1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay

170 991 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào những năm 70, trong tạp chí Ngôn ngữ của Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội có đăng một số bài đề cập đến việc nghiên cứu trong các cuộc tranh luận của các học giả phương

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Mã số đề tài: SV2016 - 12

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học cơ bản

Chủ nhiệm đề tài: Phan Hoàng Tấn

Thành viên tham gia:

1 Võ Minh Triệu Luân

2 Lê Duy Nhã

3 Tạ Uyên Vy

Giáo viên hướng dẫn: ThS Lê Thị Thanh Thủy

TP Hồ Chí Minh, Tháng 5/ 2017

Trang 2

7 Cấu trúc

13 Chương 1 Cơ sở lí luận

14

1.1 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ 14

1.3 Vai trò của thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp 47 1.4 Ảnh hưởng của văn hóa xã hội trong việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ

trong hoạt động giao tiếp (tuổi tác, giới tính, chủ đề)

53

Chương 2 Thực trạng sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao

tiếp của giới trẻ hiện nay

67

2.1 Thực trạng sử dụng thành ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay 67

2.2 Đánh giá việc sử dụng thành ngữ quán ngữ trong giao tiếp 90

Trang 3

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng,

hiệu quả việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của:

- Quý thầy cô trong ban Chủ nhiệm khoa Sư phạm Khoa Học Xã Hội

- Quý thầy cô giảng dạy ngành Ngữ văn

- ThS Lê Thị Thanh Thủy - giảng viên hướng dẫn đề tài

- Sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn học sinh:

+ Lớp 10 chuyên Văn, 10A1 trường trung học phổ thông Gia Định, quận Bình Thạnh, TPHCM

+ Lớp 12 Ban D trường trung học phổ thông Nguyễn Công Trứ, quận Gò Vấp, TP.HCM

+ Lớp 12 Ban A trường trung học phổ thông Bùi Thị Xuân, quận 1, TP.HCM + Lớp 12 trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền, quận 1, TP.HCM

- Sự giúp đỡ tận tình của các anh chị sinh viên:

+ Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM

+ Trường Đại học Công nghệ TP.HCM

+ Trường Đại học Văn Hiến

+ Trường Đại học Sài Gòn

Trang 5

BẢN TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Mã số đề tài: SV2016 - 12

1 Vấn đề nghiên cứu

Khi nói đến bản sắc dân tộc được thể hiện trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ thì không thể không nói đến thành ngữ, quán ngữ Thành ngữ, quán ngữ (thành ngữ, quán ngữ) là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân chứa đựng cả chiều sâu tư duy về lao động sản xuất, quan hệ xã hội, đạo lí làm người, quan điểm thẩm mĩ Ngoài ra, thành ngữ, quán ngữ còn là phương tiện ngôn ngữ có giá trị độc đáo với lối diễn đạt sinh động, tinh tế, nhiều hàm ý và giàu tính biểu cảm Nó giúp ngôn ngữ giao tiếp của con người vừa súc tích, gãy gọn, vừa ý nhị, sâu sắc, đậm tính trí tuệ Nó cũng góp phần hình thành và phát triển nhân cách, hướng con người đến những chuẩn mực đạo đức của xã hội, nâng cao khả năng giao tiếp, ứng xử làm cho đời sống của mỗi người thêm phong phú, tinh tế

Giới trẻ hiện nay có còn quan tâm đến thành ngữ, quán ngữ? Thực trạng sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ như thế nào trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Làm sao để nâng cao nhận thức và khai thác kho tàng các thành ngữ, quán ngữ một cách triệt để giao tiếp có hiệu quả? Làm sao để việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ tránh được những sai sót, dùng sai mục đích, tránh gây ra sự nhàm chán, phản cảm? Cách nhìn nhận và sử dụng những thành ngữ, quán ngữ mới trong giai đoạn hiện nay như thế nào? Đó là lí do chọn đề tài của nhóm tác giả

2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn ngữ liệu chúng tôi khảo sát, mục tiêu chính của đề tài này: Một là, làm rõ vấn đề lí luận về thành ngữ, quán ngữ và vai trò của chúng trong việc tạo phát ngôn

Trang 6

Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng trong việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Ba là, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá việc sử dụng thành ngữ mới trong cuộc sống của giới trẻ

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc

sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát, hệ thống hoá, bổ sung về mặt lý thuyết về thành ngữ, tục ngữ, lí thuyết hội thoại nói riêng và đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong giao tiếp Đây chính là những lý thuyết cơ sở để đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

Trang 7

- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này nhằm khảo sát trực tiếp việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giáo tiếp của giới trẻ hiện nay Phương pháp này được thực hiện bằng cách phỏng vấn, phát phiếu điều tra

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được dùng để xác định tần số xuất hiện, hiệu quả những cuộc giao tiếp có sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giới trẻ từ

cứ liệu điều tra xã hội học

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thực hiện phương pháp này nhằm mục đích phân tích, tổng hợp việc nhận diện, sử dụng thành ngữ, quán ngữ như thế nào trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

5 Kết quả nghiên cứu

Đề tài góp phần tiếng nói chung trong việc nghiên cứu về thành ngữ, quán ngữ hiện đại được ra đời trong xã hội ngày nay Qua đề tài, chúng tôi nhận thấy được kiến thức về thành ngữ, quán ngữ của giới trẻ còn hạn chế Từ đó, chúng tôi đưa ra những giải pháp để giúp các bạn hiểu rõ hơn về thành ngữ, quán ngữ - một kho tàng phong phú của ngôn ngữ dân tộc Đồng thời, với những giải pháp này, chúng tôi mong muốn giúp các bạn sử dụng triệt để thành ngữ, quán ngữ để mang đến những giá trị biểu cảm cao trong việc giao tiếp

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi nói đến bản sắc dân tộc được thể hiện trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ thì không thể không nói đến thành ngữ, quán ngữ Thành ngữ, quán ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân chứa đựng cả chiều sâu tư duy về lao động sản xuất, quan

hệ xã hội, đạo lí làm người, quan điểm thẩm mĩ Ngoài ra, thành ngữ, quán ngữ còn là phương tiện ngôn ngữ có giá trị độc đáo với lối diễn đạt sinh động, tinh tế, nhiều hàm

ý và giàu tính biểu cảm Nó giúp ngôn ngữ giao tiếp của con người vừa súc tích, gãy gọn, vừa ý nhị, sâu sắc, đậm tính trí tuệ Nó cũng góp phần hình thành và phát triển nhân cách, hướng con người đến những chuẩn mực đạo đức của xã hội, nâng cao khả năng giao tiếp, ứng xử làm cho đời sống của mỗi người thêm phong phú, tinh tế Chẳng hạn, trong giao tiếp và diễn đạt, chúng ta thường hay sử dụng các cụm từ cố

định như nói cách khác, suy cho cùng, một mặt thì, mặt khác thì, Đó chính là các

quán ngữ Quán ngữ có chức năng vừa là phương tiện liên kết các đơn vị giao tiếp, lại vừa như một tín hiệu có chức năng đưa đẩy, chêm xen làm cho lời nói tăng tính biểu thị tình thái

Và hàng loạt thành ngữ của nhân dân dù đơn giản nhất như những câu nói

thông thường nhưng khá tinh tế như “cao bay xa chạy”, thành ngữ “nói giăng nói cuội” bị biến thành “nói nhăng nói cuội”,… làm cho lời nói thêm gợi hình, gợi cảm

Việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ không phải chỉ với cái vốn sẵn có mà luôn luôn thay đổi và sáng tạo theo mô hình nào đó Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các thành ngữ, quán ngữ mới Chúng xuất hiện cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội và phản ánh chân thực nhất những nét mới, sự thay đổi trong đời sống xã hội của người Việt Trên các diễn đàn (forum), các trang mạng xã hội (Facebook, zing, ), hay nói chuyện tán gẫu (chat, viber, zalo,….), chúng ta dễ dàng thấy tiếng Việt được các bạn trẻ thay đổi từ cách viết đến ngữ pháp câu, thậm chí cố tình viết chệch âm, sai lỗi chính tả để tiết kiệm thời gian hay tạo sự vui vẻ, tinh nghịch trong lời nói mà các bạn ấy thường gọi là “Teencode” Đồng thời, trong giới trẻ đã

Trang 9

xuất hiện theo những cụm từ cố định mới với những ý nghĩa tương tự như những cụm

từ cố định truyền thống nhưng khác trong cách diễn đạt Chính vì vậy, trong quá trình

sử dụng chất liệu này còn nảy sinh nhiều vấn đề cần thảo luận

Thực trạng sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay như thế nào? Làm sao để nâng cao nhận thức và khai thác kho tàng các thành ngữ, quán ngữ truyền thống một cách triệt để để giao tiếp có hiệu quả? Làm sao để việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ tránh được những sai sót, dùng sai mục đích, tránh gây ra sự nhàm chán, phản cảm? Cách nhìn nhận và sử dụng những thành ngữ, quán ngữ mới trong giai đoạn hiện nay như thế nào? Vai trò của nhà trường trong việc nhận diện, sử dụng thành ngữ, quán ngữ của giới trẻ như thế nào? Đó là những câu hỏi cần

được làm sáng tỏ Do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay”

2 Lịch sử nghiên cứu

Có thể nói, tiếng Việt được xem là một loại hình ngôn ngữ vô cùng phong phú,

đa dạng Mỗi từ, mỗi cụm từ trong tiếng Việt đều có giá trị biểu đạt cao Từ lâu, người

ta đã nhận thấy có những đơn vị trong tiếng Việt rất giàu hình ảnh biểu đạt, mang giá trị tu từ thuộc những kiểu cấu trúc đặc biệt, có tiết tấu, âm điệu rõ ràng hoặc có sự hài hòa với âm thanh khi diễn ngôn Những đơn vị như thế thường được sử dụng không chỉ trong văn chương mà còn được hiện diện thường xuyên trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Chúng được sinh ra và lớn lên cùng với kho tàng ngôn ngữ dân tộc từ thời xa xưa Đó chính là thành ngữ Ví dụ: Rút dây động rừng, của ăn của để, tấc đất tấc vàng, mèo mả gà đồng, của thiên trả địa,… Cũng như tất cả những ngôn ngữ khác, chúng tồn tại một cách khách quan trong ngôn ngữ và có giá trị tự nhiên về mặt diễn đạt

Từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX trở lại đây, việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học dân gian nói chung, các lớp từ ngữ và thể loại văn học dân gian như ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ… nói riêng đã được rất nhiều người quan tâm với những công trình nghiên cứu có giá trị Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thành ngữ ở tất cả các phương diện hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa và văn

Trang 10

hóa Và công trình nghiên cứu thành ngữ đầu tiên trong tiếng Việt là “Về tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố vào năm 1921 Có thể nói nhìn một cách tổng

thể, các tác giả đã có rất nhiều đóng góp quý báu, họ đã có công lớn trong việc khai phá những vấn đề có liên quan đến thành ngữ và có nhiều phát hiện bất ngờ thú vị

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, dưới ảnh hưởng trực tiếp của các nhà ngôn ngữ học Nga, việc nghiên cứu thành ngữ học tiếng Việt mới có được cơ sở khoa học nghiêm túc Vào những năm 70, trong tạp chí Ngôn ngữ của Viện Ngôn ngữ học thuộc

Ủy ban Khoa học Xã hội có đăng một số bài đề cập đến việc nghiên cứu trong các cuộc tranh luận của các học giả phương Tây và Nga về thành ngữ học, vấn đề được bàn luận là việc xác định khối lượng của thành ngữ học, việc xem xét các đơn vị thành ngữ trong tiếng Việt, nghiên cứu những thuộc tính của thành ngữ và những phương thức khu biệt chúng với những đơn vị khác của ngôn ngữ Mốc quan trọng trong việc

nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là việc xuất bản cuốn từ điển “Thành ngữ tiếng Việt” năm 1976 của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang [23] Tuy không bao quát được hết

thành ngữ tiếng Việt, nhưng đã cung cấp chất liệu bổ ích cho những ai quan tâm Bên

cạnh đó, năm 1989, cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân [21] và bốn quyển trong loạt sách “Kể chuyện về thành ngữ và tục ngữ” được xuất bản

(1988-1990) do Viện ngôn ngữ biên soạn, Hoàng Văn Hành chủ biên.[15] đã giúp cho những ai quan tâm đến có cái nhìn chi tiết và hệ thống hơn về thành ngữ

Sau khi thành ngữ trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học, thì những câu hỏi quan trọng nhất mà các nhà nghiên cứu đặt ra là: Thành ngữ tiếng Việt là gì? Chúng có những thuộc tính và đặc điểm gì? Để trả lời những câu hỏi đó, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu với mục đích tìm ra những phương thức và tiêu chí phân biệt thành ngữ với những đơn vị ngữ khác có liên quan đến chúng, nghĩa là tìm những tiêu chí khu biệt thành ngữ với từ phức, cụm từ tự do và tục ngữ

Trong công trình của giáo sư Nguyễn Văn Tu “Từ và vốn tử tiếng Việt hiện đại” [30], ông đã dành cả chương thứ 7 để khảo sát những vấn đề cụm từ cố định nói

chung và thành ngữ nói riêng Tác giả viết thành ngữ là cụm từ cố định, trong đó phần lớn đã mất đi tính độc lập ngữ nghĩa của chúng, và sau khi kết hợp với nhau chúng trở

Trang 11

thành một thể thốngn hất bền chặt Nghĩa của kết hợp đó không được tạo nên từ nghĩa của những thành tố nằm trong thành phần của nó Hồ Lê cũng cho rằng thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ

Nghiên cứu thành ngữ như một cương vị nhất định (trong sự phân định với các đơn vị khác như tục ngữ, quán ngữ, từ ghép…) Đi theo hướng này, thành ngữ được nghiên cứu ở hầu hết các công trình về từ vựng học, ngữ pháp học hoặc tách riêng thành các bài nghiên cứu về vấn đề ranh giới giữa các đơn vị từ vựng Các công trình

có thể kể ở đây như công trình của Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Thiện Giáp, Hồ Lê

Nghiên cứu thành ngữ ở mặt riêng lẻ như nguồn gốc hình thành, ngữ nghĩa, văn hóa, biến thể… phải kể đến các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân, Phan Xuân Thành, Vũ Quang Hào, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang…

Một số tác giả khác nghiên cứu thành ngữ về mặt cấu trúc, hình thái, ngữ nghĩa như Trương Đông San, hoặc nghiên cứu thành ngữ so sánh như Hoàng Văn Hành; Bùi Khắc Việt Bên cạnh đó, cũng có các công trình thạc sĩ, tiến sĩ khác cũng

nghiên cứu về thành ngữ như: “Bình diện cấu trúc hình thái – ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt” năm 1995 của Nguyễn Công Đức [9]

Về phía quán ngữ, có thể thấy trong hàng chục đầu sách nghiên cứu về từ vựng hiện đại chỉ có độ vài ba tác phẩm viết vài dòng về quán ngữ mà thôi Nổi bật có các tác giả như Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu Đặc biệt là Hoàng Trọng Phiến, bởi ông đã đề cập trực tiếp và định nghĩa quán ngữ trong công trình của mình như những gợi mở cho các hướng nghiên cứu sâu hơn Hơn hết, Hoàng Trọng Phiến đã liệt kê được gần 500 quán ngữ trong công trình từ điển giải thích hư từ tiếng Việt của tác giả cũng như Đỗ Thanh và các đồng sự đã bổ sung hàng trăm đơn vị nữa trong tác phẩm từ điển nói về công cụ tiếng Việt của họ

Có thể thấy, khi xã hội ngày càng phát triển, ngôn ngữ cũng phát triển theo dẫn theo sự xuất hiện của các cụm từ cố định mới Những cụm từ ấy trải qua một thời gian

Trang 12

dài sử dụng, nó dần dần hội tụ đủ các điều kiện để được xem là thành ngữ, quán ngữ Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ trong việc giao tiếp phải được quan tâm hơn Từ trước tới nay, các công trình nghiên cứu về thành ngữ, quán ngữ tương đối nhiều song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề thành ngữ, quán ngữ được giới trẻ nhận diện và sử dụng như thế nào trong giao tiếp trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, thiết nghĩ việc khảo sát thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay là việc làm vô cùng cần thiết

3 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu chính của đề tài này:

Một là, làm rõ vấn đề lí luận về thành ngữ, quán ngữ và vai trò của chúng

trong việc tạo phát ngôn

Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng trong việc sử

dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Ba là, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng thành

ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, thành ngữ, quán ngữ là những bộ phận chiếm số lượng lớn, rất đa dạng và phong phú về mặt nội dung và phạm vi sử dụng Trong khảo sát bước đầu chúng tôi chọn phạm vi nghiên cứu là thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ với phát ngôn của giới trẻ hiện nay tại một số trường THPT, đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (như: Trường THPT Nguyễn Công Trứ, Trường THPT Bùi Thị Xuân, Trường THPT Gia Định, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Công nghệ TP.HCM, Trường Đại học Bách

Khoa TP.HCM,…)

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng nhằm khái

quát, hệ thống hoá, bổ sung về mặt lý thuyết về thành ngữ, tục ngữ, lí thuyết hội thoại nói riêng và đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong giao tiếp Đây chính là những lý thuyết cơ sở để đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này nhằm khảo sát trực tiếp

việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giáo tiếp của giới trẻ hiện nay.Phương pháp này được thực hiện bằng cách ghi âm, phỏng vấn, phát phiếu điều tra

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được dùng để xác định tần số xuất

hiện, hiệu quả những cuộc giao tiếp có sử dụng thành ngữ, quán ngữtrong giới trẻ từ cứ liệu điều tra xã hội học

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thực hiện phương pháp này nhằm mục

đích phân tích, tổng hợp việc nhận diện, sử dụng thành ngữ, quán ngữ như thế nào trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nội dung kiến thức về thành ngữ, quán ngữ

Khách thể nghiên cứu: Học sinh lứa tuổi trung học phổ thông Gia Định, Nguyễn Công Trứ, Bùi Thị Xuân, sinh viên đại học các trường Bách Khoa Tp.HCM, Công nghệ TP.HCM, Đại học Sài Gòn

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của đề tài gồm 3 chương:

Trang 14

Chương 1 Cơ sở lí luận

Chương 2 Thực trạng sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ

1.1.1 Thành ngữ

Việc tìm một định nghĩa chính xác nhất về thành ngữ là vô cùng khó, mỗi nhà nghiên cứu đều cố gắng đưa ra một định nghĩa hàm súc, dễ hiểu về bản chất của thành ngữ Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, cũng như các nhà nghiên cứu văn học, chưa thể nêu ra một khái niệm chính xác tuyệt đối và vẫn còn có nhiều tranh cãi, mỗi người đầu có những định nghĩa riêng của mình:

Theo Dương Quảng Hàm thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói hoặc viết văn

Theo Vũ Ngọc Phan: “Thành ngữ là một thành phần câu sẵn có, là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý nghĩa trọn vẹn”, nghĩa là tác giả cho rằng thành ngữ không phải một thành phần chính mà là

một bộ phận của câu và tự thành ngữ không diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa Theo Cù

ĐinhTú: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động” và “thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ” Theo Hồ Lê: “Thành ngữ là tổ hợp từ - nhiều từ kết hợp lại và có tính chất vững chắc về cấu tạo, bóng bẩy về ýnghĩa, dùng để miêu tả một hình ảnh, một hình tượng một tính cách , một thái độ nào đó” Quan điểm của ông góp phần làm cho

khái niệm thành ngữ thêm phần cụ thể nhưng vẫn chưa được đồng ý hoàn toàn

Theo Nguyễn Văn Tu: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập ở một trình độ cao về nghĩa, liên kết thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra Những thành ngữ này có tính hình tượng hoặc có thể không có.” [30] Với định nghĩa này, ông đã đề

cập đến tính hình tượng của thành ngữ

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học đều cố gắng đưa ra những định nghĩa đúng nhất, thuyết phục nhất Có thể do một phần vì cái nhìn chủ

Trang 16

quan nên mỗi người lại có những ý kiến khác nhau về định nghĩa thành ngữ nên đã gây nhiều tranh cãi và thiếu nhất quán Tuy vậy, những công trình nghiên cứu trên có tầm quan trọng và đóng góp lớn cho việc tìm ra định nghĩa chính xác và là nền tảng cho những công trình nghiên cứu sau này

Trên cơ sở đó, chúng tôi nhất trí khái niệm về thành ngữ: “Thành ngữ là một cụm từ cố định có tính vững chắc về hình thức cấu trúc và hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, dùng để biểu thị một cách hình ảnh các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động hay một trạng thái nào đó” Và nghĩa của thành ngữ là nghĩa của một chỉnh thể chứ

không phải của từng yếu tố trong chỉnh thể

Ví dụ: Để biểu đạt việc “chạy rất nhanh”, chúng ta có các thành ngữ: chạy thục

mạng, chạy bán sống bán chết, chạy như, chạy như cờ long công, Để biểu đạt vẻ đẹp của một người con gái, chúng ta có thành ngữ: đẹp như tiên, đẹp hoa nhường nguyệt thẹn, đẹp nghiêng nước nghiêng thành… Vậy, tuy cùng diễn tả một sự vật, hiện tượng, nhưng thành ngữ biểu đạt một cách hình ảnh hơn, gợi hình, gợi cảm hơn, và nghĩa của

nó là của toàn bộ chỉnh thể chứ không phải các thành tố cộng lại Chính vì vậy, việc sưu tập và nghiên cứu thành ngữ lâu nay đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm tới Điều đó cũng thể hiện ở sự đa dạng trong quan niệm về thành ngữ: quan niệm của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Như Ý, Kiều Văn

Trong gian đoạn hiện đại, thành ngữ có được giới trẻ quan tâm và có được hiểu theo cách nhìn truyền thống? Và thành ngữ thời hiện đại, nếu có, nó là gì? Theo quan điểm của chúng tôi, giới trẻ vẫn rất quan tâm đến việc sử dụng thành ngữ trong hoạt động giao tiếp Dĩ nhiên theo cách nhìn của giới trẻ hiện nay, chúng tôi tạm gọi là thành ngữ thời hiện đại, thành ngữ thời @

Thành ngữ thời hiện đại, chúng ta có thể hiểu là tổ hợp từ trước hết phải mang những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tức là tính ổn định về thành phần từ vựng và cấu trúc, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa; được dùng đi dùng lại nhiều lần do thói quen của người sử dụng; chúng là đơn vị xuất hiện từ đầu thế kỷ hai mươi trở lại đây nhằm phản ánh phẩm chất đạo đức, tư duy lối sống và cách nhìn của nhân dân

Trang 17

trong thời cuộc mới; và cũng không thể suy ra nghĩa của thành ngữ bằng cách tìm hiểu nghĩa của các từ hợp thành

Chẳng hạn, thành ngữ “mạt cưa, mướp đắng” có nghĩa là: tay đáo để lại gặp tay đáo để khác; nghĩa đó không thể suy ra từ nghĩa của các từ mạt cưa và mướp đắng, vốn là tên gọi của hai sự vật không có liên quan gì với nhau và lại càng không có liên quan gì với nghĩa của thành ngữ

Chính vì vậy, khi sử dụng một thành ngữ, người ta thường không để ý đến nghĩa của các từ cấu tạo nên nó mà chỉ nghĩ đến ý nghĩa chung của cả tổ hợp mà thôi

Và cũng chính vì không giải thích được lý do cấu tạo của thành ngữ mà người ta không thể tùy tiện thay đổi cấu tạo của chúng

1.1.2 Quán ngữ

Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt hiện đại gọi quán

ngữ là những từ cố định tổ hợp: “Trong tiếng Việt có rất nhiều từ giống với từ tố tự do nhưng tương đối ổn định về viết câu được quen dùng mà các từ tạo nên chúng đều có tính chất độc lập, có khi một từ trong số đó có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của từ tố được thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của các thành tố của chúng Sở

dĩ có thể quy những từ tố này vào cố định vì nếu so với các từ tố tự do, quan hệ giữa các từ tương đối ổn định Theo truyền thống, những từ trong những từ tố này được gắn với nhau và quen dùng” [30, tr.143]

Sau này tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học Tiếng Việt” [10] cũng coi quán ngữ là một bộ phận trung gian giữa các cụm từ tự do và các kiểu cụm từ

cố định Theo ông, về hình thức cũng như ý nghĩa, quán ngữ chẳng khác gì các cụm từ

tự do Nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong suy nghĩ

và diễn đạt Chúng được dung lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn Phạm vi bao quát của quán ngữ theo quan niệm của tác giả hẹp hơn quan niệm của tác giả Nguyễn Văn

Tu “Quán ngữ theo chúng tôi quan niệm là những cụm từ được lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón, hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào

đó Mỗi phong cách thường có nhũng quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ: Nói

Trang 18

bỏ ngoài tai, của đáng tội” thường được dung trong phong cách hội thoại Các quán ngữ như đã nói, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, trước hết, đáng chú ý, mặt khác là, v.v thường dùng trong phong cách sách vở [10, tr.109]

Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu thì quán ngữ là một bộ phận ngữ cố định Trong

cuốn “Giáo trình Từ vựng học Tiếng Việt [8] tác giả đã viết “Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật, họat động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu là

để đưa đẩy, liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón” [8, tr.80] Tác giả xếp tất cả các ngữ cố định có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động tính chất, trạng thái như “chuột sa chĩnh gạo, chuột sa

lọ mỡ” hay các ngữ có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một vật, một hoạt

động, một tính chất

Các tác giả Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán, Lê Hữu Tỉnh trong Tiếng Việt tập

1 - Giáo trình chính thức đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP12+2 đã đưa ra một quan niệm về quán ngữ gần với quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Quán ngữ là những cụm từ cố định có những đặc trưng rất gần với cụm từ tự do Đó là những cách nói, cách diễn đạt nhằm mục đích đưa đẩy, chuyển ý hay dẫn ý để mở đề hoặc gây chú ý, tạo tình huống giao tiếp, không khí giao tiếp” [20]

Cho đến bây giờ, những định nghĩa mà chúng tôi có được đa phần

tập trung ở địa hạt này Đỗ Hữu Châu phát biểu: “Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất, chưa có tên gọi Ngoài các thí dụ đã nêu, có thể dẫn thêm các Quán ngữ khác như : “ai cũng biết rằng”, “rõ ràng là”, “chắc chắn là” [5, tr.74]

Quán ngữ là một tổ hợp từ cố định được sản sinh trong quá trình giao tiếp Vì thế nó mang theo tất cả những đặc điểm được thể hiện trong giao tiếp và chịu sự chế định từ các yếu tố lời nói

Trang 19

Đó là những lối nói do sử dụng lâu ngày mà quen dần và trở lên ổn định về tổ chức hình thức và nghĩa Khác với thành ngữ, trong quán ngữ, các từ vẫn còn giữ được tính độc lập tương đối của chúng, vì thế thường ta có thể suy ra nghĩa của quán ngữ bằng cách tìm hiểu ý nghĩa của các từ hợp thành Nói chung, ta đều có thể giải thích lý

do cấu tạo của quán ngữ Và có thể thấy rằng mối quan hệ giữa các từ tạo thành quán ngữ không vững chắc như trong thành ngữ, do đó nhiều khi các quán ngữ được sử dụng giống như các cụm từ tự do

1.1.3 Quan niệm thành ngữ, quán ngữ của đề tài

1.1.3.1 Thành ngữ

Qua trên có thể thấy rằng đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tìm tòi trong nhiều năm qua, và mỗi người có một cách hiểu, một khái niệm của riêng mình Tuy nhiên chúng tôi quyết định chọn khái niệm trong “Từ điển Tiếng Việt” bởi tính phổ

biến của nó “Thành ngữ”: Là tập hợp từ ngữ cố định diễn đạt một ý nghĩa, một nội dung trọn vẹn Ví dụ : "tay xách nách mang", "một nắng hai sương", [27, tr.882]

1.1.3.2 Quán ngữ

Quán ngữ là một vấn đề không mới lạ trong nghiên cứu tiếng Việt song với nhiều người thì đây là một khái niệm lạ, ít được biết đến Qua việc tìm hiểu các đề tài nghiên cứu về quán ngữ từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác giả đều cho rằng quán ngữ mang tính cố định hoặc nửa cố định

Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu thì quán ngữ là một bộ phận của ngữ cố định Trong

cuốn “Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt'', tác giả đã viết: “Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu là

để đưa đẩy, liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón” [8, tr.80]

Trang 20

Tác giả Đỗ Hữu Châu xếp tất cả các ngữ cố định có tác dụng gọi tên sự vật,

hoạt động tính chất, trạng thái như chuột sa chĩnh gạo, chuột sa lọ mỡ hay các ngữ có

tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một vật, một hoạt động., một tính chất

một trạng thái như: mắt lươn, mắt phượng, dai như đỉa, chạy long tóc gáy vào một loại

gọi là ngữ danh hay thành ngữ Còn các quán ngữ chỉ bao gồm các ngữ đảm nhiệm chức năng ngoài nòng cốt câu như chức năng chuyển tiếp, chêm, xen kẽ

Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt hiện đại gọi quán ngữ là những từ tổ cố định tổ hợp “Trong tiếng Việt có một số từ rất gần với từ tổ tự do nhưng tương đối ổn định về kết cấu, được quen dùng mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính chất độc lập, có khi một từ trong đó có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của

từ tổ được thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ thành tố của chúng

Sở dĩ có thể quy những từ tổ này vào từ tổ cố định vì so với các loại từ tổ tự do, quan

hệ giữa các từ tương đối ổn định Theo truyền thống những từ trong những từ tổ này gắn với nhau và được quen dùng‟‟ [30]

Theo tác giả thì quán ngữ là bộ phận gần gũi với cụm từ tự do nhưng bởi có tính ổn định tương đối nên có thể xếp chúng vào loại từ tổ cố định Tác giả cho rằng

cụm từ “bạn nối khố‟‟ là một quán ngữ chỉ người bạn rất thân Các danh từ như “cười nụ‟‟ “bạn cố tri‟‟ “anh hùng rơm‟‟ “kỉ luật sắt‟‟ cũng được tác giả coi là quán ngữ Đồng thời các ngữ cố định như: lành như bụt, dốt đặc cán mai, giấu đầu hở đuôi, được voi đòi tiên” cũng được coi là quán ngữ

Sau này, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” [11]

cũng coi quán ngữ là một bộ phận trung gian giữa cụm từ tự do, và các kiểu cụm từ cố định Theo ông về hình thức cũng như về ý nghĩa, quán ngữ chẳng khác gì các cụm từ

tự do Nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong suy nghĩ

và diễn đạt Chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn Phạm vi bao quát của quán ngữ theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp hẹp hơn quan niệm của

tác giả Nguyễn Văn Tu: ''Quán ngữ theo chúng tôi quan niệm là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó Mỗi phong cách thường có những quán ngữ riêng,

Trang 21

chẳng hạn các quán ngữ: Của đáng tội, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, thường được dùng trong phong cách hội thoại, các quán ngữ: như đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, trước hết, một mặt thì, mặt khác thì, nghĩa là, đáng chú ý, thường được dùng trong phong cách sách vở'' [30]

Trong Từ điển tiếng Việt, quán ngữ là ''Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành ''Lên lớp'' “lên mặt'' '' lên tiếng”

đều là những quán ngữ trong tiếng Việt [27, tr.801]

Nhìn chung, quan niệm về quán ngữ của các tác giả từ trước đến nay đã khá đầy

đủ, cụ thể Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi theo quan điểm quán ngữ của Nguyễn Văn Tu, đồng thời tiếp thu những ý kiến của tác giả khác, chúng tôi tiến tới tìm hiểu chức năng của quán ngữ; khảo sát, phân tích vai trò của quán ngữ trong hoạt động giao tiếp nói chung, trong giao tiếp của giới trẻ nói riêng

1.1.4 Phân biệt cụm từ cố định (thành ngữ, quán ngữ) với các đơn vị lân cận

Trước hết, nếu so sánh một từ ghép điển hình với một cụm từ cố định điển hình ta thấy chúng đều giống nhau ở chỗ: Cùng có hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định; cùng có tính thành ngữ; cùng là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ

Ví dụ: sinh viên, học tập, đỏ rực, ngon lành, hoa hồng,… ăn ốc nói mò, mặt trái xoan, vênh váo như bố vợ phải đấm,…

Ở đây, tính thành ngữ là khái niệm chưa phải là tuyệt đối rõ ràng Nói chung, thường gặp nhất là cách hiểu như nhau: Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c,… hợp thành X = a + b + c +… Nếu ý nghĩa của X mà không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c,… thì người ta bảo kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ Vậy chứng tỏ rằng tính thành ngữ có các mức độ cao, thấp khác nhau trong các tổ hợp, kết cấu khác nhau, bởi vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đường, những phương sách rất khác nhau Đối chiếu với các ví

dụ nêu trên, ta sẽ thấy điều đó

Từ ghép với cụm từ cố định phân biệt, khác nhau ở chỗ:

Trang 22

+ Về thành tố cấu tạo: Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị, còn thành tố

cấu tạo của cụm từ cố định là từ So sánh:

VD: ễnh + ương -> ễnh ương (từ ghép)

bán + bò + tậu + ễnh + ương -> bán bò tậu ễnh ương (cụm từ cố định)

+ Về ý nghĩa: Nghĩa của cụm từ cố định được xây dựng và tổ chức theo lối tổ

chức nghĩa của cụm từ, và nói chung là mang tính hình tượng Chính vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào bề mặt, vào nghĩa của từng thành tố cấu tạo thì nói chung là không thể hiểu

được đích thực của toàn cụm từ Ví dụ: anh hùng rơm, đồng không mông quạnh, tiếng bấc tiếng chì,… Trong khi đó, đối với từ ghép, thì nghĩa định danh (trực tiếp hoặc gián tiếp) theo kiểu tổ chức nghĩa của từ lại là cái cốt lõi và nổi lên hàng đầu Ví dụ: mắt

cá (chân), đầu ruồi, chân vịt, đen nhánh, xanh lè, tre pheo, thuyền trưởng,…

Đối với cụm từ tự do, cụm từ cố định cũng có những nét giống nhau và khác nhau:

- Giống nhau:

+ Giống nhau do cả hai đều là cụm từ, được tạo lập bằng sự tổ hợp của các từ

+ Giống nhau về hình thức ngữ pháp Điều này dẫn đến hệ quả là quan hệ ngữ

nghĩa giữa các thành tố cấu tạo cũng giống nhau Ví dụ: nhà ngói cây mít; nhà tranh vách đất (cụm từ cố định); cháo gà cháo vịt; phở bò miến lươn (cụm từ tự do)

- Tuy vậy, quan sát kĩ thì thấy chúng khác nhau ở những mặt quan trọng:

+ Cụm từ cố định hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn Trong khi đó, cụm từ tự do được đặt ra trong lời nói, trong diễn từ (discourse) Nó hợp thành đấy, rồi tan đấy, vì nó không tồn tại dưới dạng một đơn vị làm sẵn Cụm từ tự do chỉ là một sự lấp đầu từ vào một mô hình ngữ pháp cho trước mà thôi Vì tồn tại dưới dạng làm sẵn nên thành tố cấu tạo cụm từ cố định có

số lượng ổn định, không thay đổi Ngược lại, số thành tố cấu tạo cụm từ tự do có thể

thay đổi tuỳ ý Ví dụ: mẹ tròn con vuông, mồm năm miệng mười,… số thành tố cấu tạo

Trang 23

luôn luôn ổn định Thế nhưng, một cụm từ tự do "những người cười" chẳng hạn, có thể

thêm bớt các thành tố một cách tuỳ ý để cho ta những cụm từ có kích thước khác

nhau: những người này – những người chưa nói đã cười này – những người vừa mới đến mà chưa nói đã cười này,… Về ý nghĩa, cụm từ cố định có ý nghĩa như một chỉnh

thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó Có nghĩa là nó có tính thành ngữ rất cao, còn cụm từ tự do thì không như vậy Ví dụ, chỉnh thể ý nghĩa của cụm từ

cố định: rán sành ra mỡ, méo miệng đòi ăn xôi vò, say như điếu đổ,… có tính thành ngữ cao đến mức tối đa, còn những cụm từ tự do như rán mỡ, miệng cười, say thuốc lào,… thì tính thành ngữ của chúng chỉ là zero

1.1.5 Phân biệt quán ngữ với thành ngữ

Quán ngữ và thành ngữ đều là những cụm từ đã được cố định hoá, nhưng giữa hai loại đơn vị này vẫn có điểm khác biệt Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì việc phân chia rạch ròi ranh giới của hai loại cụm từ này rất phức tạp Chúng tôi tạm đặt ra một số tiêu chí phân biệt quán ngữ với thành ngữ để làm cơ sở nghiên cứu

a) Về tính thành ngữ

Tính thành ngữ được tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau:

"Cho một tổ hợp có nghĩa S so các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt s [1],

s [2], s [3]… tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s [1]", s [2]", s [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ” [5, tr.72]

Lẽ đương nhiên các thành ngữ sẽ mang tính thành ngữ cao hay thấp, còn quán ngữ thì không có tính chất này Nghĩa của cả tổ hợp giống tổng hợp số nghĩa của các yếu tố cấu thành

Ví dụ: Cụm từ "đi guốc trong bụng” là một thành ngữ vì nghĩa của các đơn vị trong cụm từ không thể giải thích cho ý nghĩa cả cụm là "hiểu rất rõ suy nghĩ của người khác" Cụm từ "Đáng chú ý là" là một quán ngữ vì nghĩa của cả cụm chính là tổng số nghĩa của các từ đáng, chú ý, là

Trang 24

Hay thành ngữ có nghĩa khái niệm Và nghĩa của nó toát lên từ nghĩa của toàn

bộ tổ hợp, khác hơn, mới hơn so với tổng số nghĩa của các yếu tố trong tổ hợp

Như vậy, ở thành ngữ, nghĩa thống nhất thành một khối, có tính biểu trưng, tính

hình tượng, bóng bẩy về mặt ý nghĩa Thành ngữ Cá nằm trên thớt nói lên tình trạng

nguy hiểm có thể de dọa sự sống còn

Còn nghĩa của phần lớn quán ngữ đều là nghĩa chức năng, nghĩa tình thái Một

số quán ngữ có tính thành ngữ thấp, đã bị mờ đi, không còn được hiểu là tính thành ngữ Cách hiểu quán ngữ thường không theo cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh như thành ngữ mà gắn liền với từng cách dùng của nó

b) Về kết cấu

Thành ngữ thường có bộ phận trung tâm và những thành phần phụ bổ sung ý nghĩa của thành phần trung tâm những sắc thái phụ, ý nghĩa của thành phần trung tâm cũng là ý nghĩa nòng cốt của cả cụm từ Ví dụ: Thành phần trung tâm của thành ngữ

"Thần hồn nát thần tính" là "khủng hoảng", các thành phần phụ là "do chính những ảo tưởng, những ý nghĩa ma quái nẩy sinh từ trong đầu óc mình gây ra nhân khi tâm hồn mình không ổn định"

Thành ngữ thường có 3 thành tố trở lên (phổ biến là 4 thành tố), có đối, có điệp,

có vần điệu, kết hợp với nhau theo một số quy luật nhất định, có cấu trúc đối xứng

Chẳng hạn: Xanh vỏ đỏ lòng Trong cấu trúc thường có xuất hiện từ như (trong TN so

ngữ Do vậy, một số trường hợp nếu thêm vào, bớt đi trong kết cấu của chúng một đơn

vị hay thay thế một kết cấu tương đương khác cũng không ảnh hưởng gì đến ý nghĩa

Trang 25

chức năng của chúng Ví dụ: Các quán ngữ có động từ nói như: nói tóm lại có thể thay thế bằng nói ngắn gọn, nói một cách ngắn gọn,, nói chung,

c) Về chức năng

Thành ngữ có chức năng định danh, chúng vừa có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái… chưa có tên gọi cụ thể Nghĩa của phần lớn quán ngữ đều

là nghĩa chức năng, nghĩa tình thái Một số quán ngữ có tính thành ngữ thấp, đã bị mờ

đi, không còn được hiểu là tính thành ngữ Cách kiểu quán ngữ thường không theo cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh như thành ngữ mà gắn liền với từng cách dùng của nó

Ví dụ có trường hợp "chờ quá lâu, quá sức chịu đựng" được diễn đạt bằng ngữ

"chờ hết nước hết cái", vừa có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một sự vật,

một hoạt động, một tính chất, một trạng thái vừa có thể định danh Hoặc trường hợp

“dai dẳng, không dứt”, được diễn đạt bằng dai như đỉa, dai như chão, dai như chó nhai giẻ rách… thể hiện tính chất dai của các sự vật, hoạt động khác nhau… Hay hiện tượng chạy nhanh, ta có chạy long tóc gáy, chạy rống bãi công, chạy như cờ lông công… miêu tả các tình thế, các dạng chạy khác nhau…

Nhìn chung các thành ngữ đều có chức năng miêu tả, sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái được gọi tên, vừa thể hiện thái độ, tình cảm của người dùng đối với các sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất

Trong khi đó, quán ngữ là các ngữ cố định không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu là để đưa đẩy, để liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung nào đó cần truyền đạt Quán ngữ không làm thành phần chính trong nòng cốt câu mà đảm nhiệm các chức năng

ngoài nòng cốt như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tính thái Ví dụ như các quán ngữ: Một mặt là…, mặt khác là…, nói cách khác…, chắc chắn là…,dễ thường… xin bỏ ngoài tai, khổ nỗi, suy cho cùng,……

1.1.6 Phân biệt quán ngữ với từ nối:

Trang 26

Trong tiếng Việt, từ nối (hay còn gọi là các quan hệ từ) có chức năng nối kết các thành phần trong câu, nối các câu và các đoạn văn trong văn bản Đó là các từ như:

tất nhiên, tuy vậy, do đó, vì vậy,…

a) Điểm giống nhau giữa quán ngữ và từ nối là chúng đều là các tổ hợp từ cố định; đều có chức năng liên kết các câu, các đoạn văn

b) Điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là:

+ Quán ngữ vừa có chức năng liên kết vừa có chức năng đưa đẩy, rào đón; còn

từ nối đơn thuần chỉ mang chức năng liên kết

Chẳng hạn ta so sánh ví dụ sau:

- Hơn nữa, xét theo góc độ “người dân được làm những gì pháp luật không cấm”, thì nguyên tắc “im lặng là đồng ý” phải đương nhiên được áp dụng rộng rãi chứ

không chỉ ở mức khuyến khích

- Rõ ràng đó là món đồ hay nhất tôi mua được ở đây

- Dù vậy, đất sống cho ca trù Sài Gòn thật sự không nhiều

(Trích nguồn từ Báo Tuổi trẻ)

Ở đây, ta thấy: “Hơn nữa” “rõ ràng” là liên kết diễn giải, đệm thêm để hiểu rõ hơn nội dung của mệnh đề “Đương nhiên”, “Dù vậy” chỉ đơn thuần liên kết khi thể

hiện quan hệ nhân quả

+ Quán ngữ liên kết thường là những tổ hợp có nhiều yếu tố Như đã nói ở trên, quán ngữ được tạo thành là do chúng ta dùng lâm thời rồi cố định hóa thành các quán ngữ; còn từ nối thường ngắn gọn và cố định được tạo ra cùng với những đơn vị từ tiếng Việt So sánh hai ví dụ:

- Như anh đã nói đó thôi, nghề môi giới cầu thủ đòi hỏi mối quan hệ cực tốt

với giới bóng đá và cầu thủ, mà tôi thì chỉ mới tập chập chững vào nghề

Trang 27

(Trích nguồn từ Báo Tuổi trẻ)

Ta thấy rằng với quán ngữ “như đã nói” hoặc “như đã nói trên”,…ta có thể

chêm xen hay tách ghép chúng (ta có thể nói “như anh đã nói đó thôi”, “như tôi đã nói

ở trên”) nhưng với các từ nối “bởi vì”, “sở dĩ”,…thì chúng ta không thể chêm xen hay

tách chúng ra được

+ Quán ngữ liên kết thường là những tổ hợp có nhiều yếu tố Như đã nói ở trên, quán ngữ được tạo thành là do chúng ta dùng lâm thời mà cố định hóa; còn từ nối thường ngắn gọn và cố định được tạo ra cùng với các đơn vị từ tiếng Việt Chẳng hạn,

quán ngữ liên kết thường là các tổ hợp như: suy cho cùng, nói tóm lại, có thể nói rằng, cam đoan rằng, cần phải nói thêm rằng, có thể tóm tắt như sau,…Còn từ nối thường là: do đó, vì vậy, cho nên, tất nhiên, đương nhiên, bởi vì, sở dĩ, dù vậy,…

1.1.6 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị có sẵn trong lời nói Chúng được sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt của xã hội Chúng có tính cố định và cũng mang tính sẵn có chính vì những nét chung đó làm cho nhiều người khó khăn trong việc nhận diện thành ngữ với tục ngữ Tuy nhiên, thành ngữ và tục ngữ là hai cấp độ khác nhau Cho nên mỗi loại có những đặc điểm riêng cần được xác định rõ ràng Sự khác nhau giữa thành ngữ với tục ngữ có thể dựa vào 3 cấp độ sau:

a) Cú pháp: xét về mặt cấu tạo sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ

là ở cấp độ Thành ngữ nằm ở cấp độ thấp hơn tục ngữ Bởi vì hầu hết thành ngữ có cấu tạo là cụm từ, còn tục ngữ hầu hết có cấu tạo là câu

Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ: Anh hùng rơm; Bạn nối khố;

Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ: Chạy long tóc gáy; Ném đá dấu tay Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ: Dai như đỉa đói; Chậm như rùa; Bầm gan tím ruột;

Trang 28

Trong khi đó tục ngữ là câu: Cái nết đánh chết cái đẹp; Thật thà là cha quỷ sứ; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây;

Do thành ngữ ở cấp độ thấp hơn tục ngữ nên trong nhiều trường hợp tục ngữ lấy thành ngữ làm yếu tố cấu tạo nên nó

Ví dụ: Mẹ gà con vịt chắt chiu/Mấy đời mẹ ghẻ nâng niu con chồng (Tục ngữ); Trông mặt mà bắt hình dong/Con lợn có béo thì lòng mới ngon (Tục ngữ)

Trong nhiều trường hợp, thành ngữ và tục ngữ có sự lồng chéo Nhiều thành ngữ có cấu tạo là kết cấu chủ vị (c-v) thậm chí là hai kết cấu c-v, có điều chức năng của nó vẫn là ngữ, hoạt động trong câu như từ

Ví dụ : ăn nói nên cẩn thận coi chừng nhà có ngạch vách có tai; Nhà có

ngạch, vách có tai; Ông ăn chả, bà ăn nem; …

Nhưng có khi tục ngữ lại có cấu tạo là cụm từ

Ví dụ: Lời nói đọi máu

Như thế nếu chỉ dựa vào cấu tạo, trong nhiều trường hợp ta khó phân biệt đâu

là thành ngữ đâu là tục ngữ Muốn vậy ta phải phân biệt chúng ở mặt thứ hai là mặt chức năng ngữ nghĩa

b) Ngữ nghĩa: Thành ngữ là đơn vị từ vựng mang tính hoàn chỉnh về nghĩa Nội dung của thành ngữ là những khái niệm Do đó chức năng của nó là chức năng định danh Tục ngữ là câu với ý nghĩa trọn vẹn và hoàn chỉnh Nội dung của tục ngữ là những phán đoán Do đó nó có chức năng thông báo Nghĩa của thành ngữ tương đương với nghĩa của từ, cụm từ; trong khi nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về chân lí, lẽ thường, tư tưởng hoàn chỉnh Quan hệ nội dung giữa thành ngữ và tục ngữ là quan hệ giữa khái niệm với phán đoán

3) Hành chức: thành ngữ có nghĩa tương đương một từ, được sử dụng để cấu tạo câu hoặc phát ngôn Tục ngữ tạo câu một cách độc lập

Trang 29

Ví dụ: Xét những câu có chữ "sống" và chữ "chết":

1- Sống lâu hơn giàu lâu (sức khỏe quý hơn của cải);

2- Sống chết có số (con người không làm chủ được sự sống chết của mình, vậy nên an nhiên mà sống cho phải đạo làm người);

3- Sống cái nhà, già cái mồ (già ở đây có nghĩa là chết Khi sống, người ta cần ngôi nhà cho rộng rãi tiện nghi, khi chết đi, cần có ngôi mộ cho tươm tất Câu này có ý biện minh cho những việc cố công làm nhà cửa và xây sinh phần trong phong tục của người Việt Nam Cũng có ý khuyên con cháu nên lo cho cha mẹ, ông bà về nơi cư trú khi sống và nơi an nghỉ khi qua đời);

4- Sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách (tịch sàng là chiếu giường; quan quách là hòm chôn người Ca ngợi và khuyến khích tình nghĩa keo sơn); 5- Chết vinh hơn sống nhục = Sống đục sao bằng thác trong (mạng sống là trọng, nhưng cũng có khi con người phải chọn cái chết để bảo toàn danh dự);

6- Chết bờ chết bụi = Chết đường chết chợ (cực tả cảnh khốn cùng không nhà cửa, không người thân, lúc cuối đời của những người bất hạnh);

7- Thập tử nhất sinh (trong hoàn cảnh nguy hiểm, muời phần chết một phần sống);

8- Chạy bán sống bán chết (chạy thoát thân trong hoàn cảnh vừa nguy hiểm vừa khẩn cấp);

9- Chết đứng như Từ Hải (gặp chuyện bất ngờ khó xử, không biết phải nói năng đối phó ra sao, chỉ đứng lặng thinh; cũng nói là "đứng chết trân");

10- Sống vất sống vưởng (cực tả cảnh sống khổ cực lê la của một người khốn cùng)

Trang 30

Ở đây, ta thấy năm câu đầu (1-5) có ý khuyên bảo; năm câu sau (6-10) chỉ mô

tả Những câu đầu là "tục ngữ"; những câu sau là "thành ngữ"

Thật ra, ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ không luôn luôn rõ ràng như đối với những câu vừa nêu Có thể khẳng định điểm giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ

là ở tính cố định, có sẵn Sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ chỉ có tính chất tương đối Bởi ở những điều kiện sử dụng cụ thể vẫn xảy ra hiện tượng đơn vị này được dùng như

đơn vị kia Ví dụ: được voi đòi tiên, già kén kẹn hom,…

1.2 Cấu trúc thành ngữ, quán ngữ

1.2.1 Phân loại – cấu trúc thành ngữ

Có nhiều cách phân loại thành ngữ Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh

và thành ngữ miêu tả ẩn dụ

1.2.1.1 Thành ngữ so sánh

Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh Ví

dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,… Mô hình tổng quát

của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

a) A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt,…

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ Chúng có thể có các kiểu:

b) A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh

Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,…

Trang 31

c) (A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có

mặt Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ

Ví dụ:

Ăn ở với nhau

Xử sự với nhau

Giữ ý giữ tứ với nhau

như mẹ chồng với nàng dâu

Chúng nó suốt ngày cãi nhau như chó với mèo

Nó làm gì như gà mắc tóc chẳng đâu ra đâu

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,

Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:

+ Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên

cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được "nhận

ra" A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành

động, nào đó Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác

+ Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những

từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày, (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt, ) chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi

Trang 32

+ Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thong qua A Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ,

cũng tương tự như vậy

Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái, được nêu ở B phản ánh khá rõ

nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó

+ Vế B có cấu trúc không thuần nhất:

B có thể là một từ Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,

B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề) Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,

Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:

Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc so sánh

bậc hơn Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),

Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng, ) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thông thường, rất đa

dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như là, hơn, hơn là,

Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết với từ so sánh Ví dụ: Kết hợp

với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc như là dao cau

Trang 33

Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào ( ) khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng

Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách giản dị như đã nêu trên Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững

về mặt cấu trúc và ý nghĩa

1.2.1.2 Thành ngữ miêu tả ẩn dụ

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một

sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ

Ví dụ: Xét thành ngữ "Ngã vào võng đào" Cấu trúc của thành ngữ này cho

thấy: (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt này, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp)

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

a) Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện Trong các thành ngữ này,

chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu Chính vì vậy, cũng chỉ một hình

ảnh được xây dựng và phản ánh Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo, Nước đổ

Trang 34

đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,

b) Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng Ở đây, trong

mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh Chúng

tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối) Ví dụ: Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,

c) Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản Ngược lại với

loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản

nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau Ví dụ: Các thành ngữ Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng

Vì người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu Ngay ở bậc từ

ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác

như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc, nhanh chóng mang dáng dấp của các thành ngữ và rất

hay được sử dụng

1.2.2 Phân loại - cấu trúc quán ngữ

Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón,

để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác, Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu

trúc của quán ngữ không được như thành ngữ Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng

Trang 35

được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn

Việc phân loại quán ngữ có thể tiến hành theo một số tiêu chí như sau:

- Căn cứ vào kiểu cấu tạo của quán ngữ

- Căn cứ vào vị trí ngữ pháp trong câu của quán ngữ

- Căn cứ vào mức độ tính cố định và tính thành ngữ của QN

- Căn cứ vào công dụng của QN

- Căn cứ vào phạm vi và tính chất phong cách

Cần nói thêm là mọi sự phân chia chỉ có tính chất tương đối, bởi luôn tồn tại những đơn vị trung gian, đơn vị đa nghĩa, đa chức năng Sự phân biệt từ ghép - thành ngữ – quán ngữ – cụm từ tự do cùng với sự phân loại quán ngữ cũng không ngoại lệ

Nguyễn Thị Thìn [29] đi sâu vào cách phân loại căn cứ vào công dụng của

quán ngữ Theo đó, tác giả đã chia quán ngữ thành bốn loại: Quán ngữ dùng chủ yếu

trong chức năng nghĩa học; Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng dụng học; Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng liên kết văn bản

a) Quán ngữ chủ yếu dùng trong chức năng nghĩa học: Là những quán ngữ

thường chỉ là tên gọi bổ sung, không phải là tên gọi chính thức của hiện thực khách quan được biểu thị như thực từ hay tổ hợp từ tự do Những cái tên gọi bổ sung này, trong một số ngữ cảnh cụ thể, lại tỏ ra đắc dụng hơn là tên gọi chính thức bởi tính có

cấu trúc và tính khẩu ngữ tự nhiên của nó Ví dụ: ba xây, ba chống, hai tốt, ba đảm đang, ba sôi hai lạnh, bằng được, phải lòng,…

b) Quán ngữ chủ yếu dùng trong chức năng dụng học: Còn gọi là quán ngữ

tính thái Loại quán ngữ này khá phong phú về số lượng cũng như về khả năng thể hiện

ý nghĩa tình thái dụng học

Trang 36

c) Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng liên kết văn bản: Tuy tần số sử

dụng ít hơn so với một số loại phương tiện liên kết khác như quan hệ từ, đại từ nhưng các QN thuộc loại này vẫn khẳng định được sự cần thiết của mình trong chức năng liên kết văn bản, bởi khả năng biểu thị những mối quan hệ nghĩa mà những phương tiện

khác không thể thay thế được Ví dụ: nhìn chung, trong khi đó, mặt khác, hơn nữa, nói tóm lại, nói cách khác, trước hết,…

d) Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng: Những quán ngữ thuộc loại đang

xét thường là hình thức thể hiện tổng hợp của một số thành phần nội dung khác nhau: nội dung nghĩa học, nội dung quan hệ Với chúng ranh giới giữa phạm trù nghĩa học -

phạm trù dụng học trở nên không hoàn toàn minh xác Ví dụ: biết tay, chi phải, lấy được, hết ý, biết đâu, biết đâu đấy,…

Cùng với tình thái từ, chúng thực sự trở thành loại phương tiện thông dụng và

hữu hiệu nhất trong chức năng dụng học Ví dụ: nói bỏ ngoài tai, của đáng tội, công bằng mà nói, chả trách (gì), xem chừng, có lẽ nào, may ra, chưa biết chừng,…

Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng, như sau:

+ Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói ( ) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,

Ví dụ:

- Tôi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được (…) một cô đầu lê bước ra

hé cửa Tối lắm, phải vạ gì mà đi bây giờ (Tuyển tập Truyện ngắn Thạch Lam,

tr.162)

Với những quán ngữ dùng trong phong cách này, chức năng chủ yếu của chúng là đưa đẩy, rào đón,… còn chức năng liên kết cũng có nhưng rất mờ nhạt

Trang 37

+ Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận, )

hoặc diễn giảng như: Nói tóm lại, Có thể nghĩ rằng, Ngược lại, Một mặt thì, Mặt khác thì, Có nghĩa là, Như trên đã nói, Có thể cho rằng, Như sau, Như dưới đây, Như đã nêu trên, Sự thực là, Vấn đề là ở chỗ, Với những quán ngữ loại này, chúng ta gọi là

quán ngữ liên kết

Ví dụ:

- Nhìn chung về kinh tế thế giới, hiện nay nhiều quốc gia vẫn còn khó khăn dù

có dấu hiệu phục hồi

- Nói chung, trình độ chuyên nghiệp ở tất cả các mặt rất cao, làm thật ăn thật

Trong quán ngữ loại này, ngoài chức năng liên kết, quán ngữ liên kết cũng biểu thị chức năng rào đón, đưa đẩy,… nhưng chức năng đó của quán ngữ không nổi

rõ như loại quán ngữ dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ nói trên

Dựa vào vị trí của quán ngữ trong liên kết ta chia làm ba loại như sau:

+ Quán ngữ liên kết được dùng để mở đầu câu được gọi là khởi ngữ: trước tiên, một là, hai là, thứ nhất là,…

+ Quán ngữ đứng ở giữa câu thường mang nhiều chức năng khác nhau như:

nhấn mạnh, giải thích, chuyển ý, minh họa: tức là, nghĩa là, đặc biệt là, đáng chú ý là, chẳng hạn như,…

+ Quán ngữ đứng ở cuối câu thường mang chức năng hồi cố, tức là đưa người đọc trở lại với những vấn đề đã nhắc ở phần trước Chín những quán ngữ này giúp cho người viết có thể kết luận nhưng không cần thiết nhắc lại những vấn đề đó lại

Dựa vào vị trí của quán ngữ trong câu, chúng ta có thể chia quán ngữ thành 3 loại như sau:

+ Quán ngữ nằm ở đầu câu (gọi là khởi ngữ) có chức năng liên kết câu: đầu tiên, thứ nhất là, thứ hai là…

Trang 38

+ Quán ngữ nằm ở giữa câu có nhiều chức năng như nhấn mạnh, giải thích,

chuyển ý hay minh họa cho vấn đề được nói đến: tức là, nghĩa là, đặc biệt là, đáng chú

ý là, chẳng hạn như…

+ Quán ngữ nằm ở cuối câu thường có chức năng hồi quy, đưa người đọc quay

là vấn đề đã nói trước đó hay nói cách khác, quán ngữ này giúp ta kết luận lại, tóm ý

lại vấn đề, chẳng hạn như: nói tóm lại, nhìn chung…

Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua được, và chức năng của chúng có thể chứng minh được Tình trạng đa dạng

và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm

từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ

cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại Như vậy, quán ngữ được nhiều nhà nghiên cứu coi là một loại cụm từ cố định bởi tính chất lặp lại của nó Tuy nhiên xét về hình thức và về ý nghĩa, quán ngữ lại chẳng khác gì các cụm từ tự do nên có nhiều ý kiến cho rằng quán ngữ là bộ phận trung gian giữa cụm từ

tự do và cụm từ cố định Thực tế thì vị trí của quán ngữ thực hiện chức năng liên kết trong văn bản là rất linh hoạt Cùng một quán ngữ nhưng có khi nó đứng đầu phát ngôn, khi đứng giữa phát ngôn, khi lại đứng ở cuối phát ngôn Điều này phụ thuộc vào từng ngữ cảnh và nội dung văn bản thể hiện

Cấu trúc của quán ngữ: Vì các quán ngữ đều xuất phát từ một cách nói tự do

và được tái sử dụng nhiều lần, dần dần ổn định về ngữ nghĩa và hình thức Hay quán ngữ chịu áp lực của nghĩa ban đầu, trong một vài tình huống cụ thể được lặp lại và sản sinh nghĩa mới và về hình thức cũng có sự thay đổi đôi chút, nhưng có tính ổn định về chỉnh thể, các thành tố không thể tách rời nhau, không thể thay thế Nên cấu trúc của quán ngữ vừa cố định vừa đa dạng Quán ngữ được hiện thực chủ yếu bằng từ, cụm từ,

phần lớn khó xác định từ trung tâm, ít có kết cấu câu: Nói tóm lại là, Thực ra là, Một

là, Một mặt là, Nói cách khác, Chắc chắn là, Xin bỏ ngoài tai, Dễ thường… Nhìn

chung, chúng ta có thể khái quát cấu trúc của quán ngữ như sau:

Trang 39

- Quán ngữ có cấu trúc so sánh: như đã nói, như chúng ta đã biết, như đã chứng minh, …

- Quán ngữ có cấu trúc câu: ai cũng biết rằng, chúng ta biết rằng, …

1.2.3 Cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại

Có thể thấy vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại chưa dành được sự quan tâm nhiệt tình của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam Có lẽ vì thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại không có nhiều biến động trong cấu trúc Thực tế, nếu đi sâu vào vấn đề này

sẽ cung cấp cho người đọc một vốn ngữ liệu liên quan đến thành ngữ, quán ngữ mới cũng như hiểu được những biến chuyển trong đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 Bởi đây là thời kỳ biến động trong lịch sử nước nhà Đồng thời đưa ra một số lời giải thích mang tính chất gợi mở về vấn đề này

1.2.3.1 Cấu trúc của thành ngữ thời hiện đại

Chúng tôi cũng quan niệm rằng thành ngữ thời hiện đại là tổ hợp từ trước hết phải mang những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tức là tính ổn định về thành phần từ vựng và cấu trúc, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Thành ngữ thời hiện đại là những tổ hợp từ cố định được dùng đi dùng lại nhiều lần do thói quen của người sử dụng, chúng là đơn vị xuất hiện trong khoảng khoảng mấy chục thập kỷ trở lại đây, phản ánh phẩm chất đạo đức, tư duy lối sống và cách nhìn của nhân dân trong thời cuộc mới Trước hết, chúng tôi tập trung chủ yếu xét cấu trúc của thành ngữ và phân loại cấu tạo thành ngữ hiện đại thành những kiểu cấu tạo như sau dựa trên quan điểm của các nhà ngôn ngữ học đi trước:

Trang 40

quát sau: AXBY Ví dụ: Ăn no ngủ kĩ

Có thể thấy hai vế của thành ngữ đối xứng thời hiện đại có sự đối xứng về cấu trúc, từ loại và nghĩa nên khi xét cấu tạo, chúng tôi chỉ xét một vế và coi đó là phương thức cấu tạo của cả hai vế cũng như của cả thành ngữ

a 1 Vế của thành ngữ có cấu tạo theo cấu trúc: Cụm danh từ (Danh từ + định tố)

Ở kiểu cấu trúc này, chúng ta có thể phân chia thành những cấu tạo nhỏ hơn:

- Định tố là danh từ (Xd, Yd)

Vd: Má văn công, mông bộ đội

Ngày đăng: 22/12/2017, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w