1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục ý thức bảo vệ Đa dạng sinh học qua môn TNXH3

67 853 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 288,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF1989: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế

-xã hội, đồng thời là cơ sở để đảm bảo các điều kiện thiết yếu, đảm bảo môitrường sống thích hợp cho con người và sinh vật tồn tại và phát triển Bên cạnh

đó, đa dạng sinh học cũng là nơi dự trữ nguồn gen quý hiếm của các loài thực vật

và động vật, nguồn nhiên liệu và dược liệu quý hiếm Việt Nam, một quốc giagiàu có về sự đa dạng sinh học được xếp thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạngcủa tài nguyên sinh vật Tính đến nay cả nước ta đã thống kê được 11.373 loàithực vật bậc cao và hàng nghìn loài thực vật bậc thấp như rêu, tảo, nấm [7] Độngvật cũng hết sức phong phú, theo thống kê có 300 loài thú, 840 loài chim, 260loài bò sát, 120 loài ếch nhái, trên 1000 loài cá nước ngọt, hơn 2000 loài cá biển,thêm vào đó là hàng chục loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và ởnước ngọt [7] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới áp lực của việc giatăng dân số và vấn nạn khai thác tài nguyên quá mức cùng vớisự phát triển kinh

tế ‘không an toàn” đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, thay đổi và thu hẹpmôi trường sống thích hợp của sinh vật Ngoài ra, việc thay đổi phương thức sửdụng đất, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng đã làm giảm đáng kể diện tích sinh cảnh

tự nhiên, tăng sự chia cắt các hệ sinh thái, làm suy giảm môi trường sống củanhiều loài động vật, thực vật hoang dã dẫn đến hệ thực vật, động vật đang bị suygiảm một cách trầm trọng cả về số lượng loài và thành phần loài

Ở cấp Tiểu học, những kiến thức về sự phong phú và đa dạng của các loàithực vật và động vật được trình bày trong chủ đề Tự nhiên thuộc môn TN – XHlớp 3 Chủ đề Tự nhiên thuộc môn TN – XH 3 đã cung cấp cho HS những kiếnthức cơ bản về cấu tạo, màu sắc, khích thước các cơ quan thực vật như: rễ, thân,

lá, hoa, quả vàcác loài động vật Đây chính là điều kiện thuận lợi để lồng ghépgiáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học

Từ những lí do trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc giáo dục ý thức bảo vệ

sự đa dạng sinh học trong trường Tiểu học là cần thiết Để công tác giáo dục ýthức bảo vệ đa dạng sinh học đạt hiệu quả và có tính khả thi cao, chúng tôi chọn

1

Trang 2

đề tài “Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học cho học sinh lớp 3”làm đề

tài khóa luận tốt nghiệp đại học

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm giúp HS nhận thức vai trò và tầm quan trọng của đa dạng sinh họcđối với sự sống – từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học thông qua môn TN – XH lớp 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học cho

HS thông qua môn TN – XH lớp 3

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục sự đa dạng sinh học cho HS lớp 3 qua môn TN – XH

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học thông qua môn TN – XH lớp 3

- Thực trạng vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học hiện nay

- Đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinhhọc cho HS để đạt hiệu quả hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

5.1.1 Phương pháp đọc tài liệu

Đọc, nghiên cứu, thu thập các thông tin cần thiết cho đề tài từ các loạitài liệu cũng như các khóa luận tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp, tạp chí chuyênngành, báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu, mạng internet, tổng hợp các vấn

đề liên quan đến nội dung nghiên cứu, từ đó đưa ra cơ sở lí luận cho vấn đềnghiên cứu

5.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết

Sau khi đọc xong những tài liệu có liên quan đến vấn đề đa dạng sinh họchoặc những tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, cần sắp xếp các tài liệu đóthành một hệ thống logic chặt chẽ theo từng đơn vị kiến thức, tránh lộn xộn gây

ra nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu

Trang 3

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát các tiết dạy môn TN – XH của GV có nội dung giáo dục ý thứcbảo vệ sự đa dạng sinh học Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng cho bàinghiên cứu Phương pháp quan sát đóng vai trò chủ yếu khi khảo sát thực trạng,quan sát thái độ của HS khi được tiếp thu những kiến thức đó, quan sát kỹ thuậtcủa GV khi giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học

5.2.2 Phương pháp điều tra

Phương pháp này được sử dụng khi tiến hành điều tra thực trạng việc giáodục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho HS của GV tại trường Tiểu học và điềutra mức độ hiểu biết về đa dạng sinh học của HS, để có thể cung cấp số liệu chobài nghiên cứu một cách chính xác và cụ thể

5.2.3 Phương pháp chuyên gia

Chuyên gia có thể là thầy cô hướng dẫn hoặc những thầy cô có kinhnghiệm trong các bài khóa luận hay các bài nghiên cứu khoa học Việc tiếp thumột cách tích cực các ý kiến của các thầy (cô) hướng dẫn và các thầy (cô) khác

để có hướng đi đúng đắn cho quá trình nghiên cứu góp phần hoàn thiện bài làmcủa mình là hết sức quan trọng

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này được sử dụng nhằm thống kê, xử lí các số liệu về thựctrạng đa dạng sinh học thông qua môn TN – XH, thực trạng việc giáo dục ý thứcbảo vệ sự đa dạng sinh học ở nhà trường Tiểu học Từ đó, thống kê, đưa ra số liệu

Trang 4

quốc gia Hà Nội Hàng loạt các giáo trình, tài liệu đã nghiên cứu về vấn đề đa

dạng sinh học như giáo trình “Đa dạng sinh học” của PGS.TS Tôn Thất Pháp trường Đại học Khoa học Huế, giáo trình “Đa dạng sinh học” của Đại học quốc

gia Hà Nội trường Đại học Khoa học Tự nhiên… Bên cạnh đó, có các Hội nghị

về vấn đề đa dạng sinh học thường xuyên được tổ chức như “Hội nghị Hội đồng quản trị Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN (ACB) lần thứ 18” đã diễn ra trong

hai ngày 01 và 02 tháng 8/2016, tại Nay Pyi Taw (Myanmar) với sự tham gia của

các đại biểu 10 nước ASEAN Việt Nam cũng đã tổ chức hội nghị về “Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học ASEAN” diễn ra tại Hà Nội Các hội thảo về vấn

đề đa dạng sinh học “ Hội thảo quốc tế bảo tồn đa dạng sinh học Đài Loan – Việt Nam” tại Natou, Đài Loan Hội thảo về “đa dạng sinh học và phục hồi sinh thái”

của sở Tài Nguyên và Môi trường… qua đó, các hội thảo nêu rõ tầm quan trọngcủa đa dạng sinh học đối với sự phát triển của xã hội Ngoài ra cũng có các đề tàinghiên cứu khoa học, luận văn, đề án có đề cập đến vấn đề bảo vệ đa dạng sinh

như đề tài “Đa dạng sinh học ở Việt Nam ” của nhóm sinh viên trường Đại học

kinh tế Huế thực hiện và bảo vệ Những đề tài khác cũng đề cập đến vấn đề đa

dạng sinh học, thực trạng và giải pháp như đề tài nghiên cứu “Giáo dục bảo vệ sự

đa dạng sinh học qua môn địa lí ở trường phổ thông” của tác giả Trần Thùy Uyên

Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay nhiều tác giả đã và đang nghiên cứu đadạng sinh học nhưng chưa có tác giả thực hiện nghiên cứu lồng ghép việc giáodục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong trường tiểu học nói chung và trongmôn TN –XH lớp 3 nói riêng

8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi chủ đề Tự nhiên thuộc phân môn TN-XHlớp 3, trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng

Trang 5

9 Cấu trúc tổng quan của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nôi dung đề tài nghiên cứuđược trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ tính đa dạngsinh học cho HS tiểu học thông qua môn TN-XH lớp 3

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạngsinh học thông qua môn TN – XH 3

5

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.1 Đa dạng sinh học

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học

Theo R.Patrick(1983) cho rằng: “Đa dạng sinh học gồm tính đa dạng,

trạng thái khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng của sinh vật”

Theo OTA(1987) “Sự đa dạng và tính khác nhau của các sinh vật sống và

các phức hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó” Tính đa dạng có thể định nghĩa

là một số lượng xác định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đốicủa chúng Đối với đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiềucấp độ, từ các hệ sinh thái phức tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử củavật chất di truyền Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, cácgen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng

Theo Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF(1989): “Đa dạng sinh học

là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và

vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vôcùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Những khái niệm về đa dạng sinhhọc rất nhiều Tính đến nay có hơn 25 định nghĩa về khái niệm đa dạng sinh học.Nhưng tóm lại đa dạng sinh học chính là sự đa dạng của sự sống trên Trái Đất,bao gồm tất cả các loài thực vật ,động vật và vi sinh vật sống ở trên cạn, ở sông

hồ và ở biển được thể hiện ở 3 mức độ loài, hệ sinh thái và nguồn gen

Giáo dục (theo nghĩa hẹp): là quá trình hình thành và phát triển nhân cáchngười được giáo dục dưới ảnh hưởng của những tác động sư phạm của nhà

Trang 7

trường chỉ liên quan đến một mặt giáo dục như đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và cảlao động sản xuất [17].

Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) được thực hiệntrên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi cho HS trong nhàtrường, đây cũng là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gọi vàbiến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người họctheo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách của thầy và tròbằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng yêu cầu phát triển của xãhội trong thời đại ngày nay [17]

1.1.3 Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học

Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học là hoạt động giáo dục cung cấpkiến thức, những hiểu biết về đa dạng sinh học cho người học, từ đó hình thànhnhững hành động và thái độ đúng đắn để góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học

Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong môn TN – XH ở trườngtiểu học là một hoạt động giáo dục mà người học tiếp nhận kiến thức dưới sựđịnh hướng của GV thông qua môn TN - XH, từ đó hình thành ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học

1.2 Khái quát về vấn đề đa dạng sinh học

1.2.1 Thực trạng đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam

1.2.1.1 Thế giới

Hiện nay thế giới đang phải đối mặt với sự suy giảm đa dạng sinh học,17.291 trong tổng số 47.677 loài trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng, baogồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xươngsống và 70% loài thực vật – đây là số liệu được đưa ra trong các nghiên cứu gầnđây của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) [18]

Rừng trên thế giới đang bị suy thoái và giảm đáng kể Trong thời gian từnăm 2000 - 2010, mỗi năm diện tích rừng suy giảm từ 16 triệu ha xuống còn 13triệu ha [14] Nguyên nhân của việc diện tích rừng suy giảm là do chuyển đổisang diện tích đất nông nghiệp, khai thác khoáng sản, làm thủy điện,…Ngoàira,nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng còn do yếu tố tự nhiên như cháyrừng, bão, lũ quét,…

Về động vật, các nhà khoa học tại Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF)

7

Trang 8

đã tiến hành tái thống kê dựa trên 14.152 quần thể của 3706 loài động vật có vú,chim, cá, lưỡng cư và bò sát trên khắp thế giới Kết quả cho thấy tính tới năm

2012, lượng động vật hoang dã đã giảm 58% so với hồi năm 1970 với mức giảmbình quân là 2% [8]

1.2.1.2 Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước nằm trong điều kiện khí hậu nhiệt đớigió mùa Là nơi có địa hình phức tạp, đa dạng, với các dạng địa hình từ vùngthấp ven biển, đến vùng đồng bằng châu thổ, vùng trung du, đồi núi, vùng núicao mây mù Điều kiện địa lý tự nhiên phong phú, đã tạo nên các môi trường tựnhiên khác nhau, hình thành nên các hệ sinh thái phong phú và đa dạng Nhờ có

sự đa dạng về môi trường tự nhiên, Việt Nam được đánh giá là một nước có tính

đa dạng sinh học phong phú với nhiều loài thực vật và động vật khác nhau vàquốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhấtthế giới [15], với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối… tạo nên môi trường sốngcho chim, cá, tôm, các loài thú hoang dã

Là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á với diện tích khoảng330.541km2, Việt Nam nằm trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trênthế giới [12] Theo số liệu báo cáo quốc gia năm 2011, tại Việt Nam ghi nhận hơn

49 nghìn loài sinh vật bao gồm: khoảng 7.500 loài vi sinh vật, 20 nghìn loài thựcvật trên cạn và dưới nước, 10.500 loài động vật trên cạn, hơn 11 nghìn sinh vậtbiển, 2.000 loài mới được thêm vào, với 4 loài vào danh sách tuyệt chủng, 2 loàikhác đang trong quá trình khám phá [11] Như vậy, đa dạng sinh học ở Việt Namphong phú về thực vật và động vật Về thực vật hiện nay đã thống kê được11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và

826 loài nấm Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao cómạch ít nhất lên đến 20.000 loài, trong đó có khoảng trên 5.000 loài đã đượcdùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc,lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác [7] Hệ động vật ở Việt Nam cũnghết sức phong phú Hiện nay đã thống kê được 300 loài thú, 830 loài chim, 260loài bò sát, 120 loài ếch nhái, trên 1000 loài cá nước ngọt, khoảng hơn 2.000 loài

cá biển và thêm vào đó có hàng chục nghìn loài động vật không xương sống ở

Trang 9

cạn, ở biển và nước ngọt [7] Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thànhphần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng Đông Nam Á.

Tuy nhiên, do áp lực gia tăng dân số, tình trạng khai thác quá mức tàinguyên sinh vật, công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học còn nhiều bất cập làmcho đa dạng sinh học nước ta đang bị suy thoái rất nhanh, số loài và số lượng cáthể của các loài hoang dã cũng bị suy giảm mạnh Nhiều loài hoang dã có giá trịđang bị suy giảm hoàn toàn về số lượng và một số loài đang có nguy cơ tuyệtchủng (hổ, voi, voọc mũi hếch, sao la ) Gen của các loài vật hoang dã đang trên

đà suy thoái rất nhanh Theo IUCN đánh giá tổng cộng 63.837 loài trong đó có19.817 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, 3.947 loài được mô tả là cực kỳ nguy cấp

và 5.766 loài ở mức độ nguy hiểm, trong khi hơn 10.000 loài được liệt kê là dễ bịtổn thương Trong khi đó, 41% các loài động vật lưỡng cư, 33% các loài san hô,30% các loài cây lá kim, 25% động vật có vú, và 13% loài chim bị đe dọa[11]

Suy giảm đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởngtrực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa đến sự phát triển bền vữngcủa đất nước Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp về diện tích,nhiều loài thực vật và động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng

1.2.2 Đặc điểm vấn đề đa dạng sinh học hiện nay

- Đa dạng sinh học phong phú kể cả thực vật và động vật, tồn tại ở 3 mức độ: đa dạng loài, hệ sinh thái và nguồn gen quý hiếm Cụ thể:

+ Đa dạng loài: đặc trưng của đa dạng này là đề cập đến số lượng loài.Loài bao gồm thực vật, động vật (bao gồm động vật có xương sống và khôngxương sống), các vi sinh vật Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều loài thực vật vàđộng vật Vào những năm 1980, trên thế giới ước tính có khoảng 1,4 triệu loài.Bao gồm có khoảng 750.000 loài côn trùng, 41.000 loài động vật có xương sống

- Đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm về loài, nguồn gen di truyền và hệ

9

Trang 10

sinh thái

Đa dạng sinh học trên thế giới và cả Việt Nam đang ngày càng suy giảmmột cách đáng kể Số lượng các khu rừng, các loài thực vật và động vật đều đangdần suy giảm Những loài còn sống sót cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng Rừngđược xem là một hệ sinh thái đa dạng và phong phú nhất, đây là nơi nuôi dưỡngcác loài động, thực vật hoang dại Chính vì vậy, khi rừng mất đi kéo theo mộtlượng lớn các loài động vật dần mất đi, dẫn đếnnguồn gen các loài động vật vàthực vật cũng suy giảm theo

- Suy giảm đa dạng sinh học làm ảnh hưởng đến môi trường sống và hoạt động sống của con người

Hậu quả mà đa dạng sinh học để lại cho con người và môi trường rất nặng

nề Việc hủy hoại các thảm thực vật do việc khai thác gỗ, khai hoang làm nôngnghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác làm cho tốc độ xói mòn, sạt lởđất, hoang mạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh[7] Đất bị suy thoái khiến thảmthực vật khó có thể phục hồi, ngày càng gia tăng các thiên tai như lũ lụt, hạn hán,

ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Sự suy giảm đa dạng sinh học cũngdẫn đến mất cân bằng sinh thái, đe dọa đến sự phát triển bền vững của Trái Đất.Bên cạnh đó các sinh vật và hệ sinh thái của đa dạng sinh học là nơi cung cấp cácnguồn nguyên liệu, lương thực cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, y học…

Vì vậy khi đa dạng sinh học bị suy thoái nguồn nguyên liệu đó mất dần, làm chocon người phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, bệnh tật

1.2.3 Biểu hiện việc suy thoái đa dạng sinh học

Sự suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam được thể hiện như sau:

Rừng: Rừng ở Việt Nam bị suy thoái trầm trọng nhưng hiện nay đangtrong quá trình phục hồi Năm 1943, diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu havới tỷ lệ che phủ là 43% Rừng trong thời kỳ này là rừng tự nhiên, chất lượng tốt.Đến những năm 1990, diện tích rừng suy giảm rất mạnh, chỉ còn trên 9 triệu ha,

tỷ lệ che phủ chỉ còn 27-28% [7].Trong những năm gần đây, do kế hoạch trồngmới rừng nên độ che phủ của rừng tăng nên đáng kể nhưng chất lượng rừng có

xu hướng giảm Theo số liệu bảng thống kê như sau:

Bảng 1.1: Diện tích rừng Việt Nam qua các thời kì

Trang 11

Loại rừng

Năm

Tổng diện tích (ha)

Rừng trồng (ha)

Rừng

tự nhiên (ha)

Độ che phủ (%)

Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Bộ NN và PTNT 1990-2015

Về thực vật:Về thực vật có 448 loài, trong đó có 1 loài tuyệt chủng ngoàithiên nhiên, 45 loài rất nguy cấp, 189 loài nguy cấp, 209 loài sẽ nguy cấp và 4loài ít nguy cấp, trong đó chủ yếu thực vật bậc cao [11]

Về động vật:Số lượng các loài động vật quý hiếm liên tục bị đe dọa vàgiảm nhanh về số lượng do săn bắn, khai thác thậm chí chết đói vì môi trườngsống của chúng đang ngày càng thu hẹp Có 407 loài với 4 loài ở phân hạng tuyệtchủng, 5 loài tuyệt chủng ngoài thiên nhiên, 48 loài rất nguy cấp, 112 loài nguycấp,188 loài sẽ nguy cấp, 16 loài ít nguy cấp và 34 loài thiếu dẫn liệu [11] Một

số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như sao la, voọc mũi hếch, voọc cát

bà, cá cóc, bò biển Đối với loài hổ, theo số liệu thống kê thì loài hổ sống trongcác khu rừng ở Việt Nam giảm từ khoảng 1000 con trước năm 1970 xuống còn80-100 con vào năm 2005 Đến đầu năm 2010, số lượng này giảm xuống chỉ cònkhoảng 30 con [9]

1.2.4 Nguyên nhân chính của sự suy giảm đa dạng sinh học

Sự suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học của nước ta hiện nay bắt nguồn

từ các nguyên nhân cơ bản sau:

Sự khai thác tài nguyên một cách quá mức: Tình trạng khai thác củi, gỗ để

lấy nhiên liệu phục vụ cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày không chỉ làmcho diện tích rừng bị suy giảm mà còn suy giảm về chất lượng Đồng thời vớinạn phá rừng, nạn săn bắn làm cho tình trạng suy giảm các loài động, thực vậtquý hiếm gây nên sự suy giảm đa dạng sinh học

Cháy rừng: Do điều kiện khí hậu của Việt Nam nên khả năng cháy rừng

vào mùa khô của nước ta hằng năm liên tục xảy ra Trung bình mỗi năm có

11

Trang 12

25.000-100.000 ha rừng bị cháy ở Việt Nam, nhất là ở vùng cao nguyên Trung

Bộ [14] Bên cạnh các diễn biến bất lợi của yếu tố thời tiết, khí hậu Việt Nam thìcác hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương nhưđốt rừng làm rẫy, đốt than, hun khói lấy mật ong, khai thác gỗ chọn để lại cây bụicũng là những nguyên nhân gây cháy rừng Cháy rừng làm cho diện tích rừng bịthu hẹp, môi trường sống của các loài thú bị ảnh hưởng làm cho số lượng thựcvật và động vật ngày càng suy giảm về số lượng và chất lượng

Chuyển đổi phương thức sử dụng đất: Ở vùng ven biển: phá rừng ngập

mặn, cải tạo vùng cát, ruộng lúa nước để xây dựng đầm tôm, biến vùng bãi triều

tự nhiên thành bãi nuôi động vật thân mềm Ở vùng nội địa: các hệ sinh thái rừngtràm, đầm lầy được cải tạo thành ruộng lúa, ao nuôi thủy sản, làm cho các hệ sinhthái rừng ngập mặn, rừng tràm bị suy giảm đáng kể [7]

Ô nhiễm môi trường: Hiện nay ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng

của nước ta Tình trạng ô nhiễm do các nguồn chất thải khác nhau từ các nghànhcông nghiệp, nông nghiệp (khí thải, nước thải, thuốc bảo vệ thực vật…) là nguyênnhân đe dọa đến đa dạng sinh học Ô nhiễm môi trường phá hủy nơi cư trú vàmôi trường sống của các loài sinh vật hoang dại

Sự gia tăng dân số: Ở Việt Nam, tăng dân số nhanh cũng là một trong

những nguyên nhân làm suy thoái đa dạng sinh học Sự gia tăng dân số đòi hỏigia tăng nhu cầu sinh hoạt: lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác.Trong khi đó, lượng tài nguyên là có hạn, nhất là tài nguyên đất cho sản xuấtnông nghiệp dẫn tới phải mở rộng đất nông nghiệp vào đất rừng, thu hẹp diệntích nơi sống của động vật hoang dã, gây suy thoái đa dạng sinh học

Sự nghèo đói:Việt Nam là một quốc gia còn nghèo, cuộc sống còn phụ

thuộc nhiều vào nền nông nghiệp và tài nguyên Sự nghèo đói khiến con ngườitàn phá tài nguyên để phục vụ nhu cầu sống, làm cho diện tích rừng thu hẹp, cácloài động vật hoang dã bị tuyệt chủng

1.3 Vai trò của đa dạng sinh học và việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học

1.3.1 Vai trò của đa dạng sinh học

Trang 13

Đa dạng sinh học rất cần thiết cho sự tồn tại của loài người nói riêng vàTrái Đất nói chung Giá trị mà đa dạng sinh học mang lại rất lớn và được thể hiện

ở các mặt sau:

Đối với xã hội: Duy trì và cung cấp nguồn gen và là kho dự trữ các nguồn

gen quý, hiếm cho cây trồng và vật nuôi cho tương lai Ngoài ra, giá trị kinh tế

mà đa dạng sinh học mang lại rất lớn Điều này thể hiện ở việc chúng ta khai thác

và sử dụng hợp lí các tài nguyên sinh học, khai thác gỗ đúng quy định hay việcđánh bắt và khai thác thủy sản hợp lí, đảm bảo nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân,góp phần xói đói giảm nghèo

Đối với con người: Nhiều loài động, thực vật được sử dụng làm thức ăn

cho con người, cho gia súc, làm thuốc, lấy gỗ, làm nhà, phục vụ cho phát triểnkinh tế, làm chất đốt lấy năng lượng, làm cây cảnh

Đối với môi trường tự nhiên: Sự tồn tại của các thảm thực vật đóng vai trò

quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước Các khu rừng đầu nguồn làm giảm sự

ô nhiễm nguồn nước, ngăn lũ lụt và các thiên tai như gió, bão, sạt lở đất Việctrồng cây xanh làm tăng diện tích của các khu rừng, hạn chế sự ô nhiễm khôngkhí, làm cho bầu không khí trong sạch hơn, tạo bóng mát, khếch tán hơi nước,làm giảm nhiệt độ trong thời tiết khí hậu nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi thờitiết lạnh giá Nhờ vào sự phát triển của các quần xã sinh vật (nấm, các vi sinhvật) mà các chất thải như thuốc trừ sâu, các chất gây ô nhiễm môi trường đất vànước, các kim loại nặng được hấp thụ và phân hủy đi Điều đó làm hạn chế sựảnh hưởng của các chất thải đến môi trường sống của chúng ta [7]

Đối với hệ sinh thái: Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong việc

bảo vệ hệ sinh thái thế giới Đa dạng sinh học cung cấp lương thực, lọc các chấtđộc (qua các chu trình sinh địa hóa học), điều hòa khí hậu của Trái Đất, điềuchỉnh cung ứng nước ngọt Nếu suy giảm đa dạng sinh học sẽ dẫn đến sự suygiảm số lượng loài, thành phần loài trong quần xã, quần thể động, thực vật Nhưvậy, đa dạng sinh học có ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các loài trên Trái Đất

Đối với các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ: Cung cấp nguyên

liệu cho ngành nông nghiệp như các giống cây trồng, vật nuôi Đối với công

13

Trang 14

nghiệp, đa dạng sinh học cung cấp gỗ cho quá trình chế biến lâm sản, làm thuốccho ngành công nghiệp dược phẩm Các khu bảo tồn, vườn quốc gia là những nơithăm quan đáp ứng nhu cầu du lịch của ngành dịch vụ.

Có giá trị văn hóa và nhân văn: Một số loài động vật hoang dã còn được

coi là biểu tượng của sự tín ngưỡng và các tác phẩm hội họa, điêu khắc của một

số quốc gia và dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam như: lễ hội săn bắntheo mùa hoặc hình thành sự quản lí tài nguyên theo tính chất cộng đồng…

Đa dạng sinh học có vai trò lớn trong cuộc sống của con người, nhưnghiện nay đa dạng sinh học đang có xu hướng bị suy thoái nghiêm trọng Hậu quảlàm giảm hoặc mất đi các chức năng của hệ sinh thái, xói mòn đất, không phânhủy các chất thải và làm sạch môi trường ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn vật chất

và năng lượng trong tự nhiên dẫn đến số lượng thiên tai hằng năm tăng mạnh,cuối cùng là suy giảm kinh tế mất đi các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, ônhiễm môi trường

1.3.2 Vai trò của việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học đối với tự nhiên

và xã hội

Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học đang là vấn đề lớn được cả xãhội quan tâm Sự suy thoái về đa dạng sinh học ảnh hưởng to lớn cả môi trường

tự nhiên và đời sống kinh tế xã hội của con người

Trong tự nhiên, các loài sinh vật (thực vật, động vật và vi sinh vật) sinhtrưởng và phát triển trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Biểu hiện cụthể của sự tác động qua lại đó là mối quan hệ tương tác trong chuỗi thức ăn Nếumột mắt xích nào đó trong chuỗi thức ăn bị tác động mạnh mẽ (một loài sinh vậtnào đó trong chuỗi thức ăn bị biến động lớn về số lượng loài: tăng nhanh hoặcgiảm mạnh) đều làm cho cả chuỗi thức ăn đó bị phá hủy Hay nói cách khác, cácsinh vật trong tự nhiên sống tập hợp với nhau tạo thành quần thể, quần xã trongmột hệ sinh thái cân bằng, nếu một loài bị biến động lớn sẽ làm mất cân bằngquần thể, quần xã và cuối cùng là mất cân bằng cả hệ sinh thái đó, dẫn đến môitrường sống bị biến đổi

Nếu đa dạng sinh học đóng vai trò duy trì và đảm bảo môi trường sốngcủa sinh vật, thì ngược lại sự suy thoái đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng vô cùnglớn như: làm mất đi nguồn gen quý, các thiên tai thường xuyên xảy ra sẽ ảnh

Trang 15

hưởng đến đời sống con người, nguồn cung cấp các nguyên liệu về công nghiệp,nông nghiệp, y học sẽ bị suy giảm…

Do đó, việc nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học cho người dân nóichung, HS nói riêng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, con người vừa lànguyên nhân vừa là nạn nhân gánh chịu hậu quả củasuy thoái đa dạng sinh học.Khi mỗi cá nhân được nâng cao nhận thức, kiến thức về bảo vệ đa dạng sinh học

sẽ góp phần thúc đẩy cộng đồng cùng nhau tham gia, lúc đó bản thân mỗi cánhân sẽ có những hành động mang tính tích cực đem lại sự phát triển, duy trì của

đa dạng sinh học Để nâng cao nhận thức của người dân, các cơ quan, tổ chứcphải tích cực cung cấp kiến thức, tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhậnthức về việc bảo vệ đa dạng sinh học, tạo cho họ sinh kế bền vững, cải thiện mứcsống cho người dân Khi có nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của dạng sinhhọc thì ý thức bảo vệ đa dạng sinh học sẽ hình thành

1.3.3 Vai trò của giáo dục đa dạng sinh học với HS tiểu học

Giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học nên bắt đầu từ lứa tuổi tiểuhọc, vì đây là bậc học cơ bản để bắt đầu các cấp học tiếp theo HS tiểu học chiếm

số lượng lớn trong dân số nước ta và đều là những đối tượng nhỏ tuổi, thơ ngây

sẽ dễ dàng tiếp thu những kiến thức mới mẻ HS tiểu học có độ tuổi từ 6- 11 tuổi,đây là lứa tuổi đang trong thời gian hình thành nhân cách, lại là lực lượng lớntrong xã hội Vì vậy, khi tiếp thu kiến thức về đa dạng sinh học kết hợp vớinhững kiến thức khoa học của các môn học khác không những làm cho HS hiểu

rõ tầm quan trọng, giá trị của đa dạng sinh học mà còn hình thành thói quen,hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường tự nhiên nói chung và đadạng sinh học nói riêng Đồng thời, HS còn có thể thực hiện và duy trì các hoạtđộng tuyên truyền để bảo vệ đa dạng sinh học khi còn ngồi trên ghế nhà trường.Nếu ở cấp tiểu học, HS không hình thành được tình yêu thiên nhiên, sống hòađồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới tự nhiên, có thói quen sống bảo vệ,yêu quý, giữ gìn những giá trị của đa dạng sinh học thì ở các cấp sau khó có thể

bù đắp được Vì thế, việc đầu tư giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho HStiểu học là một nhiệm vụ quan trọng và lâu dài của hệ thống giáo dục nói chung

15

Trang 16

và của mỗi GV nói riêng.

1.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học

Thực hiện việc lồng ghép những kiến thức để bảo vệ đa dạng sinh học ởtrường Tiểu học, đặc biệt thông qua bộ môn TN – XH là thực sự cần thiết, là sựtất yếu của quá trình giáo dục trong nhà trường Chủ đề Tự nhiên trong phân môn

TN – XH sẽ bước đầu giúp HS hoàn thiện những kiến thức rời rạc mà HS tíchlũy trong cuộc sống thành một hệ thống kiến thức khoa học, logic về các loàiđộng, thực vật Chủ đề Tự nhiên trong phân môn TN – XH lớp 3 sẽ cung cấp cho

HS về sự phong phú và đa dạng của các loài thực vật, động vật, đây chính là cơ

sở khoa học và là điều kiện thuận lợi để giáo viên giáo dục ý thức bảo vệ sự đadạng sinh học thông qua các bài học cụ thể như:“Lá” cây”,“Tôm”,

“Cua”,“Cá”,“Thú”,… Việc lồng ghép giáo dục ý thức trong các bài học thuộcchủ đề Tự nhiên giúp HS hình thành ý thức và mở rộng kiến thức, kĩ năng về bảo

vệ đa dạng sinh học một cách toàn diện Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức bảo

vệ đa dạng sinh học còn giúp HS vận dụng những kiến thức, những kĩ năng đãđược học để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, từ đóhình thành ý thức trong việcbảo vệ đa dạng sinh học

Ngoài việc hình thành ý thức bảo vệ đa dạng sinh học, việc giáo dục kiếnthức bảo vệ đa dạng sinh học còn hình thành cho HS kĩ năng quan sát, nhận biếtmôi trường xung quanh, qua đó giúp HS hình thànhmột số kĩ năng sống cơ bản,nhận biết được vai trò của bản thân trong việc bảo vệ đa dạng sinh học GV pháthuy được vai trò của mình trong việc giáo dục và hình thành ý thức để bảo vệ đadạng sinh học cho HS

1.5 Các mức độ tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong môn Tự nhiên xã hội lớp 3

Thế giới động, thực vật trong tự nhiên được phân loại thành các bậc đó làngành, lớp, bộ, họ, chi, loài Trong đó, mỗi ngành có những đặc trưng về giảiphẫu khác nhau (ngành động vật có xương sống , ngành động vật không xương

Trang 17

sống, ngành thân mềm (thường có vỏ cứng bao bọc), ngành chân khớp (có chânkhớp và phân đốt)…) Mỗi ngành lại được chia thành các lớp tiếp theo là bộ,dưới bộ là họ, chi và cuối cùng là loài Chủ đề Tự nhiên lớp 3 (động vật, thựcvật) đã được xây dựng trên cơ sở của sự phân loại này Như vậy, chủ đề Tự nhiênlớp 3 sẽ cung cấp cho HS những kiến thức đơn giản về các lớp động vật như: lớpthú, lớp chim, lớp côn trùng, lớp giáp mềm (tôm, cua) và được xây dựng thànhcác bài học cụ thể: “Bài 50 Côn trùng”, “ Bài 53 Chim”, “Bài 54 Thú”…Mỗi bài

về động vật trong chủ đề Tự nhiên đã cung cấp cho HS về sự phong phú và đadạng của động vật theo lớp và loài (loài hổ, loài bướm…)

Về thực vật, nội dung các bài học về thực vật không được xây dựng theo

sự phân loại mà được thiết kế theo từng cơ quan thực vật như: “Bài 41: Thâncây”, “Bài 45: Lá cây”, “Bài 47: Hoa”, … Tùy theo mỗi loại cơ quan thực vật

mà HS được cung cấp những tri thức đơn giản về sự phong phú về màu sắc, kíchthước, hình dạng, mùi, vị và cấu tạo của từng cơ quan Từ những sự phong phúđơn lẻ của mỗi cơ quan thực vật, HS sẽ nhận ra được sự phong phú và đa dạngcủa thực vật

Như vậy, mục tiêu trọng tâm chủ đề Tự nhiên lớp 3 (động vật, thực vật) làgiúp học sinh hiểu về sự phong phú và đa dạng của động, thực vật Đây chính là

cơ sở quan trọng giúp GV xây dựng các mức độ tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ

sự đa dạng sinh học

1.5.1 Tích hợp toàn phần

Mức độ tích hợp toàn phần là mức độ lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ đadạng sinh học trong từng bài học chặt chẽ và đầy đủ nhất Nghĩa là, giáo dục ýthức bảo vệ đa dạng sinh học mức độ toàn phần phải đảm bảo nội dung tích hợpđược thực hiện ởphần lớn các hoạt động trong bài học Ngoài ra, nội dung tíchhợp cần đảm bảo phảiGD cho HS có ý thức về bảo vệ đa dạng sinh học đến bậc

họ, chi và loài chứ không đơn giản dừng lại ở lớp động vật Đối với thực vật, cácbài được xem là có mức độ tích hợp toàn phần phải đảm bảo nội dung bài họcGD

về sự đa dạng về cấu tạo, đặc điểm bên ngoài (màu sắc, kích thước, mùi, hìnhdạng,…) và cả lợi ích của cơ quan thực vật

1.5.2 Tích hợp bộ phận

Tích hợp bộ phận trong giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học nghĩa là

17

Trang 18

chỉ một bộ phận kiến thức,thuộc hoạt động dạy học chủ yếu của bài học, có thểtích hợp giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học.

1.5.3 Tích hợp ở mức độ liên hệ

Đối với mức độ tích hợp này, nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đa dạngsinh học chỉ được đưa vào bài học nhằm làm cho bài học thêm phong phú và hiệuquả hơn Phạm vi tích hợp cũng chỉ dừng lại ở phần giới thiệu bài hoặc củng cố.Không đi sâu vào phân tích nguyên nhân và hậu quả

1.6 Đặc điểm tâm lí của học sinh giai đoạn các lớp 1, 2, 3

1.6.1 Đặc điểm quá trình nhận thức

Tri giác: Tri giác của HS tiểu học còn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi

tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượngcòn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn [21]

HS Tiểu học khi tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thựctiễn của bản thân Đối với HS, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sựvật, như cầm nắm, sờ mó vật ấy Khi học sinh tri giác thì cảm xúc của các em thểhiện rất rõ Điều mà học sinh tiểu học tri giác đầu tiên từ sự vật là những dấuhiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em xúc cảm Vì thế, cái trựcquan, rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đốivới các em Tri giác về thời gian và không gian cũng như ước lượng về thời gian

và không gian của HS tiểu học còn hạn chế[21]

Chú ý: Ở lứa tuổi các lớp 1, 2, 3 chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả

năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủđịnh chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đếnnhững môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranhảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng Sự tập trung chú ý của trẻ cònyếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quátrình học tập.[21]

Trí nhớ: HS tiểu học có trí nhớ trực quan hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ logic Giai đoạn lớp 1,2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển

Trang 19

tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinhchưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghinhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu [17]Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quáthóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọngcần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễhiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú

và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.[21]

Tưởng tượng: Là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của HS

tiểu học Nếu tưởng tượng của HS phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặp khókhăn trong hành động, học tập Tưởng tượng được hình thành và phát triển tronghoạt động học và hoạt động khác của HS [21]

Tư duy: Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào

những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Hoạt động phântích, tổng hợp của HS tiểu học còn sơ đẳng Đặc điểm tư duy của HS tiểu học nêutrên chỉ có ý nghĩa tương đối, trong quá trình học tập ở nhà trường, tùy thuộc vàonội dung, phương pháp và phương thức tổ chức cho các em thực hiện hoạt độnghọc mà tư duy của các em phát triển, thay đổi cũng có phần khác nhau [21]

Ý chí:Ở lứa tuổi 1, 2 ,3 hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào

yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen,quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thựcthi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đếncùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn [21]

1.6.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh giai đoạn 1, 2, 3

Tính cách: Mỗi trẻ em một tính cách, có em thì trầm lặng, có em thì sôi

nổi, có em thì nhút nhát, có em thì mạnh dạn Tính cách của HS tiểu học cónhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh Đó là hình thức độc đáo phản ứnglại những yêu cầu của người lớn, những yêu cầu mà các em xem là cứng nhắc, để

19

Trang 20

bảo vệ cái mình “muốn” thay cho cái mình “cần phải” GV nên tận dụng đặc tínhnày để giáo dục HS[21].

Nhu cầu nhận thức: Nhu cầu nhận thức của họ HS tiểu học là nhu cầu tinh

thần Nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em Nếukhông có nhu cầu nhận thức thì HS sẽ không có tính tích cực trí tuệ [21]

Tình cảm: Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí, trong

nhân cách mỗi người Đối với HS tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó làkhâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽkích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động Với tư cách là hoạtđộng chủ đạo, hoạt động học làm cho HS tiểu học phát triển mạnh về trí tuệ,đồng thời hoạt động học cùng với các hoạt động khác cũng hình thành và pháttriển tình cảm và những nét tâm lí nhiều mặt, những phẩm chất tâm lí của nhâncách đang hình thành Giáo dục toàn diện ở tiểu học là đảm bảo điều kiện để họcsinh tiểu học được học, được thực hiện các hoạt động để có sự phát triển hài hòatối ưu có thể được trong điều kiện cụ thể [21]

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu cơ sở lí luận của việc giáo dục ýthức bảo vệ sự đa dạng sinh học cho HS tiểu học trong nhà trường hiện nay.Chúng tôi nhận thấy rằng việc giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học chohọc sinh rất quan trọng và cần thiết Nhất là trong xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu của con người ngày càng được đẩy mạnh thì việc giáo dục ý thức cho HS

về đa dạng sinh học cần phải được quan tâm hơn nữa Việc giáo dục ý thức bảo

vệ sự đa dạng sinh học cho HS không chỉ làm cho các em có kiến thức về đadạng sinh học, mà cũng góp phần quan trọng vào trong công cuộc đổi mới củađất nước ta

Qua đó có thể thấy được đặc điểm của vấn đề đa dạng sinh học, biểu hiệncủa việc suy thoái đa dạng sinh học hiện nay Ngoài ra chúng ta có thể thấy được

đa dạng sinh học có vai trò quan trọng như thế nào đối với tự nhiên và xã hội.Tìm hiểu về những đặc điểm tâm lí và nhân cách của HS lớp 1, 2, 3 trong quátrình tiếp thu và nhận thức về vấn đề đa dạng sinh học

Trang 22

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO

VỆ SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG MÔN TN – XH LỚP 3

2.1 Mục tiêu, nội dung chủ đề Tự nhiên môn TN – XH lớp 3

2.1.1 Mục tiêu

2.1.1.1 Mục tiêu môn TN – XH lớp 3

Sau khi học sinh học xong môn TN – XHlớp 3, HS sẽ biết được[1]:

- Tên, chức năng và cách giữ vệ sinh các cơ quan trong cơ thể Biết cáchphòng tránh một số bệnh thường gặp ở các cơ quan: Hô hấp, Tuần hoàn và Bàitiết nước tiểu

- Biết mối quan hệ họ hàng nội ngoại Biết phòng tránh cháy khi ở nhà.Biết được những hoạt động chủ yếu của nhà trường và giữ an toàn khi ở trường.Biết tên một số cơ sở hành chính, văn hóa, y tế, giáo dục , một số hoạt độngthông tin liên lạc, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ở tỉnh nơi HS ở

- Biết một số quy tắc đối với người đi xe đạp Biết được cuộc sống trướckia và hiện nay ở địa phương và biết giữ vệ sinh môi trường

- Biết được sự đa dạng phong phú của thực vật và động vật, chức năng củathân cây, rễ, lá, hoa, quả đối với đời sống của cây và lợi ích đối với con người, lợiích hoặc tác hại của một số động vật đối với đời sống con người Biết vai trò củaMặt Trời đối với Trái Đất và đời sống con người Vị trí và sự chuyển động củaTrái Đất trong hệ thống mặt trời, sự chuyển động của Mặt Trăng quay quanh TráiĐất Hình dạng, đặc điểm, bề mặt Trái Đất, biết ngày, đêm, năm, tháng và cácmùa

2.1.1.2 Mục tiêu chủ đề Tự nhiên trong môn TN – XH lớp 3

Cùng với hai chủ đề là Con người - Sức khỏe và chủ đề Xã hội, chủ đề Tựnhiên trong phân môn TN – XH lớp 3 giúp cho HS biết được sự phong phú, đadạng của các loài động, thực vật qua các bài học như “Thực vật”, “Thân cây”,

“Rễ cây”, “Lá cây”, “Khả năng kì diệu của lá cây”, “Hoa”, “Quả”, “Động vật”,

“Côn trùng”, “Tôm, Cua”, “Cá”, “Chim”, “Thú” Sau khi học xong HS hiểu đượccấu tạo, đặc điểm bên ngoài của thân cây, rễ, lá, hoa, quả đối với đời sống củacây và những ích lợi, tác hại của chúng đối với con người và động vật; biết được

Trang 23

vai trò của Mặt Trời đối với Trái Đất và đối với đời sống con người, vị trí và sựchuyển động của Trái Đất trong hệ thống Mặt Trời, sự chuyển động của MặtTrăng quay quanh Trái Đất; hình dạng, đặc điểm, bề mặt Trái Đất, biết ngày,đêm, năm, tháng và các mùa qua các bài học “Mặt Trời”, “Trái Đất - Quả địacầu”, “Sự chuyển động của Trái Đất”, “Trái Đất là một hành tinh trong hệ MặtTrời”, “Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất”, “ngày và đêm trên trái đất”, “nămtháng và mùa”, “các đới khí hậu”, “bề mặt Trái Đất”, “bề mặt lục địa”.

2.1.2 Nội dung chủ đề Tự nhiên trong môn TN – XH lớp 3

Nội dung dạy học chủ yếu của chủ đề này là: [1]

- Đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của một số cây, con vật phổ biến.Ích lợi và tác hại của chúng đối với con người

- Một số hiện tượng tự nhiên như thời tiết, ngày và đêm, các mùa

- Sơ lược về hệ Mặt Trời, Trái Đất và các vận động của Trái Đất

- Một số biểu tượng về sông, hồ, suối, lục địa, đại dương, các dạng địa hình.Nội dung chủ đề Tự nhiên trong môn TN – XH3 phong phú và đa dạng vềcác loại hoa, lá, rễ cây, ngoài ra còn có các loài động vật, tôm, cá, cua Thông quacác bài đó có thể giáo dục cho HS thấy được vai trò to lớn của đa dạng sinh họcđối với con người và môi trường sống

2.2 Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong môn TN –

có được số liệu khách quan và cụ thể về số lượng HS được giáo dục về ý thứcbảo vệ đa dạng sinh học, chúng tôi đã tiến hành điều tra học sinh khối lớp 3, tạitrường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Quá trình

23

Trang 24

điều tra sẽ góp phần làm rõ vấn đề nghiên cứu được thực hiện trong thực tế, kếtquả và những khó khăn trong quá trình dạy học Việc hiểu rõ được thực trạngcủa vấn đề sẽ giúp chúng tôi đưa ra những biện pháp phù hợp trong quá trìnhgiảng dạy.

* Nội dung điều tra

Học sinh:

Nội dung phiếu điều tra HS chúng tôi sẽ khảo sát 10 câu hỏi Các câu hỏi

sẽ bao gồm các mức độ khác nhau: mức độ hiểu biết của các em về vấn đề đadạng sinh học cũng như nhận thức được tầm quan trọng của nó Khả năng yêuthích và mong muốn được các thầy, cô cung cấp kiến thức về đa dạng sinh học,

HS có thường xuyên được giáo dục về đa dạng sinh học hay không và khả năng

áp dụng những kiến thức về đa dạng sinh học trong cuộc sống hằng ngày

2.2.1.2 Đối tượng và phương pháp khảo sát

* Đối tượng điều tra

Trong phạm vi của đề tài, đối tượng chúng tôi tiến hành điều tra là những

GV, HS, PHHS khối lớp 3 tại trường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Phước

Trang 25

Hòa, thành phố Tam Kỳ.

Đối với GV: Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 5 GV tại trường tiểu học

Nguyễn Thị Minh Khai thành phố Tam Kỳ Các GV điều tra đã tốt nghiệp khóahọc về đào tạo cử nhân tiểu học tại các cơ sở giáo dục uy tín, chất lượng CácGVcó điều kiện tiếp xúc và đã được tập huấn, tuyên truyền về những kiến thức

về đa dạng sinh học Qua khảo sát, bình quân thâm niên giảng dạy của GV là 17năm Như vậy, đối tượng đảm bảo yêu cầu khảo sát

Đối với HS: Chúng tôi đã khảo sát 60 HS của hai lớp 3 tại trường tiểu học

Nguyễn Thị Minh Khai HS được khảo sát có mức học trung bình trở lên, đi họcđầy đủ, có thái độ nghiêm túc, có kỉ luật, nề nếp rõ ràng

Đối với PHHS: PH có thái độ nghiêm túc khi trả lời các câu hỏi Số lượng

PH được khảo sát là 15 người

* Phương pháp điều tra

* Phương pháp Anket (Phiếu điều tra)

Mục đích: Qua điều tra bằng phiếu đối với GV trực tiếp giảng dạy lớp 3

nhằm thu thập số liệu và dựa vào số liệu để nêu lên thực trạng của việc giáo dục

ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong môn TN – XH

Cách tiến hành: Chúng tôi đã tiến hành điều tra theo nội dung đã soạn

thảo trong phiếu điều tra ở địa bàn nêu ở trên Tổng số phiếu phát ra là 5 phiếuđối với GV, 60 phiếu điều tra HS, 15 phiếu đối với PHHS, số phiếu thu vào bằng

số phiếu phát ra

* Phương pháp quan sát

Mục đích: Để tìm hiểu và bổ sung về thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học trong dạy và học môn TN – XH của GV và HS nhằm có cơ sởchắc chắn cho quá trình nghiên cứu

Cách tiến hành: Dự giờ một số tiết dạy môn TN – XH của các GV thuộc

khối lớp 3 tại trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, tìm hiểu về việc lồngghép nội dung giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học Nhằm đưa ra nhữngnhận xét về việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học trong môn TN – XHcủa học sinh lớp 3

* Phương pháp đàm thoại

25

Trang 26

Mục đích: Để bổ sung số liệu về thực trạng của việc giáo dục ý thức bảo

vệ đa dạng sinh học thông qua môn TN – XH và làm rõ những thông tin thu thậpđược từ phương pháp quan sát

Cách tiến hành: Gặp gỡ, trò chuyện, trao đổi trực tiếp với HS và GV tại

trường Nguyễn Thị Minh Khai – thành phố Tam Kỳ trong những giờ giải lao, giờ

ra chơi để thu thập ý kiến và nắm bắt thông tin về những thuận lợi, khó khăntrong việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học trong môn TN – XH

2.2.1.3 Kết quả điều tra và xử lí kết quả điều tra

Sau khi tiến hành điều tra chúng tôi đã thu được kết quả sau:

* Về phía giáo viên:

Nội dung 1: Nhận định của GV trong việc giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học cho HS.

Hầu hết các GV đều có hiểu biết nhất định về đa dạng sinh học, vì một số

GV đã từng tập huấn hoặc tham dự các buổi hội thảo về đa dạng sinh học do nhàtrường tổ chức Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.1: Nhận định của GV trong việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng

sinh học

Rất quan trọng Quan trọng thường Bình quan trọng Không

Qua bảng số liệu trên có thể thấy được 80% GV cho rằng việc giáo dụcbảo vệ đa dạng sinh học cho HS là rất quan trọng, 20% cho rằng quan trọng.Điều này có thể thấy GV có nhận thức và đánh giá cao về tầm quan trọng củaviệc giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học Vấn đề đa dạng sinh học đangđược quan tâm trong nhà trường

Nội dung 2: Mục đích thầy (cô) thường hướng đến khi dạy các bài học liên quan đến đa dạng sinh học

Bảng 2.2: Mục đích GV thường hướng tới khi giáo dục ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học

Trang 27

Mục đích Mức độ lựa chọn

Từ bảng trên ta có thể thấy được 20% GV hướng tới kiến thức về đa dạngsinh học, 40% tập trung vào kĩ năng bảo vệ sự đa dạng sinh học, 40% còn lạihướng đến thái độ của HS Như vậy, GV vừa quan tâm đến kiến thức vừa quantâm đến kĩ năng và thái độ của HS khi giáo dục về vấn đề này Khi dạy các bàihọc có nội dung liên quan đến đa dạng sinh học GV cần chú trọng đến việc hìnhthành cho HS thái độ đúng đắn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học Từ việc hìnhthành thái độ đúng sẽ nâng cao ý thức của HS và áp dụng vào thực tế cuộc sống

Nội dung 3: Mức độ đánh giá về sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ sự

đa dạng sinh học

Biểu đồ 2.1: Mức độ đánh giá về sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh họcQua biểu đồ cho thấy 60% GV đánh giá về sự cần thiết của việc giáo dục

ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học, 40% còn lại cho rằng là cần thiết

Nội dung 4: Tìm hiểu phương pháp giảng dạy GV thường sử dụng trong việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học qua môn TN - XH

Bảng 2.3: Phương pháp giảng dạy thường sử dụng trong việc

giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học

Phương pháp giảng dạy Số lượng Tỉ lệ

Phương pháp đàm thoại, trao đổi 5 100%

27

Trang 28

Biểu đồ 2.2: Phương pháp giảng dạy GV thường sử dụng trong việc giáo dục ý

thức bảo vệ đa dạng sinh học

Từ biểu đồ trên chúng ta có thể dễ dàng thấy tất cả các GV đều sử dụngnhững nhóm phương pháp khá phổ biến như: phương pháp quan sát, đàm thoại,thảo luận nhóm, chỉ một số GV sử dụng nhóm phương pháp thực hành chiếm tỉ

lệ 20% và sử dụng phương pháp trò chơi chiếm tỉ lệ 40% Trong khi đó 2 phươngpháp thực hành và phương pháp trò chơi là 2 phương pháp HS có thể vận dụngnhững kiến thức đã học để hình thành những kĩ năng cơ bản cho mình thì các GV

sử dụng rất ít

Nội dung 5: Mức độ cập nhật thông tin về đa dạng sinh học của GV

Để tìm hiểu thêm về sự quan tâm đến vấn đề đa dạng sinh học trong nước

và trên thế giới của GV, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả ởbảng sau:

Bảng 2.4: Mức độ cập nhật thông tin về đa dạng sinh học

Mức độ Thườngxuyên thoảngThỉnh Rất ít Không

Trang 29

Tỉ lệ 60% 40% 0% 0%

Hầu hết các GV đều quan tâm đến vấn đề đa dạng sinh học cũng như việcgiáo dục đa dạng sinh học cho HS Tỉ lệ GV thường xuyên cập nhật là 60% vàthỉnh thoảng cập nhật là 40% Không chỉ thường xuyên cập nhật đến vấn đề đadạng sinh học mà một số thầy cô còn thỉnh thoảng giáo dục cho các em về ý thứcbảo vệ đa dạng sinh học khi tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức, cácbuổi học ngoài giờ lên lớp, các buổi đi tham quan…

Nội dung 6: Tìm hiểu những khó khăn của GVkhi giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho học sinh qua môn TN - XH

Qua việc khảo sát GV, chúng tôi rút ra được những khó khăn của GV gặpphải khi giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học và thống kê vào bảng dưới đây:Bảng 2.5: Khó khănkhi giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho HS

Trong việc đưa nội dung đa

Không có thời gian để giúp HS

Từ bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy được hầu hết các GV đều có khókhăn trong việc giáo dục cho HS Phần lớn GV đều gặp khó khăn khi thiết kế bàidạy có sử dụng kiến thức về đa dạng sinh học (chiếm tỉ lệ 100%) Ngoài ra cònmột số GV cho rằng thời gian của một tiết dạy (35 phút) không đủ để giúp HShiểu rõ hơn về vấn đề đa dạng sinh học được đề cập đến

Nội dung 7: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những khó khăn

Bảng 2.6: Nguyên nhân dẫn đến khó khăn

HS chưa ý thức được tầm quan

trọng của vấn đề đa dạng sinh học 2 40%

Chưa có sự quan tâm của nhà

29

Trang 30

Nguyên nhân khác 0 0

Nguyên nhân chính dẫn đến 100 % GV gặp khó khăn trong việc giáo dục

ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học cho HS là do thiếu thời gian chuẩn bị ở nhà.Ngoài ra còn có tỉ lệ 40% GV cho rằng HS còn chưa ý thức được tầm quan trọngcủa đa dạng sinh học, có 20% GV cho rằng gia đình còn chưa có sự quan tâmtrong việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho con em mình

* Về phía HS

Nội dung 1: Sự hiểu biết của HS về bảo vệ đa dạng sinh học

Qua điều tra với câu hỏi “Em hiểu bảo vệ đa dạng sinh học là gì?” Vận

dụng sự hiểu biết của bản thân cùng với các kiến thức các em đã được học trongnhà trường, hầu hết HS đã diễn đạt đúng về bảo vệ đa dạng sinh học Có 63,3%

HS đã diễn đạt gần như cụ thể về việc bảo vệ đa dạng sinh học, còn 36,7% họcsinh hiểu nhưng cách diễn đạt của các em còn chưa được rõ ràng

Nội dung 2: Nhận thức của HS về việc bảo vệ đa dạng sinh học

Bảng 2.7: Mức độ nhận thức của HS về bảo vệ đa dạng sinh học

Mức độ Rất quan

trọng Quan trọng

Bìnhthường

Khôngquan trọng

Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.3: Nhận thức của HS về việc bảo vệ đa dạng sinh học

Từ biểu đồ, chúng ta có thể thấy hầu hết HS đều ý thức được việc bảo vệ

đa dạng sinh học (53,3% rất quan trọng, 43,3 % quan trọng) Một số HS cho rằngviệc bảo vệ đa dạng sinh học là bình thường (3,4%) HS đã biết, đã được học về

đa dạng sinh học, tuy nhiên, một sốHS vẫn chưa nhận thức được vai trò to lớn

Trang 31

cũng như cách bảo vệ đa dạng sinh học.

Nội dung 3: Mức độ được giáo dục và mong muốn được thầy, cô giáo dục những kiến thức về bảo vệ đa dạng sinh học

Qua việc khảo sát đa số HS cho rằng GV chỉ thỉnh thoảng đề cập đến vấn

đề giáo dục bảo vệ đa dạng sinh học (80% thỉnh thoảng, 20% rất ít) điều này cóthể cho chúng ta thấy được các GV đều thấy được tầm quan trọng của việc giáodục đa dạng sinh học nhưng việc các GV đưa vào trong chương trình để giáo dụccho HS là rất ít bởi nhiều lí do khác nhau nhưng chủ yếu không đủ thời gian (thờigian của một tiết dạy chỉ 35 phút)

Cùng với việc quan tâm đến giáo dục bảo vệ sự đa dạng sinh học thì đa sốcác em HS lớp 3 rất mong muốn được giáo dục về cách để bảo vệ đa dạng sinhhọc (68,3% rất mong muốn, 31,7% mong muốn) Điều này, có thể thấy rằngtrong nhà trường GV và HS đều đã nhận ra vai trò của đa dạng sinh học Nhiều

HS có mong muốn được trang bị những kĩ năng cần thiết, những kiến thức, hiểubiết về đa dạng sinh học để cùng nhau chung tay với xã hội góp phần bảo vệ sự

đa dạng sinh học, duy trì sự ổn định của sự sống trên Trái Đất

Nội dung 4: Mức độ hứng thú của HSkhi được học nội dung bảo vệ đa dạng sinh học

Sau khi điều tra, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

Bảng 2.8: Sự hứng thú của HS khi học nội dung bảo vệ đa dạng sinh học trong môn TN – XH

Mức độ Số lượng (người) Tỉ lệ (%)

Từ bảng số liệu trên chúng tôi thiết lập biểu đồ như sau:

Biểu đồ 2.4: Đánh giá mức độ hứng thú học tập của HS

31

Trang 32

Từ biểu đồ trên chúng ta có thể rõ ràng nhìn thấy mức độ hứng thú của HSđược khảo sát là 63,3% Như vậy, việc GV sử dụng các phương pháp phù hợptrong dạy học kết hợp với việc sử dụng phương tiện trực quan sinh động đã gâyđược hứng thú đối với phần lớn HS khi học nội dung bảo vệ đa dạng sinh họcqua môn TN - XH Nhưng có đến 26,7% HS cho là bình thường và 10% HSkhông hứng thú với nội dung đa dạng sinh học trong môn TN - XH.

Nội dung 5: Tìm hiểu mức độ thường xuyên làm những bài tập về đa dạng sinh học

Qua tìm hiểu thì hầu như HS đều cho biết thỉnh thoảng mới được làmnhững bài tập về nội dung bảo vệ đa dạng sinh học (98,3%), chiếm số lượng 59

HS Hình thức thực hiện những bài tập này là những câu hỏi được GV giao cho

về nhà và tìm hiểu sau đó lên trình bày lại cho GV những gì thu thập được Mộtdạng nữa đó là hình thức bài tập trắc nghiệm được GV phát ra và yêu cầu HSthực hiện ngay trên lớp

Nội dung 6: Tìm hiểunhững kiến thức về đa dạng sinh học được HS áp dụng vào thực tiễn

Qua quá trình điều tra chúng tôi thấy hầu hết HS đều có kiến thức về đadạng sinh học, các em có thể phân biệt được những thứ đồ vật được làm từ cơ thểđộng vật hoang dã, nhiều em cho rằng đó là việc làm không nên Để có nhữngbiện pháp bảo vệ sự đa dạng sinh học thì chỉ có một vài em nêu ra được như:

-Tích cực trồng cây, vệ sinh môi trường sạch sẽ

- Biết bảo vệ rừng, tuyên truyền vận động những người xung quanh khôngchặt phá rừng bừa bãi

- Biết thương yêu động vật

- Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, các hoạt động bảo tồn đadạng sinh học do nhà trường, địa phương tổ chức

Như vậy ngoài việc nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh họcthì đa số HS không biết cách để bảo vệ sự đa dạng sinh học, chỉ có một vài HS cóthể đưa ra được các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học

* Về phía PH:

Nội dung 1: Nhận thức của PH về vấn đề đa dạng sinh học trong cuộc sống và

Trang 33

trong việc giáo dục đối với con em.

Qua việc khảo sát 15 PH chúng tôi đưa ra kết quả sau:

Bảng 2.9: Nhận thức của PH về vấn đề đa dạng sinh học

Nội dung

Các tiêu chí đánh giá Rất

quan trọng

Quan trọng

Bình thường

Không quan trọng

Vai trò của việc giáo dục ý thức

bảo vệ sự đa dạng sinh học cho

Từ bảng số liệu trên, có đến 46,7% PH cho rằng vai trò đa dạng sinh họcrất quan trọng đối với cuộc sống chúng ta, 33,3% cho rằng quan trọng và 20%cho rằng bình thường

Việc đưa kiến thức đa dạng sinh học để giáo dục HS thì hơn 50% PH chorằng quan trọng (53,3% rất quan trọng, 33,3% quan trọng) và số ít PH thì chorằng bình thường (13,4%) Như vậy đa số PH cũng rất quan tâm đến việc giáodục HS có ý thức hơn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học

Nội dung 2: Mức độ quan tâm của PH trong việc giáo dục đa dạng sinh học

Đa số PH đều thể hiện sự ít quan tâm đến vấn đề này (66,7%) Bởi đa số

PH đều bận với công việc, thời gian học sinh ở trường nhiều hơn ở nhà Khoảng33,3%, PH đều cho rằng việc giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học cho họcsinh quan trọng và thật sự cần thiết

Từ mức độ quan tâm của PH tới vấn đề giáo dục đa dạng sinh học cho HSchúng tôi cũng đã khảo sát mức độ thường xuyên cập nhật những thông tin về đadạng sinh học và đa số PH ít cập nhật thông tin (33,3% thỉnh thoảng, 46,7% rất ít

và 20% không cập nhật) Chúng tôi có bảng sau:

Bảng 2.10 : Mức độ cập nhật thông tin về đa dạng sinh học của PH

Mức độ Thường xuyên thoảng Thỉnh Rất ít Không cập nhật

33

Ngày đăng: 21/12/2017, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w