1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt và một số yếu tố liên quan tại các hộ gia đình thuộc xã la hiên huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

90 214 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp lại mang một số tác hại đối với nguồn nước, phổ biến nhất các chất gây ô nhiễm hoá học trong nguồn nước uống phát sinh từ hoạt động nông nghiệp là nitrate

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

NGUYỄN ĐỨC TOÀN

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC HỘ GIA ĐÌNH

THUỘC XÃ LA HIÊN HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

NGUYỄN ĐỨC TOÀN

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC HỘ GIA ĐÌNH

THUỘC XÃ LA HIÊN HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG

Mã số: 60 72 01 63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2017

Học viên

Nguyễn Đức Toàn

Trang 4

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, dưới sự tận tình hướng dẫn của giảng viên, được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp Kết quả thu được không chỉ do sự nỗ lực của bản thân mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn:

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Hoa - Phó trưởng khoa Y tế Công cộng, trưởng bộ môn Sức khỏe môi trường & Sức khỏe nghề nghiệp trường Đại học

Y - Dược Thái Nguyên, cô đã hướng dẫn em rất tận tình trong suốt thời gian

thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

Ban Giám hiệu trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Y tế Công cộng cùng toàn thể các thầy cô giáo của khoa đã quan tâm,

tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp

Cảm ơn các thầy cô giáo trong nhà trường đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích, không chỉ là những bài học chuyên môn quý báu mà còn là những kỹ năng nghề nghiệp

Lãnh đạo địa phương, Cán bộ Trạm Y tế, người dân xã La Hiên thuộc

huyện Võ Nhai nơi em tiến hành thu thập số liệu cho luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2017

Học viên

Nguyễn Đức Toàn

Trang 5

BYT : Bộ Y tế

(Knowledge Attitude Practice)

UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc

(United Nations Children's Fund)

(World Health Organization)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3

1.1.1 Chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3

1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3

1.1.3 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam 9

1.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 27

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Nghiên cứu định lượng 28

2.2.2 Nghiên cứu định tính 29

2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 30

2.2.4 Phương pháp đánh giá 32

2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin 37

2.2.6 Khống chế sai số 37

2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 37

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình 38

3.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt 41

Chương 4 BÀN LUẬN 50

4.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình 50

Trang 7

4.2.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số hóa học 54

4.2.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số sinh học 57

KẾT LUẬN 61

1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã nghiên cứu: 61

2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt: 61

KHUYẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Đánh giá các chỉ số lý học của các mẫu nước xét nghiệm tại các

hộ gia đình 38

Bảng 3.2 Đánh giá chỉ số NH3, NO2 trong nước tại các hộ gia đình 38

Bảng 3.3 Hàm lượng chất hữu cơ, độ cứng trong nước tại các hộ gia đình 39

Bảng 3.4 Kết quả xét nghiệm chỉ số Coliform và Fecal Coliform trong

mẫu nước tại các hộ gia đình 39

Bảng 3.5 Đánh giá chỉ số xét nghiệm vi sinh vật trong nước 40

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu với chỉ

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần

nhất với chỉ số Fecal Coliform 42

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần

Trang 9

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với mùi của nước giếng đào 48

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với nguồn nước ô nhiễm

NO2 48

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với nguồn nước ô nhiễm

Fecal Coliform 49

Trang 10

Hộp 3.1 Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ y tế và một số hộ gia đình về chất

lượng nguồn nước giếng đào 40

Hộp 3.2 Kết quả phỏng vấn sâu một số yếu tố liên quan đến chất lượng

nguồn nước giếng đào 44

Hộp 3.3 Kết quả thảo luận nhóm một số yếu tố liên quan đến chất lượng

nguồn nước giếng đào 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người, vấn

đề về nước đang là 1 điều đáng quan tâm hiện nay Trên trái đất, ¾ lãnh thổ là nước, nước trong các đại dương, ở biển, sông ngòi, ao hồ, nước ở trong lòng đất Nước rất cần thiết cho cuộc sống của con người, chiếm khoảng 70% khối lượng của cơ thể con người và là một thành phần quan trọng của quá trình trao đổi chất, dung môi cho nhiều chất hòa tan của cơ thể Nguồn nước sạch cung cấp cho cơ thể để duy trì sự sống, vậy nên con người không thể sống mà thiếu nước Nước là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên

hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội [35]

Nước sạch giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta, theo báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới năm 2005 trên toàn thế giới có khoảng 1,1 tỷ người đã không thể tiếp cận với nguồn nước sạch chiếm 17% dân số toàn cầu, trong đó có tới 2/3 là châu Á, có khoảng 1,8 triệu người chết mỗi năm liên quan đến các bệnh đường tiêu hóa trong đó chiếm tới 90% ở trẻ em dưới 5 tuổi Năm 2016 trên thế giới có 846.000 người tử vong do tiêu chảy liên quan đến sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh [52]

Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều tác hại đến sức khỏe con người, tỉ lệ

người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da Con người sử dụng nguồn nước có nhiễm chì vượt quá tiêu chuẩn cho phép có thể mắc bệnh thận, thần kinh; nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh

đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán

Trang 12

Việt Nam là một nước đang phát triển với mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Bên cạnh đà phát triển của đất nước thì vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nước nói riêng đang ở mức báo động Tại các vùng nông thôn nước ta chỉ có 40% dân số được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do

Bộ Y tế ban hành Mục tiêu quốc gia đến năm 2020 tất cả dân cư nông thôn

sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia, năm 2010 với 85% số hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, ưu tiên hỗ trợ cho những vùng nghèo, người nghèo,

các vùng đặc biệt khó khăn [27], [28]

Thái Nguyên trong những năm qua hoạt động cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn không ngừng được đẩy mạnh Đến nay đã có 82% người dân nông thôn có điều kiện sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh Tuy nhiên

do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu làm cho số lượng cũng như chất lượng nguồn nước sinh hoạt không được đảm bảo

La Hiên là một xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xã có diện tích là 39,19 km², nằm ở phía tây của huyện và có tuyến quốc lộ 1B chạy qua, điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội còn nhiều khó khăn Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội thì vấn đề sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đang

là một trong những thách thức đối với chăm sóc, đảm bảo sức khỏe cho người dân Vậy thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình trong xã hiện nay như thế nào? Yếu tố nào tác động đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt

của các hộ gia đình? Đây là lý do chúng em xây dựng đề tài: “Thực trạng chất

lượng nguồn nước sinh hoạt và một số yếu tố liên quan tại các hộ gia đình thuộc xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”, với mục tiêu:

1 Đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình tại

xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên năm 2016

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh

hoạt tại các hộ gia đình ở xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt

1.1.1 Chất lượng nguồn nước sinh hoạt

Nước sạch là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp đồng thời có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y Tế ban hành [4] Theo Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 cũng chỉ rõ nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam [18]

Đối với nước hợp vệ sinh là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi [33] Các yếu tố vật lý, hóa học

và vi sinh trong nước không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép

1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt

Tùy theo yêu cầu của việc sử dụng nước vào các mục đích khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, văn hóa, thể dục thể thao, phục

vụ ăn uống và sinh hoạt mà quy định những tiêu chuẩn của ngành Đối với nước ăn uống và sinh hoạt có tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn địa phương Tiêu chuẩn quốc tế về nước sinh hoạt là tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ban hành năm 1958 và

bổ sung sửa đổi năm 1963, 1971, và 1984 Tiêu chuẩn bao gồm 3 nhóm chỉ tiêu: Vật lý, hóa học (chất vô cơ tan, chất hữu cơ) và sinh học

Năm 2002 với sự giúp đỡ của UNICEF, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo quyết định số 1329/2002/BYT-

QĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế để giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng tối đa cho phép của 112 chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học Đây là chìa khóa pháp lý cho cả

Trang 14

người tiêu dùng cũng như sản xuất và cung cấp nước sạch Tuy nhiên, phạm

vi áp dụng chủ yếu là đối với đô thị, công trình cấp nước tập trung cho 500 người trở lên, do vậy đối với vùng nông thôn hiện chưa phải là đối tượng áp dụng bắt buộc [1]

Để khắc phục hạn chế này, Bộ Y tế ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch theo quyết định số 09/2005/BYT-QĐ ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế Tiêu chuẩn này chỉ quy định 22 chỉ tiêu cơ bản về cảm quan, thành phần vô cơ và vi sinh vật Tiêu chuẩn này áp dụng đối với các hình thức cấp nước sạch hộ gia đình, các trạm cấp nước sạch khác Nước sạch quy định trong tiêu chuẩn này chỉ là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp Nếu dùng trực tiếp cho nước ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo quyết định số 1329/QĐ-BYT ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế [1]

Nhìn chung về mặt số lượng có thể chấp nhận được ở mức 30l/người/ngày ở nông thôn và 100-150l/người/ngày ở thành thị Về mặt chất lượng, nước dùng để ăn uống và sinh hoạt phải đảm bảo những yêu cầu chung sau đây:

- Nước phải có tính cảm quan tốt, phải trong, không có màu, không có mùi, không có vị gì đặc biệt để gây cảm giác khó chịu cho người sử dụng

- Nước phải có thành phần hóa học không độc hại cho cơ thể con người, không chứa các chất độc, chất gây ung thư, chất phóng xạ… Nếu có thì phải ở mức tiêu chuẩn nồng độ giới hạn cho phép theo quy định của Nhà nước và Bộ Y tế

- Nước không chứa các loại vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại kí sinh trùng và các loại vi sinh vật khác, đảm bảo an toàn về mặt dịch tễ học

Cụ thể như sau:

Trang 15

a Lý học [9]

* Độ trong

- Nước phải trong, độ trong của nước ít nhất là 30 cm

- Nước đục là do có những chất lơ lửng trong nước (đất, cát…) đối với nước bề mặt, chất sắt đối với nước ngầm

Nước đang trong mà bỗng bị đục chứng tỏ là có sự thẩm lậu của các chất bẩn hoặc do nhiễm khuẩn vào nguồn nước

* Mầu

- Nước hợp vệ là nước không mầu, có mầu rõ rệt khi nhìn bằng mắt thường

- Nước hồ, ao, thường có mầu vì có lẫn chất mùn hoặc rêu, tảo

- Nước ngầm sâu thường có mầu vàng gỉ của chất sắt, khi thấy nước có mầu phải tìm xem nguyên nhân nào đã sinh ra màu đó

* Mùi vị

Nước hợp vệ là nước không mùi vị gì đặc biệt, nếu có thường là do bị nhiễm + Do các chất khoáng như muối, sắt.v.v

+ Do thực vật thối rữa hoặc đang bị phân huỷ

* Nhiệt độ

- Với nước càng sâu thì nhiệt độ càng ổn định

Mọi sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ (nhất là đối với nguồn nước ngầm nông) có thể giúp ta nghi ngờ có sự nhiễm bẩn ở ngoài vào

b Hóa học [9]

- Trong nước không có chất độc

- Các hoá chất không quá tiêu chuẩn cho phép

* Về chất hữu cơ

- Sự có mặt của chất hữu cơ chứng tỏ là mẫu nước bị nhiễm bẩn

- Chất hữu cơ là sản phẩm của sự thối nát

Trang 16

+ Của các tổ chức động vật và thực vật

+ Các chất thải bỏ (phân, nước thải xí nghiệp )

- Về nguồn gốc có 2 loại chất hữu cơ

+ Chất hữu cơ thực vật

+ Chất hữu cơ động vật

Chất hữu cơ động vật rất nguy hiểm, vì sự có mặt của nó còn kèm theo các vi khuẩn gây bệnh

* Về dẫn xuất của Nitơ (amoniac, nitrit, nitrat)

- Đó là những chất do quá trình vô cơ hoá của chất hữu cơ mà ra

- Tuỳ theo đậm độ cao thấp của amoniac, nitrit, nitrat mà định đó là giai đoạn đầu hay giai đoạn cuối của hiện tượng vơ cơ hoá Từ đó có thể xác định

là mẫu nước đã bị nhiễm bẩn như thế nào

- Khi nhận định cần phải kết hợp với đậm độ của chất hữu cơ và chất clorua thì mới có thể khẳng định tính chất nhiễm bẩn của mẫu nước

- Tiêu chuẩn một số chất cho phép ở trong nước uống

- Trong quá trình phân giải chất hữu cơ, amoniac xuất hiện đầu tiên

- Có amoniac chứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu thối rữa

Trang 17

 NO2 (nitrit)

nhờ vi khuẩn hiếu khí mà tạo ra

dưới 0,05 mg/lít

chắc chắn là nước bị nhiễm bẩn

- Sau một thời gian, chất nitrit bị oxy hoá và trở thành nitrat

- Chất nitrat là giai đoạn cuối cùng của sự phân huỷ các chất hữu cơ chứa N

trong dòng nước vẫn còn chất hữu cơ

- Nếu lượng nitrat quá nhiều trong nước có thể nguy hiểm đối với trẻ sơ sinh, vì nó gây bệnh Methemoglobin ở máu

- Tiêu chuẩn qui định cho phép lên tới 5mg nitrat trong 1lít nước

* Muối NaCl

- Khi thấy nước có nhiều NaCl chứng tỏ là nước bị nhiễm bẩn, do dịch thể động vật, nhiễm nước tiểu và phân mang lại

thì nước đã bị nhiễm bẩn và nguy hiểm

- Chất NaCl tiêu chuẩn cho phép là 60 - 70 mg NaCl/1lít nước

* Sắt (Fe)

- Sắt có thể thấy ở trạng thái

Trang 18

* Độ cứng

- Nước cứng là nước có nhiều muối Ca, Mg khác với nước mềm là nước

có ít loại muối này

- Tiêu chuẩn độ cứng ở nước ta được phân loại như sau

* Khái niệm vi khuẩn trong nước

- Nước dùng hàng ngày có thể bị nhiễm khuẩn Vi khuẩn sinh bệnh sống trong nước một thời gian nếu gặp điều kiện thuận lợi có thể gây bệnh cho một người, một nhóm người hoặc thành dịch, bởi vì nhiều người cùng dùng chung một nguồn nước

- Trong nước ứ đọng và nước lạnh, vi khuẩn sống dễ dàng hơn trong nước chảy và nước nóng Nước giếng bị nhiễm bẩn là do ô nhiễm đất vì nước thải, vì gần hố xí không hợp vệ sinh Nếu nước bị nhiễm phân thì có thể nguy hiểm, vì trong số người khoẻ cũng có thể có người mang vi khuẩn Nguời ta tìm những vi khuẩn sau đây để làm chỉ số cho sự nhiễm phân của nước:

+ Vi khuẩn Escherichia Coli

+ Vi khuẩn yếm khí có nha bào

+ Thực khuẩn thể

Đặc biệt trong nguồn nước sinh hoạt cần phải kể đến đó là vi khuẩn Coliform và Fecal Coliform: Coliform là trực khuẩn Gram âm hiếu khí, kỵ khí tùy tiện không có nha bào, có khả năng lên men đường lactose sinh acid,

người, động vật và cả trong môi trường như đất, nước, rau quả…chúng được

Trang 19

coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước đã được xử lý Fecal Coliform là những coliform chịu nhiệt, phát triển được ở nhiệt độ

được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước không được xử lý Sự có mặt của vi khuẩn này ở ngoại cảnh chứng tỏ đã có sự ô nhiễm phân người và động vật máu nóng [5]

d Ký sinh trùng trong nước [9]:

- Chúng có khả năng sống ăn bám ở bên trong cơ thể người hay động vật và chia thành hai loại

+ Ký sinh trùng địa chất Loại ký sinh trùng không cần vật chủ trung gian để phát triển

+ Ký sinh trùng sinh học, phải qua cơ thể của 2, 3 vật chủ trung gian để phát triển

- Đối với một vài loại sán, trứng, ấu trùng và các vật chủ trung gian sống ở dưới nước

Bên cạnh đó để đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt cần căn cứ vào các thông tư:

- Theo thông tư số 15/2006/TT-BYT, Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình

- Theo thông tư số 50/2015/TT- BYT, Quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt

- Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ trưởng Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh nước

1.1.3 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam

1.1.3.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới

Như chúng ta đã biết, nước đóng một vai trò chủ đạo trong hệ sinh thái

và cũng quan trọng trong đời sống của con người, ở đâu có nước là ở đó có sự sống, có văn hóa và có văn minh Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý

Trang 20

giá của mỗi quốc gia, đóng một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau [44], [47] Tuy nhiên nguồn tài nguyên này đang dần trở nên cạn kiệt bởi những tác nhân ô nhiễm do chính con người gây ra Chúng ta hoàn toàn có lý do để e ngại rằng thế giới sẽ sớm không có nước trong sản xuất nông nghiệp, không còn đủ nguồn nước sạch phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của con người, thiếu nước sạch ảnh hưởng đến an ninh mỗi quốc gia, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây nên nhiều bệnh tật cho con người trên trái đất này Dân số thế giới và tăng trưởng kinh tế đang làm gia tăng nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp lại mang một số tác hại đối với nguồn nước, phổ biến nhất các chất gây ô nhiễm hoá học trong nguồn nước uống phát sinh từ hoạt động nông nghiệp là nitrate và thuốc trừ sâu, phân người, phân động vật, phân bón và chất rắn sinh học (bùn thải) sử dụng cho mục đích nông nghiệp là một trong các nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe con người [49]

Liên Hiệp Quốc công bố báo cáo cho thấy, từ năm 2000 đến năm 2015, việc tiếp cận nguồn nước sạch cho người dân trên thế giới đã có nhiều tiến bộ đáng kể Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa số người không được tiếp cận với nước sạch và các điều kiện vệ sinh cơ bản đã đạt được sớm 5 năm so với mục tiêu đề ra ở năm 2015 Đến cuối năm 2010, 89% dân số toàn cầu (khoảng hơn 6 tỷ người) có thể tiếp cận nước sạch, vượt mục tiêu đề ra Tuy nhiên, nước sạch vẫn không phải là nguồn tài nguyên dành cho tất cả mọi người trong khi 11% còn lại (khoảng 783 triệu người) vẫn không được tiếp cận nguồn nước an toàn; khoảng 2,5 tỷ người vẫn còn thiếu các điều kiện vệ sinh tối thiểu Khu vực Châu Á Thái Bình Dương chiếm đến 61% dân số thế giới nhưng nguồn nước dành cho khu vực này chỉ bằng 1/3 dân số toàn cầu Khoảng nửa tỷ người tại đây không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước đảm bảo an toàn và 1,8 tỷ người dân không được sống trong điều kiện vệ sinh [13]

Trang 21

Theo báo cáo của UNICEP về tình hình thực hiện thập kỷ cung cấp nước và vệ sinh môi trường từ năm 1990 đến năm 2000, ở thời điểm năm

2000 có 81% dân số thế giới được cung cấp nước sạch còn 19% không được cung cấp nước sạch hoặc trong tình trạng thiếu sinh hoạt và ăn uống, trong số

đó 63% thuộc Châu Á và 28% ở Châu Phi, trong khi tỷ lệ này tương ứng ở Châu Mỹ Châu Âu là 7% và 2% Điều đó cho thấy các nước đang phát triển

và kém phát triển thì tỷ lệ dân số không được cung cấp nước sạch rất cao [51]

Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử

lý bị đổ trực tiếp vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Theo thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9/2010 Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người

bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước

Cả thế giới đang hướng tới hoàn thành được các mục tiêu thiên niên kỷ

về nước vào năm 2015 (90% dân số thế giới sẽ được sử dụng nước sạch) Tuy nhiên, kỳ vọng để đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ này là không mấy hiện thực Thực tế cho thấy, việc tiếp cận được với những dịch vụ cơ bản liên quan đến nước như nước uống an toàn, vệ sinh… vẫn là một vấn đề khó khăn đối với các nước đang phát triển Theo ước tính, đến năm 2030 vẫn còn khoảng 5

tỷ người (chiếm 67% số dân thế giới) chưa được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh về nước Hầu hết 80% bệnh tật ở các nước đang phát triển đều liên quan đến nước Theo thống kê, mỗi ngày có khoảng 5.000 trẻ em, hay cứ sau 17

Trang 22

giây lại có 1 trẻ chết vì bệnh tả Nếu như được tăng cường về cấp nước, điều kiện vệ sinh và quản lý tài nguyên nước thì cả thế giới có thể tránh được 1/10 bệnh tật [3]

Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, tình trạng thiếu nước gia tăng như hiện nay, vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và việc đấu tranh với cái nghèo còn tùy thuộc vào khả năng chúng ta đầu tư vào lĩnh vực tài nguyên nước [3]

Việc khai thác nước sạch đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua Diện tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quan mật thiết với sự gia tăng dân số Dân số thế giới hiện nay là 6,6 tỷ người và mỗi năm tăng thêm 80 triệu người, điều đó có nghĩa là nhu cầu về nước sạch mỗi năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối Song, đáng tiếc là 90% số dân trong số

3 tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước [3]

Theo ước tính, đến năm 2030 sẽ có 47% dân số trên thế giới sinh sống tại các vùng thiếu nước sạch Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến đổi khí hậu,

số người thiếu nước sinh hoạt nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệu người Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn sẽ tác động lớn tới sự di cư; do hiếm nước sẽ có từ 24 triệu đến 700 triệu người dân không

có chỗ ở [3]

Trên thế giới vấn đề chất lượng nguồn nước ngầm đặc biệt được quan tâm từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ 20 với các nghiên cứu về nồng độ của kim loại nặng trong nước ngầm đặc biệt là As Chất lượng nguồn nước sinh hoạt không được đảm bảo, các yếu tố lý học, hóa học và sinh học trong nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nghiên cứu về tổng Coliform trong nước vùng hồ Kashmir ở Ấn Độ cho thấy tất cả các mẫu nước xét nghiệm đều

có sự xuất hiên của Coliform và cao hơn nhiều so với giới hạn cho phép Trong tháng 12 năm 2013, với 40 mẫu nước từ các nguồn nước uống khác

Trang 23

nhau được phân tích chất lượng nước cho thấy các mẫu nước 30% bị nhiễm coliform (1-20 cfu/ml) và 5% với E.coli (2-5 cfu/ml) [42]

Nghiên cứu chất lượng nguồn nước uống trong cộng đồng nông thôn ở Ethiopia cũng cho thấy hầu hết các mẫu nước xét nghiệm tìm thấy coliform, cao hơn tiêu chuẩn cho phép, hầu hết các nguồn nước không đáp ứng các giá trị độ đục khuyến cáo của WHO [50]

Kết quả nghiên cứu 60 mẫu nước để đánh giá chất lượng nguồn nước giếng đào tại cộng đồng Nigeria (2010) cho thấy, hầu hết các mẫu nước không đạt tiêu chuẩn về Nitrat, Coliform và Fecal Coliform trong nước, tác giả lý giả rằng nguồn nước có thể bị nhiễm phân người, gia súc, gần các bãi thải sinh hoạt [37]

Kết quả nghiên cứu chất lượng nguồn nước sông AnKo (2016) ở vùng trung tâm đông nam Ethiopia được cho là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ mục đích ăn uống cho thấy, các mẫu nước xét nghiệm có tổng lượng nitrit thu được trong suốt thời gian nghiên cứu vượt quá giới hạn quy định, tổng số vi sinh khuẩn đếm được cho tất cả các mẫu nước vượt quá giới hạn

cơ cao và muối hoà tan trong nước Các nguồn chính của các vi khuẩn trong nước là chất thải của con người và động vật [36]

Nghiên cứu đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại tỉnh Isfahan nằm ở trung tâm đất nước Iran (2012) cho thấy, tất cả các mẫu nước xét nghiệm nitrat, clorua, sắt, và florua đều vượt quá mức cho phép do Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO) ban hành lần lượt là 12,3%, 9,2%, 6,8% và 1,5% [40] Trong một nghiên cứu tại huyện Charsadda, Pakistan về chất lượng nguồn nước sinh hoạt năm 2012 cho thấy tất cả các mẫu nước uống thu được

từ huyện Charsadda đã được phân tích vi khuẩn coliform và dao động từ 0 đến 5 trên 100 ml Ở Tehsil Tangi, cả hai bể đều đều và mẫu giếng đào cho thấy sự hiện diện của coliform (các làng như Yousaf Khanai, Spalmai và

Trang 24

Gandheri) Tất cả các mẫu nước uống cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn coliform tổng số ở Tasmania Charsadda, trong khi ở Tehsil Shabqadar, các mẫu nước bị nhiễm vi khuẩn coliform ngoại trừ các mẫu giếng khoan Tại huyện Charsadda, tổng số vi khuẩn coliform trong mẫu nước uống thường vượt quá giới hạn cho phép (0 trên 100 mL) do Pak-EPA (2008) [46]

Kết quả nghiên cứu chất lượng nước uống của cộng đồng Bangladesh (2016) cho thấy, nồng độ sắt trung bình trong nước vượt quá tiêu chuẩn của WHO (0,3mg/L), độ mặn tương đối cao, phần lớn các hộ gia đình (67%) sử dụng nước uống có chất lượng kém [48] Đồng thời cũng theo kết quả nghiên cứu chất lượng nước uống và nước sinh hoạt nông thôn tại quận Balaka, Malawi cho thấy hầu hết các mẫu nước giếng có hàm lượng sắt cao hơn tiêu chuẩn cho phép (0,3mg/L), chỉ số Fecal Coliform và Coliform lần lượt là 62-

120 cfu/100ml, và 40 - 56 cfu/100ml, cao hơn mức cho phép là 0cfu/100ml (WHO, 2011) [43] Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe con người đặc biệt là trẻ em ở các nước chậm phát triển Bệnh tiêu chảy gây ra 90% số ca tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển Suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng năng lượng protein, có thể làm giảm khả năng đề kháng của trẻ đối với nhiễm trùng, bao gồm tiêu chảy liên quan đến nước Trong năm 2000 - 2003 có 769.000 trẻ em dưới 5 tuổi ở vùng hạ Sahara Châu Phi đã chết mỗi năm do bệnh tiêu chảy, chỉ có 36% dân

số trong vùng hạ Sahara có các phương tiện vệ sinh hợp lý, hơn 2000 trẻ em cuộc sống bị mất mỗi ngày Tại Nam Á, mỗi năm có 683.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết do bị tiêu chảy, trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2003 Trong cùng khoảng thời gian, ở các nước phát triển, 700 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì bệnh tiêu chảy này [39]

Nghiên cứu về chất lượng nguồn nước ngầm tại quận Muzaffargarh, Pakistan chỉ ra rằng Trong 49 mẫu nước ngầm, được thử nghiệm ở quận Muzaffargarh, phía tây nam Punjab, miền trung Pakistan, các sự kết hợp của

Trang 25

As đã vượt quá giá trị hướng dẫn tạm thời của Tổ chức Y tế Thế giới và Môi trường Hoa Kỳ Cơ quan Bảo vệ (USEPA) Mức chất gây ô nhiễm tối đa (MCL),

10 microgam/lít trong Trong đó có 58% mẫu và đạt đến 906 microgam/lít [45]

1.1.3.2 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam

Theo quy định của Bộ y tế nước sạch là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp đồng thời có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y tế ban hành [4] Tuy nhiên việc áp dụng các tiêu chuẩn này trong việc sử dụng nước sinh hoạt ở nhiều địa phương trên cả nước còn nhiều hạn chế, nhiều vùng miền còn sử dụng nguồn nước chưa qua xử lý và không đảm bảo vệ sinh, đặc biệt là vùng núi phía bắc nước ta Vấn đề không đảm bảo nước sạch,

vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường yếu kém có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của người dân, đặc biệt là sự phát triển và tương lai của trẻ em Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch [24]

Kết quả báo cáo Quốc gia kết quả 15 năm thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ở Việt Nam cho thấy việc tiếp cận nước sạch và điều kiện vệ sinh cơ bản có nhiều chuyển biến tích cực: Chương trình mục tiêu quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 Chương trình hướng tới mục tiêu: 85% người dân ở nông thôn sử dụng nước sạch Để đạt được mục tiêu trong giai đoạn này, Việt Nam đã có các tiến bộ đều đặn đến cuối năm 2013, tỷ lệ người dân ở nông thôn sử dụng nước sạch là 82,5% tăng từ 65% (2005) và 80% (2010) So sánh giữa các vùng, Bắc Trung

Bộ và Tây Nguyên là những vùng có tỷ lệ dân sử dụng nước sạch thấp nhất (lần lượt là 73% và 77%) [8]

Tại vùng nông thôn Việt Nam chỉ có 11,7% người dân được cung cấp nước máy, 33,1% sử dụng nước giếng khoan, 31,2% sử dụng giếng đào còn lại 20,3% là sử dụng nguồn nước khác bao gồm nước mưa, nước đầu nguồn,

Trang 26

nước suối, ao, hồ Trong khi đó chỉ có 40% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do Bộ Y tế ban hành, còn lại phần lớn các gia đình nông thôn thường sử dụng các nguồn nước khác mà không được xử

lý gì Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái vùng Đông nam bộ có tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%, cao hơn trung bình cả nước 10%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên 72% (Bộ Y tế 2011) [7]

Theo nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn về vệ sinh môi trường của Người Dao tại một số xã đặc biệt khó khắn ở Thái Nguyên chỉ ra rằng chỉ có 46,3% người dân sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, nguồn nước chủ yếu là giếng đào chiếm 41,9% [23]

Theo nghiên cứu của Lê Hoài Thu ở Đồng Kỳ huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang cũng cho thấy với giếng đào chỉ có tỷ lệ 32,4% là nguồn nước hợp vệ

sinh [26]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2011), cấp nước sinh hoạt vùng núi cao Hà Giang, thực trạng và một số điều quan tâm giải quyết cũng cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh còn thấp chiếm 33,1%, năm 2013 là 42% - 56% [16]

Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm

2006 của Tổng cục thống kê thì cả nước có 8,28% số hộ dùng nước máy để nấu ăn (trong đó xã miền núi là 3,03% số hộ, xã vùng cao là 2,60%) Tỷ lệ hộ dùng các loại nước giếng đã qua xử lý tương ứng là 6,87% và 1,08% [22] Hiện nay ở nước ta có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi

cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao

Theo luật tài nguyên nước của Việt Nam quy định: “Ô nhiễm nguồn

nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây

Trang 27

ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Tuy nhiên, trong môi trường sống

của chúng ta có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm môi trường nước, nguồn ô nhiễm này có thể ở là tự nhiên nhưng phần lớn nguồn gây ô nhiễm là nhân tạo, do hoạt động sống, hoạt động sản xuất do con người tạo ra và gây ảnh hưởng đến sử dụng nước tại các hộ gia đình, nguồn gây ô nhiễm môi trường

nước gồm [2]

* Nguồn nước thải trong sinh hoạt, bệnh viện

Nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan… chứa nhiều chất hữu cơ không bền, chất rắn và nhiều vi trùng; hàm lượng chất ô nhiễm thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh hoạt, sinh thái của từng vùng Bên cạnh đó, nước thải sinh hoạt còn chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy (có nguồn gốc từ các chất tẩy rửa…) chưa qua xử lý thải trực tiếp ra sông, hồ, biển sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thời làm tăng sinh và phát triển các loại vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn gây bệnh (tả, lỵ, thương hàn…) ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người

* Nguồn nước thải trong công nghiệp

Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải… không có đặc điểm chung mà tùy vào đặc điểm của từng ngành sản xuất như nước thải từ các cơ sở chế biến đường, sữa, thịt, tôm, cá, bia, nước ngọt… chứa nhiều chất hữu cơ; nước thải từ xí nghiệp thuộc da ngoài chất hữu cơ còn có kim loại nặng, sulfua

* Nguồn nước thải trong nông lâm nghiệp, chăn nuôi sản xuất:

Nước thải trong nông lâm nghiệp chứa nhiều hóa chất bảo vệ thực vật…; nước thải trong chăn nuôi sản xuất chứa nhiều vi sinh vật và chất hữu cơ…

* Nguồn nước mưa (mang theo chất ô nhiễm trong không khí và đất)

Các nguồn gây ô nhiễm làm cho chất lượng nguồn nước sinh hoạt không được đảm bảo, các kết quả xét nghiệm lý học, hóa học và sinh học cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép

Trang 28

Nghiên cứu của Đồng Kim Loan và Trịnh Thị Thanh (2009) thì trong

với nồng độ lớn hơn 0,7mg/l Giá trị pH biến đổi rộng trong khoảng từ 1,8 - 11 và thường dao động trong khoảng từ 5 - 8

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phước và cộng sự (2008) tại Hóc Môn cho thấy chất lượng nước ngầm bị ô nhiễm Fe với hàm lượng là 9mg/l cao hơn nhiều so với QCVN 09:2008/BTNMT là 5 mg/l

Nghiên cứu của Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Công Hào (2010) cho

hàm lượng 8,2mg/l

Tại thành phố Cần Thơ, kết quả quan trắc môi trường giai đoạn từ 2005

-2009 cho thấy chất lượng nước ngầm bị ô nhiễm ở các chỉ tiêu như: Độ cứng, Cl- (Clorua) và Coliform (so với QCVN 09:2008/BTNMT) với hàm lượng trung bình trong năm 2009 lần lượt là: 268mg/l, 225mg/l, 1.442 MPN/100ml Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Triệu (2008) cũng kết luận nước ngầm tại

ĐBSCL cho thấy hầu hết các mẫu quan trắc đều phát hiện có As

Theo nghiên cứu của Ngô Thị Nhu (2008), nghiên cứu một số yếu tố chất lượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng Thái Bình Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp đã cho kết quả: Chỉ có 36,1% mẫu nước giếng khoan và 7,2% số mẫu giếng khơi đạt tiêu chuẩn vệ sinh chất hữu cơ 57,8% giếng khoan và 31,1% giếng khơi đạt tiêu chuẩn Amoni 46,1% giếng khoan và 30,6% giếng khơi đạt tiêu chuẩn vệ sinh Coliform 14,4% giếng khoan và 3,9% giếng khơi đạt tiêu chuẩn Fecal Coliform Có 30,6% mẫu nước giếng khoan và 29,4% mẫu nước giếng khơi không đạt tiêu chuẩn vệ sinh asen [17]

Trang 29

Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hồ Vân, Nguyễn Thị Tuyến, đánh

giá chất lượng nước tại khu vực trường Đại học Y Hà Nội cho thấy có tới 50%

mẫu nước xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn về Coliform và 94,3% không đạt

tiêu chuẩn về Fecal Coliform, tác giả đã khẳng định rằng nguồn nước bị ô

nhiễm ngay tại khu vực sử dụng có thể là do bể chứa nước không được vệ

sinh và liên quan đến chất thải được thải ra từ các khu vực xung quanh nguồn

nước [30]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân tại các hộ gia đình thuộc xã Minh

Quang Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, cho thấy các mẫu nước xét nghiệm đều nằm

trong giới hạn cho phép về lý học Tuy nhiên các về mặt sinh học thì tất cả

các mẫu nước xét nghiệm đều có chỉ số Coliform tổng số cao hơn tiêu chuẩn

cho phép từ 4 đến 5 lần [32]

Từ năm 2003 đến 2005, chương trình UNICEF đã khảo sát nồng độ

Arsen trong các giếng khoan ở 4 tỉnh ĐBSCL cho thấy nguồn nước giếng

khoan của các tỉnh vùng đầu nguồn sông Cửu Long như An Giang, Đồng

Tháp đều bị nhiễm Arsen rất cao, tỷ lệ các giếng có nồng độ Arsen từ 10 ppb

đến 50ppb (Nguyễn Khắc Hải, 2006) Ở ĐBSCL, nồng độ As cao trên 10ppb

chủ yếu tập trung vùng ven sông Tiền, sông Hậu và Đồng Tháp Mười

(Gordon Stanger et al, 2005) Tại An Giang, trong số 2.966 mẫu nghiên cứu

có 40% số giếng bị nhiễm trên 50ppb, 16%nhiễm dưới 50ppb Tại Long An

trong số 4.876 mẫu nước ngầm có 56% mẫu nhiễm Arsen, tại Đồng Tháp

trong 2.960 mẫu nước ngầm có 67% nhiễm Arsen, trong đó huyện Thanh Bình nhiễm Arsen 85% mẫu thử có hàm lượng trên 50 ppb, Kiên

Giang 3.000 mẫu khảo sát có 51% nhiễm Arsen (UNICEF và Viện Vệ sinh y

tế công cộng, 2006)

Nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt bị ô nhiễm gây nhiều hậu quả

nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, các bệnh tật của con người đa số

liên quan đến nguồn nước mà chúng ta dùng Năm 1990, Tổ chức Y tế Thế

Trang 30

giới (WHO) đã cho biết 80% các bệnh tật của con người có liên quan đến nguồn nước, với số giường bệnh bằng ½ tổng số giường bệnh tại bệnh viện Các bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm thường phổ biến, khó

chống chế hoặc thanh toán Các bệnh liên quan đến nước thường gặp là: [2]

- Bệnh đường ruột do vi khuẩn trong nước ô nhiễm: Vi khuẩn đường ruột vào cơ thể con người từ nguồn nước ô nhiễm thông qua con đường ăn uống, chế biến thực phẩm như:

- Bệnh do giun sán: Bệnh sán lá gan, sán lá ruột, sán máng, sán lá phổi

- Bệnh do côn trùng có liên quan đến nước:

+ Bệnh sốt rét

+ Bệnh sốt xuất huyết (do muỗi vằn Aedes aegypti truyền bệnh)

+ Bệnh giun chỉ (do muỗi tulex pipiens sống trong ao tù nước đọng bẩn)

- Các bệnh da, mắt, cháy, rận : Bệnh mắt hột, bệnh viêm màng tiếp hợp, ghẻ lở, hắc lào, chàm, nấm da, cháy, rận Lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành do thiếu nước sinh hoạt vệ sinh hàng ngày hay dùng nước không sạch

- Các bệnh do thiếu vi chất trong nước:

+ Bệnh bướu cổ địa phương (do một số nơi thiếu Iốt trong nước kéo dài) + Bệnh sâu răng (do thiếu Fluor), hoen ố răng và tổn thương xương (do thừa Fluor trong nước uống kéo dài)

- Bệnh do các độc chất trong nước:

Trang 31

+ Bệnh methemoglobin (MetHb) do Nitrat chuyển thành Nitrit kết hợp với Hb ngăn cản sự vận chuyển oxy đến các mô

+ Nitrit còn có thể tác dụng với các acid amin tạo thành Nitrosamin là chất có khả năng gây ung thư

+ Một số chất hữu cơ tổng hợp (nhân thơm, benzen vòng ), thạch tín có khả năng gây ung thư cao

+ Các chất phóng xạ, chì, đồng, thủy ngân có trong nước khi vượt quá ngưỡng an toàn sẽ gây ngộ độc rất trầm trọng

1.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt

Để đánh giá vệ sinh nguồn nước tại cộng đồng và các yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt, tại tuyến cơ sở hiện nay đang áp dụng

“Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ ô nhiễm nguồn nước hộ gia đình theo Thông tư

50/2015/TT-BYT” [6]

* Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt như:

 Đối với nguồn nước giếng đào:

- Khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu gần nhất < 10m

- Khoảng cách từ giếng tới bãi rác gần nhất < 10m

- Khoảng cách từ giếng tới chuồng gia súc gần nhất < 10m

- Thiếu nắp đậy giếng

- Thành giếng cao < 0,8m so với nền giếng

- Vách giếng bị hở, bị nứt

- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt hoặc hẹp hơn 1m tính từ vách giếng

- Thiếu rãnh thoát nước thải hoặc điểm đổ nước thải < 10 m

- Dụng cụ lấy nước bị bẩn hoặc được đặt trên nền giếng

 Đối với nguồn nước giếng khoan

* Giếng khoan có độ sâu mực nước từ 25m trở lên:

- Cổ giếng bị nứt, hở hoặc rò rỉ

Trang 32

- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt, vỡ

- Dụng cụ bơm nước bị bẩn hoặc hư hỏng

* Giếng khoan có độ sâu mực nước dưới 25m:

- Cổ giếng bị nứt, hở hoặc rò rỉ

- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt, vỡ

- Dụng cụ bơm nước bị bẩn hoặc hư hỏng

- Khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu gần nhất < 10m

- Khoảng cách từ giếng tới bãi rác gần nhất < 10m

- Khoảng cách từ giếng tới chuồng gia súc gần nhất < 10m

- Thiếu rãnh thoát nước thải hoặc điểm đổ nước thải < 10m

* Ngoài các tiêu chuẩn để đánh giá nguy cơ ô nhiễm chất lượng nguồn nước sinh hoạt, yếu tố con người có một vai trò rất quan trọng liên quan đến thực trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt:

- Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình

học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người có thể thu được kiến thức từ thày cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp Các kiến thức về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao sức khỏe là điều kiện cần thiết

để mọi người có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh [10]

- Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng với

những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể Thái độ phản ánh những điều người

ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh [10]

- Hành vi của con người là một hành động, hay là tập hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan Ví dụ các yếu tố

Trang 33

tác động đến hành vi của con người như: phong tục tập quán, thói quen, yếu

tố di truyền, văn hoá - xã hội, kinh tế - chính trị

Theo nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn năm 2009, nghiên cứu 415 hộ gia đình người dân ở bốn xã của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cho thấy thực trạng kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh môi trường còn thấp vê kiến thức tốt chiếm 3,4%, thái độ tốt chiếm 34,4%, thực hành tốt chiếm 12,5% Tỷ lệ kiến thức tốt của người dân còn rất thấp, tuy hầu hết đều kể tên được nguồn nước sạch, tuy nhiên tỷ lệ nêu được các bệnh do nguồn nước không sạch gây

ra thấp (33,2 %) Cũng theo nghiên cứu đó, cho thấy số đối tượng kể được đúng tên hai bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch trở lên là 33,2%, kiến thức chung của đối tượng về nguồn nước xếp loại tốt chỉ có 11,3%, trung bình là 24,3% và yếu là 64,3% Về thái độ chung của đối tượng nghiên cứu, xếp loại tốt cao hơn là 38,3%, trung bình 59% và yếu 2,7% Về thực hành của đối tượng nghiên cứu, thực hành tốt về nguồn nước cao hơn 21,7%, trung bình 49,4% và yếu 28,9% [19] Cũng theo nghiên cứu của tác giả (2013), tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, có đến 58,3% người dân tộc Nùng có kiến thức yếu về nguồn nước hợp vệ sinh, và chỉ có 26,3% có kiến thức khá [21]

Theo nghiên cứu của Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn, Đào Văn Dũng (2010) về thực trạng sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh môi trường của phụ nữ (15-49 tuổi) có con dưới

5 tuổi tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên đã cho kết quả: thái độ đồng ý với việc sử dụng nguồn nước sạch có thể phòng được bệnh tiêu hóa là 50,7%, phòng được bệnh mắt hột là 61,1% và phòng được bệnh ghẻ, lở, hắc lào là 40,9% [31]

Nghiên cứu của Dương Xuân Hùng về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về VSMT ở hai xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên cho thấy: số đối tượng kể được đúng tên các bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch chỉ

Trang 34

có 36,07%, kiến thức chung của đối tượng về nguồn nước xếp loại tốt là 30,68%, trung bình là 44,5% và yếu là 24,82% Về thái độ chung của đối tượng nghiên cứu, xếp loại tốt chỉ có 17,56%, trung bình 53,16% và yếu 29,28% Về thực hành của đối tượng nghiên cứu, thực hành tốt về nguồn nước chỉ có 16,86%, trung bình 57,61% và yếu 25,53% [14]

Cũng theo nghiên cứu của Lê Hoài Thu (2015) về thực trạng nguồn nước sinh hoạt và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng ô nhiễm nguồn nước tại xã Đồng Kỳ huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang cho thấy kiến thức tốt của người dân về phòng chống ô nhiễm nước chỉ chiếm 16,5%, kiến thức trung bình chiếm 57%, trong khi đó kiến thức kém chiếm tới 26,5% [26]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Khánh Linh (2007) về thực trạng các công trình vệ sinh của người dân ở xã La Hiên huyện Võ Nhai trong phong trào xây dựng làng văn hóa - sức khỏe, cho thấy chỉ có 67,79% nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh, tác giả chỉ ra rằng nguồn nước không sạch do nhiều nguyên nhân: Chất thải của người và động vật, giếng gần hố xí, gần chuồng gia súc, giếng không có thành và không có rãnh, các công trình vệ sinh của đồng bào miền núi là một vấn đề nghiêm trọng, ngày càng đe dọa đến cuộc sống của họ do thiếu kiến thức về vệ sinh môi trường nước sạch [15]

Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng tại Hợp Tiến, Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên cũng chỉ ra rằng thực hành vệ sinh môi trường của người Dao còn thấp, nguyên nhân là do kiến thức, thái độ, thực hành của người dân còn chưa cao, cụ thể là: Kiến thức tốt chiếm 19,13%, thái độ tốt chiếm 15,85% và thực hành tốt chiếm 10,93% [25]

Bên cạnh đó cán bộ y tế: Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt và đảm bảo chất lượng nguồn nước khi sử dụng

đó là đội ngũ cán bộ y tế, do vậy cần phát huy vai trò của đội ngũ y tế thôn, bản, Trạm y tế xã cần làm tốt việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện

vệ sinh môi trường, ăn uống hợp vệ sinh, nâng cao ý thức phòng chống dịch

Trang 35

bệnh Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế cần được quan tâm thực hiện tốt nhằm đảm bảo mọi đối tượng đều được chăm sóc về sức khỏe

Sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể về vệ sinh môi trường: Vấn đề nâng cao nhận thức cho cộng đồng và giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường bằng tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ, nâng cao kiến thức và thái

độ của người dân về vệ sinh môi trường là hết sức cần thiết Khi thực hiện cần lồng ghép nhiều chương trình, nhiều ban ngành và nhiều giải pháp ở các mức

độ thích hợp khác nhau, trong đó xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường và tập hợp, sử dụng được tiềm năng của các cơ quan khoa học đóng trên địa bàn mới là nội lực quan trọng để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường số hiện nay cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt các dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Có như vậy mới mong rằng hành vi vệ sinh về môi trường của người dân mới được cải thiện và nâng cao Nếu cán bộ y tế xã, y tế thôn bản, vệ sinh viên chưa được tập huấn đầy đủ, chưa nắm vững kiến thức, chưa có đủ kỹ năng truyền thông về vệ sinh môi trường Vai trò của các già làng, trưởng bản, những cá nhân có uy tín, lãnh đạo cộng động chưa được phát huy, chưa khai thác được những mặt mạnh của các phong tục truyền thống tốt đẹp trong nhân dân nhưng hương ước bản làng, quy định dòng họ thì đây là những khó khăn, cản trở việc thực hiện các biện pháp can thiệp giải quyết ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức, thái độ và thực hành về vệ sinh môi

trường của người dân

* Nguồn lực: Để thực hành các hành vi nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật, cộng đồng hay cá nhân cần có các điều kiện nhất định về nguồn lực Nguồn lực cho thực hiện hành vi bao gồm các yếu tố như thời gian, nhân lực, tiền, cơ sở vật chất trang thiết bị Nhiều cá nhân có đủ kiến thức, họ hiểu rất

rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ nhưng vì thiếu các điều kiện nguồn lực nên họ không thực hiện được hành vi mong muốn [11], [12]

Trang 36

- Thời gian: Thời gian là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

hành vi của con người Có những hành vi cần có thời gian để thực hành hoặc

để thay đổi [11], [12]

- Nhân lực: Nhân lực đôi khi ảnh hưởng lớn đến hành vi sức khỏe của cộng đồng Nếu một cộng đồng nào đó có thể huy động nguồn nhân lực thì việc tổ chức các hoạt động lao động phúc lợi cho cộng đồng sẽ được thực hiện dễ dàng Ví dụ như huy động nhân lực tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm, cải tạo các nguồn cung cấp nước, xây dựng công trình vệ sinh công cộng Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe rất cần nguồn nhân lực

từ cộng đồng tham gia để tạo nên phong trào tác động đến thay đổi hành vi sức khỏe [11], [12]

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Cơ sở vật chất trang thiết bị là các điều

kiện cần thiết hỗ trợ cho thay đổi một số hành vi sức khỏe [11], [12]

* Yếu tố văn hóa: Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi con người, các yếu tố này có thể rất khác nhau giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Văn hoá là tổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm kiến thức, niềm tin, phong tục tập quán, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và tất cả những năng lực mà con người thu được trong cuộc sống Đồng thời môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức khỏe con người, sự khác biệt về kinh tế xã hội giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển dẫn tới sự thay đổi mô hình bệnh tật cũng như tuổi thọ của con người [11], [12], [29] Thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với lãnh đạo trong cộng đồng, cán bộ y tế, già làng người có vai trò trong cộng đồng để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng sử dụng và các yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nguồn nước giếng đào dùng trong sinh hoạt của các hộ gia đình

- Cán bộ y tế xã, người có uy tín trong cộng đồng, người dân, nhân viên

Y tế thôn bản

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 5/2016 đến tháng 4/2017

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

huyện và có quốc lộ 1B chạy qua Xã gồm có 16 xóm (Trúc Mai, Làng Lai, Hiên Bình, xóm Phố, Cây Bòng, Cây Thị, Khuôn Ngục, Làng Giai, La Đồng, Xuân Hòa, Đồng Đình, Hiên Minh, Hang Hon, Làng Kèn, Khuôn Vạc, Đồng Dong) Người dân sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhờ trồng cây ăn quả, trồng lúa và kinh doanh buôn bán Trong xã gồm nhiều thành phần dân tộc sống xen kẽ lẫn nhau chủ yếu là dân tộc Kinh, Nùng, Tày, Mông vẫn còn tồn tại nhiều thói quen sinh hoạt, canh tác nông nghiệp ảnh hưởng xấu đến môi trường nước và sức khỏe của người dân trong cộng đồng Số hộ gia đình trong xã là 2135 hộ Nguồn nước được người dân dùng chủ yếu trong sinh hoạt là nguồn nước giếng đào, nguồn nước giếng đào nơi đây còn tồn tại nhiều yếu tố nguy cơ ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân khi

sử dụng

Trang 38

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi trường

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang

Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính

2.2.1 Nghiên cứu định lượng

2.2.1.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng

* Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nước tại các hộ gia đình

- Cỡ mẫu xét nghiêm nước sinh hoạt

Trang 39

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu xét nghiệm: [10]

 

2 2

Thay vào công thức ta có n = 42,5

Số mẫu nước cần lấy là 45 mẫu/chỉ số

Xét nghiệm 09 chỉ số, tổng số mẫu nước cần lấy là 45 mẫu x 09 chỉ số = 405 chỉ số Thực tế số mẫu nước xét nghiệm là 50 mẫu x 09 chỉ số = 450 chỉ số

2.2.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng

- Chọn quần thể nghiên cứu: Chọn chủ đích huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

- Chọn xã nghiên cứu: Chọn chủ đích xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh

Thái Nguyên

- Cách chọn mẫu

* Chọn mẫu xét nghiệm: Chọn số hộ xét nghiệm đánh giá chất lượng

nguồn nước sinh hoạt bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

+ Tại mỗi xóm lập danh sách tất cả các hộ gia đình đang sử dụng nguồn nước giếng đào

+ Chọn các hộ gia đình xét nghiệm chỉ số trong nước theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, cho đủ cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2 Nghiên cứu định tính

Chọn mẫu chủ đích Cụ thể như sau:

- Phỏng vấn sâu cán bộ y tế xã La Hiên: 1 cuộc

Trang 40

- Phỏng vấn sâu 4 người có uy tín trong cộng đồng có hiểu biết tại địa phương để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt

- Thảo luận nhóm hộ gia đình: Chọn 10 người trong các hộ gia đình được điều tra: 1 cuộc

- Thảo luận nhóm y tế thôn bản của các xóm có các hộ gia đình được điều tra: Chọn 10 người

Tổng cộng 2 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm theo các nhóm đối tượng

2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1 Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình

- Các chỉ số lý học:

+ Màu, mùi vị trong nước giếng đào

+ Độ trong của nước giếng đào

+ Tỷ lệ các mẫu nước xét nghiệm có chỉ số lý học cao hơn TCCP

- Các chỉ số hoá học:

+ Hàm lượng độ cứng của nước sinh hoạt (độ Đức)

+ Tỷ lệ các mẫu nước xét nghiệm có chỉ số hoá học cao hơn TCCP

- Các chỉ số vi sinh:

+ Số lượng Coliform trong các mẫu nước giếng đào

+ Số lượng Fecal Coliform trong các mẫu nước giếng đào

+ Tỷ lệ Coliform trong các mẫu nước xét nghiệm cao hơn TCCP

+ Tỷ lệ Fecal Coliform trong các mẫu nước xét nghiệm cao hơn TCCP

Ngày đăng: 21/12/2017, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn SKMT-SKNN (2014), Bài giảng sức khỏe môi trường sức khỏe nghề nghiệp, trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sức khỏe môi trường sức khỏe nghề nghiệp
Tác giả: Bộ môn SKMT-SKNN
Năm: 2014
2. Bộ môn SKMT-SKNN (2017), Bài giảng sức khỏe môi trường và thảm họa, trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên. NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sức khỏe môi trường và thảm họa
Tác giả: Bộ môn SKMT-SKNN
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2017
4. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 09/2005/QĐ- BYT ngày 11/3/2005, của Bộ trưởng Bộ Y tế vế việc ban hành “tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2005/QĐ- BYT ngày 11/3/2005, của Bộ trưởng Bộ Y tế vế việc ban hành “tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
5. Bộ Y tế (2012), Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh nước và không khí, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh nước và không khí
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
6. Bộ Y tế (2015), Thông tư số 50/2015/TT-BYT Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 50/2015/TT-BYT Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
7. Bộ Y tế UNICEF (2011), Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt
Tác giả: Bộ Y tế UNICEF
Năm: 2011
9. Giáo trình Sức khỏe - Nâng cao sức khỏe môi trường và chăm sóc sức khỏe ban đầu, Trường Cao đẳng y tế Thái Nguyên (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sức khỏe - Nâng cao sức khỏe môi trường và chăm sóc sức khỏe ban đầu
11. Đàm Khải Hoàn và CS (2014), Giáo trình truyền thông - giáo dục sức khoẻ. Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền thông - giáo dục sức khoẻ
Tác giả: Đàm Khải Hoàn và CS
Năm: 2014
12. Đàm Khải Hoàn và Cs (2015), Giáo trình Khoa học hành vi và giáo dục nâng cao sức khỏe. Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học hành vi và giáo dục nâng cao sức khỏe
Tác giả: Đàm Khải Hoàn và Cs
Năm: 2015
14. Dương Xuân Hùng (2008), Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường ở hai xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ Y học, Đại học Y - Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường ở hai xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên
Tác giả: Dương Xuân Hùng
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Khánh Linh (2007), Thực trạng các công trình vệ sinh của người dân xã La Hiên, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên trong phong trào xây dựng làng văn hoá sức khoẻ, Khoá luận tốt nghiệp bác sỹ đa khoa Đại học Dược - Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các công trình vệ sinh của người dân xã La Hiên, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên trong phong trào xây dựng làng văn hoá sức khoẻ
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Linh
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Nguyệt (2011), “Cấp nước sinh hoạt vùng núi cao Hà Giang, thực trạng và một số điều quan tâm giải quyết”, Tạp chí khoa học công nghệ và thủy lợi số 15 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp nước sinh hoạt vùng núi cao Hà Giang, thực trạng và một số điều quan tâm giải quyết”
Tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt
Năm: 2011
17. Ngô Thị Nhu (2008), Nghiên cứu một số yếu tố chất lượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng Thái Bình. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp, Luận án Tiến sĩ Dịch tế Y học, Học viện quân y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố chất lượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng Thái Bình. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp
Tác giả: Ngô Thị Nhu
Năm: 2008
19. Hoàng Thái Sơn (2009), Thực trạng kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh Môi trường của người dân huyện phổ yên, tỉnh Thái Nguyên năm 2009. Luận văn thạc sĩ Y học - Trường Đại học Y- Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh Môi trường của người dân huyện phổ yên, tỉnh Thái Nguyên năm 2009
Tác giả: Hoàng Thái Sơn
Năm: 2009
21. Nguyễn Đức Toàn (2013), thực trạng công trình vệ sinh của các hộ gia đình người Nùng ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên và yếu tố liên quan, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: thực trạng công trình vệ sinh của các hộ gia đình người Nùng ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên và yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Đức Toàn
Năm: 2013
22. Tổng cục thông kê (2007), Kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2006
Tác giả: Tổng cục thông kê
Năm: 2007
33. Vi Oanh (2014), Phân biệt nước sạch và nước hợp vệ sinh, các bệnh liên quan đến nước, http://baoquangninh.com.vn/doi-song/suc-khoe/201412/phan-biet- nuoc-sach-va-nuoc-hop-ve-sinh-cac-benh-lien-quan-den-nuoc-2254049/. Truy cập ngày 15/8/2017 Link
34. Vân Khánh (2017), Triển khai Chương trình mục tiêu quố c gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, http://baodansinh.vn/muc-tieu- nam-2017-giam-1--15-ty-le-ho-ngheo-ca-nuoc-d50544.html. Truy cập 27/4/2017 02:46:28 PM Link
35. Vân Ly (2015), Nước là sự sống của con người, http://www.quangngai. gov.vn/vi/cat/Pages/details.aspx?s=newsdetailsarchive&amp;ID=10161. Truy cập ngày 15/8/2017 Link
52. World Water Council, Water Supply and Sanitation (2005) (cited; Available from http://www.worldwatercouncil.org/index.php?id=23 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w