chước Bắt chước có chuẩn xác hay không là do tai nghe kiểm tra Sự phối hợp của người lớn giúp trẻ tái hiện chính xác những gì nghe được trong phạm vi khả năng của các cháu Tuổi mẫu giáo lớn học hát theo lối “truyền khẩu” (nghe rồi bắt chước) vì các cháu chưa biết chữ Thông qua các bài hát mà trẻ hiểu về ý nghĩa của lời ca, ngôn từ Tuy nhiên, trẻ hát một cách tình cảm mà không phải gắng sức, biết điều chỉnh tốc độ từ vừa phải – hơi nhanh hoặc từ vừa phải – chậm lại Âm thanh mềm mại, nhẹ nhàng, biết lấy hơi giữa các câu nhạc, hát rõ lời, mạch lạc Trẻ biết bắt đầu và kết thúc cùng nhau khi hát tập thể, hát có nhạc đệm hoặc không có nhạc đệm, hát đơn ca, nhóm… Tầm cữ giọng

ổn định hơn, thường hát trong khoảng từ nốt Đô của quãng tám thứ nhất đến nốt Đô của quãng tám thứ 2 cùng với sự phối hợp giữa nghe và hát của trẻ cũng tốt hơn.Trẻ tự nghĩ ra các hình thức để tạo ra âm thanh, vận động theo các bài hát, bản nhạc yêu thích Đặt lời theo giai điệu của một bài hát, bản nhạc quen thuộc ( một câu hoặc một đoạn) Tìm kiếm, lựa chọn các dụng cụ, nguyên vật liệu phù hợp để tạo ra sản phẩm theo ý thích

Có thể nói trẻ ở các độ tuổi thấp hơn đều có khả năng ca hát Nhưng riêng đối với trẻ 5-6 tuổi thì khả năng ca hát của trẻ được thể hiện một cách rõ ràng và hoàn thiện nhất Từ cách thể hiện ca từ của bài hát, giai điệu cũng như cách biểu diễn, khả năng sáng tạo… Có thể nói là hoàn thiện nhất Chính vì thế mà giáo viên phải nắm rõ những đặc điểm này để có thể chọn lựa những nôi dung dạy học phù hợp nhất cho trẻ Giúp trẻ có thể tiếp nhận bài hát một cách tốt nhất

1.2.5 Nội dung giáo dục hứng thú đối với hoạt động âm nhạc trong Chương trình giáo dục Mầm non và chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi

Nội dung dạy âm nhạc cho trẻ 5-6 tuổi trong Chương trình giáo dục Mầm non:

Theo thông tư số 17/2009/TT-BGDDT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo về việc ban hành Chương trình giáo dục Mầm non thì nội dung giáo dục mẫu giáo được chia thành 5 lĩnh vực phát triển: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm

Trang 37

– kỹ năng xã hội và thẩm mỹ Nội dung dạy âm nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được đề cập khá rõ ràng trong lĩnh vực phát triển thẩm mỹ như sau:

- Trẻ cảm nhận và thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng trong thiên

nhiên, cuộc sống và nghệ thuật (âm nhạc)

Trẻ thể hiện thái độ, tình cảm khi nghe âm thanh gợi cảm, các bài hát, bản nhạc và ngắm nhìn vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật

- Phát triển cho trẻ kỹ năng nghe, hát, vận động theo nhạc

o Trẻ nghe các thể loại âm nhạc khác nhau ( nhạc thiếu nhi, dân ca, nhạc cổ điển)

o Trẻ nghe và nhận ra sắc thái (vui, buồn, tình cảm tha thiết) của các bài hát, bản nhạc

o Hát đúng giai điệu, lời ca và thể hiện sắc thái, tình cảm của bài hát

o Vận động nhịp nhàng theo giai điệu, nhịp điệu và thể hiện sắc thái phù hợp với các bài hát, bản nhạc

o Sử dụng các dụng cụ gõ đệm theo nhịp, tiết tấu ( nhanh, chậm, phối hợp)

- Trẻ thể hiện sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động âm nhạc

o Trẻ tự nghĩ ra các hình thức để tạo ra âm thanh, vận động theo các bài hát, bản nhạc yêu thích

o Biết đặt lời theo giai điệu một bài hát, bản nhạc quen thuộc ( một câu hoặc một đoạn)

Nội dung dạy âm nhạc cho trẻ 5-6 tuổi trong Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi:

- Chuẩn 22: Trẻ thể hiện một số hiểu biết về âm nhạc

o Chỉ số 99: Nhận ra giai điệu (vui, êm dịu, buồn) của bài hát hoặc bản nhạc

o Chỉ số 100: Hát đúng giai điệu bài hát trẻ em

o Chỉ số 101: Thể hiện cảm xúc và vận động phù hợp với nhịp điệu của bài hát hoặc bản nhạc

- Chuẩn 28 Trẻ thể hiện khả năng sáng tạo

o Chỉ số 117 Đặt lời mới cho bài hát

Từ các nội dung cụ thể dạy âm nhạc cho trẻ 5-6 tuổi trong Chương trình giáo dục Mầm non và trong chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên những

Trang 38

nội dung này để xây dựng các bài tập, qua đó quan sát và đánh giá những biểu hiện về thái độ, nhận thức và hành vi của trẻ để tiến hành đo mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong hoạt động ca hát ở trường mầm non

1.2.6 Biểu hiện hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với hoạt động ca hát

Hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm tình cảm thực sự với đối tượng

mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú

Cách phân tích này nhấn mạnh yếu tố xúc cảm với đối tượng và thái độ xúc cảm của nhận thức chứ chưa chú trọng đến nội dung nhận thức đối tượng trong hứng thú Dựa vào khái niệm công cụ về hứng thú nêu trên, chúng tôi cho rằng, hứng thú là sự kết hợp của ba thành tố: xúc cảm, nhận thức và hoạt động Trước hết, hứng thú là thái

độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng Đó là sự thích thú với đối tượng và làm nảy sinh ham muốn được hoạt động chiếm lĩnh đối tượng Tuy nhiên, những cảm xúc đó phải là

“cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân với đối tượng mới có thể trở thành một dấu hiệu không thể thiếu được, một mặt của hứng thú”

Bất kỳ hứng thú nào cũng đều bao hàm khía cạnh nhận thức Không có nhận thức thì không có hứng thú Khi bản thân trẻ thích thú với một đối tượng, chúng sẽ mong muốn được tìm hiểu, được hoạt động với đối tượng đó Càng nhận thức sâu sắc, tỉ mỉ về đối tượng và được trực tiếp trải nghiệm bao nhiêu thì hứng thú càng bền vững bấy nhiêu Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau về hứng thú, chúng tôi cho rằng hứng thú được biểu hiện ở các mặt sau:

- Về mặt nhận thức: Là sự ham hiểu biết, chủ động, độc lập tìm kiếm kiếm đồ dùng, đồ chơi để thực hiện ý tưởng, có ý tưởng sáng tạo và nhanh chóng phát hiện điều mới lạ đối với hoạt động Đồng thời trẻ có sự cố gắng nỗ lực, tham gia tới cùng từ đó rút ra được nhận xét phù hợp

Trang 39

Ví dụ: Trẻ năng nỗ phát biểu trả lời câu hỏi, thực hiện yêu cầu của cô; mạnh dạn nêu ra thắc mắc của bản thân Nhập vai tốt, chủ động xung phong lên hát, hát to, rõ và thể hiện được cảm xúc của mình khi hát một cách phù hợp với tính chất sắc thái của bài; trẻ nói ra được cảm xúc của mình sau khi nghe cô và các bạn hát

- Về mặt thái độ: Tâm trạng hào hứng, chờ đợi các giờ học, thể hiện sự thích thú khi được bày tỏ ý kiến mới lạ của bản thân và khi được tham gia vào hoạt động

Ví dụ: Trẻ tập trung chú ý, ánh mắt chăm chú, thích thú khi cô dẫn dắt vào bài, thực hiện hát mẫu, dạy trẻ hát, phấn khởi khi được tham gia hoạt động, thể hiện được cảm xúc trên gương mặt phù hợp với giai điệu bài hát, lắc lư theo bài hát, vẻ mặt vui vẻ, thoải mái xuyên suốt bữa học

- Về mặt hành vi: Trẻ tập trung chú ý lắng nghe, tích cực phát biểu trong giờ học,…hăng hái nêu câu hỏi, ý kiến thắc mắc để hiểu sâu sắc một vấn đề, sẵn sáng học hỏi và trao đổi với bạn bè, cảm thấy hứng thú sảng khoái trong giờ học

Ví dụ: Hứng thú của trẻ không những được bộc lộ qua cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, lời nói, cách biểu diễn mà còn được bộc lộ rõ nét qua việc trẻ thích được thể hiện hết bài hát ngay cả khi cô không yêu cầu, thích thú sáng tạo lời bài hát trên nền nhạc có giai điệu quen thuộc, không chỉ dừng lại ở việc mạnh dạn đưa ra ý kiến, thắc mắc của bản thân và nói được cảm xúc của mình sau khi nghe các bạn thể hiện, mà trẻ còn giải đáp được lý do tại sao đưa ra ý kiến, suy nghĩ đó

1.2.7 Các yếu tố tác động đến việc nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6

tuổi đối với hoạt động ca hát

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

Trẻ em ở độ tuổi mầm non thường dành phần lớn thời gian trong ngày ở trường Mầm non, đối tượng thường xuyên tiếp xúc với trẻ trong độ tuổi này ngoài bạn bè cùng trang lứa còn có giáo viên mầm non Do vậy, giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ về mọi mặt, trong đó có sự hình thành và phát triển hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với hoạt động ca hát

Trang 40

Thái độ tích cực, trìu mến, dịu dàng với trẻ, luôn tìm tòi, học hỏi, đưa ra những cách thức, phương pháp mới cũng như cách lên tiết, cách bố trí lớp học sao cho bắt mắt của giáo viên có ảnh hưởng vô cùng lớn trong việc giúp trẻ có hứng thú hơn đối với hoạt động ca hát Ngoài ra, việc lựa chọn bài hát sao cho phù hợp với độ tuổi cùng với việc lựa chọn phương tiện dạy hát của cô cũng hết sức quan trọng nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ

Để làm được điều đó, giáo viên mầm non cần tạo điều kiện cho trẻ được thỏa sức hoạt động với âm nhạc, tổ chức tiết học bằng nhiều hình thức độc đáo khác nhau, tạo

cơ hội cho trẻ được sáng tạo, hoạt động ca hát với bạn bè Từ đó sẽ kích thích hứng thú trong trẻ đối với hoạt động ca hát Tất cả các biện pháp tác động mà giáo viên áp dụng cho trẻ đều có ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú của trẻ Do vậy có thể khẳng định vai trò của giáo viên mầm non là hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển hứng thú của trẻ theo chiều hướng tích cực

Trong chương trình giáo dục mầm non, môn giáo dục âm nhạc là một môn nghệ thuật hết sức gần gũi với trẻ, là hoạt động được trẻ yêu thích, là nguồn cảm hứng mạnh mẽ

để trẻ cảm thụ nghệ thuật Nó là một phương tiện hữu hiệu cho việc tổ chức các hoạt

động giáo dục ở trường

Mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, không trẻ nào giống trẻ nào, vì thế đặc điểm tâm sinh lý, tính cách, sở trường, sở đoản cũng như sở thích của từng trẻ là khác nhau Chẳng hạn như: Có trẻ thích đông đúc, nhộn nhịp; Trẻ thích yên tĩnh; Trẻ hoạt bát, trẻ trầm lặng hay có trẻ thích nghe nhạc, ca hát, nhảy múa, nhưng có trẻ lại không thích những điều đó,

 Tóm lại, để xác định được mức độ hứng thú của trẻ đối với hoạt đông ca hát, cần dựa trên các yếu tố như sau: khả năng tiếp nhận tác phẩm âm nhạc, thái độ đúng đắn đối với đối tượng và nhu cầu của trẻ Từ những yếu tố trên, nhóm nghiên cứu có thể đề xuất được một số biện pháp nhằm nâng cao mức độ hứng thú của trẻ

Ngày đăng: 22/12/2017, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w