Chẳng hạn như Nguyễn Công Phương & cộng sự [9] khảo sát thực trạng về CBTT trong BCTC và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN niêm yết trên Sở giao dịch
Trang 1CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Ngư ư ng ẫn o ọ : TS NGUYỄN HỮU CƯỜNG
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả phương án nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê T ị Bảo Ngọ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 10
1.1 KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 10
1.2 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 11
1.2.1 Công bố thông tin theo quy định của chuẩn mực kế toán 11
1.2.2 Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính 12
1.2.3 Công bố thông tin đối với doanh nghiệp niêm yết 12
1.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13
1.3.1 Đo lường bằng thang đo không trọng số 13
1.3.2 Đo lường bằng thang đo có trọng số 14
1.4 LÝ THUYẾT NỀN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 14
1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 15
1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 16
1.4.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) 17
1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory) 18
1.4.5 Lý thuyết kinh tế thông tin (Information Economic Theory) 19
Trang 51.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
TIN 20
1.5.1 Quy mô doanh nghiệp 20
1.5.2 Khả năng sinh lời 21
1.5.3 Tỷ suất nợ 22
1.5.4 Khả năng thanh toán 22
1.5.5 Tài sản cố định 23
1.5.6 Đặc điểm của hội đồng quản trị 24
1.5.7 Thời gian niêm yết của doanh nghiệp 25
1.5.8 Chủ thể kiểm toán 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 28
2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM 28
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 29
2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 30
2.3.2 Khả năng sinh lời 31
2.3.3 Tỷ suất nợ 31
2.3.4 Khả năng thanh toán 32
2.3.5 Tài sản cố định 32
2.3.6 Đặc điểm của hội đồng quản trị 33
2.3.7 Thời gian niêm yết của doanh nghiệp 34
2.3.8 Chủ thể kiểm toán 35
2.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 36
2.5 MẪU NGHIÊN CỨU 38
2.6 ĐO LƯỜNG BIẾN PHỤ THUỘC 39
Trang 62.6.1 Lựa chọn các chỉ mục thông tin công bố trong báo cáo tài chính
39
2.6.2 Đo lường chỉ số công bố thông tin 41
2.7 ĐO LƯỜNG BIẾN ĐỘC LẬP 41
2.8 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG 45 3.1.1 Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin 45
3.1.2 Đánh giá mức độ công bố thông tin 49
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG 51
3.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 51
3.2.3 Kiểm định phân phối chuẩn 58
3.2.4 Kết quả hồi quy và kiểm định mô hình 59
3.2.5 Đánh giá kết quả nghiên cứu 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 70
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 70
4.1.1 Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán 70
4.1.2 Đối với nhà đầu tư 71
4.1.3 Đối với các nhà xây dựng chính sách 72
4.1.4 Đối với thị trường chứng khoán 74
4.2 KẾT LUẬN 76
Trang 74.2.1 Kết quả đạt đƣợc 76
4.2.2 Hạn chế của đề tài 77
KẾT LUẬN 79
PHỤ LỤC 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC : Báo cáo tài chính
CBTT : Công bố thông tin
CIFAR : Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính
ROA : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
TTCK : Thị trường chứng khoán
VAA : Hiệp hội kế toán kiểm toán Việt Nam
VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam VAS : Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 93.1 Bảng thống kê mô tả biến chỉ số CBTT của các DN
ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam 46
3.2
Bảng thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin và
kiểm điểm t-test của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm
yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK
Hà Nội
47
3.3 Bảng thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin của
các DN niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh 49
3.4 Bảng thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin của các
3.5 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập định tính 52 3.6 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập định lượng 53
3.7
Bảng phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình
1(Biến phụ thuộc được tính theo mức độ CBTT bắt
buộc)
55
3.8
Bảng phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình
2 (Biến phụ thuộc được tính theo mức độ CBTT tự
nguyện)
56
3.9 Bảng phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình
3 (Biến phụ thuộc được tính theo mức độ CBTT chung) 57
Trang 10Số hiệu
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết củ đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, và trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Ở đó, thông tin là một yếu tố quan trọng đối với quyết định của các nhà đầu tư Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán thì việc công bố thông tin (CBTT) ngày càng được hoàn thiện nhờ vào những thay đổi kịp thời và phù hợp hơn của các chính sách từ phía các cơ quan quản lý Tuy nhiên, thông tin trên TTCK nói chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường
CBTT nói chung cũng như CBTT trong báo cáo tài chính (BCTC) nói riêng của các doanh nghiệp (DN) niêm yết là một chủ đề từ lâu đã được các nhà nghiên cứu và học thuật trên thế giới quan tâm Điều này có lẽ là do những thông tin này không chỉ có tính hữu ích đối với cá nhân từng người sử dụng mà còn cả đối với toàn xã hội Ở Việt Nam, CBTT của các DN niêm yết cũng là một chủ đề có tính thời sự trong những năm gần đây và ngày càng nhận được sự quan tâm của các cơ quan nhà nước cũng như các nhà nghiên cứu Việc công bố thiếu thông tin của các DN niêm yết được xem là một trong những nguyên nhân gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư, gây bất ổn cho sự phát triển của TTCK nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Thực trạng này dẫn đến Nhà nước đã và đang đưa ra những quy định theo chiều hướng ngày càng chặt chẽ hơn về việc trình bày và CBTT của các DN niêm yết Chính vì điều đó, cần thiết phải có các nghiên cứu cụ thể ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau nhằm đánh giá đúng về thực tế CBTT của các DN niêm yết, về tính hữu hiệu của các chính sách về CBTT để làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định về CBTT và góp phần thúc đẩy TTCK hoạt động ngày một lành mạnh hơn
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, chủ đề về CBTT đã và đang dành
Trang 12được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Chẳng hạn như Nguyễn Công Phương & cộng sự [9] khảo sát thực trạng về CBTT trong BCTC và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh; hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Hưởng [11] về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại SGDCK thành phố Hồ Chí Minh, v.v Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng CBTT của DN niêm yết trên TTCK và kiểm chứng ảnh hưởng của nhân tố thuộc về đặc điểm tài chính của DN đến mức
độ CBTT, nhưng hầu như lại chưa chú ý nhiều đến việc khảo sát mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố thuộc về quản trị DN Một điểm đáng lưu ý nữa, trong thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu tiến hành khảo sát mức độ CBTT và các nhân tố ảnh hưởng của các DN niêm yết trên TTCK Việt Nam thuộc một ngành nhất định Mặc dù vậy, theo sự hiểu của tác giả thì cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng
Trong khi đó, ngành hàng tiêu dùng là một trong số ít những ngành có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh khá ổn định và tăng trưởng vững chắc bất chấp sự chao đảo của nền kinh tế trong những năm gần đây [13] Một trong những nguyên nhân có thể là do hàng tiêu dùng được xem như là nhu yếu phẩm hàng ngày của con người Vì vậy, sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người ngày càng được cải thiện đã thúc đẩy ngành hàng tiêu dùng ở Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ Ngoài ra, ngành hàng tiêu dùng lại là một trong những ngành có số lượng DN niêm yết trên TTCK khá nhiều (trên 100 DN) Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành này có ý nghĩa không những đối với các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định đầu tư đúng
Trang 13đắn mà còn đối với cơ quan quản lý nhà nước trên phương diện xây dựng và hoàn thiện những chính sách phù hợp nhằm xây dựng một TTCK ngày càng
ổn định và phát triển hơn
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện luận văn tốt nghiệp này
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng thông tin được công bố đối với các DN ngành này
3 Đố tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về CBTT trong BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Thông tin được công bố trong BCTC năm 2015
đã được kiểm toán của tất cả các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
4 P ương p áp ng ên ứu
Luận văn đã vận dụng phương pháp phân tích nội dung để đo lường mức độ CBTT và phương pháp phân tích hồi quy để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT:
- Mức độ CBTT được đo lường bởi chỉ số CBTT bao gồm các chỉ mục thông tin phải (hoặc nên) được quy định trong Thông tư 200/2014/TT-BTC
Trang 14và các chuẩn mực kế toán Việt Nam có liên quan về CBTT trên BCTC năm
- Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT được kiểm chứng thông qua phân tích hồi quy bằng mô hình hồi quy (kết hợp tất cả các quan sát – Pooled Ordinary List Squares)
5 Bố cụ đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành bốn chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CBTT của các DN từ lâu đã là một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, trước hết là ở các nước phát triển và sau đó là các nước đang phát triển như là Việt Nam Do vậy, các công trình nghiên cứu về chủ đề này là rất nhiều và chúng được thực hiện trong những phạm vi khác nhau về thời gian và không gian Mặc dù các nghiên cứu trong lĩnh vực này phong phú như vậy nhưng có thể tóm tắt được những vấn đề thường được đặt
ra và khảo sát trong các nghiên cứu về CBTT gồm: i) loại thông tin được công
bố và mức độ CBTT của các DN (niêm yết), ii) sự lựa chọn của các DN trong việc công bố những thông tin có lợi (và ngược lại là che giấu những thông tin bất lợi), và iii) mức độ hài lòng (lợi ích) của thông tin được công bố đối với người sử dụng thông tin, trong đó đặc biệt là các nhà đầu tư
Trang 15Về vấn đề loại thông tin được công bố, các nghiên cứu về CBTT khảo sát cả thông tin công bố bắt buộc, thông tin công bố tự nguyện, hay thông tin công bố tùy ý (ở các mức độ chi tiết khác nhau) CBTT bắt buộc là việc DN phải công bố những thông tin theo quy định của luật pháp, các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan Mặc dù về lý thuyết, các DN phải tuân thủ công
bố những thông tin thuộc loại này; Tuy nhiên, kết quả khảo sát định lượng vẫn cho thấy về thực tế thì mức độ tuân thủ về CBTT bắt buộc không phải là tuyệt đối Điển hình cho các nghiên cứu về CBTT bắt buộc, có thể kể đến như nghiên cứu của Chalmers & Godfrey [16], Dye [18] CBTT tự nguyện là việc
DN công bố các thông tin bổ sung (thêm), ngoài những thông tin bắt buộc phải công bố để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin bên ngoài DN,
và thường là nhằm gia tăng uy tín hay có lợi cho DN Việc CBTT tự nguyện nhiều hay ít tùy thuộc vào bối cảnh của DN, động cơ của DN, cũng như sự đánh đổi giữa chi phí và lợi ích liên quan đến thông tin công bố Điển hình cho các nghiên cứu về CBTT tự nguyện, có thể kể đến như nghiên cứu của Inchausti [23], Jensen & Meckling [24], Owusu – Ansah [27] CBTT tùy ý là việc DN cân nhắc và quyết định công bố những thông tin bắt buộc ở những mức độ chi tiết khác nhau vì thiếu những quy định cụ thể của các quy định có liên quan, và điển hình như nghiên cứu của Patricia & Lucia [29], Verrecchia [34]
Về vấn đề đánh giá mức độ CBTT, các nghiên cứu trước thường tiếp cận theo một trong các cách sau Một là sử dụng lại mức độ CBTT đã được các tổ chức độc lập đo lường chẳng hạn như việc đo lường mức độ CBTT được công bố hàng năm bởi Hiệp hội Quản lý và Nghiên cứu Đầu tư hoặc được cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính quốc tế (CIFAR) [26] Hai là dựa vào thang đo (hệ thống các chỉ mục CBTT) sẵn có
đã được áp dụng trong các nghiên cứu trước Ba là các nhà nghiên cứu tự xây
Trang 16dựng thang đo, trong đó hệ thống các chỉ mục được lựa chọn trên cơ sở các quy định về CBTT có liên quan Trong đó, cách tiếp cận theo hướng là chính các nhà nghiên cứu tự xây dựng thang đo để đánh giá mức độc CBTT chiếm
ưu thế hơn [26] Nghiên cứu của Francisco & cộng sự [19] có liệt kê một danh sách điển hình các công trình trong đó các nhà nghiên cứu tự xây dựng thang đo CBTT Ngoài ra, các nhà nghiên cứu có thể đánh giá mức độ CBTT trên nhiều góc độ tương ứng với các phạm trù khác nhau, có thể chỉ là số
lượng các mục tin công bố (quantity index), nhưng cũng có thể là chất lượng của thông tin được công bố (quality index), hay chỉ đơn thuần là phạm vi các thông tin được công bố (scope index) Từng loại chỉ số riêng lẻ (số lượng,
chất lượng, hay phạm vi) đều có ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá mức độ CBTT bởi các DN Và như vậy, có thể nói việc các nghiên cứu đi sau xây dựng thang đo dựa vào các nghiên cứu trước về CBTT có thể làm tăng chất lượng và tăng độ tin cậy của kết quả được khảo sát
Về vấn đề khảo sát các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ CBTT, các nghiên cứu trước đã thực hiện việc kiểm chứng với nhiều nhân tố khác nhau, gồm các nhân tố thuộc về đặc trưng (bên trong) của DN (như là quy mô, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, hay thời gian hoạt động, v.v) và các nhân tố khác (bên ngoài DN như là chủ thể (chất lượng) kiểm toán, ngành công nghiệp, v.v) Điều đáng chú ý là kết quả kiểm chứng về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT là không hoàn toàn giống nhau ở các nghiên cứu khác nhau [10] Tuy vậy, nhân tố quy mô DN là một trong số những nhân tố được kiểm chứng gần như trong tất cả các nghiên cứu trước đây [10] Cụ thể mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ CBTT và quy mô DN được ghi nhận trong rất nhiều các nghiên cứu trong nước (như [6], [8]) cũng như ngoài nước (như [24], [33], [36])
Sử ảnh hưởng của khả năng sinh lời cũng được phần lớn các nghiên
Trang 17cứu trước kiểm chứng nhưng không có kết quả thống nhất Trong khi một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa khả năng sinh lời và mức độ CBTT (như [8], [12], [33]) Những người khác lại cho rằng mối liên hệ này là không đáng kể (chẳng hạn [11], [31])
Tỷ suất nợ cũng được xem là một trong những nhân tố bên trong DN tác động đến mức độ CBTT của DN Tuy nhiên, các nghiên cứu đã công bố trước đây cho kết quả không nhất quán về mối liên hệ giữa tỷ suất nợ và mức
độ CBTT Một số nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ tích cực (ví dụ, [29], [33]), những người khác lại tìm thấy một mối liên hệ tiêu cực (ví dụ, [25]) hoặc không tìm thấy mối liên hệ giữa hai nhân tố này (ví dụ như [11], [12], [20])
Khả năng thanh toán cũng được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT Tuy nhiên, những tài liệu hiện có cung cấp những phát hiện không nhất quán về mối liên quan giữa khả năng thanh toán và mức
độ CBTT Ví dụ, trong khi sự liên kết tích cực đã được tìm thấy trong một số nghiên cứu (chẳng hạn như [11], [29]); Những người khác lại cho thấy liên kết này không đáng kể (ví dụ như [8], [12], [16]) Sự không nhất quán này có thể là do sự khác biệt về mức độ bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý
và các nhà đầu tư
Sử ảnh hưởng của tài sản cố định cũng được các nghiên cứu trước kiểm chứng nhưng phần lớn kết quả lại không tìm thấy được mối liên hệ giữa tài sản cố định và mức độ CBTT của DN (chẳng hạn như [7], [11], [24])
Thời gian hoạt động của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa hai yếu tố này (chẳng hạn, [8], [27]) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu đã không tìm thấy được mối liên hệ này (ví dụ như [12])
Trang 18Chất lượng kiểm toán được xem là một yếu tố quyết định chất lượng thông tin công bố của DN, thường được đánh giá thông qua chủ thể kiểm toán; trong đó các chủ thể kiểm toán được chia thành các đơn vị kiểm toán lớn, có uy tín như là Big 41
và còn lại là các đơn vị khác Sự ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán được phần lớn các nghiên cứu trước kiểm chứng nhưng không có kết quả thống nhất Trong khi một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ thuận chiều giữa chủ thể kiểm toán và mức độ CBTT (như [8], [16], [24]); Những người khác lại cho rằng mối liên hệ này là không đáng kể (chẳng hạn như [11], [12], [29])
Đặc điểm của hội đồng quản trị được đo lường theo nhiều cách khác nhau cũng được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa hai yếu tố này (như [8], [32]); Những người khác lại cho thấy liên kết này là ngược chiều (ví dụ [31]) hay không đáng kể (ví dụ như [29]) Điểm đáng chú
ý là các nghiên cứu ở Việt Nam về ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm quản trị DN đến mức độ CBTT trên BCTC của các DN niêm yết vẫn còn khiêm tốn
Tóm lại, thông qua việc khảo sát các nghiên cứu trước đây có thể kết luận được rằng, mặc dù các nhà nghiên cứu đã thực hiện rất nhiều công trình khảo sát mức độ CBTT, nhưng theo sự hiểu biết của tác giả thì đến nay vẫn chưa có công bố khoa học nào đánh giá mức độ CBTT bởi các DN ngành hàng tiêu dùng; Trong khi ngành hàng này lại có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Thêm vào đó, sự ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các nhân tố thuộc về đặc điểm của hội đồng
1 Big 4 gồm bốn DN kiểm toán: PricewaterhouseCoopers (PwC), Ernst & Young (E&Y), Klynveld Peat Marwick Geordeler (KPMG), Deloitte Touche Tohmatsu Limited (Deloitte)
Trang 19quản trị rất ít được kiểm chứng trong các nghiên cứu trước, đặc biệt là đối với các nghiên cứu ở Việt Nam Đây cũng là khoảng trống và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy thực hiện các nghiên cứu tiếp theo, trong đó có luận văn này
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay CBTT dành cho các DN niêm yết, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng [14] CBTT là quá trình cung cấp các tài liệu và những bằng chứng liên quan rộng rãi cho quần chúng, không giấu giếm thông tin và được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền tin như website, báo chí, internet, v.v [14] Cụ thể hơn, CBTT kế toán là việc công khai toàn bộ thông tin của DN liên quan đến các hoạt động trong quá khứ, những hoạt động hiện tại, những dự báo cho tương lai và nhiều thông tin khác mà nhà đầu tư có yêu cầu thông qua hệ thống các BCTC trong một thời
kỳ nhất định [14] CBTT nhằm phục vụ cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các chủ nợ, v.v và đặc biệt là các nhà đầu tư
CBTT bao gồm ba loại đó là CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện (hay CBTT không bắt buộc) và CBTT tùy ý
CBTT bắt buộc là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp
và những quy định có liên quan Những thông tin công bố này phải tuân thủ theo những quy định của văn bản pháp luật có liên quan như: Luật kinh doanh, Luật DN, quy định về CBTT của Ủy Ban Chứng Khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán, các cơ quan quản lý kế toán, các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAAP) và chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
Trang 21CBTT tự nguyện là những thông tin không bắt buộc phải công bố theo quy định luật pháp mà do các thành phần tham gia trên TTCK chủ động và tự nguyện công bố Các DN CBTT tự nguyện là nhằm mục đích nâng cao uy tín, củng cố và thúc đẩy quan hệ với các nhà đầu tư, giảm thiểu chi phí huy động vốn, và làm giảm rủi ro phát sinh Như vậy, mức độ công bố loại thông tin này tùy thuộc vào ý thức và động cơ của DN
CBTT tùy ý là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt buộc, đây được xem là những thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay các văn bản pháp luật vẫn chưa quy định rõ ràng về mức độ CBTT như thế nào nên DN có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít nhằm đem lại lợi ích cho DN
1.2 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1 Công bố thông tin t eo quy định của chuẩn mực kế toán
Việc CBTT kế toán phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau (theo VAS 01 [1]):
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo
cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và
báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
Đầy đủ : Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế
toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo
cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người
Trang 22có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh
Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán
trong một DN và giữa các DN chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các DN hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch
1.2.2 Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính
BCTC được xem như là công cụ hữu ích nhất của DN trong việc truyền tải thông tin về tình hình hoạt động của DN đến các đối tượng quan tâm trên thị trường Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01 [1] - Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của BCTC BCTC phản ánh tình trạng tài chính của DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong bảng cân đối kế toán đó là tài sản,
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp tới việc đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh đó là doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận của DN [1]
1.2.3 Công bố t ông t n đối v i doanh nghiệp niêm yết
Đối với DN niêm yết, áp lực CBTT tăng lên nhiều lần khi đối tượng chủ sở hữu được mở rộng, khoảng cách giữa chủ sở hữu và nhà quản lý trở nên lớn hơn Nhu cầu tìm hiểu thông tin không chỉ riêng chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tư Chính vì vậy, yêu cầu CBTT đặt ra cho các DN niêm yết luôn chặt chẽ và đầy đủ hơn các DN khác Các quy định này nhằm ngăn chặn việc
Trang 23che dấu thông tin hay CBTT thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng thông tin và cũng để duy trì một cơ chế giám sát có hiệu quả từ các bên liên quan và công chúng đầu tư đối với hoạt động của DN niêm yết Việc CBTT chính xác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với các DN niêm yết
Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững của thị trường và đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước, Luật chứng khoán yêu cầu một sự CBTT cao hơn Cụ thể, Thông tư 52/2012/TT-BTC2
yêu cầu việc CBTT của các DN niêm yết phải đảm bảo tính “đầy đủ, chính xác và kịp thời” theo quy định của pháp luật Hoạt động CBTT phải do Giám Đốc hoặc người được ủy quyền thực hiện và phải chịu trách nhiệm về nội dung được công bố [4]
1.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Việc đo lường mức độ CBTT bằng thang đo do chính các nhà nghiên cứu xây dựng có thể được tiếp cận theo một trong hai cách: đo lường bằng thang đo không trọng số và ngược lại là đo lường bằng thang đo có trọng số
1.3.1 Đo lư ng bằng t ng đo ông trọng số
Trên cơ sở hệ thống các chỉ mục thông tin đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCTC được nghiên cứu sẽ được gán giá trị bằng
2 Thông tư 52/2012/TT-BTC đã được thay thế bới Thông tư 155/2015/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 1/1/2016) Thông tư 155 mới này đã: Bổ sung quy định trường hợp DN đại chúng không thể hoàn thành việc công bố BCTC năm do phải lập BCTC năm hợp nhất hoặc BCTC năm tổng hợp thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn thời gian công bố BCTC năm nhưng tối đa không quá 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; Bổ sung một số trường hợp phải CBTT bất thường và thời hạn CBTT bất thường thống nhất là 24 giờ để đảm bảo tính kịp thời của thông tin;
DN đại chúng còn phải CBTT về tỷ lệ sở hữu nước ngoài; Bổ sung yêu cầu DN đại chúng phải CBTT liên quan đến phát triển bền vững nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế, tăng cường trách nhiệm của DN đối với môi trường và xã hội Tuy nhiên, để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là BCTC năm 2015, hệ thống chỉ mục đo lường mức độ CBTT được xây dựng căn cứ vào những điều khoản của Thông tư 52 thay vì Thông tư 155.
Trang 24một (1) nếu thông tin đó được công bố, hoặc được gán giá trị bằng không (0) nếu thông tin đó không công bố Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn có thể quyết định không gán giá trị cho một mục tin được đánh giá nếu chắc chắn rằng đối với BCTC được nghiên cứu đó thì mục tin này chắc chắn là không
liên quan (not applicable) Như vậy, việc đo lường CBTT theo phương pháp
này chỉ dừng lại ở chừng mực ghi nhận có hay không việc thông tin được trình bày trên BCTC được nghiên cứu và nhà nghiên cứu ngầm định tất cả các chỉ mục đều có tính quan trọng (tính hữu ích) là như nhau
1.3.2 Đo lư ng bằng t ng đo ó trọng số
Khác với phương pháp đo lường không trọng số, các mục tin trong phương pháp đo lường bằng thang đo có trọng số được đánh giá có tính hữu ích khác nhau đối với người sử dụng và do vậy được gán bởi các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT Chẳng hạn, việc xác định mức độ CBTT được đánh giá theo các nguyên tắc, mục tin công bố được gán giá trị bằng không (0) nếu không được công bố, bằng 0,5 nếu công bố là định tính hoặc bằng một (1) nếu công bố là định lượng (Francisco & cộng sự [19])
Luận văn này áp dụng phương pháp đo lường không trọng số với mục đích giảm thiểu tính chủ quan trong cảm nhận của người sử dụng về yếu tố CBTT Ngoài ra, các nghiên cứu trước cũng đã lưu ý rằng những bằng chứng thực nghiệm cũng đã cho thấy có sự tương đồng giữa đo lường chỉ mục thông tin theo phương pháp có trọng số và và phương pháp không có trọng số [9]
1.4 LÝ THUYẾT NỀN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Trên thực tế, mức độ CBTT của các DN là khác nhau do nhiều yếu tố
Đó có thể là do mục đích của nhà quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin của người sử dụng hoặc do sự cân đối về mặt chi phí – lợi ích khi CBTT, v.v Sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT có thể được lý giải theo nhiều
Trang 25lý thuyết khác nhau Các nghiên cứu trước đây sử dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích sự chênh lệch về mức độ CBTT cũng như sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT Các lý thuyết được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu trước đây gồm: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, và lý thuyết kinh tế thông tin
1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện xuất hiện trong bối cảnh những năm 1970 với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, sự đa dạng trong các loại hình
DN và một sự thiếu hụt các lý thuyết nền tảng về quyền sở hữu DN cũng như mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người quản lý thông qua hợp đồng đại diện [15]
Theo lý thuyết đại diện, quan hệ giữa các cổ đông (người chủ sở hữu)
và người quản lý DN được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quản lý DN sẽ không hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu (các cổ đông và DN), mà trái lại, họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi ích cá nhân Do đó, các cổ đông cần phải thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý DN nhằm đảm bảo lợi ích của mình
Vấn đề đại diện có thể được giải quyết bằng việc người quản lý DN gia tăng mức độ CBTT nhằm thuyết phục các cổ đông rằng họ đang điều hành
DN ở mức tối ưu Việc gia tăng mức độ CBTT cũng được xem là một trong những giải pháp làm giảm chi phí đại diện và là một trong những công cụ nhằm giảm bớt mâu thuẫn về lợi ích giữa người quản lý DN và cổ đông
Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về CBTT trước đây đã vận dụng lý thuyết đại diện Chẳng hạn như nghiên cứu của Garcia-Meca & cộng sự [21],
Trang 26Oyeler & cộng sự [28], Rodriguez [30] Các nhà nghiên cứu này đã lý giải sự ảnh hưởng đến của các nhân tố như quy mô của DN, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán, thành phần HĐQT và sở hữu cổ đông nước ngoài
Về quy mô, lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có quy mô càng lớn thường CBTT nhiều hơn vì chi phí đại diện phụ thuộc vào kích cỡ DN [31]
Vì vậy, các DN có quy mô lớn thường CBTT nhiều hơn để giảm chi phí này
Về đòn bẩy tài chính, tương tự, những DN có đòn bẩy tài chính (tỷ suất nợ) cao thì thường phải công bố rõ và chi tiết các thông tin cho chủ nợ; Và do vậy, sẽ cung cấp thông tin nhiều hơn các DN có đòn bẩy tài chính thấp [21]
Về khả năng sinh lời thì những DN có khả năng sinh lời cao hơn thường CBTT đầy đủ hơn như là minh chứng cho thành quả quản trị của ban giám đốc DN Bởi vì, quản lý ở các DN hoạt động có lợi nhuận cao thường có xu hướng CBTT nhiều hơn để duy trì vị trí và thu nhập của họ [28] Mặt khác, kiểm toán độc lập bên ngoài đóng một vai trò trong việc giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư Ngoài ra, khi số thành viên HĐQT không tham gia điều hành càng nhiều thì chi phí đại diện càng cao Để hạn chế chi phí này, các nhà đầu tư thường yêu cầu các nhà quản lý phải CBTT nhiều hơn Đặc biệt, do sự tách biệt về địa lý giữa nhà quản lý và các cổ đông nước ngoài nên nhu cầu về thông tin cũng sẽ cao hơn từ các cổ đông nước ngoài
1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng, thông tin không đối xứng giữa DN và nhà đầu tư sẽ gây nên lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư Và để tránh tình trạng này, các DN CBTT một cách tự nguyện nhằm đưa tín hiệu tốt đến thị trường [36] Theo lý thuyết tín hiệu, các nhà quản lý là những người mong đợi một tín hiệu tăng trưởng cao trong tương lai sẽ có động cơ phát tín hiệu này tới
Trang 27các nhà đầu tư Một trong những phương tiện để phát tín hiệu này là CBTT
Lý thuyết tín hiệu cho rằng các quyết định tài chính của DN là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý đến các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính Lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường Các nghiên cứu về CBTT trên thị trường tài chính thừa nhận rằng, các DN có khả năng sinh lời cao sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc CBTT trên thị trên [18]
Lý thuyết tín hiệu cũng cho rằng, sự tồn tại của thông tin bất đối xứng cũng có thể được xem là lý do cho các DN hoạt động có hiệu quả sử dụng thông tin tài chính để gửi tín hiệu đến thị trường Thông tin được công bố bởi các nhà quản lý đến thị trường làm giảm bất đối xứng thông tin và được xem như là một tín hiệu tốt của thị trường Tình trạng bất đối xứng thông tin ở các
DN có quy mô lớn sẽ nghiêm trọng hơn nên các DN này thường CBTT nhiều hơn để giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin
Đối với các CTNY, các nhà quản lý CBTT ra thị trường một cách tự nguyện và đưa các tín hiệu đến nhà đầu tư Do vậy, CBTT là một trong những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của đơn vị mình so với đơn vị khác CBTT được xem là tín hiệu của riêng
công ty phát ra cho nhà đầu tư
1.4.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory)
Lý thuyết về chi phí chính trị cho rằng các hoạt động kinh tế và chính trị xã hội luôn chạy song hành cùng nhau Vì vậy muốn xem xét hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì nên xem xét trong bối cảnh xã hội và nền tảng chính trị, nhất là đối với các DN niêm yết
Trang 28Lý thuyết này cho rằng DN chịu chi phí chính trị cao sẽ công bố nhiều thông tin hơn nhằm giảm thiểu gánh nặng của những chi phí này Nghiên cứu của Watts & Zimmerman [36] lập luận rằng tầm quan trọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô DN Quy mô DN là một biến đại diện cho sự chú ý chính trị Các DN lớn hơn phải chịu chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến mức độ CBTT cao hơn Mức độ CBTT cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợi nhuận lớn hơn cho DN vì vậy tránh đi trách nhiệm pháp lý và cũng như một sự biện minh cho mức độ lợi nhuận của DN [23]
Kiểm tra thực nghiệm về mối liên hệ giữa chi phí chính trị và mức độ CBTT có thể tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như nghiên cứu của Inchausti [23] hay Raffournier [30] Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, các DN có quy mô lớn, khả năng sinh lời cao thường phải chịu một chi phí chính trị cao và lúc này, mức độ CBTT của những DN này cũng cao hơn
1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
Lý thuyết chi phí sở hữu áp dụng đối với việc CBTT được phát triển bởi Dye [18] và Verrecchia [34] Lý thuyết này giả định rằng không có mâu thuẫn giữa nhà quản trị và chủ sở hữu, và do vậy cũng khẳng định tính tin cậy của các thông tin được công bố tự nguyện Tuy nhiên, lý thuyết này cũng hàm
ý rằng các nhà quản lý có động cơ để giữ lại một số thông tin, nếu công bố nó,
có nghĩa là DN phải chịu một số chi phí [34]
Một DN cũng sẽ phải chịu chi phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bất lợi khi các bên liên quan như đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các nhóm khách hàng, các nhóm lao động và các cơ quan quản lý vốn đầu tư có thể dựa trên các thông tin được công bố mà có tác động tiêu cực đến DN báo cáo chỉ
vì các lợi ích riêng của họ Các thành phần trên có thể sử dụng các thông tin được công bố bởi các DN để đánh giá lại lần lượt các mối quan hệ hợp đồng của họ với chính các DN đó và có thể làm giảm dòng tiền của DN CBTT [17]
Trang 291.4.5 Lý thuyết kinh tế thông tin (Information Economic Theory)
Lý thuyết kinh tế thông tin được áp dụng để kiểm tra mức độ mà thị trường và các tổ chức khác đã xử lý và truyền đạt thông tin như thế nào Lý thuyết này đề cập tới sự bất đối xứng về thông tin thị trường và giá trị kinh tế của nó [10] Nghiên cứu này cho rằng lý thuyết kinh tế thông tin có thể giải thích hiện tượng phức tạp của việc CBTT (bắt buộc và tự nguyện) bởi vì nó tìm cách giải quyết thông tin bất đối xứng bằng cách cân nhắc giữa lợi ích và chi phí liên quan đến việc CBTT
Liên quan đến CBTT bắt buộc, chi phí và lợi ích có liên quan được gánh chịu bởi cơ quan quản lý, các DN lập báo cáo và những người sử dụng thông tin Đối với cơ quan quản lý, sự đánh đổi chi phí và lợi ích liên quan đến việc ban hành và thực thi pháp luật các chính sách quy định CBTT Về phía các DN, các chi phí thường phải cân nhắc bao gồm cả chi phí trực tiếp (lập BCTC và CBTT) và chi phí gián tiếp (chi phí sở hữu thông tin, chi phí xã hội) Còn đối với người sử dụng, chi phí này chính là chi phí để nhận và xử lý thông tin [10]
Các nghiên cứu định lượng đã áp dụng lý thuyết kinh tế thông tin để cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng, chiến lược CBTT của các DN là tuân thủ rất thấp đới với những khoản mục thông tin tốn kém cho dù những thông tin này người sử dụng rất có nhu cầu Chẳng hạn như: Thông tin về hợp nhất kinh doanh, các công cụ tài chính và các thử nghiệm về tổn thất tài sản [10]
Lý thuyết CBTT cũng rất phù hợp để áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về CBTT tự nguyện, bởi vì nó giải thích được hiện tượng các
DN CBTT tự nguyện nhằm làm giảm đi bất đối xứng thông tin giữa nhà quản
lý và chủ sở hữu, giảm đi chi phí của các giao dịch mua bán cổ phiếu, giảm thiểu rủi ro ước tính của các nhà đầu tư và nhờ vào đó làm giảm chi phí vốn Hơn nữa, mặc dù CBTT tự nguyện về cơ bản là nhằm giảm bớt bất đối xứng
Trang 30thông tin phát sinh từ vấn đề đại diện về quản lý cho các chủ sở hữu, việc công bố những thông tin này luôn gặp rào cản về chi phí Và như vậy sẽ là hợp lý nếu cho rằng các DN chỉ cung cấp các thông tin không bắt buộc, nếu lợi ích mang lại hơn hẳn các chi phí có liên quan đến việc công bố các thông tin đó [10]
1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Theo các nghiên cứu trong nước và quốc tế, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN có thể được phân thành hai nhóm là các nhân tố bên trong của DN (các nhân tố thuộc về đặc trưng của DN) và các nhân tố bên ngoài DN (các nhân tố khác)
Các nhân tố bên trong DN bao gồm: i) các nhân tố phản ánh tình hình tài chính của DN đó là quy mô DN, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, khả năng thanh toán, tài sản cố định; ii) các nhân tố thuộc về quản trị DN như là cơ cấu
sở hữu, đặc điểm của hội đồng quản trị, quy mô kiểm toán nội bộ; iii) và một
số các nhân tố khác như thời gian hoạt động, tính quốc tế (multinationality), v.v Các nhân tố bên ngoài DN bao gồm quy mô DN kiểm toán độc lập, hay ngành (lĩnh vực kinh doanh) của DN, v.v
1.5.1 Quy mô doanh nghiệp
Quy mô DN có thể được biểu thị qua các chỉ tiêu khác nhau như tổng tài sản, tổng nguồn vốn, doanh thu thuần hay tổng số lao động của DN Sự ảnh hưởng của yếu tố này đến mức độ CBTT có thể được lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau
Theo lý thuyết đại diện, khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành thì lúc này sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người điều hành DN Người điều hành DN không phải lúc nào họ cũng hành động vì
Trang 31lợi ích tốt nhất cho cổ đông Chính những điều này đã làm nảy sinh chi phí đại diện Do đó, ở các DN lớn với số lượng cổ đông nhiều, chi phí đại diện sẽ gia tăng vì các DN này có khuynh hướng nỗ lực hơn trong việc giám sát người quản lý Và để giảm thiểu loại chi phí này, các DN có xu hướng CBTT nhiều hơn
Theo lý thuyết tín hiệu, các DN lớn nhận thức rằng bằng việc phát tín hiệu, công bố nhiều thông tin cho người sử dụng hơn sẽ thu hút nhiều nhà đầu
tư hơn, do đó sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu của DN Hơn nữa, việc CBTT chi tiết có thể đưa các DN nhỏ vào thế bất lợi so với các DN lớn cùng ngành nghề
Với lý thuyết chi phí chính trị, các DN có quy mô nhỏ thường có chi phí chính trị ít hơn các DN có quy mô lớn Do đó, DN có quy mô càng lớn sẽ càng công bố nhiều thông tin hơn để làm giảm chi phí chính trị và gia tăng sự tin cậy trên thị trường
Bằng việc vận dụng các lý thuyết trên, có nhiều nghiên cứu về CBTT
đã chỉ ra rằng quy mô DN có ảnh hưởng đáng kể mức độ CBTT (chẳng hạn như [6], [8], [26], [33], [34], [36]) Trong khi đó, cũng có các nghiên cứu ở Việt Nam lại không tìm ra được sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT (như [11], [12])
1.5.2 Khả năng s n l i
Khả năng sinh lời phản ánh thành quả hoạt động của DN và được đo lường bởi ROA hay ROE, tuy nhiên trong các nghiên cứu trước thường sử dụng chỉ số ROA Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng, các nhà quản lý của DN có lợi nhuận cao thường thúc đẩy tiết lộ thêm thông tin để tăng cường uy tín, năng lực làm việc của bản thân và gia tăng mức thưởng của họ [33] Còn theo
lý thuyết tín hiệu, các DN có lợi nhuận cao thường có xu hướng phát đi nhiều tín hiệu thông qua việc CBTT để phân biệt với các DN có lợi nhuận thấp
Trang 32nhằm giúp gia tăng giá trị cổ phiếu của họ Ngoài ra, các DN hoạt động kém cũng sẽ công bố nhiều thông tin để giải thích tại sao tình hình hoạt động của
họ lại như vậy
Các nghiên cứu trước đây cung cấp bằng chứng định lượng không nhất quán về mối liên hệ giữa khả năng sinh lời và mức độ CBTT Một vài nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa hai yếu tố này (chẳng hạn [8], [12], [33]) Những người khác lại cho thấy mối quan hệ này là không có ý nghĩa thống kê (chẳng hạn [11], [31])
Kết quả nghiên cứu định lượng về sự ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính với mức độ CBTT có sự không đồng nhất Chẳng hạn, nghiên cứu của Singhvi & Desai [33], Garcia-Meca & cộng sự [22] cho thấy sự ảnh hưởng thuận chiều của tỷ suất nợ và mức độ CBTT; trong khi đó các nghiên cứu ở Việt Nam, yếu tố tỷ suất nợ hầu như không có tác động đến mức độ CBTT của DN (như [8], [11], [12])
1.5.4 Khả năng t n toán
Khả năng thanh toán hay còn gọi là tính thanh khoản là khả năng đáp
Trang 33ứng tình hình nợ của DN trong ngắn hạn Tính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, các khoản phải thu có khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng, thuận tiện cho việc chi tiêu hay thanh toán và thường được
đo lường bằng chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành trong các nghiên cứu trước đây Thanh khoản là một đặc tính quan trọng của DN trong đó có ảnh hưởng lớn đến mức độ CBTT của DN Chính vì vậy, tính thanh khoản của
DN có liên quan đến người sử dụng thông tin kế toán Theo lý thuyết tín hiệu,
DN có khả năng thanh toán càng cao sẽ CBTT càng nhiều nhằm khuếch trương uy tín và tăng giá trị của DN Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng các
DN có khả năng thanh toán thấp có thể tăng cường CBTT để cho những cổ đông, nhà quản lý bớt lo lắng
Cũng tương tự như nhân tố về khả năng sinh lời và tỷ suất nợ, kết quả kiểm chứng mối quan hệ giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT cũng khá không đồng nhất ở các nghiên cứu trước Có nghiên cứu đã tìm thấy mối quan
hệ thuận chiều giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT (ví dụ như [11], [29]), nhưng cũng có nghiên cứu lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu
tố này (như [35]) và cũng có nghiên cứu lại không tìm thấy mối liện hệ nào giữa yếu tố này với mức độ CBTT trong BCTC của DN (chẳng hạn như [8], [12], [16])
1.5.5 Tài sản cố định
Tài sản cố định là tư liệu sản xuất có giá trị lớn và liên quan đến nhiều
kỳ sản xuất kinh doanh của DN Theo thời gian, giá trị của tài sản cố định sẽ
bị giảm dần thông qua việc trích khấu hao Khấu hao chính xác là cơ sở cho việc tính toán tái sản xuất và tái đầu tư Trong các nghiên cứu trước đây, nhân
tố tài sản cố định được đo lường bằng giá trị còn lại của tài sản cố định trên tổng tài sản của DN Theo lý thuyết tín hiệu, các DN có giá trị tài sản cố định càng lớn càng cần phải CBTT nhiều hơn để giúp cho các nhà đầu tư đưa ra
Trang 34được những quyết định đầu tư có hiệu quả Điều này dẫn đến mối liên hệ thuận chiều giữa giá trị tài sản cố định và mức độ CBTT
Khác với các nhân tố thuộc về đặc trưng của DN như đã trình bày ở trên, nhân tố tài sản cố định này chưa được khảo sát phổ biến trong các nghiên cứu trước Ngoài ra, kết quả kiểm chứng mối quan hệ giữa nhân tố này đến mức độ CBTT cũng không đồng nhất Chẳng hạn trong khi nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông [12] chỉ ra mối quan hệ thuận chiều, thì nghiên cứu của Lê Trường Vinh [7], Nguyễn Thị Thủy Hưởng [11], Jensen & Meckling [24] lại không tìm thấy được sự tác động nào của nhân tố này đến mức độ
CBTT trong BCTC bởi các DN
1.5.6 Đặ đ ểm của hộ đồng quản trị
Yếu tố quan trọng của quản trị DN đó là vai trò của hội đồng quản trị trong việc giám sát hoạt động của nhà quản lý Các nghiên cứu trước đây thường đo lường yếu tố này bằng cách so sánh tỷ lệ giữa số thành viên hội đồng quản trị không điều hành với tổng số thành viên hội đồng quản trị, hoặc
đo lường tính độc lập của chủ tịch hội đồng quản trị (thông qua việc có hay không chủ tịch hội đồng quản trị kiêm là giám đốc điều hành của DN)
Chức năng giám sát của hội đồng quản trị là cần thiết vì theo lý thuyết đại diện thì luôn có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa một bên là các nhà đầu tư và một bên là những người quản lý Tránh né, đặc quyền quá mức và các khoản đầu tư không tối ưu là những vấn đề hay gặp trong việc lạm dụng chức quyền của các nhà quản lý [24] Để làm giảm mâu thuẫn này, hội đồng quản trị sẽ thực hiện quyền lực của mình để theo dõi và kiểm soát quản lý Nếu các thành viên hội đồng quản trị đều giữ quyền quản lý hoặc có quan hệ nhân thân, sở hữu với DN thì vai trò này sẽ bị hạn chế vì có khả năng thành viên hội đồng quản trị sẽ quản lý hoạt động của DN theo hướng có lợi cho mình mà không phải có lợi cho các cổ đông khác Một DN có tỷ lệ thành viên hội đồng quản
Trang 35trị độc lập cao sẽ giám sát tốt hơn các hành vi của nhà quản lý và do đó, cũng giảm bớt xung đột giữa nhà đầu tư và người quản lý Để làm được điều này, các thành viên hội đồng quản trị có xu hướng khuyến khích và hỗ trợ CBTT nhiều hơn ra bên ngoài Mối quan hệ thuận chiều giữa đặc điểm của hội đồng quản trị và mức độ CBTT được đưa ra bởi Shi Jianliang [32]
Kết quả định lượng kiểm chứng về sự ảnh hưởng của nhân tố thuộc về đặc điểm của hội đồng quản trị đến mức độ CBTT không được thống nhất trong các nghiên cứu trước đây Có nghiên cứu tìm thấy được mối tương quan thuận giữa đặc điểm hội đồng quản trị với mức độ CBTT (như [7], [32]), nhưng cũng có những nghiên cứu khác lại khẳng dịnh mối tương giữa chúng
là tương quan nghịch (chẳng hạn [31])
1.5.7 Th i gian niêm yết của doanh nghiệp
Thời gian niêm yết của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN Trong các nghiên cứu trước đây, thời gian niêm yết của DN được tính từ lúc
DN bắt đầu niêm yết trên TTCK đến thời điểm nghiên cứu Các DN có thời gian niêm yết càng lâu thì việc lập và trình bày BCTC càng được cải thiện hơn vì các đơn vị này có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc lập và công
bố các BCTC do sự ổn định và trưởng thành của bộ máy kế toán, hay do khả năng áp dụng tốt công nghệ thông tin v.v Bên cạnh đó, các DN có thời gian niêm yết lâu dài có nhiều thành tựu để báo cáo nhằm gia tăng danh tiếng của
nó, còn các DN có thời gian niêm yết ngắn, chưa có nhiều danh tiếng trên thị trường, nên việc công bố nhiều thông tin có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế cạnh tranh của họ
Đây cũng là nhân tố mà các nghiên cứu trong lĩnh vực CBTT này vẫn chưa tìm được kết quả tương đối thống nhất về chiều hướng tác động của nó đến mức độ CBTT Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương [8], Owusu-Ansah [27] đã chỉ ra được rằng thời gian niêm yết của
Trang 36DN có tác động tích cực đến mức độ CBTT; Trong khi đó, nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông [13] lại không tìm thấy mối liên hệ giữa thời gian niêm yết và mức độ CBTT
1.5.8 Chủ thể kiểm toán
Kiểm toán BCTC năm của các DN niêm yết là một quy định bắt buộc Kiểm toán đảm bảo cho các BCTC của DN phù hợp với các quy định của luật pháp Nó là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin tài chính, làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư và quản lý kinh doanh Để giảm thiểu xung đột giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư, lý thuyết đại diện cho rằng kiểm toán độc lập đóng một vai trò quan trọng DN kiểm toán lớn hoạt động như một cơ chế để làm giảm chi phí đại diện và phát huy nhiều hơn vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản
lý [24]
Sự ảnh hưởng của yếu tố chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT thường được hầu hết các nghiên cứu trước kiểm chứng theo cách tiếp cận là chia các đơn vị kiểm toán thành hai nhóm là Big 4 và không phải là Big 4 (gồm các
DN kiểm toán còn lại và thường được xem là có quy mô nhỏ và ít uy tín hơn) Theo đó, trong các nghiên cứu trước, yếu tố này được biểu thị bằng một (1) biến giả
Kết quả định lượng kiểm chứng ảnh hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT cũng không đồng nhất Chẳng hạn, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương [8], Chalmers & Godfrey [16], Jensen & Meckling [24] đã xác định rằng chủ thể kiểm toán có liên hệ mật thiết đến mức độ CBTT của DN Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Hưởng [11], Phạm Thị Thu Đông [12], Patricia & Lucia [29] lại không tìm thấy mối liên hệ giữa 2 yếu tố này
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày các khái niệm về CBTT, yêu cầu về CBTT và cách thức để đo lường mức độ CBTT của DN cùng với các lý thuyết phổ biến áp dụng trong các nghiên cứu về CBTT Điểm đáng chú ý là không có một lý thuyết duy nhất để giải thích cho việc CBTT của các DN mà thay vào đó là một số các lý thuyết khác nhau như lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, hay lý thuyết kinh tế thông tin
Về vấn đề các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, kết quả tổng hợp được từ các nghiên cứu trước cho thấy những nhân tố thường được khảo sát gồm: quy mô DN, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, khả năng thanh toán, tài sản
cố định, đặc điểm hội đồng quản trị, thời gian niêm yết và chủ thể kiểm toán Điểm đáng chú là sự ảnh hưởng của chúng đến mức độ CBTT được kiểm chứng trong các nghiên cứu trước là không đồng nhất (ngoài trừ nhân tố quy
mô DN)
Trên cơ sở lý thuyết khung về CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đã được đánh giá trong Chương này, Chương 2 sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT trên các BCTC năm của các DN ở Việt Nam
Trang 38CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM
Với dân số đông thứ ba ở khu vực Đông Nam Á, gần 70% dân số thuộc
độ tuổi lao động, Việt Nam là thị trường lớn của ngành hàng tiêu dùng Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, thu nhập bình quân đầu người ngày càng được cải thiện, là động lực thúc đẩy ngành hàng tiêu dùng nói chung phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian tới [13]
Hàng tiêu dùng thiết yếu là nhóm sản phẩm giá thấp, được tiêu thụ, quay vòng và hết hạn nhanh chóng trong một thời gian ngắn (thường là ít hơn một năm) Trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng thiết yếu bao gồm các nhóm sản phẩm chính như đồ uống (bao gồm cả bia), thực phẩm, sữa, các sản phẩm chăm sóc cá nhân và gia đình, thuốc lá, v.v
Trong giai đoạn 2010 - 2014, kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (khoảng từ 5- 7%/năm), kéo theo sự tăng trưởng ổn định của lĩnh vực hàng tiêu dùng nói chung và hàng tiêu dùng thiết yếu nói riêng Trong đó, tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu thực của người tiêu dùng trong bán lẻ là 3%, hàng tiêu dùng (không phải thực phẩm và đồ uống) 6%, thực phẩm và đồ uống khác 3% [13]
Trong giai đoạn 2014- 2015, nhóm sản phẩm đồ uống tiếp tục có mức tăng trưởng tốt với 38% trong tổng doanh số bán hàng của toàn ngành hàng tiêu dùng và đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức 6,7% Sự phát triển của sản phẩm đồ uống chủ yếu đến từ bia, nước uống tăng lực và nước uống giải khát Sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 12% ở thành thị và 20% ở nông thôn Ngược lại với nhóm sản phẩm đồ uống, thị trường tiêu thụ các
Trang 39nhóm sản phẩm còn lại vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với các mặt hàng chăm sóc gia đình như bột giặt, thực phẩm đóng gói, v.v [13]
Tổng doanh thu thực của các lĩnh vực có liên quan đến hàng tiêu dùng
ở Việt Nam dự tính sẽ tăng lên tới 140 tỷ USD vào năm 2016 Đây là cơ hội lớn cho các DN ngành hàng tiêu dùng đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội tăng trưởng [13]
Xét về thị trường, trong khi tỷ lệ tăng trưởng ngành hàng tiêu dùng tại 6 thành phố chính của Việt Nam (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Nha Trang và Đà Nẵng) dường như đang dần bão hòa thì thị trường nông thôn nổi lên như một nguồn tăng trưởng mới Trong khi thành thị chỉ đạt mức tăng trưởng vào khoảng 1,6%, thì thị trường nông thôn phát triển tới mức 2,7%, chủ yếu do tăng trưởng khối lượng tiêu thụ Các nhóm sản phẩm dẫn đầu có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong thị trường nông thôn là nước uống năng lượng, nước rửa chén, sữa uống đóng chai/đóng hộp, nước uống đóng chai và nước giải khát [13]
Dân số ở nông thôn Việt Nam chiếm 68% trong tổng số 90 triệu dân và hiện nay chỉ có 54% doanh số bán hàng tiêu dùng đến từ khu vực nông thôn Tăng trưởng thu nhập của khu vực nông thôn cũng đạt khoảng 44% trong 3 năm qua Điều này cho thấy, thị trường nông thôn còn tiềm ẩn rất nhiều cơ hội Việc mở rộng đến thị trường nông thôn ở Việt Nam là phù hợp và điều quan trọng là phải có kế hoạch tập trung đầu tư thích hợp vào các vùng nông thôn [13]
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm trả lời hai câu hỏi sau Một là, thực trạng CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay như thế nào Và hai là, những nhân tố nào
Trang 40ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam?
2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Dựa trên các lý thuyết có liên quan đã được xem xét ở Chương 1, cùng với các kết quả nghiên cứu trước đây cũng như cân nhắc đến đặc điểm ngành hàng tiêu dùng, luận văn đã đề xuất các giả thuyết sau nhằm xây dựng mô hình để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp
Các lý thuyết về CBTT của DN như lý thuyết đại diện, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết tín hiệu và một số nghiên cứu thực nghiệm đều chỉ ra rằng, quy mô DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN Quy mô DN càng lớn thì xu hướng CBTT của DN càng nhiều Theo đó, các DN có quy mô lớn thường tự tin hơn về triển vọng phát triển của mình Cũng chính vì thế họ thường sẵn sàng giao tiếp với các nhà đầu tư thông qua hình thức công bố thêm nhiều thông tin tự nguyện nhằm phân biệt với các DN khác và làm tăng giá trị của DN Các DN có quy mô càng lớn có khuynh hướng CBTT nhiều hơn nhằm làm tăng sự tin cậy và làm giảm chi phí chính trị của mình Bên cạnh đó, việc công bố thêm thông tin cũng sẽ ít tốn kém hơn do các DN này thường có hệ thống thông tin tốt hơn [36]
Thống nhất với các nghiên cứu trước (như [6], [8], [24], [33], [34], [36]) luận văn cũng dự đoán rằng quy mô DN càng lớn thì mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
càng cao Do vậy, giả thuyết thứ nhất (H 1) được phát biểu như sau:
H 1 : Các DN có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT trong BCTC của các
DN càng cao