1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

nội dung dạy học hóa học ở trường trung học

13 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 58,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảm bảo tính khoa học, hệ thống, kế thừa và phát triển nội dung học vấn phổ thông Hệ thống kiến thức bao gồm: - Phải góp phần củng cố nội dung giáo dục của các cấp học dưới đồng thời bổ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

Biên Hòa, tháng 09 năm 2017

Trang 2

KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Th.S Phạm Ngọc Thanh Tâm SINH VIÊN THỰC HIỆN: Đinh Thị Bích

Mai Thị Thu Huyền Nguyễn Thị Tú Ngọc Phạm Thị Thảo

Nguyễn Vũ Hoàng Thi Thơ Lưu Thị Thủy

Biên Hòa, tháng 09 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

1 Những nguyên tắc lựa chọn nội dung và cấu trúc giáo trình hóa học ở trường trung học

1.1 Đảm bảo tính khoa học, hệ thống, kế thừa và phát triển nội dung học vấn phổ thông

Hệ thống kiến thức bao gồm:

- Phải góp phần củng cố nội dung giáo dục của các cấp học dưới đồng thời bổ sung, phát triển nâng cao hơn nhằm hoàn thiện học vấn phổ thông

VD: Các khái niệm hóa học cơ bản như nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử cấu tạo chất… đều được trình bày theo quan điểm của thuyết electron về cấu tạo chất ngay từ chương trình hóa học THCS và có sự chỉnh lí bổ sung, bổ sung hợp lí các kiến thức lí thuyết, sự kiện hiện đại trong toàn bộ chương trình hóa học phổ thông

- Kiến thức tiếp tục phục vụ cho cuộc sống hiện tại và kiến thức cần thiết cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai, chuẩn bị cho việc đào tạo tiếp tục sau khi tốt nghiệp THPT

VD: Những kiến thức ứng dụng thực tiễn phản ánh mối liên hệ của hóa học với đời sống, của khoa học với sản xuất (chất xúc tác, quy trình sản xuất), hoặc vai trò của hóa học trong sự phát triển kinh tế quốc dân, những tài liệu liên quan đến các ngành nghề hóa học

- Tăng cường kiến thức về phương pháp hoặc có tính phương pháp, loại kiến thức giàu khả năng ứng dụng

VD: Vai trò các phản ứng hóa học trong quá trình quang hợp, quá trình lên men rượu

- Với yêu cầu kế thừa, cần khai thác tối đa những ưu điểm của chương trình THPT cũ và thí điểm phân ban

VD: Chương trình SGK hiện nay đang thực hiện theo chương trình phân ban: SGK hóa học ban cơ bản, SGK hóa học ban nâng cao Thí điểm phân ban góp phần phát triển kỹ năng, hứng thú cá nhân của học sinh nhưng vẫn đảm bảo tính phổ thông, toàn diện

1.2 Đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, phổ thông và sát với mục tiêu Việt Nam

- Các yêu cầu này ở cấp học THPT vẫn tiếp tục được đặt ra với mức độ phù hợp trình độ của học sinh cấp THPT

- Nội dung dạy học phải phản ánh được những thành tựu khoa học mới của thế giới cũng như của nước ta cùng với những vấn đề đang được loài người quan tâm (môi trường, dân số, và những vấn đề khác)

VD: SGK Hóa học 12 đã cập nhật các vấn đề xã hội quan tâm như: Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế, Hóa học và vấn đề xã hội, Hóa học và vấn đề môi trường

Trang 5

Chương 3: Nội dung dạy học hóa học ở trường trung học

Tuy nhiên các bài học này lại nằm cuối phần chương trình hóa 12, thường được tìm hiểu sơ xài, hoặc bỏ qua

- Đảm bảo mối quan hệ liên môn một cách chặt chẽ để thực hiện nguyên tắc tích hợp, hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau

VD: Trong chương trình hóa học 12, bài 11: Peptit và Protein Bài học này dễ dàng thể hiện mối quan hệ liên môn giữa hóa học và sinh học; từ cấu tạo hóa học, tính chất vật lý, hóa học để thấy được vai trò của protein trong cơ thể sống của sinh vật

1.3 Đảm bảo tính tư tưởng

- Nội dung môn học phải mang tính giáo dục, phải góp phần thực hiện mục tiêu chủ yếu của trường phổ thông

- Nội dung môn học phải chứa đựng các sự kiện để hình thành thế giới quan khoa học, chuẩn mực đạo đức, ý thức trách nhiệm với bản thân, xã hội, cộng đồng cho học sinh

VD: Hiện nay các chất hóa học được sử dụng rộng rãi để bảo quản thực phẩm: Sodium Benzoat, Sodium Nitrat, Sodium Nitrit… chúng được sử dụng để bảo quản hoa quả Tuy nhiên nếu lạm dụng với lượng quá nhiều có thể gây nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe, nghiêm trọng nhất là có thể gây ung thư Vì vậy cần giáo dục cho học sinh ngoài mặt lợi nhuận cần lưu ý đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng

- Chỉ ra tính không căn cứ của các quan điểm duy tâm về tự nhiên, xã hội, tố cáo những hành vi sử dụng hóa chất, tiến bộ kỹ thuật với mục đích cá nhân đi ngược lại lợi ích nhân loại, phá hủy xã hội, thiên nhiên, môi trường

VD: Khí độc Clo được quân Đức sử dụng trong chiến trường ngày 22/4/1915 (chiến tranh thế giới thứ nhất) Người Đức đã triển khai hàng nghìn bình khí clo và tiêu diệt toàn bộ 2 sư đoàn của Pháp và Algeria Clo phản ứng với nước trong niêm mạc của phổi để tạo thành axit clohyđric khiến nạn nhân đau nhói ở cổ họng, ngực và gây tử vong

1.4 Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hóa

1.4.1 Những nguyên tắc bộ phận của nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm

1.4.1.1 Nguyên tắc phân tán các khó khăn

- Hầu hết các lý thuyết chủ yếu được đưa vào phần đầu của chương trình

VD: Đưa lý thuyết lên đầu chương trình sẽ giúp học sinh tự tìm hiểu nội dung bài học, từ đó có nền tảng giải quyết các bài tập từ đơn giản đến phức tạp, và có cơ sở

để ứng dụng vào thực tế

- Nguyên tắc đòi hỏi phải xếp xen kẽ những vấn đề lý thuyết với các tài liệu thực nghiệm, xen kẽ vấn đề trừu tượng với vấn đề cụ thể

5

Trang 6

VD: Sau khi HS tìm hiểu xong lý thuyết về bài Oxi, sau đó sẽ là bài thí nghiệm

về Oxi như điều chế Oxi, tính chất của Oxi và ứng dụng của Oxi Từ đó HS sẽ nhớ bài lâu hơn mà không cần phải học một cách rập khuôn

- Tài liệu học tập quá phức tạp và không vừa sức sẽ làm giảm hứng thú đối với Hóa học, sinh ra tình trạng học kém; nhưng khi lại quá dễ cũng nguy hiểm, gây buồn chán và sự lười biếng của trí tuệ

VD: Cần dựa theo năng lực của từng HS để có cách dạy học hợp lý, tài liệu học tập phù hợp cũng giống như việc ra đề kiểm tra, GV cho đề quá dễ hoặc quá khó thì quá trình tư duy sẽ không xảy ra, dẫn đến sự ù lỳ tư duy của HS

 Sự dạy học cần được tiến hành với sự phức tạp tăng dần

1.4.1.2 Nguyên tắc đường thẳng và nguyên tắc đồng tâm

Cấu trúc chương trình Hóa học phổ thông đồng thời dựa vào cả 2 nguyên tắc, đó

là nhân tố bảo đảm kiến thức được xây dựng có hệ thống, có liên hệ lẫn nhau, phân chia đều tài liệu giáo khoa phức tạp

1.4.1.3 Nguyên tắc phát triển các khái niệm

Khi chuyển từ một trình độ lý thuyết này sang trình độ khác sẽ xảy ra sự đào sâu các khái niệm, sự khái quát và hệ thống hóa chúng, thiết lập những mối quan hệ giữa các khái niệm

VD: Khái niệm về axit hay bazơ ở cấp 2 và cấp 3 có sự mở rộng thấy rõ Theo từng cấp bậc thì sẽ có sự đào sâu kiến thức Khái niệm axit và bazơ của lớp 8: “Axit gồm 1 hay nhiều nguyên tử H liên kết với gốc axit”, “Bazơ gồm nguyên tử kim loại liên kết với 1 hay nhiều gốc OH” Khái niệm axit và bazơ của lớp 11: “Theo Areniut, axit là chất khi tan trong nước phân li ra ion H+”, “Bazơ là chất khi tan trong nước phân

li ra ion OH-” Ở lớp 8, HS sẽ cho rằng Zn(OH)2 là bazơ vì có kim loại Zn liên kết với

2 nhóm -OH, nhưng khi lên 11, các em sẽ biết được rằng trong trường hợp này thì Zn(OH)2 không phải là bazơ mà là chất lưỡng tính (vừa mang tính chất của axit vừa mang tính chất của bazơ)

PTHH:

Zn(OH)2  Zn2+ + 2OH

-Zn(OH)2  ZnO22- + 2H+

 Những khái niệm riêng biệt cần được đưa vào hệ thống lý thuyết chung

1.4.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử

Trong nội dung học tập cần thể hiện rõ những thành tựu của Hóa học hiện đại là kết quả của một chặng đường lịch sử dài của sự phát triển của nó, là sản phẩm của thực tiễn lịch sử xã hội

Trang 7

Chương 3: Nội dung dạy học hóa học ở trường trung học

VD: Trong SGK Hóa học 10 có nêu sơ lược về sự phát minh ra bảng tuần hoàn:

“Năm 1649, loài người tìm ra Phôtpho Năm 1869, mới có 63 nguyên tố được tìm ra Năm 1817, Dobereiner tìm ra được khối lượng nguyên tử của Stronti ở giữa khối lượng nguyên tử của hai nguyên tố Canxi và Bari, bộ ba nguyên tố này có tính chất tương tự nhau Năm 1862, nhà địa chất Pháp De Chancourtois đã sắp xếp các nguyên tố theo chiều tăng của khối lượng nguyên tử lên một băng giấy được quấn quanh trụ theo kiểu

lò xo xoắn Ông nhận thấy tính chất của các nguyên tố giống như tính chất của các con

số và tính chất được lặp lại sau 7 nguyên tố Năm 1864, Jonh Newlands, nhà hóa học người Anh, tìm ra quy luật: mỗi nguyên tố hóa học đều thể hiện tính chất tương tự như nguyên tố thứ 8 khi xếp các nguyên tố theo khối lượng nguyên tử tăng dần Năm 1860, nhà bác học người Nga Mendeleev đề xuất ý tưởng xây dựng bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, năm 1869 ông công cố bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học đầu tiên Năm 1870, nhà khoa học người Đức Lothar Mayer nghiên cứu độc lập cũng đưa

ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học tương tự bảng của Mendeleev” Những thành tựu của các nhà hóa học vĩ đại đã có đóng góp to lớn cho sự phát triển của nhân loại Bảng tuần hòa của Mendeleev đã đánh dấu sự hệ thống và quy luật của các nguyên tố hóa học Các lý thuyết hóa học của các nhà hóa học thế kỉ 19 đã đánh đổ các lý thuyết đương đại, Hóa học ở thế kỉ 19 như thoát ra sợi dây xích “cổ hủ”, thoát ra khỏi “bóng đêm Trung đại” dài hàng chục thế kỉ, mở ra lịch sử phát triển huy hoàng của ngành Hóa học trên toàn thế giới

1.4.2 Yêu cầu phân hóa

Tùy theo mục tiêu của từng ban hoặc từng loại trường mà định hướng chuyên sâu hoặc mở rộng kiến thức, kĩ năng phân hóa và chủ đề lựa chọn

VD: Trường chuyên phân ban rõ ràng sẽ có sự khác biệt với trường khác Thậm chí sách giáo khoa cũng khác nhau Đối với trường chuyên thì việc đào sâu kiến thức là quan trọng hơn hết, các trường còn lại tập trung mở rộng kiến thức theo hướng phổ thông

1.5 Coi trọng vai trò của phương tiện dạy học

Xem phương tiện dạy học là công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học Xã hội ngày càng hiện đại, phương tiện dạy học trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, yêu cầu về thực hành, thí nghiệm cũng như ứng dụng đều tăng đồng loạt

VD: Trong tiết học dạy về những kiến thức mới, GV nên lồng ghép những video hay có liên quan đến bài để tạo hứng thú cho HS, giúp HS nhớ lâu hơn và sẽ để ấn tượng sâu sắc cho HS; hay những buổi thí nghiệm với những dụng cụ thí nghiệm sẽ kích thích trí tò mò của HS; tổ chức các trò chơi như ô chữ hay giải đố để không khí lớp được sôi động hơn

7

Trang 8

 Cần chú ý tới vai trò của công nghệ thông tin và việc úng dụng nó vào quá trình dạy học bộ môn

1.6 Đảm bảo tính thống nhất

- Từ bậc Tiểu học qua THCS đến THPT, chương trình và sách giáo khoa phải áp dụng thống nhất trong cả nước, đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong giáo dục

- Tính thống nhất của chương trình và sách giáo khoa thể hiện các điểm sau: mục tiêu giáo dục; quan điểm khoa học và sư phạm xuyên suốt các môn học, các cấp bậc học; trình độ chuẩn của chương trình trong dạy học và kiểm tra, đánh giá

 Chương trình giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính chỉnh thể qua việc xác định mục tiêu, nội dung, định hướng phương pháp, hình thức và quy định đánh giá

 Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá và đánh lẫn nhau

1.7 Đảm bảo tính khả thi

- Chương trình và sách giáo khoa không đòi hỏi những điều kiện vượt quá sự cố gắng và khả năng của số đông giáo viên, học sinh, gia đình và cộng đồng Tất cả những kiến thức trong SGK là những gì cơ bản nhất mà người giáo viên được đào tạo Còn đối với học sinh, chúng không hề khó để tiếp cận

VD: Sau mỗi bài tìm hiểu về 1 nguyên tố hay một hợp chất mới cũng là phần ứng dụng, SGK đưa ra những ứng dụng rất gần gũi với đời sống xung quanh các

em, khiến chúng trở nên không còn xa lạ

- Tuy nhiên, người học cần hiểu rằng, tất cả những kiến thức trong SGK là phổ cập và căn bản nhất, nếu có ý hướng xa hơn, cần học tập và rèn luyện từ nhiều nguồn khác nhau

VD: Dưới đây là 2 bài tập của cùng 1 chuyên đề về Este để chúng ta cùng so sánh

Trích SGK Trích đề thi THPT quốc gia 2015

Thủy phân este X có công

thức phân tử C4H8O2 trong

dd NaOH thu được hh 2

chất hữu cơ Y và Z, trong

đó Z có tỉ khối hơi so với

H2 là 23 Xác định CTCT

của X

Cho hh X gồm 1 este no đơn chức Y và 1 ancol đơn chức Z tác dụng vừa đủ với 200ml

dd NaOH 1M, thu được 0,35 mol ancol Z Cho Z tách nước ở điều kiện thích hợp thu được chất hữu cơ T có tỉ khối hơi so với Z là 1,7 Mặt khác đốt cháy hoàn toàn X cần 44,24 lít khí oxi (đktc) Tìm CTCT của Y

Bài tập sgk.

MZ=23.2=46 → Z không thể là muối Vậy Z là ancol: C2H5OH

Vì este X có CTPT là C4H8O2 nên CTCT của X là CH3COOC2H5

Bài tập trong đề thi đại học.

Trang 9

Chương 3: Nội dung dạy học hóa học ở trường trung học

Y là este đơn chức → nY = nNaOH = 0,2 mol → nZ = 0,35-0,2 = 0,15 mol

= 1,7 > 1 → T là ete

Ta có: nH2O = nT = = 0,175 mol

BTKL cho phản ứng tách nước:

mZ = mT + MH2O

0,35.MZ = 0,175.1,7.MZ + 0,175.18 → MZ = 60 → Z là C3H7OH

X + 1,975 mol O2 → CO2 (x mol) + H2O (y mol)

Ta có: y – x = nZ = 0,15 (1)

BTNT (O) y + 2x = 0,15.1 + 0.2.2 + 1,975.2 (2)

Từ (1) và (2) suy ra x = 1,45mol và y = 1,6mol

Mặt khác

nCO2 sinh ra do đốt este Y là 1,45 - 0,45 = 1mol

Vì Y là este no đơn chức nên gọi CTPT của Y là CnH2nO2

CnH2nO2 → nCO2

0,2 mol 1 mol

→ n = 5 → CTPT của Y là C5H10O2

Mà hh X + NaOH → duy nhất ancol Z

Nên este Y được tạo bởi ancol Z

Vậy CTCT của Y là CH3COOCH2CH2CH3 hoặc CH3COOCH(CH3)CH3

- Tính khả thi của chương trình phải đặt trong mối tương quan giữa trình độ giáo dục của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, giữa giai đoạn trước mắt và khoảng thời gian lâu dài Xét về mặt lí thuyết, chương trình phổ thông Hóa học của Việt Nam cao hơn so với các nước khác Tại các cuộc thi quốc tế, hầu hết chúng ta đều đạt giải cao hơn họ, nhưng nếu xét về mặt ứng dụng và thực hành thì chúng ta lại bị bỏ xa Nguyên nhân là do chương trình của chúng

ta đặt quá nặng về mặt lí thuyết, cần đầu tư cho mặt ứng dụng và thực hành để phát triển toàn diện hơn

1.8 Đổi mới đánh giá kết quả dạy học

- Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục

- Đổi mới đánh giá kết quả dạy học bộ môn gồm: đổi mới nội dung, hình thức và quy trình đánh giá, đánh giá từng thời điểm hoặc cả quá trình

 Tạo điều kiện để học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

9

C3H7OH → 3CO2

0,15 mol 0,45 mol

Trang 10

VD: Giáo viên có thể cho học sinh thảo luận câu hỏi theo các nhóm nhỏ (2 hoặc

3 người) sau đó đại diện các nhóm sẽ trình bày câu trả lời Tiếp đó giáo viên yêu cầu tất

cả học sinh bầu chọn câu trả lời bằng cách viết câu trả lời của nhóm đó ra và cho nhận xét

 Qua ví dụ trên ta có thể thấy rằng tất cả các học sinh trong lớp có thể đánh giá được khả năng của những thành viên trong các nhóm

Theo như chúng ta thấy thì việc đánh giá kết quả dạy học hiện nay chủ yếu là về kiến thức của học sinh chứ chưa hướng đến đánh giá về năng lực của học sinh (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo,…)

VD: Hiện nay thì môn hóa học được tổ chức kiểm tra, thi học kì theo hình thức trắc nghiệm chính vì vậy mà chưa đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp của học sinh => cần phải đổi mới, kết hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau

2 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình Hóa học phổ thông Việt Nam

2.1 Phân tích nội dung

- Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của cấp học

- Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việc hoàn thiện, phát triển nội dung học vấn phổ thông

VD: Ở cấp 2 học sinh được làm quen với bảng hệ thống tuần hoàn chỉ thông qua những khái niệm về nhóm và chu kì, lên cấp 3 thì từ những khái niệm đó được kế thừa

và phát triển thành định luật tuần hoàn từ đó học sinh dự đoán được tính chất hóa học của các chất

- Xây dựng trên logic chặt chẽ đảm bảo yêu cầu cơ bản, kiến thức được hình thành và phát triển liên tục ngày càng phức tạp, hiện đại

VD: Đối với phần hóa học Hữu cơ, đầu tiên là bài đại cương về HHHC, sau đó

sẽ là hệ thống những bài về từng dãy đồng đẳng Ban đầu sẽ là dãy đồng đẳng đơn giản nhất ankan và tiếp theo sẽ là những dãy đồng đẳng phức tạp hơn anken, ankin,…

- Chương trình chú trọng lí thuyết chủ đạo làm cơ sở

VD: Trong chương trình Hóa 10, cơ sở nghiên cứu về thành phần và cấu tạo chất đều xoay quanh thuyết Electron

- Hệ thống kiến thức về chất mang tính toàn diện, giúp học sinh có đầy đủ dữ kiện

sử dụng lí thuyết chủ đạo và vận dụng

Ngày đăng: 21/12/2017, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w