1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

PHÂN TÍCH cơ CHẾ tác ĐỘNG của gói KÍCH cầu của CHÍNH PHỦ VIỆT NAM đã sử DỤNG TRONG năm 2010

21 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 824,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với sinh viên, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là tầng lớp trẻ cảu xã hội thì cuộc kkhurng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ giữa thực tế với kiến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

 BÀI THẢO LUẬN

HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ I

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA GÓI KÍCH CẦU CỦA

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG TRONG NĂM 2010

HÀ NAM, NGÀY 27 THÁNG 3 NĂM 2017

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Mọi thực tế kinh tế luôn phải đối diện với sự khan hiếm ở mọi nơi và mọi lúc Sự khanhiếm là việc xã hội với các nguồn lực hữu hạn không thể thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu ngày càng tăng của con người Vì vậy, các nền kinh tế đều tìm cách sử dụng các nguồnlực hữu hạn một cách có hiệu quả nhất Kinh tế học là môn khoa học giúp cho ta hiểu cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm Trong đó,kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Vừa qua cuộc khủng hoảng taì chính bắt đầu từ Mỹ đã lan ra toàn cầu, gây ra hậu quả

to lớn đối với nền kinh tế thế giới nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực ảnh hưởng, nhất là khi mà chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO Khủnghoảng đã có ảnh hưởng to lớn đến nhiều mặt cảu xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới cũng như chính phủ nhiều nước nói riêng và chính phủ Việt Nam nói riêng cũng

đã làm hết sức để đưa nền kinh tế của quốc gia mình để thoát khỏi khủng hoảng Đối với sinh viên, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là tầng lớp trẻ cảu xã hội thì cuộc kkhurng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ giữa thực

tế với kiến thức được học

Là sinh viên đang theo học khối ngành kinh tế tại đại học Thương Mại, với niềm đam

mê môn học kinh tế vĩ mô, mong nuốn được tìm hiểu, mong muốn được vận dụng những kiến thức được học để đi sâu tìm hiểu vấn đề do vậ chúng em muốn thực hiện

đề tài “ Phân tích cơ chế tác động cảu gói kích cầu mà chính phủ Việt Nam sử dụng trong năm 2010 chỉ ra những thành công và hạn chế”

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trang 3

vậy mục tiêu lớn nhất của kích cầu là giảm thất nghiệp và duy trì việc làm.

 Các nguốn vốn chính của kích cầu

Tùy theo đặc điểm thị trường tài chính của mỗi quốc gia sẽ thực hiện gói kích cầu theo tỷ lệ các nguồn tài trợ khác nhau

(1) Tài trợ thông qua phát hành trái phiếu trong nước: biện pháp tài trợ này có thể chia thành vay nợ từ công chúng hoặc từ hệ thống các ngân hàng thương mại

(2) Tài trợ thông qua miễn giảm thuế: miễn giảm thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư Đây là một biện pháp có lợi giúp duy trì hoặc mở rộng sản xuất cho doanh nghiệp

(3) Tài trợ thông qua quỹ dự trữ: nguồn tài trợ này được sử dụng theo tỷ lệ phụ thuộc vào nguồn dự trữ so với gói kích cầu

(4) Tài trợ thông qua Ngân hàng Nhà nước: Chính phủ trực tiếp thông qua Ngân hàng Nhà nước in tiền để tài trợ cho chi tiêu hay vay tiền của công chúng

và hệ thống ngân hàng thương mại thông qua phát hành trái phiếu

(5) Tài trợ thông qua vay nợ nước ngoài: tác động của việc tài trợ cho gói kích cầu thông qua biện pháp vay nợ nước ngoài, nếu có, sẽ phụ thuộc nhiều vào chủ trương theo đuổi chế độ tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước

(6) Tài trợ thông qua tích lũy nợ: đây là một trong những biện pháp quan trọng

và thường xuyên được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi

 Những nguyên tắc kích cầu để đảm bảo hiệu qủa

- Kích cầu phải kịp thời (Timely)

Nghĩa là một khi kích cầu được thực hiện thì những biện pháp này sẽ có hiệu quả kích ứng ngay – làm tăng tổng cầu ngay trong nền kinh tế Nếu thực hiện quá sớm, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng, tăng lạm phát Nếu thực hiện quá chậm, khi nền kinh tế đã bắt đầu tự phục hồi, kích cầu lúc đó lại

có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn

- Kích cầu phải đúng đối tượng (targeted)

Nghĩa là gói kích cầu nhằm vào các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính quyền sẽ sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu

Khi nền kinh tế khủng hoảng thì nhóm người có thu nhập thấp chịu nhiều bất lợi nhất.Nhóm người này lại thường có mức tiêu dùng biên cao và chi tiêu chủ yếu vào hàng

nộ do vậy nếu kích cầu vào đúng nhóm đối tượng này thì đạt được đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng

- Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn (temporary)

Nghĩa là các biện pháp kích cầu chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt khi nền kinh tế đãvượt qua suy thoái Nguyên tắc ngắn hạn cần chú ý sau:

Trang 4

+ Thứ nhất, tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu do sẽ khuyến khích doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ đầu tư để tận dụng ưu đãi Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khi nền kinh tế phục hồi là những chính sách kémhiệu quả vì sẽ trở thành chi phí của Chính phủ hoặc khoản thất thu khi thời giankích thích đã kết thúc Nếu là những biện pháp dài hạn thì sẽ không kích thích được cầu do các doanh nghiệp sẽ thấy không cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất

+ Thứ hai, kích cầu vừa đủ để đảm bảo nền kinh tế có thể vượt qua suy thoái nhưng không làm ảnh hưởng lớn tới ngân sách trong dài hạn và làm tăng tính bất ổn của nền kinh tế Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, gây lãng phí Nếu gói kích cầu quá lớn tạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên

+ Thứ ba, thời điểm rút kích cầu cũng rất quan trọng: cần rút kích cầu khi nền kinh tế đã phục hồi Nếu rút quá muộn sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, gây lạm phát Nếu rút quá sớm, khi nền kinh tế còn chưa có dấu hiệu phục hồi chưa rõ ràng thì sẽ làm cho nền kinh tế không thể phục hồi hoặc sẽ đi vào trạng thái chu kỳ hình W

1.2 Lý thuyết về chính sách kích cầu

Keynes cho rằng sự giảm sút của tổng cầu là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng Do

đó, học thuyết Keynes nhấn mạnh tới tổng cầu của nền kinh tế, cần phải nâng cao tổngcầu để kích thích kinh tế Tổng cầu được xác định bởi bốn cấu phần cơ bản là tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng: AD = C + I + G + NX

Trong đó: C - chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình, khu vực tư nhân mua sắm hàng hóa

và dịch vụ, I - đầu tư của các doanh nghiệp vào xây dựng vào cơ sở hạ tầng, nhà máy , G - chi tiêu chính phủ gồm mua sắm hàng hóa và dịch vụ, NX - xuất khẩu ròng, phần chênh lệch giữa xuất khẩu EX và nhập khẩu MX

Chính sách kích cầu là chính sách làm tăng một hoặc cả bốn cấu phần của tổng cầu

để làm tổng cầu tăng lên Đó là sự kết hợp rất linh hoạt của hầu hết các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa, tiền tệ, chính sách lương tiền, chính sách ngoại thương, tỷ giá đối hoái

Các chính sách kích cầu:

- Kích cầu tiêu dùng: tiêu dùng sẽ tăng khi:

Thu nhập khả dụng tăng: chính phủ thực hiện chính sách tăng lương tối thiểu; giảm thuế thu nhập Chính sách tăng mức lương tối thiểu mặc dù có tác động làm tăng tiêu dùng song trong thời kỳ suy thoái là khó thực hiện bởi lẽ trong thời kỳ này tỷ lệ thất nghiệp đã cao nên nếu tiếp tục tăng mức lương tối thiểu thì trên thị trường lao động, thất nghiệp còn bị đẩy cao hơn nữa

Tăng kỳ vọng lạc quan vào tương lai, tăng khả năng vay nợ cho tiêu dùng - kích cầu chi tiêu của Chính phủ

Trang 5

Về mặt lý thuyết, kích cầu chi tiêu của chính phủ thông qua chính sách tài khóa là giatăng chi tiêu mua sắm của chính phủ hay mua sắm phần chênh lệch lượng hàng hóa màdoanh nghiệp sản xuất và lượng hàng hóa được người dân tiêu dùng, giúp giữ niềm tin của doanh nghiệp, giữ nền kinh tế được bình ổn, giữ tổng cầu không sụt giảm.

Về thực tiễn, không phải tất cả doanh nghiệp đều có lợi từ chính sách này do việc lựa chọn hàng hóa và dịch vụ trong chi tiêu mua sắm của chính phủ sẽ quyết định điều này

- Kích cầu đầu tư:

Đầu tư có thể được thực hiện trong ba khu vực: đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tưnước ngoài Để tăng đầu tư, chính phủ có thể:

+ Trực tiếp tăng đầu tư công: xây dựng tốt một cơ cấu cơ sở hạ tầng vật chất: các công trình cơ sở hạ tầng như sân bay, bến cảng, đường xá, cầu cống… giúpgiảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả lao động của các doanh nghiệp

+ Gián tiếp kích thích đầu tư tư nhân: miễn giảm thuế doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hỗ trợ lãi suất Tuy nhiên, hỗ trợ lãi suất có tính hai mặt: tính hiệu quả và tính công bằng Xét về tính công bằng thì tất cả doanhnghiệp đều được tiếp cận đến hỗ trợ vốn như nhau Tuy nhiên xét về tính hiệu quả thì cần có sự lựa chọn ưu tiên cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, nếu thực hiện tràn lan sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí

Thường thì đầu tư nội địa sẽ lớn hơn nhiều so với tiết kiệm trong nước do có sự

hỗ trợ của nguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo một động lực lớn cho đầu tư tăng trưởng Do vậy, khuyến khích đầu tư nước ngoài là cần thiết

- Kích cầu xuất khẩu:

Xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của người nước ngoài, ngoài ra còn phụ thuộc vào sở thích, thị hiếu người nước ngoài, giá cả tương đối giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài, chi phí vận tải… Để kích thích xuất khẩu, cần phải thực thi các biện pháp:

+ Trợ cấp xuất khẩu và chính sách tỷ giá hối đoái có thể giảm giá hàng xuất khẩu Chính sách tỷ giá hối đoái phát huy tác dụng với hàng xuất khẩu, nhập khẩu Khi tỷ giá đồng nội tệ giữ ở mức thấp thì hàng hóa trong nước sẽ rẻ hơn

so với hàng nước ngoài Vì thế, nhập khẩu giảm và xuất khẩu tăng lên Tuy nhiên để thực hiện được chính sách kiểm soát tỷ giá hối đoái này, chính phủ phải có nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, có khả năng can thiệp vào thị trường ngoại hối trước những biến động Ngoài ra, còn có các hình thức hỗ trợ gián tiếp: thủ tục hành chính thông thoáng, quảng bá tuyên truyền, đa dạng hóa sản phẩm, giúp hàng hóa trong nước tiếp cận rộng hơn tới thị trường người tiêu dùng nước ngoài

+ Chính sách ngoại thương với các biện pháp như: thuế quan, hạn ngạch và các rào cản kỹ thuật có thể hạn chế nhập khẩu song trong thời kỳ hội nhập thì các biện pháp này trở nên lỗi thời, thậm chí không khả thi Có thể dùng biện pháp: tuyên truyền nâng cao ý thức tự tôn, ưa chuộng hàng nội của người dân Tuy

Trang 6

nhiên để biện pháp này thành công thì hàng nội phải có tính cạnh tranh cả về giá cả và chất lượng so với hàng ngoại nhập.

CHƯƠNG II: CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA GÓI KÍCH CẦU NĂM 2010 2.1 Nội dung của gói kích cầu

Sau khi gói kích cầu 1 được thực hiên, thì việc dự kiến tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai đã gây ra khá nhiều bàn cãi.Có những luồng ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này bao gồm cả ý kiến đồng tình cũng như phản đối

Tuy nhiên theo công bố, gói kích cầu thứ hai là giải pháp căn bản để Chính phủ thực hiện định hướng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, ổn định vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010

Gói kích cầu thứ hai bao gồm những nội dung cơ bản về chính sách tài khóa và tiền tệ

2.1.1 Vê ̀tài khóa

Chính phủ tiếp tục sử dụng chính sách tài khóa mở rộng, cụ thể là tăng đầu tư vào

cơ sở hạ tầng, đồng thời giãn nộp thuế thu nhập DN cho các thành phần kinh tế đến hết quý I/2010

2.1.2 Về tiền tệ

Chính phủ dự định sẽ tiếp tục bù lãi suất tín dụng cho vốn vay trung và dài hạn phục

vụ đầu tư máy móc thiết bị cho nền kinh tế nói chung và cho khu vực nông nghiệp nói riêng với các khoản vay giải ngân đến hết năm 2010, bù lãi suất cho vay ngắn hạn trong một số lĩnh vực trong nền kinh tế đến hết quý I/2010 (sau đó tùy tình hình thực

tế sẽ tiếp tục quyết định duy trì bù lãi suất hay không)

Mức bù lãi suất tín dụng giảm xuống 2%/năm so với mức 4%/năm hiện tại với hầu hết các đối tượng và đối tượng bù lãi suất sẽ chọn lọc và bó gọn trong các ngành sử dụng nhiều lao động và hướng đến xuất khẩu

Ngoài các nguồn vốn tiếp tục huy động trong năm 2010 cho gói kích cầu thứ hai, một số nguồn vốn trong gói kích cầu thứ nhất chưa sử dụng hết trong năm 2009 sẽ được đưa vào, ước tính khoảng 1.2 tỷ USD Với gói bù lãi suất tín dụng, ước tính trongnăm 2009 sử dụng hết 10.000 tỷ VND và còn 8.000 tỷ VND có thể sử dụng cho hoạt động bù lãi suất trong năm 2010

2.2 Đặc trưng của gói kích cầu

Trang 7

Thứ nhất, đây là gói kích thích kinh tế mang tính chuyển tiếp giữa thời kỳ suy giảm kinh tế và thời kỳ hồi phục với nhiều thách thức.Tính chuyển tiếp thể hiện ở khung thời gian áp dụng cho việc bù lãi suất được điều chỉnh linh hoạt và có tính chất tùy thuộc cao.

Thứ hai, mức độ hỗ trợ và kích thích kinh tế đã được điều chỉnh một cách phù hợp

So với gói kích cầu thứ nhất được công bố và triển khai từ tháng 2/2009, khi mà kinh

tế thế giới chìm sâu trong suy thoái và kinh tế Việt Nam có những biểu hiện suy giảm trầm trọng với mức tăng trưởng 3,1% trong quý I, thì gói kích cầu thứ hai công bố vào cuối năm 2009 với quy mô được thu hẹp lại để thực hiện từ năm 2010 trong bối cảnh nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã thoát khỏi đáy suy thoái (như Mỹ, Nhật, EU), hoặc đã tăng trưởng ấn tượng trở lại (như Trung quốc, Úc) và kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng khả quan hơn với mức tăng trưởng quý III/2009 đạt 5,7% và quý IV/2009 ước khoảng 6,8%

Thu hẹp quy mô gói kích cầu thứ hai là bước đi hợp lý để doanh nghiệp dần dần tự phát huy nội lực trên con đường hồi phục Rõ ràng, gói kích cầu thứ nhất đã tiếp sức đáng kể cho doanh nghiệp ổn định sức khỏe trong thời kỳ khó khăn nhất và gói kích cầu thứ hai chỉ làm chất xúc tác tập trung, giúp cho doanh nghiệp ở vị thế dễ tổn thương nhất của nền kinh tế có thể hồi phục vững chắc

Quan trọng hơn, việc điều chỉnh lại quy mô gói kích cầu, trong đó có gói bù lãi suất tíndụng, sẽ góp phần phòng tránh rủi ro lạm phát và thâm hụt cán cân thanh toán trong một môi trường nới lỏng về tiền tệ và tài khóa quá mức, tránh bóp méo thị trường tiền

tệ, tín dụng trong thời gian quá dài và hướng nỗ lực của doanh nghiệp và Chính phủ vào tái cấu trúc hoạt động để tạo ra nền tảng tăng trưởng bền vững trong dài hạn Thứ ba, gói kích cầu thứ hai cũng mang tính chất chính trị, xã hội cao trong bối cảnh hướng đến Đại hội Đảng toàn quốc vào đầu năm 2011, nên các mục tiêu đảm bảo

an sinh xã hội tiếp tục được ưu tiên ở mức cao

Một cách tổng quan nhất, gói kích cầu thứ hai sẽ góp phần hỗ trợ tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2010, đồng thời có tính đến việc hạn chế các mặt trái có thể phát sinh để chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới Điều này chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực đến thực tế cũng như kỳ vọng trong hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết

Trang 8

Xét một cách riêng rẽ, ảnh hưởng của nó với thị trường chứng khoán sẽ không mạnh như khi gói kích cầu thứ nhất được công bố và triển khai đúng vào vùng đáy của thị trường.

Song nếu nhìn một cách toàn diện thì gói kích cầu thứ hai sẽ khiến các doanh nghiệp đẩy mạnh phát huy nội lực khi mà chiếc phao cứu sinh đã được thu lại phần nào, qua

đó nỗ lực hơn để có thể đạt được các mục tiêu trung và dài hạn

2.3 Tác động của gói kích cầu đến nền kinh tế Việt Nam năm 2010

2.3.1 Kinh tế Việt Nam năm 2010 khả quan hơn

Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm

2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượtmục tiêu đề ra 6,5%

Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm

2.3.1.1 Về cơ cấu ngành kinh tế

a,Sản xuất nông- lâm nghiệp- thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước

Trang 9

tính đạt 232,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% so với năm 2009, bao gồm nông nghiệp đạt 168,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; lâm nghiệp đạt 7,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6%; thuỷ sản đạt 56,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%.

b, Công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14% so với năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài Nhà nướctăng 14,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2% Trong ba ngành công nghiệp cấp I, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng 14,9% so với năm 2009;ngành công nghiệp điện, ga, nước tăng 14,8%; ngành công nghiệp khai thác giảm 0,5% do sản lượng khai thác than và dầu thô giảm

c, Dịch vụ

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2010ước tính tăng 24,5% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 14% Trong tổngmức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay, kinh doanh thương nghiệp tăng 25% so với năm 2009; khách sạn, nhà hàng tăng 21,8%; dịch vụ tăng 23,8%; du lịch tăng 28,5%

2.3.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu

a, Xuất khẩu

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 32,8 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8% Nếukhông kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,9 tỷ USD, tăng 40,1% so với năm 2009

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4% Cụ thể :

Trang 10

b, Nhập khẩu

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2010 ước tính đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 47,5 tỷ USD, tăng 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 36,5 tỷ USD, tăng 39,9%

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay không có sự thay đổi lớn so với năm trước, trong đó nhóm tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 90,2%; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng giảm từ 9,3% xuống 8,6%; nhóm vàng và các sản phẩm vàngtăng từ 0,5% lên 1,2% Cụ thể :

Ngày đăng: 21/12/2017, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w