ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA SINH V
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN TRƯỚC TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA
Mã số đề tài: SV2016 – 20
Thuộc nhóm ngành khoa học: Đạo đức – Văn hóa – Xã hội
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thanh Chúc Thành viên tham gia: Lê Thị Cẩm Tiên
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền Oanh
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN TRƯỚC TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA
Mã số đề tài: SV2016 – 20
Thuộc nhóm ngành khoa học: Đạo đức – Văn hóa – Xã hội
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thanh Chúc Thành viên tham gia: Lê Thị Cẩm Tiên
Chữ kí xác nhận của
lãnh đạo khoa
Chữ kí xác nhận của giảng viên hướng dẫn
Chữ kí xác nhận của chủ
nhiệm đề tài
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017
Trang 3BẢN TÓM TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 11
MỞ ĐẦU 12
1 Lý do chọn đề tài 12
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 13
3 Mục đích nghiên cứu 16
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 17
4.1 Đối tượng nghiên cứu 17
4.2 Khách thể nghiên cứu 17
5 Giả thiết nghiên cứu 17
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 17
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 17
7.1 Nội dung 17
7.2 Phạm vi nghiên cứu 17
8 Phương pháp nghiên cứu 17
8.1 Phương pháp luận nghiên cứu 17
8.2 Phương pháp nghiên cứu 18
Chương 1 20
LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 20
1.1 Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết - Một giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam 20
1.1.1 Khái niệm 20
1.1.1.1 Ý thức cộng đồng 20
1.1.1.2 Tinh thần đoàn kết 21
1.1.2 Cơ sở của ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết 23
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên 26
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế 28
1.1.2.3 Điều kiện lịch sử 30
1.1.2.4 Cơ sở văn hóa 33
1.1.3 Nội dung của ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết 35
1.1.3.1 Nội dung của ý thức cộng đồng 36
1.1.3.2 Nội dung của tinh thần đoàn kết 37
1.2 Ảnh hướng của toàn cầu hóa đến ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên 38 1.2.1 Khái niệm 38
Trang 41.2.1.1 Sinh viên 38
1.2.1.2 Toàn cầu hóa 42
1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên Việt Nam 42
1.2.2.1 Tác động tích cực của toàn cầu hóa 42
1.2.2.2 Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45
Chương 2: 46
THỰC TRẠNG TINH THẦN ĐOÀN KẾT, Ý THỨC CỘNG ĐỒNG 46
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SÀI GÒN 46
TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 46
2.1 Một vài nét khái quát về Trường Đại học Sài Gòn và truyền thống vì cộng đồng của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh 46
2.1.1 Một vài nét khái quát về Trường Đại học Sài Gòn 46
2.1.2 Truyền thống đoàn kết, vì cộng đồng của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh 47
2.2 Thực trạng tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên Đại học Sài Gòn hiện nay 52
2.2.1 Cách thức nghiên cứu 52
2.2.1.1 y ựng ảng h i 52
2.2.1.2 Các th ng số chung 53
2.2.2 Kết quả nghiên cứu 55
2.2.2.1 Nhận thức của sinh viên Đại học Sài Gòn về giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam 56
2.2.2.2 Về thái độ, tình cảm của sinh viên Đại học Sài Gòn với đoàn kết vì cộng đồng 59
2.2.2.3 Hoạt động của sinh viên Đại học Sài Gòn đoàn kết vì cộng đồng 61
2.2.3 Nguyên nhân hạn chế và những vấn đề đặt ra 65
2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan 65
2.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 67
2.2.3.3 Những vấn đề đặt ra 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67
Chương 3: 69
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG, TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN TRƯỚC TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA 69
3.1 Phương hướng 69
3.1.1 Mục tiêu xây dựng sinh viên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 69
Trang 53.1.2 Hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đào tạo Thành phố Hồ
Chí Minh 71
3.2 Một số giải pháp cơ ản nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên Trường Đại học Sài gòn trước tác động của toàn cầu hóa 72
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 72
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 6BẢN TÓM TẮT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“Nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
trước tác động toàn cầu hóa”
Mã số: SV2016-20
1 Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là một trong những giá trị đạo đức truyền
thống quý báu của dân tộc ta Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ý chí tự lực, tự cường dân tộc Nó góp phần làm nên một Việt Nam vững bước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay Vì thế nó đã trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc ta, góp phần đáng kể
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử Việt Nam
Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;
Thành công, thành công, đại thành công
Trong chiến tranh, thanh niên - sinh viên Việt Nam đã biết hy sinh những tình cảm cá nhân cho tình yêu quê hương, đất nước Họ biết gạt bỏ những cái tôi cá nhân vì sự nghiệp đấu tranh chung của dân tộc Ngày nay, trong thời bình, thanh niên - sinh viên muốn có cuộc sống hạnh phúc hơn thì càng phải xác định rõ đạo đức, lối sống cho chính mình để góp phần vào làm giàu mạnh đất nước, góp phần siết chặt tình đoàn kết dân tộc
Song, việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho thanh niên - sinh viên
trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam cũng đã hướng vào xây dựng tinh thần tập thể, đoàn kết, gắn bó lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, chống lại lối sống thực dụng, thấp hèn, không chỉ bằng tuyên truyền, giáo dục mà còn bằng việc nêu gương điển hình người tốt, việc tốt, giáo dục tinh thần tập thể trong lao động, học tập, rèn luyện cho sinh viên
Chẳng những thế trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế Trên lĩnh vực văn hóa, văn hóa Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình ấy Trong hội nhập văn hóa chúng ta phải có những nguyên tắc nhất định để bảo
Trang 7vệ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới
Vì thế, đất nước ta đang rất cần thế hệ sinh viên vừa có đức, vừa có tài, có sức khỏe, tư duy năng động,… Và đặc biệt là phải có ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết tạo động lực, sức mạnh để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và hòa nhập với quốc tế
Tuy nhiên, trước một thực tế đó, không ít sinh viên thiếu tinh thần trách nhiệm xã hội, thiếu đoàn kết, không có ý thức cộng đồng, sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước Vì thế, họ giam hãm mình trong “cái tôi” của chủ nghĩa
cá nhân Nhiều sinh viên không quan tâm đến thời sự, chính trị, sống vô cảm, thờ ơ những
những khó khăn, bất hạnh của người khác,… đây là một điều đáng lo ngại Có những thanh niên - sinh viên xa rời các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả, kể cả Tổ quốc mình để đổi lấy cuộc sống vật chất vương giả Trong khi đất nước còn khó khăn, nhiều người được đưa đi nước ngoài đào tạo học tập, nghiên cứu, nhưng khi học xong họ lại không muốn trở về phục vụ đất nước mà lại tìm cuộc sống sung sướng cho riêng bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đức mới, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đối với sinh viên Việt Nam nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng
Bên cạnh đó, đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế như: Hồ Sĩ Vịnh (1993): Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa; Dương Phú Hiệp và Nguyễn Duy Dũng (1998): Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á; Trần Ngọc Thêm (1991): Đi tìm bản sắc văn hóa Việt Nam; Hồ Sĩ Vịnh (1999): Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới,… Nhưng chưa có đề tài nghiên cứu về nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
Chính vì vậy, chúng tôi chọn chủ đề: “Nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động toàn cầu hóa” làm đề tài
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Nghiên cứu ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của dân tộc ta trước tác động của toàn cầu hóa:
- Tìm thực trạng ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa;
- Nêu một số giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu
- Tìm thực trạng ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa;
- Nêu một số giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử: Căn cứ vào đối
tượng nghiên cứu của đề tài, tác giả làm rõ những trước tác động ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết trước của toàn cầu hóa đối với sinh viên;
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng để thu thập thông tin về các cơ
sở lý luận, các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài, lựa chọn những tài liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu, kế thừa những công trình nghiên cứu phù hợp với đề tài, tìm hiểu những vấn đề mà trước đây các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến;
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: được sử dụng trong toàn bộ quá
trình thực hiện đề tài, tổng hợp tất cả những dữ liệu thu thập, tiến hành phân tích, đánh giá về ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết trước tác động của toàn cầu hóa của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn
Trang 9+ Phương pháp so sánh sử dụng các dữ liệu khảo sát thu thập được trong các điều kiện khảo sát khác nhau (các trường khác nhau, các ngành khác nhau, điều kiện học tập
khác nhau, ) để đưa ra kết luận về thực trạng, tầm quan trọng và đưa ra các giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết trước tác động của toàn cầu hóa cho sinh viên Trường Đại học Sài Gòn
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
+ Phương pháp nghiên cứu định tính
Phỏng vấn giảng viên dạy Đạo đức học, Mỹ học, Văn hóa học, … để đưa ra bảng hỏi;
Phỏng vấn sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, sau đó đưa ra được bảng hỏi
+Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:
Chọn quần thể nghiên cứu: chủ định chọn là sinh viên Trường Đại học Sài Gòn;
Chọn cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu quan sát dựa trên công thức đơn giản của Taro Yamane (2012) Do số lượng sinh viên Trường Đại học Sài Gòn lớn hơn 5.000 người nên nhóm sử dụng công thức tính kích cỡ mẫu tối thiểu là lớn nhất với p = q = 0.5
= 0.25x = 384
Trong đó:
n: Số lượng quan sát mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra
Z: Giá trị biến thiên chuẩn ứng với độ tin cậy P= 0.95
ε: sai số cho phép (+-5%)
Công cụ phân tích
Đề tài sử dụng công cụ phân tích dữ liệu bằng phần mềm xử lý SPSS 16.0 thông qua các bước phân tích nhân tố khám phá và hồi quy bội nhằm khẳng định các yếu tố
Trang 10cũng như các giá trị và độ tin cậy của các thang đo sự tác động của toàn cầu hóa đối với ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn; thực trạng ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
5 Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo khoa học,
phần mềm máy tính, quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế, …)(nếu có)
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Nhận thức của sinh viên về: Tinh thần cộng đồng và
truyền thống đoàn kết là một giá trị trong truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam
55
2 Bảng 2.2 Nhận thức của sinh viên về: Truyền thống đoàn kết của
dân tộc Việt Nam có cội rễ sâu xa từ nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
56
3 Bảng 2.3 Nhận thức của sinh viên về: Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 56
4 Bảng 2.4
Nhận thức của sinh viên về: Tác động của toàn cầu hóa đến
59
8 Bảng 2.8
Thái độ của sinh viên về: Nâng cao nhận thức chính trị,
lý tưởng sống đúng đắn, ý thức trách nhiệm với cộng đồng trong thanh niên
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là một trong những giá trị đạo đức truyền
thống quý báu của dân tộc ta Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ý chí tự lực, tự cường dân tộc Nó góp phần làm nên một Việt Nam vững bước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay Vì thế nó đã trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc ta, góp phần đáng kể
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử Việt Nam
Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;
Thành công, thành công, đại thành công
Trong chiến tranh, thanh niên - sinh viên Việt Nam đã biết hy sinh những tình cảm
cá nhân cho tình yêu quê hương, đất nước Họ biết gạt bỏ những cái tôi cá nhân vì sự nghiệp đấu tranh chung của dân tộc Ngày nay, trong thời bình, thanh niên - sinh viên muốn có cuộc sống hạnh phúc hơn thì càng phải xác định rõ đạo đức, lối sống cho chính mình để góp phần vào làm giàu mạnh đất nước, góp phần siết chặt tình đoàn kết dân tộc
Song, việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho thanh niên - sinh viên
trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam cũng đã hướng vào xây dựng tinh thần tập thể, đoàn kết, gắn bó lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, chống lại lối sống thực dụng, thấp hèn, không chỉ bằng tuyên truyền, giáo dục mà còn bằng việc nêu gương điển hình người tốt, việc tốt, giáo dục tinh thần tập thể trong lao động, học tập, rèn luyện cho sinh viên
Chẳng những thế trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế Trên lĩnh vực văn hóa, văn hóa Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình ấy Trong hội nhập văn hóa chúng ta phải có những nguyên tắc nhất định để bảo
vệ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới
Vì thế, đất nước ta đang rất cần thế hệ sinh viên vừa có đức, vừa có tài, có sức khỏe, tư duy năng động,… Và đặc biệt là phải có ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết tạo động lực, sức mạnh để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và hòa nhập với quốc tế
Trang 13Tuy nhiên, trước một thực tế đó, không ít sinh viên thiếu tinh thần trách nhiệm xã hội, thiếu đoàn kết, không có ý thức cộng đồng, sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước Vì thế, họ giam hãm mình trong “cái tôi” của chủ nghĩa
cá nhân Nhiều sinh viên không quan tâm đến thời sự, chính trị, sống vô cảm, thờ ơ những
những khó khăn, bất hạnh của người khác,… đây là một điều đáng lo ngại Có những thanh niên - sinh viên xa rời các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả, kể cả Tổ quốc mình để đổi lấy cuộc sống vật chất vương giả Trong khi đất nước còn khó khăn, nhiều người được đưa đi nước ngoài đào tạo học tập, nghiên cứu, nhưng khi học xong họ lại không muốn trở về phục vụ đất nước mà lại tìm cuộc sống sung sướng cho riêng bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đức mới, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đối với sinh viên Việt Nam nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng
Bên cạnh đó, đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế như: Hồ Sĩ Vịnh (1993): Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa; Dương Phú Hiệp và Nguyễn Duy Dũng (1998): Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á; Trần Ngọc Thêm (1991): Đi tìm bản sắc văn hóa Việt Nam; Hồ Sĩ Vịnh (1999): Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới,… Nhưng chưa có đề tài nghiên cứu về nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
Chính vì vậy, chúng tôi chọn chủ đề: “Nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa” làm
đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình được các tác giả nghiên cứu, điển hình về vấn đề giá trị văn hóa truyền thống và toàn cầu hóa như:
+ Thành Duy (2007), Văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa - thời cơ và thách thức, Nxb Văn hóa và Viện văn hóa: chỉ ra những thời cơ và thách thức mà toàn cầu
hóa đem đến cho nước ta Đồng thời rút ra bài học với sức mạnh của truyền thống văn hóa
Trang 14lâu đời của dân tộc, chúng ta càng có niềm tin vào khả năng của nhân dân ta trong việc nắm bắt thời cơ của toàn cầu hóa để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu tiến kịp thế giới văn minh, phải vượt qua những thách thức để tránh xa những cám dỗ thuộc mặt trái
của chủ nghĩa tư bản, cũng là mặt tiêu cực của toàn cầu hóa hiện đại
+ Thomas L.Friedman, Chiếc Lexus và cây Ôliu, NXB Khoa học xã hội (2005):
Những thời cơ và thách thức mà toàn cầu hóa mang đến cho các nước trên thế giới nói chung cũng như các nước đang phát triển nói riêng đã được thể hiện rất rõ trong cuốn sách Nhưng đặc biệt ở quyển sách này chính là các nhận định của tác giả hết sức táo bạo dựa trên lập trường tư bản chủ nghĩa Theo Ông ―thường thì văn hóa rất chậm thay đổi Phát triển một đời xe Lexus mới đễ dàng hơn nhiều so với việc thay đổi các giống cây Ôliu – Vì
có khi phải mất hàng thế hệ‖ (tr.642) và ông cũng nói khá rõ một khi văn hóa đã chậm thay đổi, để cho văn hóa toàn cầu hóa tràn vào, làm thay đổi nền văn hóa bản địa thì cũng có nghĩa là văn hóa bản địa không còn cơ hội để thay đổi nữa Nền văn hóa ấy sẽ mất dần bản sắc dân tộc và nguy cơ đồng hóa văn hóa với văn hóa các nước lớn mà chủ yếu là văn hóa
việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh tàn cầu hóa
+ Đinh Ngọc Thạch (2009), Quản lý văn hóa và sáng tạo văn hóa trong bối cảnh
toàn cầu hóa, Kỷ yếu hội thảo “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập” Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai tổ chức tại Thành phố Biên Hòa: Sự xáo trộn tự
phát trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, chủ nghĩa lãng mạn ngây thơ dẫn đến hiện tượng tha hóa bản sắc, nghịch lý giữa tính mở của không gian giao tiếp và sự biệt hóa ngày càng sâu sắc giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, các dân tộc và các khu vực Toàn
Trang 15cầu hóa có thể tạo nên những biến thái mới, làm thay đổi các chuẩn mực, các giá trị…và nuốt chửng cả một nền văn hóa, nếu nền văn hóa ấy không đủ sức vượt qua thách thức Trong đó, hệ quả nặng nề nhất là nền văn hóa của một dân tộc bị đồng hóa bởi các nền văn hóa khác lớn mạnh hơn
+ Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2001): “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa”cùng nhau tập hợp những bài viết chọn lọc của một số
tác giả viết cho hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại Hà Nội Công trình trên đã đưa
ra những thách thức và cơ hội của toàn cầu hóa đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc Đặc biệt là làm bật lên được bản chất, mục đích của toàn cầu hóa
+ Hồ Sỹ Vịnh (1999):“Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa” (1993), “Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới”; “Đi tìm bản sắc văn hóa Việt Nam” (1991) của tác giả
Trần Ngọc Thêm,…đều đề cập đến các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, cần phải được giữ gìn và phát huy nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa Trên con đường hội nhập, văn hóa Việt Nam cần tiếp thu những cái mới tuy nhiên phải giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam
+ Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2004): Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài
“Đoàn thanh niên với việc xây dựng lối sống cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay”,
Hà Nội, 2004, tr.219: Theo báo cáo đề tài khoa học về ý thức cộng đồng thì có 86,4% số
người được hỏi thừa nhận học được tiếp thu giá trị này từ gia đình và 80,8% cho rằng cần phải truyền dạy cho con cháu tinh thần đoàn kết cộng đồng, cho thấy đây là những giá trị được nhiều người quan tâm và tôn trọng
+ Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên) (2014): Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb Chính
trị Quốc gia: Khẳng định ―tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của con người Việt Nam là
cơ sở bền vững cho tinh thần dung cảm phi thường và trí thông minh sáng tạo, là cốt lõi của những giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam
+ Trần Độ: “Bàn về lối sống và nếp sống ã hội chủ nghĩa” (chủ biên) đã trình bày
khá hệ thống các khái niệm và các mặt cần nghiên cứu của lối sống ở Việt Nam theo mô hình chủ nghĩa xã hội
Trần Thị Minh Đức: “ nh hưởng của môi trường ký t c á sinh viên với lối sống sinh viên nội tr ” đã phân tích thực trạng lối sống sinh viên trong môi trường ký túc xá
Trang 16+ Đỗ Long “ ối sống và nhân cách của thanh niên” trình bày mối quan hệ của lối
sống với việc hình thành nhân cách cho thanh niên
+ Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục:“Đ c điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng biện pháp giáo dục” đã xác định khái niệm lối sống sinh viên và nêu
ra một hệ thống những đặc điểm chủ yếu của lối sống sinh viên, từ đó tác giả đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm giáo dục lối sống cho sinh viên
+ Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2001), ―Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời k đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước‖, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống với đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội
+ Thanh Lê:“ ối sống ã hội chủ nghĩa và u thế toàn cầu hóa” (chủ biên) Khái
niệm ―Lối sống‖ được nghiên cứu với ý nghĩa là một hình thái kinh tế - xã hội qua công trình Tập thể tác giả và tác giả Nguyễn Ngọc Hà với công trình ― Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn‖ đã trình bày những quan điểm khác nhau về định nghĩa ― lối sống‖
+ Trần Văn Bính: ―Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế‖: Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tất yếu đối với mọi quốc gia, tác động tích cực trên cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tinh thần, trong đó có lối sống;…
Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu “Nâng cao ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết của của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa”
Đề tài không trùng lặp với các đề tài của các tác giả đi trước
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài khảo sát tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
Trang 174 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trước tác
động của toàn cầu hóa về văn hóa
4.2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Trường Đại học Sài Gòn
5 Giả thiết nghiên cứu
Biểu hiện tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên đại học sài Gòn ở mức
độ khá tốt Tuy nhiên, vẫn còn một số ít sinh viên vẫn chưa tích cực trong nhận thức cũng
như hành động vì cộng đồng, thể hiện tinh thần đoàn kết của sinh viên hiện nay chưa cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên;
- Đề tài khảo sát thực trạng tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên Đại học Sài Gòn hiện nay;
- Đề tài đưa ra một số giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trường Đại học Sài Gòn trước tác động của toàn cầu hóa
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1 Nội dung
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng về tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn ở các khía cạnh: nhận thức về ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết; Thái độ, tình cảm về ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trong học tập, trong các hoạt động xã hội; Hành động của sinh viên qua những việc làm cụ thể qua đó thể hiện tinh thần đoàn kết vì cộng đồng
7.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Trường Đại học Sài Gòn
+ Về thời gian: Từ năm 2012 - 2017
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Trang 18- Quan điểm hệ thống cấu trúc: Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài ta
tìm hiểu tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng của sinh viên diễn ra trên các mặt: nhận thức, tình cảm và hành động
- Quan điểm thực tiễn: Nghiên cứu tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng xuất phát
từ thực tiễn cuộc sống, có ý nghĩa thực tiễn, giúp giải quyết những vấn đề của thực tiễn
8.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu
+ Cách thực hiện: Tham khảo các công trình nghiên cứu: sách, tạp chí,… có liên quan đến đề tài Hệ thống hóa những tài liệu nói trên để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chính của đề tài
Mục đích: Thu thập thông tin từ sinh viên nhằm tìm hiểu về sự biểu hiện của ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên trước tác động của toàn cầu hóa
Cách thực hiện: Phát cho sinh viên những phiếu thăm dò ý kiến Đề nghị sinh viên trả lời câu hỏi
+ Phương pháp phỏng vấn (Phương pháp nghiên cứu định tính)
Mục đích: nhằm thu thập thêm thông tin sâu hơn về vấn đề nghiên cứu
Cách thực hiện: đặt câu hỏi cho sinh viên trả lời thông qua các bảng hỏi phỏng vấn Phỏng vấn giảng viên dạy Đạo đức học, Mỹ học, Văn hóa học, …đưa ra bảng hỏi; Phỏng vấn sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, sau đó đưa ra được bảng hỏi
+ Phương pháp toán thống kê (Phương pháp nghiên cứu định lượng)
Mục đích: xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được
+ Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:
Chọn quần thể nghiên cứu: chủ định chọn là sinh viên Trường Đại học Sài Gòn;
Trang 19Chọn cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu quan sát dựa trên công thức đơn giản của Taro Yamane (2012) Do số lượng sinh viên Trường Đại học Sài Gòn lớn hơn 5.000 người nên nhóm sử dụng công thức tính kích cỡ mẫu tối thiểu là lớn nhất với p = q = 0.5
= 0.25x = 384
Trong đó:
n: Số lượng quan sát mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra
Z: Giá trị biến thiên chuẩn ứng với độ tin cậy P= 0.95
ε: Sai số cho phép (± 5%)
Trang 20Hữu Ngọc có viết trong Vài ý kiến về tính cộng đồng của người Việt dưới góc nhìn
văn hóa với cách hiểu khái niệm ―Tính cộng đồng của người Việt‖ hiểu theo nghĩa rộng
thông thường tiếng Việt, đó là ý thức và tình cảm gắn bó người tộc Việt với nhau (tức là tính cộng đồng dân tộc Việt)
Theo nghĩa hẹp của bộ môn Nhân học văn hóa (Cultural anthropology), tính cộng
đồng chỉ sự gắn bó với từng nhóm trong cộng đồng dân tộc lớn… (in-group: gia đình, thân tộc, tôn giáo…) gần như tính tập thể
Trong “Ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia” của Tiến sĩ Vũ Dũng có đề cập đến khái niệm Ý thức cộng đồng như một khái niệm mở, được hiểu như
Trang 21một nhóm xã hội lớn hoặc nhỏ, tác giả viết ―Trong cộng đồng, các cá nhân có những mối liên hệ và phối hợp hàng động với nhau trực tiếp hơn Sự ảnh hưởng giữa các cá nhân với nhau rõ nét hơn”
Theo nhóm nghiên cứu ch ng tôi đồng ý nhất với khái niệm: “Ý thức cộng đồng có thể hiểu là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách hành xử, thể hiện thái độ của con người, của các nhóm xã hội đối với cộng đồng Nói cách khác đó
là sự quan tâm, cư ử của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức với cộng đồng xung quanh‖ [13]
Nói về tinh thần đoàn kết dân tộc, không khó để tìm thấy các bài viết bàn luận về
vấn đề này, ―Đại đoàn kết được xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là
tình cảm tự nhiên của người trong một nước phải thương nhau cùng‖, có viết trong tư duy
Trang 22lý luận của Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết được hình thành và phát triển trên một nền tảng lý luận khoa học và thực tiễn phong phú sâu sắc Lý luận về đại đoàn kết dân tộc của
Hồ Chí Minh thể hiện ở các quan điểm cơ bản sau: ―Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng có ý nghĩa chiến lược cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân Thứ tư, Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, xoá bỏ chế độ cũ, ây dựng chế độ mới; vì vậy, nó phải được biến thành lực lượng vật chất, sức mạnh vật chất có tổ chức, đó
là m t trận thống nhất Thứ năm, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc
tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai
cấp công nhân.” (Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, t.2 Viện Hồ Chí Minh xuất bản,
1993, tr43)
Từ xưa đến nay, con người Việt Nam luôn có tinh thần đoàn kết trong mọi công việc Đây là một phẩm chất tốt đẹp của dân tộc ta Phẩm chất này được ông cha ta đức kết thành câu ca dao:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Tinh thần đoàn kết của dân tộc ta chứng minh bằng sự phát triển của nó qua quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta Từ các đời vua Hùng Vương, nhân dân ta đã biết đứng dậy cùng nhau đâu tranh chống giặc ngoại xâm Từ thời Bà Trưng, Bà Triệu,… cho đến Trần Nhân Tông, Nguyễn Huệ, những vị anh hùng dân tộc đã kiên cường, bất khuất đã giành nhiều thắng lợi không chỉ nhờ vào chiến lược hay mà còn nhờ vào tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Đó cũng chính là động lực giúp nhân dân vượt qua mọi rào cản và ngày càng khẳng định rõ hơn về quyền lãnh thổ của đất nước bằng
sự chung sức, chung lòng
Tinh thần đoàn kết ấy ngày càng được nâng cao khi nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Bằng những vũ khí thô sơ, nước Việt Nam nhỏ bé lại có thể chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh với những trang bị vũ khí hiện đại, tất là đều ở tinh thần đoàn kết của nhân dân ta Dù có khó khăn đến máy thì khi có tinh thần đoàn kết ta cũng dễ dàng thực hiện được
Trang 23Tinh thần đoàn kết rất cần và trong một tập thể thì vai trò của tinh thần đoàn kết càng trở nên quan trọng Thể hiện tinh thần đoàn kết còn là biểu hiện của người có văn hóa, có tri thức Tập thể nào vẫn còn có ―trống đánh xuôi, kèn thổi ngược‖, có người luon tìm cách chia bè phái gây mất đoàn kết, từ đó hình thành nên những mâu thuẫn, hiềm khích không đáng có Thái độ và hành động đó cần đươc phê phán
1.1.2 Cơ sở của ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết
Trong những giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét đặc sắc Truyền thống này hình thành một lúc với
sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ ―đồng‖ (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống
với nhau có tình có nghĩa Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ ―Nghĩa‖ có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng
Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên
―công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu‖, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù
Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn Bất k ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù
Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt
và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Nó là nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống
Trang 24của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có được sức mạnh
to lớn trước mọi thử thách
Ý thức về tinh thần đoàn kết của người Việt Nam đã trở thành một truyền thuyết - truyền thuyết về hai chữ "đồng bào" (mọi người cùng trong một cái bọc mà ra) Truyền thuyết này phản ánh nhu cầu và mong ước của người xưa về sự gắn bó giữa những con người với nhau
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Chính trong hoàn cảnh luôn luôn phải chống lại giặc ngoại xâm với tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần mà truyền thống này được hình thành và củng cố Bởi vì trong thử thách đầy cam go, khắc nghiệt ấy chỉ có đoàn kết một lòng nhân dân ta mới có sức mạnh để bảo tồn dân tộc, phát triển sản xuất Cha ông ta đã ý thức sâu sắc rằng ―đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết‖
Tinh thần đoàn kết là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm Lịch sử dân tộc đã cho thấy rằng bất cứ khi nào chúng ta không thực hiện được đoàn kết toàn dân, trong nội bộ có sự chia rẽ thì sức mạnh đất nước bị suy yếu, kẻ thù dễ dàng chiến thắng, còn đất nước bị đặt trước sự tồn vong Thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV là một trường hợp tiêu biểu Còn khi nào nhân dân ta trên dưới đoàn kết một lòng thì cho dù kẻ thù có hùng mạnh đến đâu cũng bị nhân dân ta chặn bước tiến xâm lược Những trang sử hào hùng và vẻ vang của nhà Trần chống quân Nguyên Mông, của cả dân tộc ta chống Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ là minh chứng hùng hồn cho chân lý mà Chủ tịch Hồ chí Minh đã tổng kết:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Ông cha ta từ xưa đã ý thức rõ rằng với một dân tộc đất không rộng, người không đông chỉ có đoàn kết chúng ta mới có sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù Chính vì vậy, cha ông ta kiên quyết chống lại chính sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu hướng cát cứ của các thế lực phong kiến
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc sâu sắc là một truyền thống văn hóa của dân tộc ta mà ngày nay vẫn cần được giữ gìn và phát huy Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ
Trang 25Chí Minh khẳng định: ―đoàn kết là một truyền thống cực k quý báu của Đảng và của nhân dân ta‖
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định rằng ý thức cộng đồng cao là một trong những đặc điểm chung quan trọng nhất của văn hoá và văn hoá chính trị phương Ðông Ý thức cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái cũng là một giá trị, một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu xa từ trong phương thức sinh tồn (phương thức tổ chức xây dựng và quản lý điều hành các công trình thủy lợi - yếu tố sống còn của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nói riêng, yếu cầu cố kết chống thiên tai nói chung; yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm ) và từ trong phương thức tổ chức xã hội truyền thống (căn bản dựa trên các cộng đồng gia đình, dòng tộc, làng, liên làng) Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo và một truyền thống quý báu – một bệ đỡ quan trọng nhất của chủ nghĩa yêu nước - cơ sở và cội nguồn của sức sống và nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam [13]
Cho đến nay nhiều chuyên gia nổi tiếng thế giới đều khẳng định rằng tính cộng
đồng cao là một trong những đặc điểm chung quan trọng nhất của văn hóa và văn hóa chính trị Á Đông Tinh thần cộng đồng (comminitarianism community spirit) và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái cũng là một giá trị, một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu xa từ trong phương thức sinh tồn (phương thức tổ chức xây dựng và quản lý điều hành các công trình thủy lợi – yếu tố sống còn của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm ) và từ trong phương thức tổ chức xã hội truyền thống (căn bản dựa trên các cộng đồng gia đình, họ tộc, làng, liên làng và siêu làng)
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo và một truyền thống quý báu – một bệ đỡ quan trọng nhất của chủ nghĩa yêu nước –
cơ sở và cội nguồn của sức sống và nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam
Trong thời k hiện đại, ở nhiều nước Á Đông vốn có chung nhiều đặc điểm, giá trị
và truyền thống văn hóa với Việt Nam, người ta đã rất chú tâm nghiên cứu để nhận dạng
Trang 26và phát huy tác động tích cực của các giá trị và yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó có tinh thần cộng đồng, trong chiến lược phát triển quốc gia cũng như trong hoạt động quản
lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra sức mạnh cố kết, năng lực sáng tạo và cạnh tranh rất cao Đi đầu trong xu hướng này là các nhà khoa học, các chính khách và đặc biệt là giới doanh nhân Nhật Bản ―Văn hóa công ty‖ - một đặc thù của các tập đoàn kinh tế và các công ty Nhật Bản chính là một trong những sản phẩm độc đáo của các lý thuyết quản lý và cạnh tranh của mà giới doanh nhân và chiến lược gia Nhật Bản đã sáng tạo nên trong nền kinh tế thế giới sau Thế chiến II Ngày nay xu hướng
đề cao tinh thần, ý thức và ý chí cộng đồng, trong khi vẫn tạo điều kiện để phát huy tối đa năng lực sáng tạo
Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, việc đề cao quá mức tính cộng đồng cũng dẫn đến những tác động và hệ quả tiêu cực không nhỏ, đó là sự coi thường, xâm hại lợi ích và quyền tự do cá nhân; là sự hạn chế thậm chí bóp chết những sáng tạo cá nhân; là tư duy bình quân cào bằng; là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc theo kiểu ―chín bỏ làm mười‖, ―hòa cả làng‖; đặc biệt là thói quen đem đặt lợi ích của cộng đồng nhỏ, của bộ phận đối địch với lợi ích của cộng đồng lớn [13]
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết nảy sinh từ buổi sơ khai của những tộc người Việt (Âu Việt, Lạc Việt) Ở vào một hoàn cảnh địa lý: đất nước trải dài trên bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc rộng lớn, phía Đông là biển Thái Bình Dương, phía Tây núi non hiểm trở, con người Việt Nam từ khi mở nước đến sau này đã tự ý thức phải dựa vào nhau và gắn bó với nhau trong một cộng đồng, tập thể để tồn tại và phát triển
Do địa bàn tụ cư nằm ở khu vực Đông Nam Á với hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, người Việt được thiên nhiên ưu đãi bởi nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, lượng phù sa bồi đắp cho các đồng bằng châu thổ, các loài động vật dưới biển và trên cạn phong phú Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một nước có điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt, với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa đông thì lạnh giá, khô hạn, gây nên các trận hạn hán, đồng ruộng khô nẻ, thiếu nước trầm trọng; mùa hè thì nóng bức, mưa nhiều gây lũ lụt, bão tố, lở đất, xói mòn,…Nền khí hậu nhiệt đới âm gió mùa cũng là điều kiện thuận lợi làm phát sinh dịch bệnh, sâu hại,…phá hoại mùa màng, cây cối, cướp đi cuộc sống của biết bao con người cũng như vật nuôi Chính điều đó đã
Trang 27làm cho cuộc sống của người Việt hết sức khó khăn, mất mùa, đói kém, dịch bệnh,… xảy
ra liên miên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Do đó, con người phải làm lụng vất vả quanh năm để tồn tại
Với phương thức sản xuất còn hết sức lạc hậu, tự cấp tự túc, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, người Việt bắt đầu tìm cách chế ngự thiên nhiên, hạn chế những thiên tai do thiên nhiên mang lại Công cuộc chinh phục thiên nhiên của con người được bắt đầu bằng sự liên kết nhau lại của những người Việt cổ Họ nhận thấy sự cần thiết phải sống tập trung lại với nhau, nương tựa vào nhau và sự cần thiết phải có sức mạnh của một tập thể để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt ấy Họ đã tập hợp nhau lại để tiến hành đắp đê, ngăn sông, ngăn biển để đối phó với lũ lụt hàng năm cũng như để ngăn chặn sự xâm mặn của nước biển Đồng thời, họ xây dựng những công trình thủy lợi như đào kênh, mương dẫn nước vào đồng ruộng, khắc phục hạn hán, khơi sông, ngăn dòng, đào những ao hồ nhân tạo để phục vụ mùa màng và cuộc sống Ngoài ra, hàng năm con người còn thường xuyên phải quai đê, hộ đê, trồng rừng ven biển,… Những công việc ấy đòi hỏi ý chí vì mình, vì cộng đồng, cùng sức lực không phải của một người mà phải là sự đoàn kết, chung sức của hàng nghìn, hàng nghìn người góp lại, "xây đắp hàng vạn cây số đê và thường xuyên chống lụt, chống hạn, rồi tiếp sau đó là đẩy mạnh việc khẩn hoang, khai phá vùng đất phía Nam, tăng gấp hai lần diện tích đất canh tác cho đất nước Sự nghiệp vĩ đại đó sao có thể thành công nếu như không có sức mạnh của cộng đồng?‖ [11, tr.64]
Để tồn tại, điều kiện đầu tiên là con người phải gắn bó với nhau trong lao động, trong cuộc sống hàng ngày Do vậy, người dân Việt Nam từ xưa đến nay đã phải lao động trong những hoàn cảnh khó khăn, đồng cam cộng khổ, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh sống khắc nghiệt Lịch sử phát triển Việt Nam từ Bắc tới Nam cho thấy, nếu con người không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau thì không thể tồn tại Trong gian khổ, con người càng phải nương tựa vào nhau để sống, đấu tranh bảo vệ thành quả lao động của mình Gắn bó với nhau trong lao động như vậy, con người càng thấy được thành quả lao động không phải chỉ là của riêng mình, mà đó còn là của những người lao động khác cùng với mình nữa Chính nhờ vậy, họ ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng, từ đó, ý thức cộng đồng dân tộc dần hình thành và ngày càng trở nên bền chặt
Trang 28Lịch sử đã chứng minh ý thức cộng đồng dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm ngay từ thuở khai sinh, lập địa Đặc biệt là sự ra đời của Nhà nước Văn Lang ―xuất phát từ nhu cầu cố kết con người thành cộng đồng để vừa chống thiên tai, làm thuỷ lợi vừa tăng cường sức mạnh chống ngoại xâm‖ [12, tr.36]
Công cuộc chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại làm cho nhu cầu của con người về đoàn kết, cố kết với nhau tạo thành nguồn sức mạnh to lớn vượt qua mọi khó khăn
Như vậy, chính điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành nên ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, đã gắn kết những con người riêng lẻ thành cộng đồng, đã gộp sức yếu ớt của từng người thành sức mạnh cộng đồng, đã hòa ý thức của những người riêng lẻ thành ý thức chung của cộng đồng Từ đây, những con người riêng
lẻ, yếu ớt đã biết nương tựa vào nhau, cùng đồng sức, đồng lòng đấu tranh khắc phục thiên tai, dựng xây nên những công trình trị thủy,…mà cho tới tận ngày nay tinh thần đó,
ý thức đó vẫn đang được người Việt Nam tiếp tục phát huy
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế
Với một nền khí hậu nhiệt đới gió mùa vô cùng khắc nghiệt, bên cạnh sự chung sức
để đấu tranh chống thiên tai, chống lại sự hà khắc của thiên nhiên, con người Việt Nam lại tiếp tục chung sức trong lao động sản xuất, làm kinh tế nhằm phát triển cuộc sống của mình
Để đối phó với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, những người Việt cổ đã sớm tìm cách thích ứng và hòa nhập tối đa với những điều kiện thiên nhiên ấy Đồng thời, để phát triển cuộc sống của mình, họ phải liên kết nhau lại, bỏ ra rất nhiều công sức để có thể trụ lại trên mảnh đất của mình, cùng sản xuất
và tổ chức đời sống để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp văn minh Cách thức mà người Việt cổ tiến hành đó là: ―tiến hành nền sản xuất đa canh, thực hiện nhiều biện pháp thuỷ lợi nhằm bảo đảm kết quả cho mùa màng, khai thác triệt để nguồn lợi tự nhiên của nước và rừng…Trong cuộc vật lộn để kiếm sống này, trong cuộc gian lao dựng nước này
đã hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp mà nổi lên là đức tính cần cù, kiên nhẫn, ý thức cộng đồng gắn bó…‖ [16, tr.115-116]
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là một trong những nền tảng đạo lý Việt thể hiện đậm nét cơ cấu làng xã Việt Nam và phương thức canh tác kiểu làng xã Làng xã
Trang 29Nam-được hình thành trên cơ sở sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước truyền thống Làng xã được hình thành cùng với chế độ phong kiến và là một đơn vị tụ cư gồm nhiều gia đình có tổ chức để cùng cư trú, làm ăn, sinh sống ―Làng, nếu xét thuần tuý
là một đơn vị hành chính thì tự nó không tạo ra ý thức cộng đồng Chính điều kiện địa lý, lịch sử, điều kiện xã hội và phương thức sản xuất đã tạo ra ý thức cộng đồng làng xã, qua các thời kì lịch sử đã trở thành truyền thống và đạo lý của người Việt Nam‖ [12, tr.51] Một trong những ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất châu Á là làng xã
cổ truyền Việt Nam Làng xã này tồn tại một cách cô lập, biệt lập, thụ động, quân bình chủ nghĩa, ít thay đổi kéo dài từ thời xa xưa cho đến thời gian gần đây Xã hội Việt Nam trồng lúa nước trước kia được phân thành các làng xã đồng nhất như nhau vì đều sản xuất
ra những sản phẩm hầu như giống nhau, nên mỗi làng đều tổ chức theo lối gia đình tự cấp
tự túc, bị trói buộc bởi những xiềng xích của các quy tắc cổ truyền (lệ làng), các thành viên của làng gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống, dòng họ, quan hệ láng giềng và
cả quan hệ sản xuất Do những đặc điểm đó mà cách thức sản xuất cũng nhỏ lẻ, manh mún, sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên, độc canh khép kín Thế nhưng, cũng nhờ tính chất quần cư kiểu làng xã ấy đã tạo cho con người có một ý thức trách nhiệm chung đối với làng xã, cùng giải quyết các công việc chung của làng xã-các công việc đòi hỏi sức mạnh của tập thể, sự đoàn kết nhất trí của tập thể - làm cho ý thức cộng đồng làng xã được hình thành Chẳng hạn, sự liên kết nhau trong công cuộc khai phá, chinh phục những vùng đất hoang dại, đầm lầy, hoặc lấn biển thành những vùng đất trồng trọt; mặt khác, nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước đòi hỏi việc đảm bảo nước đầy đủ, không thừa, không thiếu cho cây lúa sinh trưởng Muốn vậy, phải đoàn kết trong làng xã để đắp
đê, hộ đê, đắp bờ, đào kênh, mương, rạch,…để phục vụ cho canh tác Công việc này đòi hỏi sức lực của nhiều người, đòi hỏi ý thức chung cùng hiệp sức của cả làng xã hay liên làng xã ―Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á, C.Mác đã cho rằng: Ở phương Đông việc tưới nước nhân tạo đã đòi hỏi một sự hợp sức hợp quần trên một quy mô lớn Nhiều làng tập hợp thành một vùng, nhiều vùng hợp thành một quốc gia dưới sự chỉ đạo của một Nhà nước Trung ương tập quyền,…Làng xã Việt Nam đã vượt ra khỏi thế biệt lập, khép kín vốn là đặc điểm của một nền kinh tế tiểu nông để gắn bó mật thiết với nước
và là một bộ phận của nước Vận mệnh làng gắn bó với vận mệnh của nước Ý thức cộng đồng làng xã đã được phát triển ở một mức độ cao hơn đó là ý thức quốc gia dân tộc‖ [12 , tr.52]
Trang 30Tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng được gói lại trong chữ công và được mở ra hai vế: công cộng và công ích Từ đó, toát lên trong ý thức cộng đồng người Việt Nam đó là tinh thần trách nhiệm Làng, xã là đơn vị của xã hội với nguồn nước chung, khu vực sinh sống chung, canh tác chung, nơi hội họp chung,… làm cho tính cộng đồng, tính tập thể trở lên rất mạnh mẽ có sức thu hút người dân vào một tập thể cố hữu và những công việc chung mang tính tập thể Ngoài ra, làng – công xã nông thôn kiểu châu Á mà đặc trưng hàng đầu là sở hữu công cộng về ruộng đất, ruộng công ở Việt Nam được chia định kì theo các suất đinh Chính cái thể thức ruộng công ấy mà mỗi cá nhân thấy sự cần thiết phải liên kết với toàn thể cộng đồng Trên cơ sở ấy, tinh thần, ý thức cộng đồng, cùng với thời gian, dần dần được ―ăn sâu‖ vào tiềm thức con người Việt Nam
Có thể nói, trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất, cái cộng đồng bao giờ cũng vượt lên trên cái cá thể Từ đó, nhiệm vụ, trách nhiệm, ý thức chung về làng xã,
về cộng đồng ngày càng ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam và phát huy mạnh mẽ không chỉ trong công cuộc đấu tranh với thiên tai, trong phát triển sản xuất mà còn được thể hiện đậm nét trong công cuộc đấu tranh giữ nước vĩ đại Như vậy, công xã nông thôn
là cơ sở cho việc hình thành nên ý thức cộng đồng ở cấp độ làng xã và công cuộc trị thủy, phát triển kinh tế, chống ngoại xâm là những nhân tố quan trọng hình thành nên ý thức cộng đồng ở cấp độ quốc gia
Cơ sở truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng trong chống giặc ngoại xâm là ở chỗ: nước mất thì nhà tan, bởi vậy, trước tiên mọi người dân phải có ý thức đoàn kết nhau lại để bảo vệ đất nước, chống lại những cuộc xâm lăng của kẻ thù bên ngoài
Ở Việt Nam, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp luôn luôn dâng cao ý thức chung vì dân tộc là phải đoàn kết thống nhất với nhau vì một mục tiêu
Trang 31chung là đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước Các giai cấp, tầng lớp dù khác nhau, thậm chí dù có mâu thuẫn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ lại cố kết với nhau lại, đặt lợi ích của cá nhân xuống sau lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc Như vậy, ngay từ thời xa xưa, trên mảnh đất Việt Nam này đã hình thành một triết lý vì lợi ích chung mà tạm gác lợi ích riêng
Ý thức cộng đồng thể hiện sâu sắc trong lịch sử lập quốc của dân tộc Việt Nam, ―sự hợp nhất một cách tự nguyện của 15 bộ lạc anh em thành một Nhà nước Văn Lang thống nhất là một minh chứng hùng hồn về sự đoàn kết của cộng đồng dân tộc‖ [12, tr.55] Giang sơn chính là lòng dân, thống nhất giang sơn bằng thống nhất lòng người là điều hiếm thấy từ xưa đến nay Đó cũng là điều kiện để hình thành nên một tâm lý chung, một tính cách dân tộc chung thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa dân tộc phản ánh và kết tinh những truyền thống lịch sử dân tộc Nó nổi bật ở truyền thống khắc phục thiên tai, chinh phục tự nhiên và chống giặc ngoại xâm Đứng trước vận mệnh dân tộc, mỗi cá nhân dường như quên đi lợi ích riêng tư của mình để cố kết nhau lại tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc Sự cố kết đó có cả sự kết tinh xương máu của biết bao thế hệ Trải qua hàng ngàn năm sự cố kết ấy đã ăn sâu vào nếp nghĩ, phương cách ứng xử của mọi thành viên trong xã hội, một giá trị thiêng liêng trong tâm thức của mỗi người Việt Nam Tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam và của cả dân tộc không chỉ trong công cuộc dựng nước mà cả trong công cuộc giữ nước Để giữ nước nhân dân ta phải thường xuyên ý thức được sự đoàn kết với nhau
vì một dân tộc độc lập để đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh, phải chiến đấu và chiến thắng trong những điều kiện ác liệt Cuộc đấu tranh lâu dài nhằm khắc phục, hạn chế thiên tai và chống giặc ngoại xâm đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống, làm nảy sinh ý thức và tình cảm đối với dân tộc, sớm phát triển chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc, ý chí độc lập dân tộc, ý thức cộng đồng dân tộc và tinh thần quật cường bất khuất của con người Việt Nam
Ngay từ thời Hùng Vương, người Việt đã có ý thức cộng đồng dân tộc và chủ quyền đất nước, cùng một lúc vừa phải chống trọi và thích nghi với thiên nhiên nghiệt ngã vừa phải liên tiếp đương đầu với kẻ thù xâm lược Đúng như một nhà nghiên cứu đã viết:
―Thời Bắc thuộc, ý thức cộng đồng dân tộc ngày càng trở nên rõ nét, nhất là trong bối cảnh nước ta có nguy cơ bị đồng hoá một cách vĩnh viễn Không phải ngẫu nhiên mà
Trang 32truyền thuyết trăm bọc trăm trứng, các dân tộc Việt đều từ cùng một bọc mà ra (đồng
bào) lúc này xuất hiện‖ [10, tr.44]
Đó chính là nhờ con người Việt Nam đã sớm có lòng tự hào dân tộc, có ý thức về chủ quyền dân tộc, ý thức tự cường dân tộc, có lòng yêu nước, có ý thức về lãnh thổ, về văn hoá, truyền thống… Tất cả đã hợp thành ý thức dân tộc và có ý thức chung về cộng đồng dân tộc Những yếu tố này đã thấm sâu vào tư tưởng góp phần hình thành nên bản lĩnh dân tộc Việt Nam Mặc dù phong kiến phương Bắc có nền văn hoá và trình độ cao hơn, luôn luôn có chủ trương xâm lược, đồng hóa cưỡng bức các dân tộc khác và các thế lực phong kiến phương Bắc đã đồng hóa được nhiều dân tộc cổ đại, duy chỉ có dân tộc Việt Nam, sau hơn 1000 năm bị đô hộ mà vẫn không hề bị đồng hoá Việt Nam là điểm dừng trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi của Đế chế Trung Hoa về phái Nam, đã vượt qua những thảm hoạ lớn mà có lúc tưởng chừng không thể vượt qua được để trở về với chính mình, bảo tồn toàn vẹn bờ cõi, bảo tồn toàn vẹn nền văn hóa truyền thống và tâm hồn người Việt
Ý thức cộng đồng Việt Nam còn được thể hiện ở ý chí thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Bởi thống nhất Tổ quốc trở thành nhu cầu của đạo lý, tình cảm, là điều kiện của sự tồn tại độc lập và hạnh phúc của toàn thể nhân dân ta Con người Việt Nam đã sớm ý thức được rằng, chỉ có thể giải phóng toàn vẹn đất nước khi toàn thể cộng đồng người sống trên lãnh thổ đó được giải phóng Vì vậy, toàn thể đồng bào đã liên kết lại để đấu tranh Nhân dân Việt Nam quyết không để cho kẻ thù xâm lược ―xóa sổ‖ dân tộc Việt Nam
Ý chí quật cường, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng dân tộc của nhân dân Việt Nam còn được biểu hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1.000 năm Bắc thuộc, mà còn đến các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại nền độc lập dân tộc Suốt 4.000 năm lịch sử, đã có thế kỷ nào dân tộc Việt Nam lại ngừng đấu tranh vì nền độc lập?
Có thế kỷ nào vắng bóng những anh hùng? Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước ngoại bang, chưa bao giờ qu gối trước kẻ thù Bởi ở đó, có những con người luôn
ý thức về chủ quyền đất nước, về toàn vẹn lãnh thổ; có những con người luôn tự hào về giống nòi, về nền văn hóa, về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc; có những con người luôn yêu quê hương tha thiết, yêu con người, yêu làng xóm, yêu ―cây tre, bến nước, sân đình‖; có những con người có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, có ý thức cố kết,
Trang 33đoàn kết nhau lại để bảo vệ nền độc lập dân tộc, để giữ gìn cuộc sống bình yên của mình
Họ hiểu rằng, chỉ có kết hợp ý chí, sức lực của một tập thể, của cộng đồng, phải ―đồng lòng góp sức‖ mới đem lại được sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Tinh thần
ấy, ý chí ấy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ―từ trong khó khăn và thử thách khắc nghiệt, ý thức cộng đồng được hình thành và qua thời gian nó phát triển thành ý
thức đại đoàn kết dân tộc‖ [12, tr.30]
1.1.2.4 Cơ sở văn hóa
Với hơn 4.000 năm lịch sử, Việt Nam còn là một dân tộc có bề dày văn hóa vô cùng phong phú tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Đây chính là cơ sở vững chắc của ý thức cộng đồng dân tộc Việt nam: ―ý thức cộng đồng dân tộc được đặt trên cơ sở chắc chắn -
sự tích ―Con rồng cháu tiên‖, sự tích về bọc trăm trứng, nhằm khẳng định một tổ tiên chung, một nguồn gốc chung của người dân Việt Nam Truyền thuyết về bọc trăm trứng
là bằng chứng chứng minh hùng hồn nhất về ý thức cộng đồng dân tộc, dù bầu hay bí đều chung một giàn…‖ [10, tr.9]
Như vậy, tất cả người Việt dù ở miền ngược hay miền xuôi, dù ở núi rừng hay biển
cả đều là con cháu Lạc Hồng, đều có chung tổ tiên, đều là anh em một nhà, cùng là con dân của nước Việt Nam Chính điều đó đã ăn sâu vào nếp nghĩ, vào tư tưởng của mỗi người Việt Nam, hình thành nên sức mạnh nội lực của dân tộc Việt Nam, nó có sức quy
tụ, đoàn kết rất lớn, nó nâng cao ý thức cộng đồng và tinh thần yêu nước và có ý nghĩa to lớn không chỉ thời bấy giờ mà cho đến tận ngày nay
Chính nhờ có ý thức sâu sắc về cội nguồn dân tộc như vậy, mà nhân dân Việt Nam suốt đời này qua đời khác, đã luôn cố gắng, bảo vệ, duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đặc biệt là sự bảo tồn nền văn hóa dân tộc trước sự đồng hóa của văn hóa nước ngoài Trước khi bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên người Việt đã có hàng chục vạn năm văn hoá tiền sử, có hàng ngàn năm văn minh sông Hồng định hình nếp sống văn hoá, cơ cấu văn minh, thể chế chính trị - xã hội, lối sống, tính cách và truyền thống văn hoá riêng,… sức mạnh của ý thức cộng đồng dân tộc bắt nguồn từ đó, đó là sức mạnh văn hoá, tư tưởng, tinh thần khiến cho kẻ thù không thể đồng hoá nổi, không thể tiêu diệt được ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam, cùng với những yếu tố khác tạo nên sức mạnh
để nhân dân ta giành độc lập cho dân tộc
Trang 34Việt Nam là dân tộc sớm có nền văn hóa riêng, phong phú, những tập quán riêng - một nền văn hóa mà tiêu biểu là trống đồng, thạp đồng, đình, chùa, miếu mạo…, và một nền văn học nghệ thuật dân gian đặc sắc dân tộc Yếu tố văn hóa bản địa thấm sâu vào ý thức mỗi người Việt Nam hình thành nên lòng tự hào về truyền thống văn hoá, ý thức tự cường dân tộc Từ đó nảy sinh ý thức cộng đồng dân tộc, ý thức phải giữ gìn bản sắc văn hoá của mình Bảo vệ những phong tục cổ truyền có từ thời xa xưa của cộng đồng người Việt cổ như: ăn trầu, nhuộm răng, đấu vật, trọi trâu, đánh đu,…; cách ứng xử trọng người già, phụ nữ, kính thầy, yêu bạn, tình làng nghĩa xóm, tôn vinh các anh hùng dân tộc… Những phong tục đẹp đẽ đó được lưu giữ suốt ngàn năm Bắc thuộc và còn tồn tại đến ngày nay
Văn hóa Việt Nam cổ truyền cơ bản là văn hoá nông nghiệp, văn hóa xóm làng, văn hoá dân gian Đó là nền văn hóa gắn chặt với cộng đồng gia đình, gia tộc, dòng họ, làng
xã và từ đó mở rộng ra cả cộng đồng quốc gia, dân tộc Văn hóa làng là một mô thức thể hiện văn hóa dân tộc mang tính đặc thù, nó gắn liền với môi trường sinh thái của làng, dân cư và truyền thống lịch sử, từ đó hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp sống
và tâm lý, về tín ngưỡng, về phong tục và lễ hội, các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, các hoạt động văn hóa nghệ thuật… Đặc biệt hội làng là hiện tượng văn hoá tiêu biểu, thể hiện sức mạnh cố kết của cộng đồng làng xã
Làng xã Việt Nam đã phát huy được ý thức tập thể, tinh thần chủ động và sáng tạo của mọi người Ý thức cộng đồng được củng cố bền chặt trong những phong tục tập quán kéo dài từ đời này qua đời khác Những thể lệ về canh tác ruộng đất chung, những giao ước trong việc giúp đỡ nhau xây dựng nhà cửa, những quy tắc trong sinh hoạt gia đình, làng xóm, những chuẩn mực đạo đức xã hội, vừa là sản phẩm của ý thức cộng đồng Việt Nam, vừa là nhân tố cấu kết nó
Trong văn hóa ứng xử giữa người với người, ý thức cộng đồng Việt Nam cũng được biểu hiện rõ nét Đó là tình yêu thương cộng đồng ―Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng‖; ―Thương người như thể thương thân‖; lòng nhân ái, bao dung ―Lá lành đùm lá rách‖; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái ―Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ‖,… đối với đồng bào mình Mặt khác, ―dư luận xã hội có một vai trò quan trọng trong việc củng cố ý thức cộng đồng dân tộc Hành vi của các cá nhân trong cộng đồng được điều chỉnh thông qua dư luận, với những lời đồn đại, thái độ khích
Trang 35lệ hoặc chê cười của dân làng Người ta chê trách, xa lánh những kẻ đi nguợc lợi ích cộng đồng, dân tộc Bị khai trừ ra khỏi làng là hình phạt nặng nhất đối với người nông dân trong xã hội truyền thống Tinh thần cộng đồng kích thích tính năng động tham gia của mọi người vào các hoạt động tập thể xem đó là bổn phận, trách nhiệm của mình‖ [12, tr.56]
Ở đây,chúng ta không chỉ thấy trình độ văn hóa trong giao tiếp, tính nhân văn trong cuộc sống mà còn thấy toát lên vẻ đẹp và sự sâu sắc của ý thức cộng đồng Việt Nam trong quan hệ giữa người với người Tình cảm sâu sắc đối với cộng đồng đi liền với nghĩa
vụ Mọi người dồn công sức vào lao động, chiến đấu và học tập để phục vụ cho quê hương, đất nước Sức mạnh của cá nhân kết tụ lại trong sức mạnh cộng đồng và sức mạnh cộng đồng thâm nhập và sức mạnh của cá nhân, đem lại cho các cá nhân ý chí và niềm tin Với ý thức cộng đồng, người Việt Nam đặt lợi ích cộng đồng cao hơn lợi ích cá nhân, lợi ích Tổ quốc cao hơn lợi ích gia đình Mỗi cá nhân đều cảm thấy tình cảm sâu sắc nhất và hạnh phúc cao nhất của mình là được sống giữa tình yêu thương của gia đình, làng xã và Tổ quốc Trong cuộc sống của con người Việt Nam, đau khổ nhất là phải tách
ra khỏi cuộc sống của cộng đồng
Có thể nói rằng, ý thức cộng đồng của con người Việt Nam là cơ sở bền vững cho tinh thần dũng cảm phi thường và đầu óc mưu trí sáng tạo, là cốt lõi của những giá trị truyền thống trong văn hó a Việt Nam
1.1.3 Nội dung của ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm, trong quá trình phát triển của lịch sử, nó ngày càng được phát triển, củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam Tinh thần, ý thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc để chiến thắng mọi
thiên tai địch họa [13]
Ý thức cộng đồng vốn là đặc điểm chung của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, ý thức cộng đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách Từ mấy nghìn năm nay, các dân tộc, các thành viên cùng chung sống trên dải đất Việt Nam có nhu cầu tự nhiên là phải cố kết nhau lại để chống chọi với thiên tai và giặc ngoại xâm, trở
Trang 36thành một cộng đồng bền chặt - đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cùng nhau dựng nước
và giữ nước
Đoàn kết là truyền thống từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, con người Việt Nam ý thức được mình thuộc về một dân tộc, quốc gia, ý thức về cách sống, cách dựng nước, giữ nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước vận mệnh dân tộc, trước đời sống cộng đồng dân tộc, điều đó giúp cho dân tộc ta trở thành một khối thống nhất vững mạnh
1.1.3.1 Nội dung của ý thức cộng đồng
Cho đến nay, dù tiếp cận ý thức cộng đồng dưới góc độ nào (triết học, văn hoá học, lịch sử, xã hội học, tâm lý học hay khoa học chính trị ), thì các nhà nghiên cứu cũng đều chia sẻ một số điểm thống nhất là: Trong môi trường xã hội, văn hoá phương Ðông thì ý thức cộng đồng (hay "cái cộng đồng") và ý thức cá nhân (hay "cái cá nhân") là hai mặt đối lập nhưng không loại trừ lẫn nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau trong một thể thống nhất biện chứng Cộng đồng, dù là cộng đồng lớn hay nhỏ, xét về mặt xã hội, không thể tồn tại trên cơ sở một cấu trúc đơn giản chỉ với các mối liên hệ ngang, bởi lẽ khi đó cộng đồng sẽ trở thành các tập hợp người giản đơn Vì vậy, xét về phương diện xã hội, cộng đồng phải xác lập được một cấu trúc bền vững với các mối liên hệ ngang và liên
hệ dọc phức hợp; tự bản thân cấu trúc và các mối liên hệ nội tại cũng chưa đủ điều kiện
để biến bất k một tổ chức hay thiết chế xã hội nào thành một cộng đồng Tổ chức hay thiết chế đó chỉ trở thành cộng đồng khi sự vận hành của cấu trúc đó trong một môi trường xác định dựa trên những "mẫu số chung" Mẫu số chung đó là: các thành viên của
nó cùng chia sẻ lợi ích chung; cùng có một hay nhiều mục tiêu chung; cùng có động cơ và
ý chí chung; cùng hành động tự giác dựa trên những nguyên tắc chung; cùng có quan niệm chung đồng nhất về cộng đồng và có tình cảm gắn kết cộng đồng cao Tất cả các yếu tố trên tạo nên sự "đồng thuận chung" (general consensus) — cơ sở của sự cố kết và sức sống của cộng đồng
Nội dung của ý thức cộng đồng Việt Nam là sự đồng thuận cao của toàn thể nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Đó là:
- Thứ nhất, đồng thuận cao trong nhận thức về tình yêu quê hương, đất nước, về
trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng với quê hương, đất nước
Trang 37- Thứ hai, đồng thuận cao về lợi ích, trong đó phải giải quyết hài hòa mối quan hệ
giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, giữa lợi ích tập thể nhỏ (bộ phận) với lợi ích toàn
thể (cộng đồng dân tộc)
- Thứ ba, đồng thuận cao trong việc kiên quyết thực hiện các chủ trương chính
sách, pháp luật của Nhà nước… để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng dân tộc,
- Thứ tư, đồng thuận cao việc nhận thức và giải quyết các vấn đề chung của xã hội
- Thứ năm, đồng thuận cao trong nỗ lực đương đầu với các thách thức, giải quyết
các khó khăn
- Thứ sáu, đồng thuận cao để xây dựng và gìn giữ tình cảm gắn kết cộng đồng,
cùng tạo nên định hướng giá trị chung của văn hóa dân tộc [13]
1.1.3.2 Nội dung của tinh thần đoàn kết
- Một là, đoàn kết là sự hợp tác chung tay góp sức để kết thành một khối thống nhất
về cả tư tưởng lẫn hành động nhằm thực hiện một mục đích chung, đem lại lợi ích vì sự phát triển của tập thể
- Hai là, đoàn kết là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thể hiện qua sự tương
trợ, giúp đỡ lẫn nhau bằng những hành động cụ thể, nhất là những khi gặp hoạn nạn, khó khăn
- Ba là, đoàn kết là tập hợp mọi người thành một khối thống nhất, gắn kết chặt chẽ
với nhau, không thể tách dời, cùng đồng lòng chung sức, hỗ trợ nhau để giải quyết công việc Sự kết hợp ấy sẽ tạo nên sức mạnh to lớn giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, rào cản vật chất cũng như tinh thần, đem lại kết quả tốt đẹp cho cuộc sống Nó kết hợp được nhiều người, mỗi người một ưu điểm riêng mà người khác không có, nên khi tất cả họ đồng tâm cùng làm một công việc thì công việc ấy sẽ được chia ra tùy theo khả năng mà mỗi người có thể Vậy nên, thành công nằm trong tầm tay của họ Đoàn kết chung với nhau không có nghĩa là nhất thiết phải chọn được người toàn diện Và nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân sẽ khó đi đến thành công nếu không có sự kết hợp, nên sự đoàn kết mang chúng ta đến gần nhau hơn để dễ dàng giúp đỡ lẫn nhau Thế nên, sự bền vững của tinh thần đoàn kết cũng có vai trò quan trọng trong tập thể, xã hội
Trang 38Tinh thần đoàn kết chính là sự ý thức được ―đoàn kết‖, không những chỉ về khái
niệm mà còn là về biểu hiện, sự cần thiết của đoàn kết Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đoàn kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng nước và giữ nước
Ý thức được sự cần thiết của tinh thần đoàn kết trong mỗi tập thể, cộng đồng, quốc gia – dân tộc mà trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đã đề cập khá rõ ràng về vấn đề này Có thể nhận thấy
trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc: mục tiêu, vai trò, động lực, cơ sở xã hội, yêu cầu, hình thức thể hiện của đại đoàn kết dân tộc qua các thời k cách mạng, bài viết làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta đối với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh thông qua đổi mới nhận thức về
sự thống nhất giữa các loại lợi ích như là cơ sở cho đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới Qua đó, bài viết phân tích mục tiêu, yêu cầu, phương hướng và giải pháp củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh ý nghĩa vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng cách mạng và nhân văn đó của Hồ Chí Minh trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đó của Người đã thấm sâu vào trái tim và khối óc, lý trí và tình cảm của mọi người Việt Nam yêu nước; biến thành hành động cách mạng của hàng triệu con người, tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [13]
1.2 Ảnh hướng của toàn cầu hóa đến ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của sinh viên
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có gốc từ tiếng La tinh "Student", nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các hoạt động học tập, nghiên cứu
Trang 39khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề
―Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ
được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học‖[14]
Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện: sinh lí, tâm lí và xã hội
- Phương diện sinh lí: Tuổi sinh viên được xem xét từ 19 đến 25 tuổi, sự phân chia
này chỉ mang tính chất tương đối Lứa tuổi được bắt đầu sau khi kết thúc phổ thông trung học chấm dứt ở tuổi 24 – 25, vì ở tuổi 24 - 25 con người đã hoàn tất sự phát triển về thể chất (thường nữ sớm hơn nam từ 1 đến 2 năm), đây là tuổi mà con người đã đạt đến mức hoàn thiện tất cả các hệ thống thần kinh, cơ xương, Các tố chất thể lực đều phát triển mạnh như sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmon Trọng lượng não ở tuổi này đạt ở trọng lượng tối đa (khoảng 1.400g) và chứa khoảng 100 tỉ nơron Nơron của tuổi sinh viên hoàn hảo hơn, cách li tốt, đốt nhánh nhiều so với lứa tuổi trước Slâyben đã tính được nhiều tế bào thần kinh não đến tuổi sinh viên có thể nhận tin từ 1.200 nơron sau và ước tính có tới 2/3 số kiến thức học được trong một đời người do được tích lũy trong thời gian này Ở lứa tuổi sinh viên còn có nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và giáo dục
- Phương diện tâm lý: Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của sinh
viên cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng ở tuổi này, các hoạt động tư duy của sinh viên rất tích cực và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng khái quát các vấn đề, nhờ đó mà tự mình phát hiện ra cái mới Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo
- Phương diện ã hội: là đặc trưng quan trọng nhất của tuổi sinh viên thể hiện ở
mức độ xã hội, ở kế hoạch chuẩn bị tham gia vào một phạm vi cơ bản của đời sống, tham gia vào một cộng đồng xã hội nào đó như cộng đồng của những người làm thầy thuốc, thầy giáo, những kĩ sư của các ngành công nghiệp, những tập thể làm công tác nghiên cứu khoa học,
Trang 40Vai trò của sinh viên: Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội Chính sinh viên là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau có cấu trúc của tầng lớp tri thức xã hội Các tổ chức chính trị, xã hội, dòng tộc gia đình có nhiều k vọng đối với sinh viên
- Các hoạt động cơ bản của sinh viên
+ oạt động học tập
Hoạt động học tập của sinh viên cũng có bản chất như vậy và có thể định nghĩa: Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lí được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao
+ Các hoạt động cơ bản khác của sinh viên
Hoạt động chính trị - xã hội: Đây là một hoạt động đặc trưng ở tuổi sinh viên Sinh viên là những người có trí tuệ nhạy bén, mẫn cảm đối với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, quốc tế Về mặt tư cách của một công dân, họ có chính kiến đối với đường lối, chủ trương, chính sách của đảng chính trị và Nhà nước, do đó hoạt động chính trị – xã hội là nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên Việc tham gia của họ vào các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội như Hội sinh viên, Đoàn thanh niên, hay đối với những sinh viên ưu tú, được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng, mang một ý nghĩa quan trọng trong
sự phát triển nhân cách toàn diện của họ
+ Các hoạt động khác mang tính chất giải trí, vui chơi phù hợp với năng khiếu và
sở thích cá nhân như các câu lạc bộ văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, câu lạc bộ ngoại ngữ, hay các cuộc thi về nghiệp vụ nghề nghiệp được Đoàn trường và các cơ quan tổ chức, cũng luôn hấp dẫn và lôi cuốn sự tham gia của nhiều sinh viên, để thỏa mãn nhu cầu giao lưu phong phú cũng như nhu cầu rèn luyện toàn diện của họ Bao trùm lên các hoạt động phong phú, đa dạng của sinh viên ở trường đại học là những quan hệ giao lưu, giao tiếp với hàng loạt mối quan hệ xã hội đan xen lẫn nhau Những mối giao lưu này mang tính phức hợp giữa cá nhân người sinh viên với người lớn, với bạn bè cùng lứa, cùng giới, khác giới, các tổ chức, các nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua phương tiện thông