1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu cảnh huống song ngữ việt hoa ở cộng đồng người hoa tại địa bàn TP hồ chí minh

80 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 754,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào năm 2016, GS.TS Nguyễn Văn Khang đã xuất bản công trình khoa học mang tên Ngôn Ngữ Học Xã hội, không dừng lại ở các nội dung lí thuyết, mỗi nội dung khoa học đều được tác giả nhìn n

Trang 1

MỤC LỤC CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2 Lịch sử hình thành hiện tượng song ngữ Việt- Hoa tại TP Hồ Chí Minh 18 1.3 Khái quát về tiếng Hán và phương ngữ Hán liên quan đến đề tài nghiên cứu 25 1.4 Tình hình sử dụng song ngữ Việt- Hoa của người Hoa tại TP Hồ Chí Minh 31

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CẢNH HUỐNG SONG NGỮ VIỆT- HOA Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TẠI KHU VỰC QUẬN 5 , QUẬN 6 VÀ QUẬN 11

2.1 Đánh giá chung về năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng song ngữ trong

giao tiếp của người Hoa ở quận 5, quận 6 và quận 11 39 2.2 Kết quả khảo sát cảnh huống song ngữ Việt- Hoa của người Hoa tại quận 5,

2.3 Chiến lược ngôn ngữ trong giao tiếp song ngữ Việt- Hoa của cộng đồng

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

SONG NGỮ VIỆT - HOA

3.1 Bảo tồn và phát huy song ngữ Việt- Hoa trong giao tiếp 56 3.2 Bảo tồn và phát huy song ngữ Việt- Hoa trong văn hóa - nghệ thuật 57 3.3 Bảo tồn và phát huy song ngữ Việt- Hoa trong dạy học tại nhà trường 59

Trang 2

TỔNG KẾT 64

Trang 3

BẢN TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

<TÌM HIỂU CẢNH HUỐNG SONG NGỮ VIỆT- HOA Ở CỘNG ĐỒNG

NGƯỜI HOA TẠI ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH>

Mã số: <SV2016-13>

1 Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)

Trong giáo dục hiện nay, ngoài việc học tiếng Việt và chữ quốc ngữ, học sinh sinh viên phải được học tập và tiếp thu thêm ngoại ngữ Hiện nay ngoại ngữ đã trở thành một bộ môn chính trong hệ thống môn học ở nhà trường, trong đó tiếng Trung Quốc cũng được áp dụng một cách rộng rãi và chọn lọc để đáp ứng nhu cầu ngoại ngữ cho con em người Việt cũng như con em người Hoa trên địa bàn cả nước Việc nghiên cứu hiên tượng song ngữ Việt - Hoa sẽ góp phần đáng kể vào công cuộc nghiên cứu

về giáo dục tiếng Hoa tại nhà trường ở nước ta nói chung và tại TP Hồ Chí Minh nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu: Thông qua việc khảo sát cảnh huống song ngữ Việt- Hoa, từ đó chung tay góp phần vào việc nghiên cứu hiện tượng đa ngữ của ngôn ngữ học xã hội

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các thầy cô, các bạn sinh viên và những ai muốn nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội cũng như các vấn đề thuộc

về văn hóa- dân tộc

3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu

Ngoài phần mục lục, danh mục cách chữ viết tắt, mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính sẽ được triển khai cấu trúc thành ba chương

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh - đối chiếu

5 Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo khoa học, phần mềm máy tính, quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế, …)(nếu có)

Tìm hiểu và khảo sát được tình hình sử dụng song ngữ Việt- Hoa của cộng đồng người Hoa tại TP Hồ Chí Minh để đưa ra các kiến nghị, phương hướng cho sự bảo tồn

và phát huy ngôn ngữ của người Hoa Từ đó phát triển giáo dục song ngữ và giáo dục ngôn ngữ thông qua các loại hình nghệ thuật truyền thống, đồng thời cũng gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa giữa Việt Nam- Trung Hoa

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Dân số dân tộc Hoa ở Nam Bộ phân theo giới tính Bảng 1.2 Dân số người Hoa ở Nam Bộ

Trang 6

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Công trình này đã khảo sát được cách dùng và mức độ sử dụng tiếng Việt và tiếng Hoa của cộng đồng người Hoa tại TP Hồ Chí Minh , đồng thời đưa ra được phương hướng và kiến nghị để phát triển, bảo tồn song ngữ Việt- Hoa trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong giáo dục và trong văn hóa nghệ thuật

Trang 7

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài ( Đánh giá những kết quả trước đây, những vấn đề

đang đặt ra có liên quan đến đề tài; sự cần thiết của đề tài )

Lịch sử vấn đề:

Đề tài về ngôn ngữ, văn hóa của người Hoa ở miền Nam nói chung và ở khu vực TP Hồ Chí Minh nói riêng là một mảng đề tài thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước Như ta thấy những công trình tiêu biểu có thể kể đến như sau:

Trước năm 1975, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam của Tsai Maw Kuey

(1965) là luận án tiến sĩ Đại Học Sorbonne - Pháp, tác giả nghiên cứu và nêu lên được

rõ nét tình hình phát triển, kinh tế, xã hội văn hóa của người Hoa ở miền Nam Việt

Nam Bên cạnh đó còn có Đào Trinh Nhất với tác phẩm Thế lực khách trú và vấn đề

di dân vào Nam Kì cũng phản ánh chân thật và rõ nét bối cảnh, lịch sử di dân của

người Hoa tại miền Nam Việt Nam

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kì xây dựng và đổi mới, vị thế của

người Hoa ngày càng quan trọng và ảnh hưởng đến nhiều mặt trong xã hội, Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam của Châu Hải đã nêu lên được giá trị văn hóa, nếp

sống, sinh hoạt và hoạt động văn hóa của người Hoa thời điểm đó

Và mãi đến 1994, Mạc Đường xuất bản cuốn Xã hội người Hoa ở TP Hồ Chí Minh sau 1975 mới nhắc đến nhiều khía cạnh hơn về người Hoa và đặc biệt bắt đầu đề

cập đến vấn đề giáo dục của người Hoa

Vào năm 2016, GS.TS Nguyễn Văn Khang đã xuất bản công trình khoa học

mang tên Ngôn Ngữ Học Xã hội, không dừng lại ở các nội dung lí thuyết, mỗi nội

dung khoa học đều được tác giả nhìn nhận, gắn với đời sống thực tế của các ngôn ngữ

cụ thể, đặc biệt là các ngôn ngữ ở Việt Nam như tiếng Việt- chữ Việt, tiếng nói- chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Chú trọng tới sự tương tác giữa xã hội với ngôn ngữ, vận dụng lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội Đây là một nghiên cứu có giá trị thực tiễn về song ngữ

Gần nhất là vào năm 2015, Cảnh huống song ngữ Việt Hoa tại đồng bằng sông Cửu Long của tác giả Tiến sĩ Hoàng Quốc ra đời Nó thể hiện rõ nét về đặc điểm sử

dụng ngôn ngữ tại từng khu vực, mô tả nên bức tranh tổng quát về người Hoa và tiếng Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long, đi sâu vào nghiên cứu hành vi ngôn ngữ cụ thể tại Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Để nối tiếp con đường nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội, chúng tôi muốn đóng góp thêm sức lực và cũng như để có cái nhìn mới về hiện tượng song ngữ Việt- Hoa

Trang 8

Sự cần thiết và tính cấp thiết của đề tài :

Đất nước Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ và đa văn hóa Về việc thống nhất lãnh thổ, Việt Nam còn thống nhất và bình đẳng ngôn ngữ, chọn tiếng Việt là quốc ngữ để sử dụng chung cho tất cả các vùng miền trên toàn lãnh thổ Nhưng bên cạnh sử dụng chữ Việt làm chữ quốc ngữ, các dân tộc ở nước ta đều giữ gìn, phát huy chữ và tiếng của dân tộc của mình Do quá trình du nhập của các nền văn hóa, cũng như sự nhập cư của cư dân từ phương bắc, tiếng Hoa của dân tộc Hoa- một trong

54 dân tộc ở Việt Nam- được xem như tiếng mẹ đẻ thứ hai của dân tộc này

Người Hoa ở Việt Nam chiếm tỷ lệ dân số đông thứ tám trên tổng dân số, và cùng song hành với tiếng Việt; tiếng Hoa hiện nay được sử dụng rộng rãi ở nước ta Việc nghiên cứu về tiếng Hoa sẽ cho chúng ta tiếp cận gần hơn với văn hóa, bản sắc, lịch sử của địa phương, vùng miền cũng như cung cách sống thường nhật của người Hoa tại địa bàn nghiên cứu

Để bảo tồn bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết, hiện tượng song ngữ Việt- Hoa cũng từ đó mà hình thành, nó trở thành công cụ chính yếu trong việc giao tiếp, thông tin cũng như truyền tải tư tưởng, nhưng cho đến nay, đề tài này vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi

Với sự phát triển về kinh tế- xã hội, đất nước ngày càng tiến bộ và việc tiếp cận với ngoại ngữ là bước đầu để phát triển và hội nhập Chính vì thế trong giáo dục, ngoài việc học tiếng Việt và chữ quốc ngữ, học sinh sinh viên phải được học tập và tiếp thu thêm ngoại ngữ Hiện nay ngoại ngữ đã trở thành một bộ môn chính trong hệ thống các môn học ở nhà trường và trong đó tiếng Hoa cũng được đưa vào giáo dục một cách rộng rãi và chọn lọc để đáp ứng nhu cầu ngoại ngữ cho con em người Việt cũng như con em người Hoa trên địa bàn cả nước Việc nghiên cứu hiện tượng song ngữ Việt- Hoa sẽ góp phần đáng kể vào công cuộc nghiên cứu về giáo dục tiếng Hoa tại TP Hồ Chí Minh nói riêng và ở nước ta nói chung

Đối với bài nghiên cứu này, chúng tôi chọn địa bàn TP Hồ Chí Minh, cụ thể là các quận: 5, 6, 11, nơi cộng đồng người Hoa tập trung đông nhất làm đối tượng khảo sát: “TÌM HIỂU CẢNH HUỐNG SONG NGỮ VIỆT- HOA Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TẠI ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH.”

Mục tiêu đề tài

Mục tiêu chung:

Mục tiêu: Thông qua việc khảo sát cảnh huống song ngữ Việt- Hoa, chúng tôi

Trang 9

muốn góp phần xây dựng và nghiên cứu hiện tượng song ngữ Việt- Hoa ở địa bàn TP

Hồ Chí Minh, từ đó chung tay góp phần vào việc nghiên cứu hiện tượng đa ngữ của ngôn ngữ học xã hội

Mục tiêu cụ thể:

Giúp ích cho sinh viên hiểu thêm kiến thức xã hội, nâng cao trình độ học vấn, trau dồi thêm vốn kiến thức về ngôn ngữ học rèn luyện kĩ năng quan sát, xử lý và tiếp thu chọn lọc, từ đó giúp sinh viên ứng dụng kiến thức vào thực tiễn một cách dễ dàng Ngoài ra sẽ ứng dụng vào việc hình thành các học phần về ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học ứng dụng cho sinh viên ngành ngôn ngữ học, hoặc sinh viên ngành sư phạm Ngữ Văn

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các thầy cô, các bạn sinh viên và những ai muốn nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội cũng như các vấn đề thuộc về văn hóa- dân tộc

Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Phương ngữ của người Hoa, mối liên hệ giữa tiếng Hoa và tiếng Việt, hiện tượng song ngữ Việt- Hoa, cách thức và hoàn cảnh sử dụng song ngữ Việt- Hoa và vấn đề bảo tồn và phát huy hiện tượng song ngữ Việt- Hoa tại địa bàn nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là những người Hoa và người Việt tại ba quận 5, 6, 11 thuộc TP Hồ Chí Minh

Quận 5 và Quận 6, hai quận này còn được gọi chung là Chợ Lớn, một khu trung tâm thương mại lớn nhất của người Hoa ở Việt Nam

Hiện nay, quận 5 có 15 phường, từ phường 1 đến phường 15, với diện tích là 4,27 km², dân số là 174.154 người , trong đó có 72.142 người Hoa

Quận 6 có Chợ Lớn, đây được xem một khu trung tâm thương mại lớn nhất của người Hoa ở Việt Nam Quận có 14 phường, từ phường 1 đến phường 14 Trong đó, phường 1 là trung tâm quận, với diện tích là 7 km2, dân số là 253.474 người, trong đó

có 66.000 ngàn người Hoa

Và cuối cùng là quận 11, quận có 16 phường với diện tích là 5 km², dân số là 230.014 người, người Hoa có 108.003 người

Trang 10

Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu hiện tượng song ngữ Hoa- Việt , chúng tôi sẽ sử dụng phương

pháp khảo sát, thống kê, so sánh đối chiếu và số liệu

Phương pháp khảo sát: giúp ta thu thập được nhiều cứ liệu, tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, trao đổi, tiếp thu từ nhiều nguồn ý kiến và từ đó tạo tư liệu cho bài nghiên cứu thêm phong phú Với phương pháp này ta sẽ khảo sát điều tra theo độ tuổi, nghề nghiệp và ngữ cảnh Hình thức khảo sát chủ yếu là đến tận nơi khảo sát và đối thoại trực tiếp

Phương pháp thống kê: sau khi khảo sát, ta sẽ thống kê lại những gì đã tìm hiểu được, chọn lọc ra những thông tin cần thiết và loại bỏ những thông tin dư thừa, giúp bài nghiên cứu trở nên chặt chẽ hơn Với phương pháp này ta sẽ thống kê trên máy tính hoặc chép tay Hình thức thống kê chủ yếu là soạn văn bản bằng Word hoặc Excel

Phương pháp so sánh- đối chiếu : thông tin đã tổng kết thống kê, sẽ được mang

ra so sánh đối chiếu, vì đây là hiện tượng song ngữ , ta sẽ so sánh những điểm giống

và khác với đơn ngữ cũng như so sánh với phương ngữ gốc tại Trung Quốc Với phương pháp này ta sẽ so sánh trên giấy, lập sơ đồ và soạn lại bằng văn bản Hình thức so sánh chủ yếu là tìm điểm giống và khác nhau

Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện

Ngoài phần mục lục, danh mục cách chữ viết tắt, mở đầu, kết luận tài liệu tham khải và phụ lục thì nội dung chính sẽ được triển khai cấu trúc thành ba chương :

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CẢNH HUỐNG SONG NGỮ VIỆT- HOA Ở CỘNG

ĐỒNG NGƯỜI HOA TẠI KHU VỰC QUẬN 5 , QUẬN 6 VÀ QUẬN 11

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

SONG NGỮ VIỆT - HOA

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái quát về hiện tượng song ngữ

và phù hợp với xã hội “Chính sách ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với cảnh huống ngôn ngữ Chỉ có chính sách ngôn ngữ nào tính đến tất cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ thì mới có thể có kết quả tốt đẹp” [Mikhaichenko, 1988] [18, 58]

Về cảnh huống ngôn ngữ, trong quyển Cảnh huống song ngữ Việt - Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long của Tiến sĩ Hoàng Quốc có viết:

Cảnh huống ngôn ngữ là “Toàn bộ các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có quan hệ tương hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lý hoặc một thể thống nhất về chính trị, hành chính nhất định” (Nguyễn Như Ý, 1996) [25, 17; 18]

Hoặc theo Theo V.Yu Mikhalchenko, nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ gồm bốn nhân tố, đó là:

1 Các nhân tố dân tộc– nhân khẩu (thành phần dân tộc cư dân trong một khu vực, cách cư trú của những người thuộc các dân tộc khác nhau, sự phân hóa xã hội, trình độ học vấn của họ, v.v…)

2 Các nhân tố ngôn ngữ học (trạng thái cấu trúc và chức năng của một số ngôn ngữ như sự hiện hữu ở ngôn ngữ này các phong cách chức năng, hệ thống thuật ngữ, truyền thống chữ viết, v.v )

3 Các nhân tố vật chất (các cuốn tự điển, sách hội thoại, tài liệu, giáo viên, hệ thống các lớp học ngôn ngữ, v.v…)

Trang 12

4 Nhân tố con người (những định hướng có giá trị của người bản ngữ, tri năng ngôn ngữ, sự sẵn sàng học ngôn ngữ mới của họ, v.v…) Cảnh huống ngôn ngữ là sự phân

bố đã được hình thành trong suốt thời gian dài trên một lãnh thổ nhất định, những hình thức tồn tại khác nhau (ngôn ngữ văn học, khẩu ngữ, các phương ngữ) và những hình thức thể hiện khác nhau (nói và viết) của các ngôn ngữ đang hành chức trên lãnh thổ này

Theo R Hall, nghiên cứu cảnh huống ở các cộng đồng song ngữ cần tập trung một số nội dung sau đây:

- Hoàn cảnh, trong đó xuất hiện các trạng thái song ngữ như: 1) Việc cùng tồn tại các nhóm thuộc hai đơn vị ngôn ngữ khác nhau; 2) Áp lực của nhóm này đối với một nhóm khác (thực dân hóa); 3) Nhu cầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài thuộc các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, v.v…

- Các điều kiện làm cho song ngữ phát triển như: 1) Các ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ (thực dân hóa); 2) Các ngôn ngữ thân thuộc; 3) Các ngôn ngữ thân thuộc gần hơn; 4) Các ngôn ngữ chuẩn hóa có liên hệ chặt chẽ với nhau; 5) Các ngôn ngữ chưa chuẩn hóa có liên hệ chặt chẽ với nhau

- Tình hình ở các quốc gia đa ngữ gồm: 1) Số lượng người nói ngôn ngữ nay hay ngôn ngữ khác như nhau; 2) Số lượng người nói ngôn ngữ thứ hai nhiều hơn số lượng người nói ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ); 3) Số lượng người nói ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) đông hơn số lượng người nói ngôn ngữ thứ hai

- Ý nghĩa của tác động qua lại giữa các nhóm ngôn ngữ Cụ thể: 1) Sự tác động qua lại trên cơ sở bình đẳng về chính trị và bình đẳng truớc pháp luật; 2) Sự tác động qua lại trên cơ sở bình đẳng về chính trị nhưng không bình đẳng truớc pháp luật

- Ảnh hưởng các nhân tố tập trung của người nói đối với ngôn ngữ thứ hai Các nhà ngôn ngữ học xã hội đã dựa vào các quan niệm trên để đưa ra ba tiêu chí tổng hợp về cảnh huống ngôn ngữ, đó là: tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất và tiêu chí về thái độ ngôn ngữ

- Các tiêu chí về lượng gồm: Số lượng ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ, số lượng biến thể ngôn ngữ trong xã hội đa phương ngữ; Số lượng người sử dụng từng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ trong quan hệ với số lượng chung cư dân khu vực đó; Phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ trong quan hệ chung với số lượng các phạm vi giao tiếp; Số lượng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ nổi trội về mặt chức năng

- Theo tiêu chí về chất gồm các thông số: Các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ có phải là biến thể của một ngôn ngữ, hay là các ngôn ngữ độc lập; Quan hệ giữa các ngôn ngữ

Trang 13

về cấu trúc và cội nguồn: các ngôn ngữ giống nhau hay khác nhau về loại hình, cội nguồn, mức độ quan hệ cội nguồn; Tính chất cân bằng hay không cân bằng về chức năng của các ngôn ngữ

- Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ thể hiện thái độ của cư dân đối với với từng ngôn ngữ, biến thể của ngôn ngữ của cộng đồng mình hay cộng đồng khác về tính hữu ích, giá trị văn hóa

Ngoài ra, khi xét cảnh huống ngôn ngữ thì các điều kiện tự nhiên– xã hội và cả chính sách ngôn ngữ của Nhà nước cũng được xét đến

Do chính sách ngôn ngữ của một quốc gia thay đổi nên chính sách ngôn ngữ của Nhà nước cũng thay đổi theo cho phù hợp Do đó, việc nghiên cứ cảnh huống ngôn ngữ để hoạch định chính sách ngôn ngữ luôn luôn có tính thời sự [25, 18; 19] Khái niệm về song ngữ xã hội cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ:

Theo Tiến sĩ Hoàng Quốc, song ngữ xã hội có thể hiểu là việc sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp

Như hiện nay, người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh vừa nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Hoa, đồng thời vẫn dùng tiếng Việt để giao tiếp, ngoài ra một bộ phận còn dùng

cả tiếng Anh để giao tiếp trong công việc của mình

Song ngữ không chỉ nói đến một cá nhân, một cá thể mà còn nói đến cộng đồng giao tiếp Các cá nhân sử dụng ngôn ngữ mà họ biết để giao tiếp, trao đổi thông tin tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội

Ví dụ, cộng đồng song ngữ hiện tại là ở TP Hồ Chí Minh là khu vực Chợ Lớn, với sự cộng cư của đại đa số người Hoa và người Việt, tại nơi đây chuộng cách dùng ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Việt và tiếng Hán (phương ngữ)

Như thế, song ngữ là hiện tượng không chỉ nói đến một cá nhân hay một cá thể

mà còn đến một cộng đồng, là sự hành chức của hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong cùng một cộng đồng xã hội

Bên cạnh hiện tượng song ngữ thì người song ngữ cũng là yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định tính bền vững và lâu dài của cộng đồng song ngữ Người song ngữ là người có thể sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên một cách luân phiên trong quá trình giao tiếp

Ngoài quan niệm về người dùng song ngữ, còn xuất hiện quan niệm về người

Trang 14

“biết” song ngữ Vậy thế nào là người “biết” song ngữ ?

Theo GS TS Nguyễn Văn Khang, nếu người dùng song ngữ với mức độ thuần thục, có thể tư duy một lúc bằng nhiều ngôn ngữ mà không cần phiên dịch, những người đó được xem là người song ngữ hoàn toàn hay người song ngữ đầy đủ Tuy nhiên, người song ngữ hoàn toàn rất hiếm hoi, bởi ít ai có thể có khả năng biết thuần thục hai ngôn ngữ ở mức độ như nhau Chỉ có trẻ em được sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới có thể trở thành người trong ngữ hoàn toàn Trên thực tế, người song ngữ

là người ngoài tiếng mẹ đẻ họ còn học thêm một ngôn ngữ khác nhằm mục đích phục

vụ cho chuyên ngành hoặc công việc nào đó của họ, những người như thế được gọi là song ngữ không hoàn toàn

Ví dụ như tại khu vực Chợ Lớn, người Việt sống cùng người Hoa một thời gian dài cho nên người Việt cũng có thể nghe và hiểu hoặc thậm chí nói được tiếng Hán (phương ngữ) nhưng không biết viết và nhìn mặt chữ, điều dễ hiểu hơn họ học cách nói đó nhằm mục đích buôn bán, trao đổi thông tin với người Hoa một cách thuận tiện nhất

Về nghiên cứu song ngữ, người ta lại còn chú ý tới “tiếng mẹ đẻ” (mother tongue) Khi nói đến “tiếng mẹ đẻ” người ta thường nghĩ ngay đến ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé được tiếp xúc (ngôn ngữ của cha hoặc mẹ) Nhưng về khái niệm tiếng mẹ

đẻ ta cần hiểu đúng và tường tận Vì ví dụ một đứa bé được sinh ra bởi một cặp vợ chồng là người Việt nhưng sống ở Trung Quốc, lớn lên học tiếng Trung Quốc và quên dần đi tiếng Việt, vậy thì tiếng Việt hay Tiếng Trung là tiếng mẹ đẻ của nó ? Một ví

dụ khác như một cô bé sinh ra ở Nga do một cặp vợ chồng người Anh, từ nhỏ học tiếng Nga, khi lớn lên chuyển sang Việt Nam định cư và dần quên hẳn đi Nga vậy tiếng mẹ đẻ của cô bé là tiếng Anh, Nga hay tiếng Việt ? Về vấn đề này ta phải hiểu:

- Theo nghĩa rộng, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ mà con người vừa sinh ra đã tiếp xúc đầu tiên bằng cách nói, cho dù chưa hình thành chữ viết, cho dù đó là phương ngữ thì vẫn được xem là tiếng mẹ đẻ

- Theo nghĩa hẹp, là tiếng nói dùng trong gia đình Nhưng cách hiểu là không hợp chuẩn vì nó không ổn định về mặt thời gian

Ví dụ, một cậu bé từ nhỏ sinh ra trong một khu vực nhiều người Hoa sinh sống,

mẹ của cậu bé là người Việt, ba của cậu là người Hoa và từ nhỏ cậu giao tiếp trong gia đình bằng tiếng Hoa Khi lớn lên, cậu đi học trong chương trình giáo dục quốc dân của Việt Nam Tuy ở nhà vẫn giao tiếp bằng cả hai ngôn ngữ nhưng ở môi trường học đường lại giao tiếp và học bằng tiếng Việt Lớn hơn nữa, cậu học đại học chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn, nghiên cứu chuyên sâu về văn học và ngôn ngữ Việt Nam,

Trang 15

từ đó, trong gia đình , cậu luôn giao tiếp với ba mẹ bằng tiếng Việt và ba của cậu để thuận tiện giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội cũng chuyển sang nói tiếng Việt, từ

đó phát sinh hiện tượng cả gia đình đều dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp chính

và cậu xem tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của mình

Qua ví dụ cho thấy, không thể khẳng định ngôn ngữ dùng trong gia đình là tiếng mẹ đẻ được, bởi theo mặt thời gian và về những yếu tố tác động, tiếng mẹ đẻ vẫn

có thể thay đổi trong quá trình phát triển của một cá nhân Vì thế ta không nên mặc định tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ dùng từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi

Le Page(1992) đã cho rằng, nhưng người sống trong một xã hội đa ngữ mà một lúc biết từ hai đến hai ngôn ngữ trở lên thì khái niệm tiếng mẹ đẻ là tương đối [25, 26]

Vậy tiếng mẹ đẻ và quan niệm về sự hiểu biết một ngôn ngữ được xem là tiếng

mẹ đẻ cũng có sự trùng nhau, cho nên ta có thể tạm chấp nhận khái niệm:

Tiếng mẹ đẻ là tiếng nói được sử dụng trong phạm vi giao tiếp gia đình (bất kỳ trình độ phát triển của thứ tiếng ấy như thế nào) và được cá nhân/cộng đồng ấy tự thừa nhận [25, 27]

1.1.2 Nguồn gốc của hiện tượng song ngữ

Hiện tượng song ngữ là kết quả tất yếu của sự kết hợp hàng loạt các nhân tố xã hội : di dân vì các lý do khác nhau, vấn đề giáo dục song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn, Trong đó nổi lên ba nguyên nhân chính

Trước hết là sự cộng cư của những người nói các ngôn ngữ khác nhau: Những người dùng các ngôn ngữ khác nhau lại chung sống với nhau trên cùng một khu vực, một vùng lãnh thổ

Lí do quan trọng dẫn đến sự xuất hiện của hiện tượng cộng cư là xuất phát từ tình trạng di dân từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác Ta có thể thấy, hiện tượng di dân là do nguyên nhân về kinh tế, chiến tranh hay chính trị Trong suốt thời gian vừa qua, đều có sự di dân của người Việt ra nước ngoài Tại nước ngoài, họ luôn sống trong môi trường song ngữ tiếng Việt - tiếng của nước sở tại

Ở Việt Nam, 53 dân tộc thiểu số không sống biệt lập mà họ sống xen kẽ với nhau trải dài từ Bắc đến Nam

Theo số liệu điều tra năm 2009, ở các tỉnh miền núi phía Bắc, 20/ 107 huyện có

Trang 16

từ 10 dân tộc trở lên cùng sinh sống Số xã có duy nhất một dân tộc cư trú chỉ chiếm khoảng 2,7% Chính đặc điểm này đã khiến cho trạng thái song ngữ ở nước ta trở nên rất phong phú, đa dạng

Nguyên nhân tiếp theo là do sự thay đổi về chính trị trong các quốc gia đa dân tộc

Ví dụ: Liên Xô (cũ) trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, tiếng Nga được coi là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc Bên cạnh tiếng Nga là ngôn ngữ quốc gia, các ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng trong giao tiếp Chính sách này đã tạo nên một trạng thái song ngữ bằng sự phân bố chức năng giữa tiếng Nga và tiếng dân tộc khá đa dạng

Tuy nhiên từ tháng 8/1991, sau khi Liên Xô bị tan rã, tình hình song ngữ ở đây

đã phát triển theo chiều hướng rất phức tạp do các nước Cộng hòa vùng Ban Tích tách

ra thành quốc gia độc lập và theo đó, vị thế của các ngôn ngữ vốn là ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã thay đổi, lại “trở thành ngôn ngữ quốc gia độc lập", còn tiếng Nga trở thành ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở các nước cộng hòa này

Nguyên nhân cuối cùng dẫn đến hiện tượng song ngữ là việc giáo dục song ngữ trong các cộng đồng dân tộc

Giáo dục song ngữ cộng đồng đang được đẩy nhanh để tạo ra sự phát triển song ngữ xã hội Hiện tượng này đang rất phổ biến ở chính sách giáo dục ngoại ngữ của một số quốc gia

Ví dụ, việc dạy ngoại ngữ tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung, trong các trường phổ thông và đại học ở Việt Nam đã tạo nên một trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng nước ngoài

Hiện tượng song ngữ xã hội nhờ giáo dục còn có thể thấy rõ ở các vùng dân tộc thiểu số Người dân tộc thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ học ngôn ngữ giao tiếp chung - tiếng Việt Vì thế, tạo nên hiện tượng song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu

số

Ở Việt Nam, để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước đã đảm bảo về mặt pháp lý quyền có ngôn ngữ riêng của tất cả các dân tộc và ngôn ngữ dân tộc sẽ được phát triển tự do Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong đời sống sinh hoạt hằng ngày và trong lĩnh vực hoạt động xã hội

Nhờ đó, đã khuyến khích các dân tộc thiểu số học tiếng Việt (hay tiếng phổ

Trang 17

thông) một cách tự nguyện Tạo ra trạng thái song ngữ tiếng dân tộc - tiếng Việt Tạo điều kiện cho trạng thái song ngữ tồn tại ở nước ta [25, 28; 29]

Đó là nguồn gốc xuất hiện của hiện tượng song ngữ

1.1.3 Hiện tượng trộn mã và chuyển mã ngôn ngữ

1.1.3.1 Hiện tượng trộn mã ngôn ngữ

Đây là hiện tượng pha trộn các ngôn ngữ khi giao tiếp, đòi hỏi người nói và người nghe và có vốn từ vựng rộng Trộn mã ngôn ngữ khi giao tiếp cho phép ta đơn giản hóa các phương ngữ tiếng Hoa, hạn chế tối đa sự khó hiểu đối với những người khác dân tộc hoa hoặc có trình độ tiếng Hoa thấp

Trộn mã (code - mixing) là hiện tượng thường xuất hiện ở các khu vực cộng

cư, đa dân tộc, đa ngữ Hiện tượng này không có một quy luật nào cả, đó như là thói quen, cách ứng xử trong các phát ngôn để cho người nghe tiếp nhận và hiểu được thông tin mà người nói đang truyền tải Hiện tượng này xuất hiện phổ biết trong cộng đồng song ngữ Việt - Hoa, giữa người Hoa và người Kinh:

Ví dụ :

A: Lị hảy biến tù ?

B: Ngọ hảy Nguyễn Trãi lù ló

A: Lị kiu mách dẹ mẻn ?

B: Ngọ xinh Hoàng , ngọ kiu Hoàng Tâm

Hiện tượng trộn lẫn tiếng Việt và tiếng Hoa khi giữa người Hoa giao tiếp với người Hoa và người Hoa giao tiếp với người Việt là chuyện rất thường xảy ra

1.1.3.2 Hiện tượng chuyển mã ngôn ngữ

Hiện tưởng chuyển mã (code switching) là sự chuyển đổi ngôn ngữ hay phương ngữ trong giao tiếp Đây là hiện tượng khi giao tiếp, người giao tiếp đang sử dụng một mã ngôn ngữ có thể chuyển đổi sang một mã ngôn ngữ khác Theo Gal(1978) xem hiện tượng này là chiến lược ngôn ngữ vì do nhiều yếu tố:

Chuyển mã để giữ bí mật trong giao tiếp Ví như một người Hoa đang đối thoại giữa những người bạn, trong đó có cả người Hoa lẫn người Việt, để đảm bảo những câu nói bí mật hay ngụ ý mà người nói cố tình không muốn cho người Việt nghe, người nói đó sẽ chuyển mã ngôn ngữ thành ngay một câu tiếng Hoa

Trang 18

Ví dụ :

A (người Việt): Anh thấy người yêu có tốt không ?

B (người Hoa 1): Tôi thấy cũng khá tốt

C (người Hoa 2) : Hụy co làm dảnh tú ùm hày hủ kẻ , tú hủ thù phá a

Chuyển mã do thói quen khi giao tiếp [25, 38] Đây là trường hợp những người

tự tin vào sự thành thạo song ngữ

Chuyển mã để thể hiện ưu thế giao tiếp [25, 38] Đây là hiện tượng thường thấy trong các cuộc đối thoại giữa người Hoa và người Kinh Trong một cuộc giao tiếp, với bản tính tự hào dân tộc, họ luôn muốn ngôn ngữ của mình luôn ở thế chủ động và để người Kinh phải tò mò, họ luôn cố ý nói bằng tiếng Hoa, để người Kinh sẽ thắc mắc

mà hỏi lại từ đó, câu đó có nghĩa gì, và dần rồi đó trở thành thói quen, người Kinh sẽ

tự động hiểu và có thể nói luôn cả tiếng Hoa

1.2 Lịch sử hình thành hiện tượng song ngữ Việt - Hoa tại TP Hồ Chí Minh

1.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tại TP Hồ Chí Minh

1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

TP Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông Phía Bắc TP Hồ Chí Minh giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây

và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Nằm ở miền Nam Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay

Với vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, TP Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không, là vùng giao thoa của nền kinh tế, văn hóa trong vùng, là cửa ngõ quốc tế quan trọng

Thuộc vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ

có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới

Trang 19

10 mét

TP Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:

Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi

Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi

Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ

Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ

Đó là những đặc điểm nổi bật về mặt tự nhiên của TP Hồ Chí Minh

1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tính đến năm 2012, GDP đạt khoảng 9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5% GDP bình quân đầu người đạt 3.700 USD Thu ngân sách năm 2012 ước đạt 215.975 tỷ đồng, nếu không tính ghi thu chi là 207.000 tỷ đồng, đạt 92,42% dự toán, bằng 105,40% so với cùng kỳ Trong đó, thu nội địa đạt 109.500 tỷ đồng, bằng 88,81% dự toán, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 70.000 tỷ đồng, bằng 88,72% dự toán

Nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh

tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%

Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND

Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 20

với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007 Riêng trong năm

2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD.Trong bảng xếp hạng về Chỉ

số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, TP Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành

Về thương mại, TP Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng

Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza Mức tiêu thụ của TP Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội

Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN- Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng

Tuy vậy, nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại Trong

đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn

Trong các thập niên gần đây, TP Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam Năm 2015, Thành phố có 8.224.000 triệu người Nếu tính luôn những người dân không đăng kí cư trú thì dân số thành phố đã vượt trên 10 triệu người

Trang 21

Sự phân bố dân cư ở TP Hồ Chí Minh không đồng đều Trong khi một số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ

lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5% Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại TP Hồ Chí Minh Đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm

2009, toàn TP Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống Trong đó, nhiều nhất là người Kinh có 6.699.124 người, các dân tộc khác như người Hoa có 414.045 người, người Khmer có 24.268 người, người Chăm 7.819 người, người Tày có 4.514 người, người Mường 3.462 người, ít nhất là người La Hủ chỉ có 1 người

DÂN SỐ NGƯỜI HOA PHÂN THEO GIỚI TÍNH

Trang 22

DÂN SỐ NGƯỜI HOA Ở NAM BỘ

(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam ngày 01/04/1999)

Về y tế: TP Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng

thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố

Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp đều xuất hiện ở

TP Hồ Chí Minh Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 73,19, con số ở nữ giới là 77,00

Nhìn chung hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở

Trang 23

y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn Cũng tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội

ô và việc đảm bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ

Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên khoa Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng chất lượng phục vụ

Về giáo dục: Mặt hành chính, Sở Giáo dục TP Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ

sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục

Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ Các trường ngoại ngữ ở TP

Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư

Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (Trường Đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý Là thành phố lớn nhất Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên thuộc Chính phủ Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế, Đại học Sư phạm, Đại học Mở, Đại học Tài chính - Marketing đều là các đại học quan trọng của Việt Nam Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia

Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục TP Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết Trình độ dân trí chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém Nhiều trường học sinh phải học ba ca Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành

Đó là những đặc điểm nổi bật về tự nhiên và kinh tế- xã hội của thành phố Hồ

Trang 24

Chí Minh

1.2.2 Lịch sử di cư và vai trò của người Hoa và việc hình thành hiện tượng song ngữ Việt - Hoa tại TP Hồ Chí Minh

1.2.2.1 Lịch sử di cư của người Hoa

Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, từ đầu thời kỳ Bắc thuộc

Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Trung Quốc, gồm lính, quan, dân, tội phạm đã đến định cư tại Việt Nam

Nhiều thế hệ người Trung Quốc định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ dần trở thành người Việt Nam

Vào thế kỷ 17 tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Những cộng đồng người Hoa này được gọi là người Minh Hương Chữ "hương" ban đầu dùng chữ 香 có nghĩa là "thơm" khi kết hợp với chữ Minh 明 có nghĩa là hương hỏa nhà Minh (明香), đến năm 1827 thì vua Minh Mạng cho đổi chữ Hương 香 sang chữ Hương 鄉 nghĩa là "làng" để tránh đụng chạm với nhà Thanh, từ đó Minh Hương (明鄉) có thể hiểu là "làng của người Minh" và cũng có thể hiểu là "làng sáng sủa"

Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn - Bến Nghé - Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ

Tuy thu lợi từ những người Hoa định cư tại Việt Nam, nhưng các vị vua chúa Việt Nam chưa bao giờ cảm thấy yên tâm về lòng trung thành của họ Tại thời điểm xấu nhất của quan hệ giữa hai bên, 10 ngàn người Hoa vùng cù lao Phố đã bị quân Tây Sơn tàn sát vào thế kỷ 18 Những khi khác, người Hoa rất có khiếu làm ăn, được hưởng tự do và sự giàu có nhưng họ luôn bị người Việt kỳ thị

Sau khi nhà Nguyễn ban hành qui chế thành lập các Bang Hoa Kiều, người Hoa sinh sống ở Việt Nam có tất cả là 7 bang: Quảng Triệu (còn gọi là Bang Quảng Đông), Khách gia, Triều Châu, Phước Kiến, Phước Châu, Hải Nam và Quỳnh Châu Trụ sở của 7 Bang (giống như Văn phòng Đại diện) thường được gọi là "Thất Phủ công sở" hoặc "Thất Phủ hội quán"

Đến thế kỷ 19, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn,

Trang 25

Chợ Lớn Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp Tháng Giêng năm 1885, Pháp ra lệnh sát nhập Bang Phước Châu vào trong Bang Phước Kiến; Sát nhập Bang Quỳnh Châu vào trong Bang Hải Nam Vì vậy

mà từ đó về sau, người Hoa chỉ còn 5 bang

Trải qua một quảng thời gian khá dài đến thời điểm năm 1965, có khoảng 200 nghìn người Hoa, phần lớn sống tập trung ở quanh Sài Gòn, chia thành 5 bang, gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (hay còn gọi là Khách gia, Hà Cá) và Hải Nam

1.2.2.2 Vai trò của người Hoa trong việc hình thành hiện tượng song ngữ Việt- Hoa Người Hoa muốn học tập ngôn ngữ của địa phương(tiếng Việt), nhưng đồng thời

họ cũng muốn giữ gìn bản sắc cho dân tộc của mình( tiếng Hoa) nên trong giao tiếp hằng ngày, họ học tập từ người Việt và giao tiếp bằng tiếng Việt Nhưng khi giao tiếp với người thân trong gia đình họ dùng tiếng Hoa Những cá nhân này có thể sử dụng trực tiếp hai ngôn ngữ, tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp

Không chỉ người Hoa học tiếng Việt mà người Việt cũng muốn học tiếng Hoa

Từ đó, ngoài những ngôi trường dạy học tiếng Việt thì còn xuất hiện những ngôi trường dạy tiếng Hoa để bảo tồn được văn hóa, truyền thống của người Hoa, đáp ứng nhu cầu của người dân trong khu vực

Những gia đình sinh sống trong khu phố người Hoa hầu hết đều muốn giữ lại bản sắc của mình, cho nên ở họ luôn tồn tại và biết được hai ngôn ngữ Việt- Hoa một cách thông thạo Con cái của họ cũng sẽ được học tập từ nhỏ cả hai ngôn ngữ

Người Hoa đến nơi đây, hình thành nên một dân tộc Hoa với lực lượng không nhỏ

đã góp phần tạo nên một hiện tượng mới cho khu vực Hiện tượng song ngữ Việt - Hoa

1.3 Khái quát về tiếng Hán và phương ngữ Hán liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 26

- Quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thi chủ yếu bằng trật tự từ và hư

Về lịch sử tiếng Hán trải qua nhiều quá trình, tên gọi cũng được thay đổi:

Nhìn nhận theo tiến trình lịch sử, tiếng Hàn có các tên gọi theo thời kỳ sau:

- Tiếng Hán cổ đại 古代汉语 (Tiên Tần)

- Tiếng Hán trung dại 中代汉语 (Hán Đường)

- Tiếng Hán cận đại 近代汉语 (từ nhà Tống – nhà Thanh)

- Tiếng Hán hiện đại 现代汉语 (từ năm 1940 – nay)

Nhìn về góc độ cộng đồng ngôn ngữ, tiếng Hán có các tên gọi sau:

- Nhã ngôn 雅文

- Thông ngôn 通言 (đời Hán Đường)

- Quan thoại 官话 (đời Minh)

- Quốc ngữ 国语 (Cách mạng Tân Hợi)

- Tiếng phổ thông 普通话 (1949)

- Hoa ngữ 华语 (tiếng Hán hải ngoại do người Hoa sử dụng)

Nhìn về tốc độ diễn tiến của ngôn ngữ, tiếng Hán có:

- Văn ngôn 文言 (còn gọi là tiếng Hán cổ đại) giai đoạn từ thời Tiên Tần đến đời Hán

- Bạch thoại 白话 (khẩu ngữ dân gian) là hình thức viết cùng với văn ngôn Bạch Thoại bắt nguồn từ phương Bắc Lưu hành sử dụng từ đời Tống

Đời Đường về trước, các tác phẩm thường pha trộn văn ngôn và Bạch thoại; Đời

Trang 27

Đường về sau Bạch thoại mới có bản sắc riêng, nhất là vào thời Minh Thanh Tiếng Hán hiện đại khác với văn ngôn ở một số đặc điểm sau:

- Song tiết hóa

- Lượng từ tăng về số lượng so với Hán ngữ hiện đại

- Thay đổi đại từ trong đó chú ý đặc biệt chuyển từ đại từ (Ngô) sang đại từ (Ngã) (đại

từ ngôi thứ thứ nhất chỉ tôi/ta/tớ)

- Ít sử dụng trợ từ Hán Văn cổ như : Chi , dã , giả ,kì,

Sự biến đổi kết cấu của vị ngữ chú ý đến trợ từ động thái (đã, đang) sự xuất hiện (thị: là) trong các câu quan hệ thay đổi giới từ, dùng giới từ (tại) thay cho từ (vu) (tại, do) Với sự độc lập của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Đảng và chính phủ Trung Quốc thống nhất chọn Bạch thoại là ngôn ngữ quốc dân và gọi là tiếng phổ thông

Tiếng phổ thông lấy tiếng Bắc Kinh làm âm chuẩn, lấy phương ngữ của miền Bắc là phương ngữ cơ sở, ngữ pháp khuôn mẫu sẽ dùng các tác phẩm Bạch thoại hiện đại Từ năm 1956, Trung Quốc lấy tên gọi tiếng phổ thông thay thế cho tên gọi Quan thoại và Quốc ngữ

Với sự đa dạng dân tộc (56 dân tộc) cho nên phương ngữ Hán cũng hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp Mặc dù vậy, đặc điểm chung của tiếng Hán là “thống nhất trong đa dạng” Sự thống nhất này bắt đầu từ thời Tần với sự ra đời của quốc gia trung ương tập quyền “đại thống nhất” Ở Trung Quốc, người nói tiếng Hán chiếm 95% Trong mười phương ngữ của tiếng Hán thì phương ngữ Quan thoại là phân bố rất rộng, từ Nam Kinh của Giang Tô đến Ô Lỗ Mộc Tế của Tân Cương, từ Cung Minh của Vân Nam đến Cáp Nhĩ Tân của Hắc Long Giang Tuy đây là những nơi có vị trí địa lý rất xa nhau nhưng có tính thống nhất rất cao về mặt ngôn ngữ, vì thế vẫn có thể giao tiếp với nhau được Hán ngữ phổ thông hay Quan thoại còn là ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu của các dân tộc ở các vùng miền khác nhau của Trung Quốc [25, 39; 40; 41]

Phân loại phương ngữ trong tiếng Hán

Cách phân loại truyền thống

10/1955, hội nghị học thuật về vấn để quy phạm tiếng Hán hiện đại nhất trí coi tiếng Hán có 8 phương ngữ

1 Phương ngữ miền Bắc (Bắc phương ngôn)

2 Phương ngữ Ngô (Ngô phương ngôn)

Trang 28

3 Phương ngữ Tương (Tương phương ngôn)

4 Phương ngữ Cán (Cán phương ngôn)

5 Phương ngữ Khác Gia (Khách Gia phương ngôn)

6 Phương ngữ Mân Bắc (Mân Bắc phương ngôn)

7 Phương ngữ Mân Nam (Mân Nam phương ngôn)

8 Phương ngữ Việt (Việt phương ngôn)

Các phân loại mới nhất

Vào những năm 80 của thế kỷ 20, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc đã phân tiếng Hán thành 10 vùng ngôn ngữ

Phương ngữ Mân Nam phân bố tại phía Nam Phúc Kiến, phía đông Quảng Đông, một phần phía nam của đảo Hải Nam và phần lớn vùng lãnh thổ Đài Loan, phương ngữ này chiếm 3,0% người Hán sử dụng

Phương ngữ Việt phân bố tại các tỉnh Quảng Đông trừ phía Đông và Đông Bắc, Quảng Tây (phía Đông và Đông Nam) Hồng Kông, Ma Cao Số lượng người Hán sử

Trang 29

dụng ngôn ngữ này chiếm 4,11%

Phương ngữ Khách Gia (Ma Giới thoại) phân bố tại các tiếng Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Giang Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Hải Nam, Đài Loan Phương ngữ này chiếm 3, 58% số người sử dụng tiếng Hán

Tuy ba phương ngữ trên đều là phương ngữ tiếng Hán nhưng những người nói những nói những phương ngữ đó vẫn không hiểu được nhau hoặc thậm chí cùng chung một phương ngữ nhưng khác địa phương thì ngữ âm của phương ngữ cũng thay đổi theo

1.3.2 Phương ngữ Hán trong cộng đồng người Hoa tại TP HỒ CHÍ MINH

Hiện nay, cộng đồng người Hoa ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung sử dụng 4 phương ngữ Hán chính:

- Tiếng Quảng Đông

- Tiếng Triều Châu

- Tiếng Phúc Kiến

- Tiếng Hẹ

Theo nhiều người Hoa, tiếng Phúc Kiến và tiếng Triều Châu có nhiều nét giống nhau nên người Phúc Kiến và người Triều Châu có thể nghe và hiểu được tiếng nói lẫn nhau Khu vực quận 5, 6, 11, tiếng Quảng Đông chiếm đại đa số, những người thuộc nhóm ngôn ngữ khác cũng biết tiếng Quảng Đông nên vẫn có thể giao tiếp với nhau hoặc dùng tiếng phổ thông Bắc Kinh để giao tiếp với nhau

1.3.3 Những nét cơ bản về tiếng Hoa tại TP HỒ CHÍ MINH

Người Hoa ở TP Hồ Chí Minh có dân số là 404.809 người và nhóm người Quảng chiếm 50% (khoảng 250.000 người), nhóm người Triều Châu chiếm 30%,(khoảng 150.000 người), nhóm người Hoa nói tiếng Hẹ chiếm 5% (khoảng 25.000 người), phần còn lại là những người nói tiếng Hải Nam và Phúc Kiến (Dẫn theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 62-CT/TW của Thành ủy TP Hồ Chí Minh) Tiếng Quảng được dùng để giao tiếp phổ biến ở các gia đình, chợ, Đình Miễu, Hội quán, v.v… Tại các trường học, học sinh người Hoa vẫn dùng tiếng Việt để giao tiếp và có một số trường tổ chức những lớp tăng cường tiếng Hán phổ thông Cho nên những người thuộc độ tuổi từ 20 trở lên thường chỉ biết những câu chào hỏi, giao tiếp, xưng hô cơ bản

Trang 30

Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các nhóm người Hoa ở TP Hồ Chí Minh

Người Hoa ở TP HỒ CHÍ MINH sử dụng rất nhiều phương ngữ cho từng tộc khác nhau

Về Người Quảng , họ thường dùng tiếng Quảng để giao tiếp, một bộ phận học thức thì dùng cả tiếng phổ thông để trao đổi thông tin với những người ngoài xã hội

Về người Tiều Châu , họ dùng tiếng Tiều làm ngôn ngữ chính yếu trong giáo tiếp với những người cùng phương ngôn, bên cạnh đó, một bộ phận lớn còn tiếp nhận cả tiếng Quảng, dùng nó làm phương tiện để trao đổi thông tin với người Quảng và cả người Tiều

Về người Phúc Kiến, đây là tiểu bộ phận trong xã hội người Hoa ở TP Hồ Chí Minh, họ dùng phương ngữ Phúc Kiến để giao tiếp Ngoài ra họ còn dùng cả tiếng Quảng để trao đổi thông tin trong kinh doanh, buôn bán

Về người Hẹ, là dân tộc hiếm hoi trong xã hội người Hoa ở TP Hồ Chí Minh, họ dùng phương ngữ Hẹ để giao tiếp với người cùng tộc và dùng tiếng Quảng để giao tiếp với tộc người dùng phương ngữ Quảng Đông

1.3.4 Tiếng Hoa tại khu vực quận 5, quận 6 và quận 11

Tiếng Hoa ở các quận 5, 6, 11 này chủ yếu là tiếng Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ

Ở quận 5, 6, 11, 70.000 người Quảng Đông (chiếm khoảng 80%), 9.200 người

Trang 31

Triều Châu (chiếm khoảng 12, 43%), 6.258 người Phúc Kiến (chiếm khoảng 8,1%), ngoài ra còn có 4% người Hẹ và 3% người Hải Nam Ở khu vực này vẫn sử dụng Hán ngữ Trung Quốc để làm chữ ghi chép nhưng cách đọc lại có sự khác nhau

Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các nhóm người Hoa ở khu vực quận 5, 6 và 11

Ví dụ: chữ “tôi” tiếng Bắc Kinh đọc là “wò”, tiếng Quảng Đông đọc là ngọ, tiếng Hẹ đọc là ngãi, tiếng Triều Châu đọc là ua, tiếng Phúc Kiến đọc là úa Người Triều Châu

và người Phúc Kiến có thể hiểu nhau bởi vì ngữ âm của họ giống nhau Ở đây phương ngữ chiếm tỉ lệ cao nhất là tiếng Quảng Đông, là ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu

Do chiếm một thành phần người sử dụng quá lớn và lấn át các phương ngữ khác, cho nên tiếng Hẹ và tiếng Hải Nam dần dần bị mai một và mất đi

1.4 Tình hình sử dụng song ngữ Việt - Hoa của người Hoa tại TP HỒ CHÍ MINH

TP Hồ Chí Minh là một khu vực đông dân nhất trong cả nước, đặc biệt là người Hoa Người Hoa tập trung đông nhất ở khu vực Chợ Lớn Người Hoa sinh sống

ở khu vực này từ rất lâu và họ coi Việt Nam như là quê hương thứ hai của họ Bên cạnh tiếng mẹ đẻ của mình, họ nói tiếng Việt gần như người bản xứ và họ được xem như là một cộng đồng song ngữ khá tiêu biểu

Văn hóa ở TP Hồ Chí Minh khá đa dạng và phong phú Người Việt và người Hoa chung sống hòa đồng với nhau, cả hai nhóm người đều giữ được nét riêng và độc đáo của dân tộc mình Người Hoa họ có khả năng nói cả hai ngôn ngữ Việt- Hoa Đối với cộng đồng người Hoa ở TP Hồ Chí Minh, tiếng Việt là ngôn ngữ chính được dùng trong nhà trường, công tác hành chính, giao tiếp chung ở nơi công cộng Và đặc biệt trong gia đình, tiếng Hoa phương ngữ là ngôn ngữ mẹ đẻ chủ yếu dùng để giao tiếp với người thân và những người quen cùng dân tộc Năng lực ngôn ngữ của họ thể hiện qua bốn kĩ năng là nghe, nói, đọc và viết

Trang 32

Năng lực tiếng Việt của người Hoa khá thành thạo và đặc biệt là trong làm ăn kinh doanh họ có ý thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, trao đổi thông tin Năng lực nói tiếng mẹ đẻ cao vì họ sống trong môi trường cộng đồng người Hoa và tiếp xúc được với cộng đồng ấy Và có đôi khi họ dùng cả tiếng Việt để giao tiếp trong gia đình mình Vì thế, thế hệ con cháu của họ đa số không thành thạo tiếng Hoa và cũng không học chữ Hoa vì nó đa số chỉ dùng giao tiếp trong gia đình và trong khu vực có người Hoa sinh sống

Và đặc biệt người Việt của chúng ta khi sống trong môi trường của người Hoa

họ có thể có khả năng nghe và nói nhưng họ không có kĩ năng đọc và viết vì họ chỉ nghe và tiếp xúc với họ chứ không học qua trường lớp Không chỉ có người Việt mà ngay cả người Hoa, những người không được qua đào tạo trường lớp họ cũng chỉ có khả năng nghe và nói Những trường hợp đó khá phổ biến trong quá trình trao đổi mua bán hàng hóa Người Hoa được đào tạo qua trường lớp họ nói ngôn ngữ của mình để giữ gìn ngôn ngữ của chính họ còn những người không qua đào tạo thì họ chủ yếu nói

để tiện trong việc mua bán

Chính vì thế, tình hình sử dụng song ngữ Việt- Hoa của người Hoa trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh rất phổ biến Việc sử dụng đồng thời hai ngôn ngữ trên vừa thuận lợi cho việc giao tiếp, vừa thuận lợi cho việc kinh doanh trên cả hai cộng đồng ngôn ngữ một bên là người Hoa, một bên là người Việt Bên cạnh đó, việc sử dụng hai ngôn ngữ còn giúp những người Hoa không được đào tạo qua trường lớp có cơ hội trau dồi khả năng tiếng Việt của mình Việc sử dụng rộng rãi song ngữ Việt- Hoa của người Hoa như vậy còn giúp họ duy trì và giữ gìn được tiếng mẹ đẻ của họ

1.5 Chính sách ngôn ngữ của Việt Nam

Ngày 21-12-1917, Toàn quyền Albert Saraut kí Nghị định Học chính tổng quy (Règlement général de l' instruction publique) và đăng lên công báo ngày 10/4/1918 Học chính tổng quy đã thay đổi thi Hương thi Hội:

Năm 1916 bãi bỏ các Kì thi Hương và năm 1919 thì thi Hội cũng bị bãi bỏ Học chính tổng quy quy định việc dạy tiếng Pháp và môn Hán tự như sau:

– Dạy tiếng Pháp (tập đọc, ám tả, học mẹo, làm văn) ở lớp nhì và lớp nhất, mỗi tuần ít ralà 12 giờ

– Hán tự mỗi tuần lễ chỉ dạy 1 giờ rưỡi vào sáng thứ năm mà thôi Lại thêm chỉ thị:

"Dạy Hán tự phải theo chương trình nhà nước Buổi dạy Hán tự, giáo viên kiêm đốc học nhà trường phải có mặt ở lớp để giữ kỉ luật, không nên để thầy đồ dạy một mình"

Ngày 17/11/1874, Dupré ra quyết định tổ chức lại hoàn toàn nền giáo dục quốc dân Các trường làng dạy chữ Hán bị bãi bỏ hoặc sáp nhập vào trường ở quận lị, biến

Trang 33

thành một trường duy nhất dạy chữ quốc ngữ

Năm 1896, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho thành lập một trường Pháp-Việt ở Huế, gọi là Trường Quốc học Huế

Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương đặt thêm một kì thi phụ cho khoa thi Hương trường thi Nam Định Môn thi gồm năm bài tiếng Pháp: viết tập, chính tả, dịch Pháp ra Việt, hội thoại, đọc và dịch miệng (hệ số 5); chính tả tiếng Việt (hệ số 3); bài dịch từ Hán văn ra tiếng Việt (hệ số 4) Ai đã đỗ tú tài, cử nhân kì thi Hương chính mà còn đỗ cả kì phụ sẽ được ưu tiên chọn ra làm quan

Năm 1904, Pháp cho thiết lập chương trình giáo dục hệ Pháp -Việt ở Bắc Kì Ngay từ năm 1865, chính quyền Pháp ở Nam Kì đã phát hành tờ Gia Định báo để thực hiện chủ trương dùng chữ Quốc ngữ ghi tiếng Việt thay thế chữ Nôm

Công văn năm 1910 của Khâm sứ Bắc Kì định rằng tất cả các văn bản dùng cho việc quảng bố như nghị định, quyết định, lệnh, chỉ thị, phán quyết, phải được viết bằng quốc ngữ Công văn này cũng nói thêm rằng việc dùng quốc ngữ phải áp dụng cho thư tín thường lệ giữa các quan triều Nguyễn và chính quyền Pháp, và cho các thông tri của các quan lại gửi đến người dân

Năm 1909, ở Hà Nội có thành lập một Hội thân hữu Pháp Việt để phổ biến và quảng bá chữ quốc ngữ Hội này còn có tên là Bác Văn Hội nhắm đến những mục đích sau đây:

– Đưa ra mắt những tác phẩm văn học An Nam viết bằng chữ khối vuông (chữ nho hay chữ nôm) bằng cách dịch ra quốc ngữ hay tiếng Pháp;

– Dịch ra quốc ngữ những sản phẩm của tri thức Pháp về những môn khoa học, nghệ thuật, luật, kinh tế chính trị, văn học, với dụng ý là ổn định ngữ nghĩa các từ trong tiếng nói của xứ An Nam

Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam sau năm 1945 và nay

Chính sách ngôn ngữ đối với tiếng dân tộc

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 9/11/1946, có viết:

– "Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình" (điều thứ 15)

– "Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước toà án" (điều thứ 66)

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Chủ tịch nước công bố ngày 01/01/1960, viết chi tiết hơn:

– "Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc của mình" (điều 3)

Trang 34

– "Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thuộc các dân tộc thiểu số có thể dùng tiếng nói và chữ viết của mình trước Toà án" (điều 102)

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, viết:

– "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình" (điều 5)

– "Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án" (điều 60)

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992 bổ sung thêm như sau:

– "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình" (điều 5)

– "Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án" (điều 133)

Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ban hành ngày 06/8/1991, khẳng định:

– "Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học"

Luật Giáo dục tiểu học ngày 10/12/1998 viết rõ hơn: "Nhà nước tạo điều kiện

để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ"

Quyết định của Phủ Thủ tướng số 153-CP ngày 20/8/1969 ghi rõ:

"Dân tộc thiểu số nào chưa có chữ viết riêng nếu có đủ điều kiện cần thiết sau đây thì được xây dựng và sử dụng chữ viết của dân tộc mình:

1) Dân số tương đối đông, so với các dân tộc anh em khác

2) Cư trú tương đối tập trung

3) Có nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức trực tiếp bằng tiếng, chữ phổ

thông, có yêu cầu xây dựng chữ viết riêng để phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá trong dân tộc mình

4) Có vốn từ ngữ tương đối phong phú

Dân tộc thiểu số nào đã có chữ viết riêng nhưng nếu xét thứ chữ viết không thuận lợi cho sự tiến bộ của mình, thì có thể cải tiến chữ viết cũ, hoặc xây dựng chữ viết mới

Trang 35

Quyết định của Phủ Thủ tướng số 153-CP, ngày 20/8/1969 quy định rõ:

"Chữ dân tộc cần được sử dụng trong phạm vi và với mức độ sau:

5) Trong việc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá ở vùng người dân tộc đã có chữ viết riêng Trong bổ túc văn hoá, nơi nào không biết hoặc ít biết tiếng phổ thông thì cho học xen kẽ chữ dân tộc với tiếng và chữ phổ thông ở các lớp cấp 1 Từ cấp II trở lên thì học hoàn toàn bằng tiếng Việt và chữ phổ thông Nơi nào quần chúng muốn và có thể học thẳng tiếng và chữ viết phổ thông thì trong xoá nạn mù chữ cũng như trong bổ túc văn hoá nên dạy tiếng và chữ phổ thông, nhưng chú ý giảng bằng tiếng dân tộc để người học hiểu mau và chắc, đồng thời nên cho họ học thêm bộ vần chữ dân tộc để họ đọc được sách báo viết bằng chữ dân tộc

6) Các trường phổ thông trong vùng dân tộc có chữ viết phổ thông cần cho học sinh lớp vỡ lòng và cấp I học xen kẽ chữ dân tộc với tiếng và chữ phổ thông và chú ý cho học sinh làm quen với tiếng và chữ phổ thông càng sớm càng tốt Ở cấp II và III, chủ yếu là dạy tiếng và chữ phổ thông, đồng thời có dạy môn ngữ văn dân tộc

7) Trên các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, thông tin báo chí v.v nên sử dụng rộng rãi tiếng và chữ dân tộc ở những nơi có đông đảo đồng bào dân tộc

8) Nhân dân các dân tộc thiểu số đã có chữ viết riêng thì có quyền dùng chữ dân tộc trong việc ghi sổ sách, viết thư và làm đơn từ gửi các cơ quan Nhà nước; ở những nơi

mà hầu hết đồng bào thuộc một dân tộc, và cán bộ nhân dân đã biết chữ dân tộc thì công văn giấy tờ từ huyện xuống xã nên dùng chữ dân tộc"

Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 53-CP, ngày 22/02/1980 đề ra nhiệm

vụ cụ thể hơn:

"Trong công tác thông tin, tuyên truyền và công tác văn hoá của Nhà nước ở vùng của đồng bào dân tộc thiểu số phải cố gắng kết hợp sử dụng tiếng, chữ dân tộc, giúp cho đồng bào tiếp thu được dễ dàng, nhanh chóng

Trong giao dịch thư tín và trong đơn từ quan hệ với các cơ quan Nhà nước đồng bào dân tộc thiểu số được dùng chữ viết dân tộc, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp

Trang 36

nhận và giải quyết tốt những đơn từ đó"

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế– xã hội miền núi, số 525-TTg ngày 02/11/1993 viết: “Tiếp tục phát triển phát thanh và truyền hình ở miền núi và vùng dân tộc: hết năm 1995, hoàn chỉnh việc phủ sóng truyền hình cho các huyện Nâng cao chất lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc”

Quyết định của Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số, số 53-CP ngày 22/02/1980 viết: "Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước"

Chính sách ngôn ngữ đối với tiếng Việt

Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và đọc bằng tiếng Việt

Điều thứ 18 trong Hiến Pháp năm 1946 quy định: "Người ứng cử phải là người

có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ"

Sắc lệnh 19 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 08/9/1945, ra lệnh: "Việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Quá hạn đó, một người dân Việt Nam trên 8 tuổi

mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ đó sẽ bị phạt tiền"

Sắc lệnh 20 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 08/9/1945 ra lệnh: "Trong toàn cõi Việt Nam, sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối Trong hạn 6 tháng, làng nào và đô thị nào cũng phải có ít ra là một lớp học dạy ít nhất là 30 người"

Quyết định của Hội đồng Chính phủ, số 53-CP ngày 22/02/1980 viết: "Tiếng

và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nó là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật, v.v tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc Vì vậy, mọi người dân Việt Nam đều có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng và chữ viết phổ thông"

Trang 37

Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (ngày 06/8/1991) mới quy định:

"Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học"

Luật giáo dục tiểu học ngày 10/12/1998:

"Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường"

Nhà nước đã tổ chức Hội nghị bàn về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt từ ngày 07–10/02/1966 Ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là:

– Giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta

– Nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta

– Giữ gìn bản sắc, tinh hoa, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn nghệ, chính trị, khoa học, kĩ thuật)

Nghị định của Chính phủ số 194-CP ngày 31/12/1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam quy định:

– Tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo phải là tiếng nói và chữ viết Việt Nam, trừ các trường hợp:

1) Những sách báo, ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng nước ngoài

2) Những chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng nước ngoài

3) Những nhãn hiệu hàng hoá viết tắt và viết bằng tiếng nước ngoài Tên giao dịch quốc tế của các cơ sở sản xuất kinh doanh–dịch vụ đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép Những từ ngữ đã được quốc tế hoá hoặc những từ ngữ mà tiếng Việt không thay thế được

4) Nếu dùng cả tiếng nói và chữ viết nước ngoài phải:

– Viết chữ Việt Nam trước, phía trên, kích thước lớn hơn chữ nước ngoài

– Đọc tiếng Việt Nam trước, tiếng nước ngoài sau

Chính sách ngôn ngữ đối với tiếng nước ngoài

Việc dạy học ngoại ngữ ở trường phổ thông Việt Nam có thể chia thành hai

– Từ 1956 đến năm 1975: Ở miền Bắc, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc được dạy học phổ biến trong các trường cấp III và ở một số trường cấp II, tiếng Anh và tiếng Pháp cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, nhưng với quy mô nhỏ hơn; ở miền Nam, tiếng Anh và tiếng Pháp được dạy học trong các trường phổ thông, chủ yếu ở

Trang 38

các thành phố lớn, tiếng Trung Quốc cũng được dạy nhưng với quy mô nhỏ – Từ năm 1975 đến nay: Cả 4 thứ tiếng trên được dạy học ở trường Trung học cơ sở (cấp II) và trường Trung học phổ thông (cấp III) theo chương trình thống nhất trên phạm vi cả nước

Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 422-TTg về đào tạo ngoại ngữ cho cán bộ công chức chính phủ

1.6 Tiểu kết

Tiến trình phát triển của chữ Hán và tiếng Hoa khá phức tạp, đó là cả một quá trình của lao động, sản xuất và trí tuệ Đó là sự giao thoa ngôn ngữ, tiếp xúc các phương ngữ Hán đến quá trình sử dụng ngôn ngữ ở nước ta

Để thấy rõ được sự ảnh hưởng đó, đồng thời để phát huy và bảo tồn hiện tượng song ngữ Việt- Hoa cần có những khảo sát, đánh giá thực tế, cụ thể và chính xác, phải liên kết với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực để có thể tìm hiểu và phát huy vốn ngôn ngữ đa dạng và phong phú ấy

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CẢNH HUỐNG SONG NGỮ VIỆT - HOA Ở CỘNG

Trang 39

ĐỒNG NGƯỜI HOA TẠI KHU VỰC QUẬN 5, QUẬN 6 VÀ QUẬN 11

2.1 Đánh giá chung về năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng song ngữ trong giao tiếp của người Hoa và người Việt ở quận 5, quận 6 và quận 11

2.1.1 Năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng song ngữ trong giao tiếp của người Hoa

và người Việt ở quận 5, quận 6 và quận 11

Người Hoa ở quận 5, 6, 11 thường dùng tiếng Hoa để giao tiếp với người thân

và những người xung quanh

Khảo sát dựa trên bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc và viết Việc nghe thì có rất nhiều cấp độ khác nhau như nghe, hiểu nhưng không nói được và nghe, hiểu nhưng nói được Việc nghe thì khá phổ biến, vì họ tiếp xúc với nhiều người xung quanh mình Khả năng nói và viết cũng phân ra dựa trên cả hai năng lực nói được- viết được

và nói được- viết không được

Việc khảo sát được thực hiện trên năng lực tiếng mẹ đẻ theo góc độ giới tính, theo góc độ nơi sinh, theo góc độ nơi ở, theo góc độ học vấn và theo góc độ nghề nghiệp đồng thời năng lực tiếng Việt cũng được khảo sát dựa trên những tiêu chí này

Về năng lực ngôn ngữ theo góc độ giới tính:

Trang 40

Biểu đồ thể hiện năng lực tiếng Hoa của người Hoa theo góc độ giới tính

Năng lực tiếng Việt:

Ngày đăng: 22/12/2017, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm