Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các loài sán lá ruột vịt và bệnh do chúng gây ra.. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Triệu Thị Lệ Thu
Trang 4Giáo viên hướng dẫn khoa học TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn,
chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo – Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình nuôi vịt tại xã Văn An, Chu Túc và Song Giang thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn và các đồng nghiệp trong ngành đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Triệu Thị Lệ Thu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu .2
3 Mục đích nghiên cứu .2
4 Ý nghĩa của đề tài .2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài .3
1.1.2 Ký chủ của sán lá ruột 12
1.1.3 Vòng đời (chu kỳ sinh học) 13
1.1.4 Cơ chế sinh bệnh 14
1.1.5 Dịch tễ học 15
1.1.6 Triệu chứng và bệnh tích 16
1.1.7 Chẩn đoán 17
1.1.8 Điều trị bệnh 18
1.1.9 Phòng bệnh 20
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 27
2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
Trang 62.3.1 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các loài sán lá
ruột vịt và bệnh do chúng gây ra 28
2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 28
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của vịt bị bệnh sán lá ruột 28
2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị sán lá ruột cho vịt 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 29
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu 30
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của vịt bị nhiễm sán lá ruột 30
2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu 30
2.4.6 Phương pháp làm tiêu bản để xác định tên loài sán 31
2.4.7 Phương pháp định danh các loài sán lá ruột 32
2.4.8 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá (ruột non, manh tràng và ruột già) do sán lá ruột gây ra 33
2.4.9 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột ở vịt 34
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các loài sán lá ruột vịt và bệnh do chúng gây ra 35
3.1.1 Điều tra phương thức chăn nuôi vịt tại địa điểm nghiên cứu 35
3.1.2 Thực trạng vấn đề sử dụng thuốc tẩy giun, sán cho đàn vịt nuôi tại các hộ gia đình thuộc địa điểm nghiên cứu 37
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 39
3.2.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Vắn Quan, tỉnh Lạng Sơn 39
3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt qua xét nghiệm phân 41
3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt qua mổ khám 49
3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của vịt bị bệnh sán lá ruột 56
Trang 73.3.1 Tỷ lệ vịt nhiễm sán lá ruột tại các xã nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng 56
3.2.2 Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa của vịt bị bệnh sán sán lá ruột 58
3.2.3 Bệnh tích vi thể do sán lá ruột gây ra ở vịt 59
3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị sán lá ruột cho vịt 60
3.4.1 Xác định hiệu lực của một số loại thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt 60
3.4.2 Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh sán lá ruột cho vịt 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả điều tra phương thức chăn nuôi vịt của các nông hộ tại
một số xã thuộc huyện Văn Quan 35
Bảng 3.2 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc tẩy giun, sán cho vịt tại địa điểm nghiên cứu 37
Bảng 3.3 Những loài sán lá ký sinh ở ruột vịt và tần suất xuất hiện của chúng tại một số xã thuộc huyện Văn Quan 40
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt (qua xét nghiệm phân) 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột theo tuổi vịt (qua xét nghiệm phân) 44
Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ (qua xét nghiệm phân) 46
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt (qua mổ khám) 49
Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột theo tuổi vịt (qua mổ khám) 52
Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ (qua mổ khám) 54
Bảng 3.110 Tỷ lệ vịt nhiễm sán lá ruột có triệu chứng lâm sàng 56
Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể ở vịt bị bệnh sán lá ruột 58
Bảng 3.12 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể của vịt bị bệnh sán lá ruột 59
Bảng 3.13 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt 60
Trang 10DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Biểu đồ về kết quả điều tra phương thức chăn nuôi vịt của các
nông hộ tại một số xã thuộc huyện Văn Quan 36
Hình 3.2 Biểu đồ về kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc điều trị ký sinh trùng cho vịt tại địa điểm nghiên cứu 39
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại một số xã thuộc huyện Văn Quan (qua xét nghiệm phân) 43
Hình 3.4 Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi vịt qua xét nghiệm phân 45
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ qua xét nghiệm phân 48
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại một số xã thuộc huyện Văn Quan (qua mổ khám) 50
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại một số xã thuộc huyện Văn Quan (qua mổ khám và xét nghiệm phân) 51
Hình 3.8 Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi vịt qua mổ khám 53
Hình 3.9 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ 55
Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ vịt nhiễm sán lá ruột có triệu chứng lâm sàng 57
Hình 3.11 Biểu đồ về hiệu lực của các loại thuốc điều trị sán lá ruột ở vịt 62
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây việc phát triển đần gia cầm nói chung và đàn vịt nói riêng cả về số lượng lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dung, ổn định nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống xã hội Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở đàn vịt đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi gia cầm trong đó phải kể đến bệnh sán lá ruột ở vịt
Bệnh sán lá ruột ở vịt nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virú, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm khả năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của vịt
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Bệnh sán lá ruột gia cầm là bệnh phổ biến ở nước ta Gia cầm nuôi ở các tỉnh thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam đều thấy nhiễm sán lá ruột Bệnh do nhiều sán thuộc lớp Trematoda gây ra, chúng ký sinh trong ruột vịt nói riêng và các loài gia cầm nói chung Gia cầm bị bệnh thường gầy yếu, suy nhược, ỉa chảy Nếu nhiễm nặng, gia cầm có thể bị chết
Lạng Sơn là một tỉnh Nông Lâm Nghiệp thuộc miền núi phía Bắc của Việt nam có các cửa khẩu thông thương với thị trường lớn Trung Quốc, đặc điểm địa hình thấp với 68% tổng diện tích đất tự nhiên là đồi núi đất Yếu tố khí hậu thổ nhưỡng trong vùng tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi gia cầm của Lạng Sơn Những đặc điểm trên tạo cho Lạng Sơn có tiềm năng lớn và vị trí thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia cầm
Trong những năm gần đây, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền Bắc nói riêng có nhiều biến đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng nói chung và sán lá ruột vịt nói riêng, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở vịt và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý đến Vì vậy, vịt ở
Trang 12nhiều địa phương của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn còn bị tiêu chảy do sán lá ruột ký sinh, gây thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của chăn nuôi vịt hiện nay và những vấn đề đã
đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở vịt tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các loài sán lá ruột vịt và bệnh do chúng gây ra
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở vịt (theo lứa tuổi và mùa vụ)
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh sán lá ruột ở vịt
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở vịt, từ đó đề xuất biện pháp phòng bệnh
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở vịt tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, từ
đó có cơ sở để xây dựng quy trình phòng, trị bệnh sán lá ruột cho vịt tại địa phương
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa
học về đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán
lá ruột cho vịt tại một số địa phương thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở vịt
có hiệu quả, nhằm hạn chế sự nhiễm sán lá ruột cho vịt, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Căn bệnh
1.1.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt
Ở Việt Nam, thành phần loài sán lá ruột ở gia cầm rất phong phú, phân bố rộng khắp các vùng miền trong cả nước và gây tác hại đối với gia cầm trong đó có vịt Số lượng, thành phần các loài sán lá ruột ký sinh ở vịt đã được một số tác giả nghiên cứu và tổng hợp
Sán lá ký sinh ruột gia cầm nói chung và ở vịt nói riêng gồm nhiều loài thuộc
lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [15], vị trí của
các loài sán lá ruột trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Digenea Van Beneden, 1858
Bộ Echinostomida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ Echinostomata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Echinostomatidae Poche, 1926 Phân họ Echinostomatinae Odhner, 1911
Giống Echinostoma Rudolphi, 1809 Loài Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Loài Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Loài Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Loài Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Giống Echinoparyphium Dietz, 1909 Loài Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873
Trang 14Loài E paracinctum BychowskajaPawlowskaja, 1953 Loài E nordiana Baschkirova, 1941
Phân họ Hypoderaeinae Skrjabin et Baschkirova, 1956
Giống Hypoderaeum Dietz, 1909 Loài Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872
Họ Echinochasmidae Odher, 1910
Giống Echinochasmus Dietz, 1909 Loài Echinochasmus beleocephalus Linstovv, 1873 Loài Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926
Bộ Notocotylida Skrjabin et Schuslz, 1937
Phân bộ Notocotylada Skrjabin et Schuslz, 1937
Họ Notocotylidae Luhe, 1909
Giống Notocotylus Diesing, 1839 Loài Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Loài Notocotylus indiens Lal, 1935
Loài Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932 Giống Catatropis Odhner, 1905
Loài Catatropis verrucosa Fröhlich, 1978
Trang 15Giống Levinseniella Stile et Hassall, 1901 Loài Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Giống Maritrema Nicoll, 1907
Loài Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909
Ký sinh và gây bệnh cho vịt gồm có những loài phổ biến: Echinostoma
revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum, Echinostoma robustum, Echinoparyphium recurvatum, Hypoderaeum conoideum (Phạm Sỹ Lăng
và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [34]
Phan Thế Việt và cs (1977) [41], Nguyễn Thị Lê (1995) [24], Nguyễn Thị
Lê và cs (1996) [25], Nguyễn Thị Lê (2000) [27] đã ghi nhận, có 18 loài sán lá ruột
ký sinh, gây bệnh cho vịt ở Việt Nam, phân bố rộng ở khắp các địa phương, gồm có các loài sau:
- Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Nơi phát hiện: Hà Đông (1940),
Lạng Sơn (1962), Lại Châu, Sơn La (1963), Yên Bái, Cao Bằng (1965), Nam Định (1969), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Nội (1971) và Nam Định (1973)
- Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962),
Thanh Hoá (1964), Hải Phòng (I960), Bắc Thái (1969 - 1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1973 - 1974), Hà Tĩnh (1974)
- Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962), Hải
Phòng (1960), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Nội (1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1974), Hà Tĩnh (1974)
- Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng (1960),
Tuyên Quang, Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Cao Bằng, Lạng Sơn (1962), Bắc Thái (1969 - 1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1974), Hà Tĩnh (1974)
- Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941 Nơi phát hiện: Hà Bắc
(1974)
- Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873 Nơi phát hiện: Hải Phòng
(1960), Lạng Sơn (1962), Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Yên Bái (1964), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Bắc (1973 - 1974), Hà Tĩnh (1974)
Trang 16- Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja - Pawlowskaja, 1953 Nơi
phát hiện: Hà Nội (1971), Nam Hà (1971)
- Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962),
Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Cao Bằng (1965), Hà Nội (1971), Hà Bắc (1973
- Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Nơi phát hiện: Hải Phòng
- Notocotylus indicus Lal, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng, Nam Hà
- Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932 Nơi phát hiện: toàn quốc
- Catatropis verrucosa Fröhlich, 1978 Nơi phát hiện: toàn quốc
- Procerovum chen Hsii, 1950 Nơi phát hiện: Hà Nội, Nam Hà
- Microphallus pseudogonocotyla Chen, 1944 Nơi phát hiện: Hải Phòng
- Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Nơi phát hiện: Hà Bắc, Hoà
Bình, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà
- Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909 Nơi phát hiện: Hà Tây, Hà Nội,
Nghệ An, Thừa Thiên Huế
Saijuntha W và cs (2011b) [61] cho biết : Echinostomatidae là ký sinh
trùng phổ biến ký sinh ở đường ruột gây bệnh cho cả người và động vật tên toàn thế
giới Trong đó 2 loài Echinostoma revolutum và Echinoparyphium recurvatum
thường gây bệnh cho gia cầm và các loài chim, thậm chí ở cả con người
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của một số loài sán lá ruột ký sinh phổ biến ở vịt
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25], sán lá ruột cơ thể dẹt, có dạng hình
lá, có 2 giác bám: giác miệng và giác bụng Kích thước cơ thể rất biến đổi, bé nhất khoảng vài mm và lớn nhất không vượt quá 2cm Cơ thể phủ lớp tiểu bì (gai cutin),
Trang 17xung quanh giác miệng có móc kitin lớn Các giác bám, móc bám, gai, vẩy giúp sán bám chắc vào ruột của vật chủ Sán lá không có hệ tuần hoàn và hô hấp Nội quan gồm có hệ tiêu hoá, bài tiết, thần kinh và sinh dục
* Loài Echinostoma revolutum (Frohlich, 1802) Dietz, 1908
Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [23], Nguyễn Thị Lê (2000) [27] đã mô tả loài
Echinostoma revolutum như sau:
Chiều dài trung bình cơ thể dao động từ 5,72 - 6,98mm, chiều rộng từ 1,12 - l,42mm Tuy nhiên, có nhiều cá thể đạt kích thước 10,32 - 13,32 x 2,40 - 2,50mm Viền cổ rộng 0,73 - l,03mm Có 37 móc gồm 15 móc lưng xếp thành 2 hàng, kích thước 0,101- 0,109 x 0,025mm Mỗi thùy bên có 6 móc (0,093 - 0,126 x 0,029mm)
và 5 móc thùy bụng (0,093 - 0,122 x 0,025mm) Kích thước giác miệng 0,23 - 0,44
x 0,27 - 0,45mm Trước hầu dài 0,13 - 0,16mm Hầu có kích thước 0,15 - 0,37 x 0,15 - 0,27mm Thực quản dài 0,86 - 1,14mm Giác bụng phát triển, kích thước 0,69
- 1,22 x 0,69 - 1,18mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thề
Tinh hoàn hình ô van hoặc hơi phân thùy theo chiều dọc Kích thước tinh hoàn trước 0,34 - 1,41 x 0,43 - l,06mm, tinh hoàn sau 0,36 - 1,41 x 0,34 - l,04mm Túi sinh dục nằm ở mặt lưng ở nửa truớc giác bụng, bên trong có túi chứa tinh hình ống Kích thước túi sinh dục 0,234 - 0,453 x 0,069 - 0,314mm
Buồng trứng tròn hoặc ô van, nằm trước tinh hoàn, kích thước 0,18 - 0,43 x 0,25 - 0,645mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng và có kích thuớc lớn hơn buồng trứng
Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể, không che lấp hai mút nhánh ruột và khoảng trống phía sau tinh hoàn
Tử cung tương đối dài, chứa nhiều trứng Trứng hình ô van, màu vàng sáng, kích thước 0,076 - 0,105 x 0,051 - 0,084mm Ống bài tiết chính ở phần sau cơ thể, gấp khúc 1 - 2 vòng trước lỗ thoát Ở những sán già, tử cung không còn trứng, các
cơ quan sinh dục như buồng trứng, tinh hoàn, tuyến noãn hoàng có xu hướng teo đi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [34], loài
Echinostoma revolutum dài 3 - 13mm, rộng 0,88 - 2mm, vành khăn có 35 - 37 móc
Trang 18nhỏ Tử cung xếp có thứ tự, ngay sau giác bụng và chứa nhiều trứng Trứng hình bầu dục, dài 0,009 - 0,132mm, rộng 0,05 - 0,073mm, màu vàng, một đầu trứng có nắp
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [36] cho biết: Sán dài 10 - 22mm, rộng 2 - 2,5mm Thân có màu hồng hay đỏ nhạt, dẹt, đoạn trước có chỗ thu hẹp lại thành cái cổ
* Loài Echinostoma miyagayvai Ishu, 1932
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [23], (1996) [25], (2000) [27], loài này có hình thái cấu tạo như sau:
Cơ thể dài 6,9 - 12,0mm, rộng nhất ở vùng tử cung và tinh hoàn 0,77 - 2,32mm Bề mặt phía trước cơ thể đến ngang buồng trứng phủ gai nhỏ Viển cổ rộng 0,54 - 0,67mm, có 37 móc gồm 13 móc lưng xếp thành 2 hàng, 7 móc bên và 5 móc thùy bụng mỗi bên Kích thước móc bên 0,89 - 0,093 x 0,23mm, móc thùy bụng 0,089 - 0,096 x 0,023mm
Giác miệng 0,19 - 0,23 x 0,21 - 0,29mm Giác bụng 0,57 - 0,91 x 0,57 - 0,63mm, nằm gần ở 1/4 chiều dài cơ thể Trước hầu dài 0,075 - 0,084mm Hầu 0,230 - 0,320 x 0,251 - 0,258mm Thực quản dài 0,77 - 0,93mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể, thường bị tuyến noãn hoàng che lấp
Túi sinh dục nằm chính giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,32 - 0,49 x 0,21 - 0,32mm
Tinh hoàn phân thùy, hình dạng rất biến đổi, thường từ 3 - 7 thùy sâu Kích thước tinh hoàn trước 0,39 - 0,62 x 0,36 - 0,49mm
Buồng trứng hình ô van, kích thước 0,27 - 0,36 x 0,27 - 0,3 8mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng, kích thước 0,19 - 0,39 x 0,23 - 0,25mm
Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể và lấp đầy khoảng trống phía sau tinh hoàn, che lấp cả 2 mút ruột, ống bài tiết thẳng, không gấp khúc ở phần cuối cơ thể Tử cung phát triền, chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,089 - 0,093 x 0,053 - 0,056mm
Trang 19* Loài Echinostoma paraulum Dietz, 1909
Kích thước từ 6 - l0mm x 0,8 - l,4mm, vòng gai miệng gồm 37 gai, 27 gai nằm
ở vòng phía lưng và hai cạnh bên mỗi bên 5 gai Giác miệng đường kính 0,25 - 0,3mm giác bụng 0,72 - 0,88mm ở khoảng cuối 1/4 thân trước Thực quản dài 0,4 - 0,6mm
Hai tinh hoàn xếp trên dưới nhau, cái trên thường có 3 thuỳ, cái dưới 4 thuỳ Buồng trứng ở ngay sát trước tinh hoàn Kích thước trứng 0,100 x 0,070mm (Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, 1978 [36])
* Loài Echinoparyphium recurvatum Linstow, 1873
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25], (2000) [27], loài này có kích thước
cơ thê bé, dài 2,48mm, rộng 0,45mm (ở vùng giác bụng) Bề mặt cơ thể ở phía trước đến ngang giác bụng phủ gai cutin lớn Viền cổ có 45 móc, mỗi thùy bụng có
4 móc, kích thước 0,044 - 0,065 x 0,009 - 0,012mm Còn lại 37 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,042 - 0,049 x 0,009mm
Giác miệng 0,008 x 0,105mm Hầu 0,088 x 0,084mm Giác bụng tròn, nằm ở 1/3 chiều dài cơ thể, kích thước 0,297 x 0,258mm Thực quản dài 0,28mm, hai nhánh ruột kéo dài đến mút sau cơ thể
Túi sinh dục hình bầu dục, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, kích thước 0,252 x 0,105mm
Tinh hoàn hình ô van, cái này nằm sau cái kia ở nửa sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,297 x 0,193mm, tinh hoàn sau 0,320 x 0,172mm
Buồng trứng tròn hoặc hình ô van, nằm trước tinh hoàn, đường kính 0,127mm Thể Mehlis lớn, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn lớn kéo dài từ sau giác bụng đến gần mút cơ thể Tử cung ngắn, chứa ít trứng, kích thước trứng 0,077 - 0,084 x 0,051 mm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [34] mô tả
loài Echinoparyphium recurvatum: Dài 2 - 5mm, rộng 0,4 - 0,85mm Phần trước
thân có những gai cuticun nằm thứ tự xen kẽ nhau Đầu sán có cấu tạo vành khăn hình quả thận, đường kính 0,220 - 0,385mm Trứng có màu vàng nâu, hình bầu dục,
Trang 20vỏ nhẵn, một đầu trứng có nắp, đầu còn lại có chồi nhỏ Kích thước trứng từ 0,082 - 0,098 x 0,053 - 0,061 mm
* Loài Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja - Pawlowskaja, 1953
Cơ thể sán dài 6,0mm, rộng 1,0mm Bề mặt cơ thể ở phía trước đến mép sau giác bụng phủ gai bé Viền cổ rộng 0,37 - 0,48mm, có 43 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,064 x 0,012mm Mỗi thùy bụng có 5 móc Giác miệng nhỏ hơn giác bụng 5 - 5,5 lần Giác bụng 0,26 - 0,39 x 0,26 - 0,36mm
Túi sinh dục kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,213 - 0,267 x 0,100 -
0, 120mm
Tinh hoàn hình bầu dục, kích thuớc 0,26 - 0,406 x 0,13 - 0,21mm
Buồng trứng hình ô van, kích thước 0,23 x 0,13mm Tử cung chứa 7 - 19 trứng, kích thước trứng 0,096 - 0,106 x 0,053mm
* Loài Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941
Theo mô tả của Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [27], kích thước cơ thể trung bình của loài này là 4,88 - 5,93 x 1,04 - 1,11 mm Viền cổ rộng 0,418mm, có 37 móc, mỗi bên có 5 móc thùy bụng, kích thước 0,070 - 0,075 x 0,013 - 0,016mm Móc lưng xếp 2 hàng, kích thước 0,069 x 0,015mm Móc bên xếp một hàng, kích thước 0,070 x 0,013mm Bề mặt của cơ thể từ mút trước đến giác bụng hoặc mép sau buồng trứng phủ gai nhỏ Giác miệng 0,124 - 0,138 x 0,165 - 0,179mm Trước hầu dài 0,041 - 0,055mm Hầu 0,124 - 0,165 x 0,151 - 0,165mm Thực quản dài 0,207 - 0,276mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể Giác bụng tròn, đường kính 0,621 - 0,662mm
Túi sinh dục lớn, hình ô van, kích thước 0,368 - 0,414 x 0,234mm, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng
Tinh hoàn hình ô van hoặc gần tròn, cái nọ trước cái kia ở phần sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,455 - 0,469 x 0,621- 0,662mm, tinh hoàn sau 0,441 - 0,469 x 0,386 - 0,414mm
Trang 21Buồng trứng hình tròn hoặc ô van, nằm ngay phía trước tinh hoàn, kích thước 0,124 - 0,165 x 0,234 - 0,276mm Thể Mehlis lớn hơn buồng trứng, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước
Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn có kích thước không đều nhau, nằm cách mép sau giác bụng 0,096 - 0,234mm, kéo dài về phía sau cơ thể và không che lấp 2 mút ruột Phía sau tinh hoàn, tuyến noãn hoàng không nối liền lại với nhau
Tử cung ngắn chứa ít trứng (40 - 50 trứng) Trứng hình ô van, kích thước 0,096 x 0,060 - 0,069mm
* Loài Hypoderaeum conoideum (Bloch, 1782) Dietz, 1909
Về đặc điểm hình thái, cấu tạo của loài Hypoderaeum conoideum Nguyễn
Thị Kim Lan (2011) [15], (2012) [16] cho biết:
Cơ thể sán dài 8,02- 13,26mm, rộng 1,39 - 2,02mm, phần truớc cơ thể phủ gai Đầu ngắn, đĩa bám kém phát triển, rộng 0,414 - 0,621mm Có 47 - 53 móc, xếp thành 2 hàng, móc lưng 0,015 - 0,027 x 0,007 - 0,013mm, móc bên 0,027 - 0,030 x 0,010mm, móc bụng 0,033 x 0,013 - 0,015mm Giác miệng 0,165 - 0,276 x 0,193 - 0,33 lmm
Trước hầu dài 0,027mm Hầu 0,151 - 0,234 x 0,138 - 0,234mm Thực quản dài 0,096 - 0,207mm Giác bụng lớn nằm gần giác miệng, kích thước 0,828 - 1,131 x 0,876
- 1,150mm Hai nhánh ruột chẻ đôi truớc giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể
Tinh hoàn hình ô van, cái này nằm sau cái kia, ở chính giữa nửa sau cơ thể, kích thước tinh hoàn trước 0,690 - 1,352 x 0,345 - 0,579mm, tinh hoàn sau 0,828 - 1,352 x 0,303 - 0,552mm
Túi sinh dục hình ô van hoặc hình quar lê, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng chứa túi chứa tinh và gai sinh dục dài, kích thước 0,690 - 0,828 x 0,276mm Lỗ sinh dục nằm ngay sau nhánh ruột chẻ đôi
Buồng trứng hình ô van, nằm ngay phía trước tinh hoàn, kích thước 0,248 - 0,414 x 0,372 - 0,455mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng
Trang 22Tuyến noãn hoàng bắt đầu ở phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể nhưng không che lấp hai mút ruột Tử cung dài chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,082 - 0,090 x 0,055 - 0,060mm
Nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở vịt tại Thái Nguyên, Lê Văn Trọng (2010)
[40] cho biết, vịt ở Thái Nguyên nhiễm 3 loài sán lá, đó là các loài: Echinostoma
revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinoparyphium recurvatum
1.1.2 Ký chủ của sán lá ruột
Ký chủ trung gian đóng vai trò quan trọng trong chu kỳ sinh học của sán lá ruột gia cầm, cũng như trong việc truyền bệnh sán lá ruột ở vịt và các loài gia cầm khác
Ký chủ trung gian thứ nhất của sán lá ruột ký sinh ở vịt là những loài ốc nuớc
ngọt: Radix ovata, Radix cularia, Galba palustris, Planorbis, Limnaea Ký chủ trung gian bổ sung cũng là những ốc nước ngọt thuộc các giống Radix, Planorbis và nòng nọc (Rana temporaria) (Phan Thế Việt và cs., 1977 [41])
Soulsby E J L (1982) [63] cho biết, loài Echinostoma revolutum có ký chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt: Lymnaea stagnalis, L attenuate, L
swinhoei (Radix) pereger hay L swinhoei Ký chủ trung gian thứ 2 là các loài ốc
trên hoặc nòng nọc Rana temporaria
Loài Echinoparyphium recurvatum: Ký chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt: Lymnaea ovata, L auricularia, L palustris, L stagnalis, Planorbis
planorbis, P corneus Ký chủ trung gian thứ hai là ếch, nòng nọc và một số ốc
nước ngọt khác
Gần đây, Bùi Thị Dung và cs (2007) [4] đã nghiên cứu về tình hình nhiễm
ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) Tác giả cho biết: Trong 10.879 mẫu ốc nước ngọt thuộc 16 loài, có 639 ốc bị nhiễm ấu trùng sán lá, chiếm
tỷ lệ 5,78% Trong 16 loài ốc, có 8 loài nhiễm ấu trùng sán lá, đây là những loài đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi Tác giả tìm thấy ấu trùng của 10 loài sán lá ký sinh ở các loài ốc thu được, thuộc 6 nhóm
Trang 23Cercaria, trong đó nhóm Cercaria của các loài thuộc giống Echinostoma này chiếm
tỷ lệ 24,56% và là một trong ba nhóm gây bệnh sán lá cho người và vật nuôi
Từ tháng 10/2011 - 4/2012, Chantima K và cs (2013) [47] đã kiểm tra 2.914
ốc thuộc 12 loài tại 6 huyện của tỉnh Chiang Mai, Thái Lan thấy 7 loài ốc (Clea
helena, Eyriesia eyriesi, Bithynia funiculata, Bithynia siamensis siamensis, doliaris Filopaludina, Filopaludina sumatrensis polygramma và Filopaludina martensi martensi) nhiễm metacercariae của sán lá Echinostome spp Sự phổ biến của metacercariae cao nhất trong ốc Filopaludina spp (38,5-58,7%), tiếp theo là B funiculata (44,0%), E eyriesi (12,5%), B siamensis (8,2%) và C helena (5,1%)
Hà Huỳnh Hồng Vũ và cs (2014) [42] đã thu thập 5.636 ốc nước ngọt từ đồng lúa, ao, mương, kênh, rạch tại hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp, các tác giả kết luận: Có 14 loài ốc nước ngọt đã được thu thập và định danh ở cả 2 tỉnh khảo sát
bao gồm Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, Indoplanorbis exustus, Clea sp.,
Bithynia siamensis, Mekongia sp., Eyriesia sp., Adamietta sp., Melanoides tuberculata, Sermyla sp., Tarebia granifera, Pomacea canaliculata,Trochotaia sp.,
và Filopaludina martensi martensi Trong 14 loài được tìm thấy có 13/14 loài ốc
nước ngọt là ký chủ trung gian của các loài sán lá gây bệnh cho người và vật nuôi
1.1.3 Vòng đời (chu kỳ sinh học)
Về chu kỳ sinh học của loài sán lá ruột, Soulsby E J L (1982) [63] cho biết: Trứng loài Echinostoma revolutum sau khi thải ra ngoài môi trường gặp điều kiện thuận lợi, trong vòng 3 tuần trứng nở thành Miracidium và xâm nhập vào một trong những vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt và phát triển thành Cercaria
Cercaria phát triển trong vòng 2 - 3 tuần và thoát khỏi cơ thể ốc ra ngoài môi
trường Nó có thể xâm nhập lại ký chủ trung gian cũ hoặc các ký chủ trung gian khác Khi ký chủ cuối cùng ăn phải ốc có chứa ấu trùng, trong cơ thể ký chủ chúng phát triển thành sán trưởng thành trong 15 - 19 ngày
Theo Dương Công Thuận (2002) [38], trong vòng đời của các loài sán lá ruột cần 2 ký chủ trung gian Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi (ấm và có nước) sau 10 - 30 ngày nở thành mao ấu, mao ấu xâm nhập vào ký chủ trung gian
thứ nhất rồi qua các giai đoạn phát triển và cuối cùng là hậu vĩ ấu (Metacercaria)
Trang 24đóng kén trong ốc hoặc chuyển sang ký chủ trung gian thứ 2 (ốc nước ngọt, ếch, nòng nọc) Thời gian từ khi vào cơ thể ốc đến khi hình thành hậu vĩ ấu là 50 ngày
Ký chủ ăn phải ốc hoặc nòng nọc sẽ bị nhiễm sán Thời gian từ ấu trùng trở thành sán trưởng thành trong ruột là 15 - 20 ngày
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [15], (2012) [16] cho biết vòng đời của sán lá ruột vịt như sau: Mỗi loài sán lá có vòng đời riêng, nhưng nhìn chung vòng đời của các sán lá ruột gia cầm diễn ra như sau: Sán trưởng thành ký sinh, thụ tinh và đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Ở môi trường ngoài, gặp điều kiện thích hợp, phôi
trong trứng phát triển thành mao ấu {Miracidium) Mao ấu thoát vỏ ra ngoài bơi
trong nước và chỉ tồn tại một vài ngày Trong thời gian này nó tích cực tìm ký chủ trung gian Vào ký chủ trung gian, mao ấu rụng lông và biến thành bào ấu
(Sporocyst) Sau một thời gian, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia)
Lôi âu tiếp tục sinh sản vô tính cho ra nhiều vĩ ấu recurvatum trưởng thanh (Cercaria) Vĩ ấu ra khỏi ký chủ trung gian thứ nhất và tiếp tục xâm nhập ký chủ trung gian thứ hai và biến thành Metacercaria Khi gia cầm nuốt ký chủ trung gian
thứ hai này, vào cơ thể vật chủ, chúng phát triển thành sán trưởng thành
Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng diễn ra liên tục trong thời gian dài, với
số lượng lớn giun sán ký sinh sẽ làm cho con vật còi cọc, thiếu máu, gầy còm và có thể chết Những tác động bắt buộc để giun sán tự nuôi sống đó là ăn các mô, cướp một phần thức ăn của ký chủ, làm cho ký chủ suy nhược
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [13] cho biết: Các móc bám, giác bám của sán bám vào niêm mạc ruột, gây ra những tổn thương cơ học, dẫn tới viêm loét, xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột
Trang 25Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [26]: Đôi khi vật ký sinh không sử dụng trực tiếp thức ăn cùa vật chủ mà lấy các vitamin của vật chủ làm thức ăn, hoặc tiết ra các chất
ức chế các men làm giảm khả năng trao đổi chất bình thường của cơ thể vật chủ
Trong quá trình sống ký sinh, sán lá ruột phân tiết, bài xuất những chất độc,
ký chủ hấp thu và bị trúng độc với những biểu hiện rối loạn thần kinh (run rẩy, cánh
sã, đi đứng xiêu vẹo ), gây dung huyết, thiếu máu (Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, 1978 [36]) Trong trường hợp độc tố làm biến đổi thành phần máu thường làm tăng số lượng bạch cầu ái toan và dẫn tới những biến đổi bệnh lý của vỏ não (Nguyễn Thị Lê, 1998 [26])
Nghiên cứu về thành phần giun sán ký sinh ờ vịt tại huyện Thanh Trì - Hà Nội, Nguyễn Thị Lê (1971) [20] cho biết: Qua mổ khảo sát 55 vịt thấy vịt nhiễm 33 loài giun sán Trong đó, nhiễm sán lá (18 loài) với tỷ lệ cao nhất 88,90%; cường độ nhiễm từ 1 - 265 con/cá thể vịt Trong 8 loài sán lá mới tìm thấy ở vịt miền Bắc
nước ta thời gian đó có 4 loài ký sinh ở ruột: Echinostoma paraulum, E robustum,
E nordiana và Echinochasmus beleocephalus
Trong nghiên cứu này, Nguyễn Thị Lê (1971) [20] cũng ghi nhận, ở vịt con cường độ nhiễm cao nhưng thành phần loài giun sán thấp; ở vịt già thì ngược lại, cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài giun sán phong phú hơn Các loài sán
lá ruột phân bố phổ biến rộng khắp là Nototylus intestinalis (40%), Hypoderaeun
conoideum (32%), Echinostoma revolutum (29,10%), E miyagawai (21,80%)
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1975) [17] đã báo cáo kết quả điều tra về tình hình nhiễm giun sán ở vịt tại vùng Lục Bình (Nam Hà) từ năm 1971 - 1974: Đã
Trang 26phát hiện 9 loài giun sán ký sinh ở vịt, có 2 loài sán lá ruột ký sinh: Echinostoma
revolutum và Echinoparyphium recurvatum
Nghiên cứu khu hệ sán lá ở chim và thú vùng Hà Bắc nước ta, Nguyễn Thị
Lê (1980) [21] thấy rằng, ở vịt non tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán thấp hơn (55,3%), so với vịt trưởng thành (100%); vịt nhiễm giun sán quanh năm nhưng cao nhất vào tháng 4 và tháng 9 (100%), thấp nhất vào tháng 2 và tháng 3 (28,5%), trung bình vào tháng 10 và tháng 11 (44,4%)
Khan A I và cs (1983) [55] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở vịt tại Peshawar (Pakistan), tác giả đã phát hiện 3 loài sán lá, trong đó có 2 loài ký sinh
phổ biến ở đường tiêu hoá vịt: Echinostoma paraulum và Echinoparyphium
có chất vữa hoá, thành ruột mỏng (dẫn theo Lê Văn Trọng, 2010 [40])
Đề cập đến triệu chứng của vịt bị nhiễm sán lá ruột, Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [18], (2004) [19] cho biết: Khi nhiễm sán ở cường độ cao vịt có biểu hiện yếu toàn thân, ỉa chảy đôi khi có lẫn máu, kiệt sức nhanh, suy nhược, lông
Trang 27xơ xác, mất khả năng sinh sản, ngừng sinh trưởng, phát triển, thường bị chết do kiệt sức Mổ khám vịt mắc bệnh thấy bệnh tích chủ yếu là niêm mạc ruột viêm, chảy máu, viêm cata từng vùng
Theo Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1], vịt bị bệnh sán lá ruột thấy biểu hiện rõ nhất là vịt gầy yếu, còi cọc; ở vịt đẻ còn có dấu hiệu giảm đẻ Mổ khám vịt nhiễm sán lá thấy hiện tuợng xung huyết, xuất huyết và bong tróc niêm mạc ruột
Theo dõi 218 vịt nhiễm sán lá ruột, Lê Văn Trọng (2010) [40] thấy: có 11% số vịt nhiễm sán lá ruột có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, các triệu chứng chủ yếu là vịt gầy, chậm lớn, ỉa chảy, đôi khi có máu trong phân, một số vịt có triệu chứng thần kinh (ngoẹo đầu) Mổ khám 309 vịt thả đồng, có 117 vịt nhiễm sán lá ruột, trong đó
có 10,26% có bệnh tích Số sán ký sinh ở những vịt có bệnh tích là 33 - 48 sán/vịt Bệnh tích thấy rõ là ruột viêm cata, có nhiều điểm xuất huyết; manh tràng xuất huyết lấm tấm, lòng manh tràng chứa nhiều dịch viêm màu nâu lẫn vệt máu Tác giả mô tả bệnh tích vi thể như sau: niêm mạc ruột bong tróc, lông nhung ruột tổn thương, đỉnh lông nhung tù hoặc bị đứt nát; niêm mạc manh tràng bong tróc và xuất huyết
1.1.7 Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh sán lá ruột có thể tiến hành trên cả vịt sống hay vịt đã chết
- Đổi với vịt còn sống: Để chẩn đoán vịt bị bệnh sán lá ruột, cần quan sát
những biểu hiện lâm sàng như: thể trạng vịt gầy yếu, ỉa chảy đồng thời phải căn
cứ vào những đặc điểm dịch tễ như tuổi mắc bệnh, mùa vụ và phương thức chăn nuôi Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện lâm sàng và các đặc điểm dịch tễ để chẩn đoán vịt mắc bệnh sán lá ruột sẽ khó chính xác, vì bệnh ký sinh trùng thường có những biểu hiện lâm sàng tương tự nhau Do vậy, để chẩn đoán chính xác vịt bị bệnh sán lá ruột phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng sán bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943)
- Đối với vịt đã chết hoặc nghi mắc bệnh: Dùng phương pháp mổ khám kiểm
tra bệnh tích và tìm sán lá ký sinh ở ruột
Theo Trần Văn Bình (2006) [2], chẩn đoán bệnh ở thủy cầm nói chung có thể dựa trên nguyên tắc sau: Sử dụng tổng hợp các phương pháp chẩn đoán, điều trị và
Trang 28phòng bệnh một cách hệ thống, phát hiện kịp thời một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Căn cứ vào kết quả chẩn đoán lâm sàng có thể thu được những thông tin về tình trạng sức khỏe của từng cá thể cũng như tổng thể của đàn thủy cầm Việc chẩn đoán lâm sàng có ý nghĩa trong công tác phòng bệnh
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [36] cho biết, chẩn đoán bệnh giun sán không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng vì triệu chứng của bệnh giun sán không điển hình, nên cần phải tìm thấy căn bệnh bằng cách phát hiện trứng và giun sán trưởng thành
Như vậy, để chẩn đoán bệnh giun sán nói chung, bệnh sán lá ruột ở vịt nói riêng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng phương pháp đơn giản
và được sử dụng phổ biến là các phương pháp: Quan sát những biểu hiện lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân tìm trứng sán lá ruột, mổ khám kiểm tra bệnh tích
và tìm sán lá ký sinh ở ruột vịt
1.1.8 Điều trị bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2004) [19], có thể dùng những loại thuốc sau để tẩy sán lá ruột cho vịt:
- Filixan liều 0,3 - 0,4g/kg thể trọng, trộn cùng với thức ăn
Chu Thị Thơm và cs (2006) [34] cho biết về một số thuốc và liều lượng dùng để tẩy sán lá ruột cho vịt như: arecolin liều 0,002g/kg thể trọng, pha dưới dạng dung dịch, nồng độ 1:1000; devermin 60mg/gia cầm; fenbendazol 40mg/kg thể trọng; praziquantel 20 - 25mg/kg thể trọng
Nguyễn Hữu Hưng (2005) [10] đã nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá ruột trên vịt tại tỉnh Vĩnh Long và thí nghiệm thử hiệu lực 2 loại thuốc albendazol và mebendazol, tác giả cho biết: Thuốc albendazol liều 50mg/kg và 75mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày liên tục, hoặc mebendazol liều 20mg/kg và 30mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày đều cho hiệu quả tẩy sạch sán lá ruột cao (100%) Thuốc không gây ra phản ứng phụ trong thời gian thí nghiệm
Trang 29Mebendazol là thuốc trị giun sán thuộc nhóm benzimidazol Thuốc có phổ chống giun sán rộng, liều cao có tác dụng trên cả ấu trùng sán lá, sán dây ký sinh ở gia súc, gia cầm
màu trắng hoặc vàng nhạt Có tên thương mại như menben, vermox, mebenvet
Mebendazol và các thuốc thuộc nhóm benzimidazol tác dụng chủ yếu bằng cách gắn vào các ống dẫn, ngăn cản sự trùng ngưng các ống dẫn trong quá trình lắp ráp các vi ống và gây ra các thay đổi thoái hoá cấu trúc ở ruột của sán Tác động trước hết là ức chế hoạt tính của men fumarate reductase, sau đó làm rối loạn các vi ống thiết yếu đối với việc tiết nhiều enzym của giun sán (Phạm Đức Chương và cs.,
- Mebendazol, dạng gói, liều 2g/4kg thể trọng, trộn thức ăn cho vịt
- Bột hạt cau: 1 - 2g/vịt trưởng thành, trộn thức ăn cho vịt
Theo Phan Lục và cs (2006) [29], có thể dùng các loại thuốc sau để tẩy sán
lá ruột: devermin liều 60mg/kg thể trọng; fenbendazol liều 40mg/kg thể trọng, cho
ăn praziquantel liều 20 - 25mg/kg thể trọng; fubendazol liều 40 - 50mg/kg thể trọng
và arecolin liều 0,002g/kg thể trọng Tất cả các loại thuốc này dùng qua đường miệng (trộn thức ăn) đều có hiệu quả tẩy sán lá ruột cho vịt
Sử dụng thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt ở Thái Nguyên, Lê Văn Trọng (2010) [40] cho biết, thuốc menben (thành phần chủ yếu là mebendazol) liều lg/3kg thể trọng, trộn thức ăn cho ăn liên tục 3 ngày đạt hiệu lực tẩy sạch là 100%; thuốc bio - fenbendazol liều 1 g/2kg thể trọng, trộn thức ăn, cho ăn 3 ngày liên tục đạt hiệu lực tẩy sạch là 100% Cả hai thuốc trên đều an toàn đối với vịt
Trang 30- Vệ sinh sạch sẽ chuồng và khu vực chăn nuôi
- Định kỳ diệt sán trong cơ thể gia cầm bằng các thuốc tẩy sán lá
- Thu gom phân hàng ngày và ủ phân để tiêu diệt trứng sán thải ra
- Diệt ký chủ trung gian (ốc, nòng nọc ) ở khu vực chăn thả bằng vôi bột
- Nuôi nhốt riêng vịt non với vịt trưởng thành
- Ở những nơi ao hồ có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải được nuôi đến 2 -
3 tháng tuổi trên những sân khô ráo
- Không làm chuồng ở gần ao hồ, ruộng nước
Vận dụng học thuyết Skrjabin để đề ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán, Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25] cho biết, biện pháp hữu hiệu để phòng bệnh sán lá là biện pháp phòng chống tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoại cảnh
Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], muốn thanh toán bệnh giun sán phải dự phòng có tính chủ động: Dùng tất cả các phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), cơ giới, sinh học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ,
ở ngoại cảnh và ở tất cả giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hồ Thị Thuận và cs (1988) [39] khảo sát giun sán ký sinh ở vịt Anh Đào nuôi chạy đồng thuộc quận Thủ Đức, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) Tác giả cho biết, vịt nhiễm 21 loài giun sán, trong đó có 6 loài sán lá Cường độ nhiễm cao
Trang 31ở vịt non nhưng thành phần loài ít, ngược lại vịt già cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài nhiều hơn
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [13], bệnh phổ biến ở khắp các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng nhiễm nhiều hơn so với vùng núi và trung du Vịt, ngan, ngỗng là những loài thường xuyên tiếp xúc với nước nên mức độ nhiễm thuờng nặng Vịt, gà, ngan, ngỗng, bồ câu không những là nguồn gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trường, mà còn gặp ở các loài chim hoang dã khác
Huỳnh Tấn Phúc (2001) [30] cho biết, khi mổ khám 120 vịt tại huyện Bình Chánh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã phát hiện được 18 loài giun sán, trong đó có 9 loài sán lá Tỷ lệ nhiễm giun sán trung bình là 61,7%
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2002) [9] đã nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán trên vịt thả đồng tại tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh Tác giả mổ khám 671 vịt, tìm thấy 10 loài sán lá, tỷ lệ nhiễm tới 62,74% Vịt nhiễm ở tất cả các lứa tuổi, cao nhất
ở vịt trên 4 tháng tuổi Trong đó, các loài sán lá ruột tìm thấy là Echinostoma
revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum và Hypoderaeum conoideum Cả hai tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh đều tìm thấy các loài này, nhưng tỷ lệ
nhiễm từng loài sán lá ruột có sự khác nhau rõ rệt Loài Echinostoma revolutum ở Cần Thơ là 8,13%, ở Trà Vinh là 26,20%; loài Echinostoma myiagawai ở Cần Thơ
là 30,05%, ở Trà Vinh là 11,35%
Theo Nguyễn Hữu Phước và cs (2002) [31], vịt tại huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) nhiễm cả 3 lớp giun sán: sán lá, sán dây và giun tròn, tỷ lệ nhiễm là 74,43%, trong đó nhiễm sán lá là 60,02% Vịt ở các lứa tuổi đều bị nhiễm cao, cao nhất là vịt
từ 1- 2 tháng tuổi, thấp nhất là trên 4 tháng tuổi; vịt nuôi thả đồng tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn vịt nuôi thả vườn
Mổ khám 120 vịt của 4 huyện thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1] tìm thấy 287 mẫu sán lá ký sinh Trong 7 loài phát hiện có 4
loài sán lá đường ruột: Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revoỉutum,
Echinostoma miyagawai, Echinoparyphium recurvatum; trong đó có 3 loài sán lá
ruột: loài Echinostoma miyagawai tìm thấy ở 8/8 điểm điều tra, 2 loài
Trang 32Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum tìm thấy ờ 7/8 điểm điều tra Về
tỷ lệ và cường độ nhiễm, tác giả cho biết: Tỷ lệ nhiễm chung các loài sán lá là 32,5%, trong đó nhiễm sán lá ruột là 19,16% với cường độ nhiễm từ 3 - 18 sán/vịt
Nguyễn Hữu Hưng (2005) [10] mổ khám 177 vịt tại 3 huyện Măng Thít, Tam Bình, Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long để tìm hiểu về tình hình nhiễm sán lá
ruột ký sinh ở vịt, tác giả phát hiện có 4 loài phổ biến nhất là Echinoparyphium
recurvatum, Echinostoma robustum, E revolutum và Hypodraeum conoideum
Trần Văn Bình (2006) [2] mô tả vịt bị nhiễm sán lá ruột với những biểu hiện:
bỏ ăn, khát nước, ngại bơi lội Trường hợp bị nặng vịt đi bằng đầu gối, co rúm các ngón chân, ỉa chảy, phân có máu Mổ khám thấy ruột non xuất huyết
Mổ khám 3776 vịt nuôi chạy đồng trong hai vụ chăn thả ở 4 lứa tuổi vịt tại
10 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Hữu Hưng và cs (2006) [11], (2007) [12] cho biết: phát hiện vịt nhiễm giun sán tỷ lệ rất cao (82,55%), định danh được
27 loài Trong đó có 13 loài sán lá (8 loài sán lá đường tiêu hoá), tỷ nhiễm sán lá là 73,45% Tác giả cho biết: tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi, vùng
sinh thái, mùa vụ và lứa tuổi của vịt Tỷ lệ nhiễm cao thấy ở các loài: Echinostoma
revolutum (23,89%), Hypoderaeum conoideum (23,04%), Echinostoma miyagawai
(22,75%), Echinoparyphium recurvatum (16,53%) Phân bố rộng ở khắp các điểm khảo sát là 3 loài sán lá đường tiêu hoá: Echinoparyphium recurvatum,
Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum có khả năng lây nhiễm từ vịt
sang người
Nguyễn Xuân Dương và cs (2007) [5], (2008) [6] đã công bố kết quả nghiên cứu về thành phần loài sán lá ký sinh ở vịt vùng Đồng bằng sông Hồng Tác giả cho biết: Thành phần loài sán lá ký sinh ở vịt vùng Đồng bằng sông Hồng rất phong phú Vịt nhiễm 18 loài sán lá, những loài sán lá ký sinh ở ruột vịt gồm có:
Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Hypoderaeum conoideum, Echinochasmidae beleocephalus, Echinochasmus ịaponicus, Notocotylus indicus, Microphallus pseudogonocotyla Tác giả nhận xét: Thành phần loài giun sán của vịt
có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng (Trong 18 loài sán lá tìm thấy ở Đồng bằng
Trang 33sông Hồng, có 9 loài không tìm thấy ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long) Tỷ lệ
nhiễm các loài sán lá ruột khá cao: E revolutum (39,40%), E miyagawai (23,56%),
H conoideum (28,28%) Vịt 1 - 3 tháng tuổi nhiễm thấp nhất (43,77%), vịt hậu bị 4
- 6 tháng tuổi nhiễm 81,14%, vịt đẻ nhiễm 91,58% và vịt thịt nhiễm trên 43%
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [14] cho biết, yếu tố đầu tiên và quan trọng chi phối thành phần loài của khu hệ ký sinh trùng ở động vật là tuổi của vật chủ Đối với hầu hết các bệnh sán lá, tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá thường tăng dần theo tuổi vật chủ
Nguyễn Hữu Huân (2008) [8] mổ khám 210 vịt CV Super - M tại trại giống
vịt Vigova thấy có 34 con nhiễm sán lá Echinostoma miyagawai ở đường tiêu hóa,
tỷ lệ nhiễm là 16,19% Cường độ nhiễm E miyagawai tổng số ở vịt nuôi vào mùa
mưa cao hơn so với mùa khô Tác giả sử dụng niclosamid để tẩy sán lá ruột cho vịt thấy tỷ lệ sạch là 67,85%, đạt hiệu quả chưa cao
Lê Văn Trọng (2010) [40] đã xét nghiệm 1.322 mẫu phân vịt các lứa tuổi, tỷ
lệ nhiễm sán lá ruột là 27,16% (số trứng/vi trường kinh hiển vi là 1 - 14 trứng) Mổ khám 309 vịt, có 37,86% nhiễm sán lá ruột (1 - 48 sán/cá thể vịt); tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi: Vịt dưới 3 tháng tuổi nhiễm 17,35%, 3 - 6 tháng tuổi nhiễm 43,52%, trên
6 tháng tuổi nhiễm 51,46% Ở vụ hè - thu tỷ lệ nhiễm là 43,56% (1 - 48 sán/vịt), vụ đông - xuân là 31,51% (1 - 9 sán/vịt)
Hồ Minh Vương (2011) [43] cho biết, thành phần giun sán ký sinh đường tiêu hóa ở vịt nuôi bán chăn thả tại Tuy Phước gồm 7 loài thuộc thuộc 7 giống, 4 họ,
4 bộ, ở 3 lớp Trematoda, Cestoda, Nematoda Trong đó, các loài giun sán nhiễm
theo tỷ lệ như sau: loài Opisthorchis paragenimus (30,25%), loài Hypoderaeum
conoideum (26,25%), loài Diorchis ransomi (23,50%), loài Echinostoma revolutum
(23,00%), loài Dicranotaenia coronula (18,75%), loài Microsomacanthus
compressa (15,50%) và loài Tetrameres fissispina (12,00%)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Chullabusapa và cs (1992) [49] mổ khám 200 vịt tại Bangkurad Amphur Bangyai tỉnh Nonthaburi (Thái Lan) đã phát hiện vịt nhiễm giun sán với tỷ lệ 66%,
Trang 34với 6 loài giun sán ký sinh, trong đó có 2 loài sán lá ký sinh ở ruột Echinostoma
revolutum và Hypoderaeum conoideum Nguyên nhân là do vịt ăn phải vật chủ
trung gian mang mầm bệnh sán lá có trong môi trường nước vào mùa mưa
Kulisic Z và Lepojev O (1994) [56] mổ khám tìm sán lá ký sinh ở 100 vịt nuôi gia đình ở khu vực Belgrade (Nam Tư) Kết quả cho thấy, vịt ở khu vực này nhiễm sán lá với tỷ lệ 72% Tác giả đã định danh đuợc 13 loài giun sán ký sinh ở
vịt, trong đó có 4 loài sán lá ruột (Echinostoma revolutum, Notocotilus imbricatus,
Hypoderaeum conoideum, Echinoparyphium recurvatum) Tác giả nhận xét, tỷ lệ
nhiễm sán lá ở vịt phụ thuộc vào mùa vụ, tập quán chăn nuôi và điều kiện sinh thái
ở mỗi vùng
Betlejewska K M và Korol E N (2002) [46] kiểm tra sự hiện diện của sán đường ruột trong 55 bầy vịt trời (1.758 cá thể) tại khu vực của Szczecin Sán lá ruột
đã được tìm thấy trong 69,1% số vịt điều tra với 15 loài, trong đó tỷ lệ nhiễm cao
thấy ở các loài Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma sp.,
Echinoparyphium recurvatum
Choi M H và cs (2006) [48] cho biết: hình thái vĩ ấu của Echinochasmus
japonicus dưới kính hiển vi điện tử quét có hình trứng và đuôi nhỏ, bề mặt được bao
phủ bởi các gai nhỏ Khi nuôi ấu trùng trong nước thí nghiệm thấy sau 4 ngày vĩ ấu phát triển thành nang ấu có sức gây bệnh Gây nhiễm nang ấu cho gà và vịt thí nghiệm thấy sau 28 ngày mổ khám thu thập được sán lá trưởng thành
Kavetska K M và cs (2008) [53] đã kiểm tra 124 cá thể ngỗng hoang dã sống tại Tây Pomerania thấy ngỗng hoang dã nhiễm 29 loài ký sinh trùng, trong đó
có các loài sán lá ruột: Echinochasmus spinulosus, Echinoparyphium cinctum, E
Recurvatum, Echinostoma miyagawai, E revolutum và Hypoderaeum conoideum
Kurt M và Acici M (2008) [57] đã khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán ở gà tại khu vực Samsun, phía Bắc Thổ Nhĩ Kỳ thấy 88% trong số 83 gà thả vườn và 4% trong số 52 gà đẻ bị nhiễm giun sán, tuy nhiên, trong 50 gà nuôi thịt không có gà nào nhiễm bệnh Tổng cộng có 16 loài khác nhau đã được phát hiện,
Trang 35trong đó có 2 loài sán lá ruột là Echinoparyhium recurvatum (1%) và Echinostoma
revolutum (1%)
Besprozvannykh V V (2009) [45] đã mô tả chu kỳ sống của hai loài sán lá
ruột Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926 và E beleocephalus (Linstow, 1873) Tác giả cho biết ký chủ trung gian thứ nhất của E japonicus là ốc của chi
Boreoelona, E beleocephalus là ốc Parafossarulus Ký chủ trung gian thứ hai là cá
nước ngọt và nòng nọc ếch Nang ấu được gây nhiễm cho gà thí nghiệm và đều thu thập được sán trưởng thành ký sinh trung ruột gà
Orunç O và Biçek K (2009) [58] đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở
gà tại khu vực Van - Thổ Nhĩ Kỳ bằng phương pháp xét nghiệm phân (phương pháp
trực tiếp, phù nổi và gạn rửa sa lắng) thấy 65% gà nhiễm cầu trùng, Echinostoma spp 2%, Davania proglottina 8%, Raillietina spp 10%, Trichostrongylus tenuis 4%, Dispharynx nasuta 1%, Ascaridia galli 13%, Heterakis gallinarum 15% và
Hoque M A và cs (2011) [51] tiến hành kiểm tra 1.373 vịt thu thập tại 118
hộ gia đình tại đảo Hatia ở Bangladesh thấy số vịt nhiễm sán lá (Prosthogonimus spp., Trichobilharzia spp., Echinostoma spp.) chiếm tỷ lệ cao
Saijuntha W và cs (2011a) [60] đã thu thập 314 cá thể Echinostoma
revolutum từ vịt nuôi tại Khon Kaen, Thái Lan và Viêng Chăn, Lào để làm biến dị
di truyền Các tác giả cho biết, đã tìm thấy sự biến đổi gen cao trong các cá thể sán thu được
Iakovleva G A và cs (2012) [52] cho biết chim nước ở Karelia nhiễm 23 loài sán lá, trong đó có 8 loài mới lần đầu được phát hiện tại khu vực này, đó là:
Urogonimus macrostomus, Neoeucotyle zakharovi, Hypoderaeum conoideum,
Trang 36Echinostoma robustum, Orchipedum tracheicola, Prostogonimus cuneatus, P ovatus và P rarus
Saijuntha W và cs (2013) [62] đã mổ khám 90 vịt chăn thả thu thập từ miền Bắc, Trung và Đông Bắc Thái Lan thấy 51 vịt bị nhiễm một hoặc nhiều loài sán lá,
chiếm tỷ lệ 56,7% Các loài sán gồm: Echinostoma revolutum, Echinoparyphium
recurvatum và Hypoderaeum conoideum Cường độ nhiễm sán lá biến động từ 2 -
49 sán/vịt
Rząd I và cs (2013) [59] thu thập 187 mẫu phân vịt tại Tây Bắc, Ba Lan thấy vịt nhiễm một số loài giun sán trong đó có 3 loài sán lá ruột là:
Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma revolutum và Notocotylus attenuatus
Chantima K và cs (2013) [47] thu thập nang ấu của sán lá Echinostome spp
trong môi trường nước và gây nhiễm cho gà, sau 15 - 20 ngày mổ khám đã thấy sán
lá trưởng thành ký sinh trong ruột gà
Youssefi M R và cs (2014) [64] đã mổ khám 136 vịt trời tại một số khu vực thuộc Fereydunkenar, Iran thấy 70,50% số vịt nhiễm giun sán Các loài giun
sán được xác định bao gồm ấu trùng Contracaecum ký sinh ở dạ dày, Diorchis
stefanskii ký sinh ở ruột non, Hypoderaeum conoideum ký sinh ở ruột non và Notocotylus attenuatus ký sinh ở manh tràng
Faltýnková A và cs (2015) [50] cho biết, có 6 loài sán lá ký sinh ở chim và
gia cầm thu thập tại một số nước châu Âu, đó là Echinostoma revolutum, E
bolschewense, E miyagawai, E nasincovae, E paraulum và Echinostoma sp
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vịt ở các lứa tuổi nuôi tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Bệnh sán lá ruột ở vịt
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm lấy mẫu: 3 xã Văn An, Chu Túc và Song Giang, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng dịch tễ Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn
- Địa điểm làm tiêu bản vi thể: bệnh viên Đa khoa trung ương Thái Nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Vịt và mẫu phân vịt ở các lứa tuổi (dưới 3 tháng tuổi, 3 - 5 tháng và trên 5
tháng) nuôi tại xã Văn An, Chu Túc và Song Giang, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Mẫu sán lá ruột thu thập được qua mổ khám (để xác định thành phần loài sán lá ký sinh)
- Mẫu ruột của vịt bị nhiễm sán lá ruột thu thập qua mổ khám (để làm tiêu bản vi thể)
2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm
Dụng cụ gồm:
- Kính hiển vi quang học, kính lúp, máy ảnh
Trang 38- Hoá chất: Cồn, Formaldehyde
- Dụng cụ thuỷ tinh: cốc, lọ, đũa thuỷ tinh, lam kính, la men, hộp lồng
- Dụng cụ mổ khám: Kéo, dao, khay mổ khám và một số vật dụng khác
- Thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt: Menben, praziquantel và niclosamide
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các loài sán
lá ruột vịt và bệnh do chúng gây ra
- Điều tra phương thức chăn nuôi vịt tại địa điểm nghiên cứu
- Thực trạng vấn đề sử dụng thuốc tẩy giun, sán cho đàn vịt nuôi tại các hộ gia đình thuộc địa điểm nghiên cứu
2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt nuôi tại một số xã thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột theo tuổi vịt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của vịt bị bệnh sán lá ruột
- Tỷ lệ vịt nhiễm sán lá ruột tại các xã nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng
- Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa của vịt bị bệnh sán sán lá ruột
- Bệnh tích vi thể do sán lá ruột gây ra ở vịt
2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị sán lá ruột cho vịt
- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt
- Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh sán lá ruột cho vịt
Trang 392.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí điều tra tình hình nhiễm sán lá ruột ở vịt: Mẫu được chọn ngẫu nhiên 2.4.2 Phương pháp lấy mẫu
* Phương pháp lấy mẫu phân:
Mẫu phân được thu thập theo phương pháp lấy mẫu chùm 2 bậc tại các hộ nuôi, các trại chăn nuôi vịt Tại huyện Văn Quan lấy mẫu ở 03 xã (xã Văn An, Chu Túc và Song Giang), mỗi xã 03 thôn, trong mỗi thôn lấy mẫu theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Lấy toàn bộ lượng phân mới thải ra trong một lần thải phân của vịt Để riêng từng mẫu phân vào một túi nilon nhỏ, trên mỗi túi đều ghi nhãn: địa điểm lấy mẫu, tuổi vịt, mùa vụ lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài) Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng
Mổ khám thăm dò 100 vịt nuôi tại huyện Văn Quan cho thấy tỷ lệ nhiễm sán
lá ruột ở vịt là 24% Như vậy, số vịt ước lượng mổ khám trong huyện tối thiểu (ở độ tin cậy 95%) là 280 vịt Thực tế, chúng tôi tiến hành mổ khảo sát là 300 vịt, mỗi xã
mổ khám 100 con ở các lứa tuổi khác nhau và được lấy ngẫu nhiên tại các địa điểm nghiên cứu
Trang 402.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu
- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá ruột qua xét nghiệm phân:
Tất cả mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp gạn rửa sa lắng (Benedek) Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là dùng nước lã có tỷ trọng nhẹ hơn tỷ trọng của trứng sán lá, do tỷ trọng của trứng sán lá lớn hơn tỷ trọng của nước
lã nên trứng sẽ lắng xuống dưới (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 [13]; Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [16])
Phương pháp gạn rửa sa lắng tiến hành như sau: Lấy mẫu phân cho vào cốc thuỷ tinh có nước lã, khuấy mạnh cho tan, lọc qua lưới lọc vào một bình tam giác,
để yên cho lắng cặn xuống, gạn nước ở trên đi; lại cho nước vào, để yên 15 phút cho lắng xuống và gạn nước ở trên đi Làm liên tục nhiều lần cho đến khi nước trong suốt, gạn nước đi và cho cặn vào hộp lồng soi kính hiển vi tìm trứng sán lá ruột, soi kính hiển vi có độ phóng đại 100 lần, đếm số trứng sán lá ruột/vi trường Những mẫu xét nghiệm thấy có trứng sán lá ruột được đánh giá là có nhiễm và ngược lại là không nhiễm
- Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán qua mổ khám:
Căn cứ vào các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài (tuổi, mùa vụ, địa phương), trong quá trình mổ khám ghi lại số vịt nhiễm sán vào nhật ký để xác định tỷ lệ nhiễm Cường độ nhiễm sán qua mổ khám được xác định bằng cách đếm số lượng sán ký sinh ở mỗi vịt trong quá trình mổ khám và định loại
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của vịt bị nhiễm sán lá ruột
Sử dụng phương pháp chẩn đoán cơ bản là quan sát những biểu hiện của vịt: Thể trạng, ăn uống, vận động và trạng thái phân
2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp mổ khám không toàn diện của Skrjabin K.I (1963), với mục đích xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá ruột và quan sát những biến đổi đại thể của cơ quan tiêu hoá do sán lá ruột gây ra