1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GỐC GHÉP HỌ BẦU BÍ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY KHỔ QUA

211 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GỐC GHÉP HỌ BẦU BÍ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY KHỔ QUA

Trang 1

****************************

TRẦN THỊ MỸ DUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GỐC GHÉP HỌ BẦU BÍ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY

KHỔ QUA (Momordica charantia L.)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GỐC GHÉP HỌ BẦU BÍ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY

KHỔ QUA (Momordica charantia L.)

TRẦN THỊ MỸ DUYÊN

Hội đồng chấm luận văn:

1 CHỦ TỊCH: PGS.TS LÊ QUANG HƯNG

Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Viện KHKT Nông nghiệp Miền Nam

3 PHẢN BIỆN 1: TS BÙI MINH TRÍ

Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

4 PHẢN BIỆN 2: TS TRẦN THỊ DUNG

Trường Đại học Dân lập Tôn Đức Thắng

Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên Trần Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1974 tại Thành phố

Hồ Chí Minh Con ông Trần Duy Hưởng và bà Trương Thị Mỹ

Tốt nghiệp Tú tài tại Trường phổ thông Nguyễn Khuyến, Tp Hồ Chí Minh, năm 1992

Tốt nghiệp đại học ngành Nông Học, hệ chính qui tại Đại Học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 1998

Sau đó làm việc tại công ty TNHH Hạt giống CP Việt Nam Từ năm 2002 đến nay làm việc tại Trung tâm Quản lý - Kiểm định giống cây trồng vật nuôi Tp HCM

Tháng 9 năm 2006 theo học Cao học ngành Khoa Học Cây Trồng tại Trường Đại Học Nông Lâm, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ liện lạc: 263/55 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3 Tp HCM

Điện thoại: 01686856546

E-mail: ttmd2003@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Trần Thị Mỹ Duyên

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin gởi lời cảm ơn đến:

Thầy PGS.TS Nguyễn Văn Kế đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cùng quý thầy cô Khoa Nông Học, phòng Sau Đại Học đã nhiệt tình chỉ dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Ban Giám đốc, các cán bộ nhân viên của Trung Tâm Quản lý - Kiểm định giống cây trồng - vật nuôi Tp.HCM đã tạo diều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tham dự khóa học

Ba Mẹ, anh chị, các bạn trong và ngoài lớp đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài: “Ảnh hưởng của một số gốc ghép họ bẩu bí đến sự sinh trưởng, phát

triển của khổ qua (Momordica charantia L.)”

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 8/2009 đến tháng 1/2010, tại xã Phạm Văn Hai huyện Bình Chánh, Tp.HCM

Mục tiêu là tìm kiếm 1-2 gốc ghép họ bầu bí có sự tương thích cao với khổ qua, có năng suất cao và kháng một số bệnh chính

Đề tài có 3 thí nghiệm:

Thí nghiệm 1 sử dụng 9 loại gốc ghép và 1 ngọn ghép khổ qua OP Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 lần lặp lại Kết quả cho tỷ lệ nảy mầm của bí CN- 301 là thấp nhất Tỷ lệ sống của khổ qua OP trên 9 gốc ghép không có sự khác biệt

Thí nghiệm 2 được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, 2 yếu tố, 4 lần lặp lại Yếu tố A: 7 gốc ghép họ bầu bí, yếu tố B: 2 ngọn ghép khổ qua lai (B1: KQ344, B2: KQ431) Kết quả cho thấy có sự tương tác giữa gốc và ngọn đến tỷ lệ sống ở 2 ngày sau ghép, sử dụng gốc ghép bầu có tỷ lệ sống thấp nhất (92,5%)

Thí nghiệm 3 được bố trí theo kiểu lô sọc, 3 lần lặp lại Yếu tố A: 8 gốc ghép gốc ghép họ bầu bí, yếu tố B: 2 ngọn ghép (B1:KQ344, B2:KQ431) Kết quả cho thấy: các gốc ghép không ảnh hưởng đến chiều cao cây, chiều dài lóng, tỷ lệ đậu, dày thịt quả, màu sắc, vị quả và số hạt trên quả, nhưng khổ qua ghép có ngày ra hoa cái và ngày bắt đầu thu hoạch sớm hơn đối chứng từ 9 đến 14 ngày Khổ qua ghép trên bầu Hồ lô có tỷ lệ sống thấp nhất (46,7%) đến khi thu hoạch, trên gốc mướp khía có tỷ lệ sống cao nhất (90,6%) Khổ qua ghép trên gốc mướp khía cho năng suất cao nhất (22,3 tấn/ha) Tỷ lệ nhiễm bệnh héo xanh và thối gốc không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức Qua đó cho thấy mướp khía, bí SG5.2 là tốt nhất và cần được khuyến cáo làm gốc ghép cho khổ qua để tiếp tục cho các thí nghiệm trong tương lai

Trang 8

There were three experiments:

- Experiment 1: using 9 cucurbit rootstocks and one OP bitter gourd scion, it was arranged by completely randomized design (CRD), 4 replications The results

showed that the germination rate of CN-301 pumpkin (cucurbita pepo) was lowest

The survival rates of OP bitter gourd on 9 rootstocks were non significant difference

- Experiment 2 was designed by two factors RCBD (randomized complete blocks design), 4 replications; factor A: 7 cucurbit rootstocks, factor B: 2 hybrid bitter gourd scions (B1: KQ344 and B2: KQ431) The results indicated that there were interaction of the rootstocks and the scions after grafting two days; using the

Hồ lô bottle gourd rootstock (Lagenaria vulgaris) gave the lowest survival rate

(92,5%)

- Experiment 3 was arranged by strip plot design, 3 replications, factor A: 8 kinds of cucurbit rootstocks and factor B: 2 kinds of bitter gourd scions (B1: KQ344, B2: 431) The results showed that the cucurbit rootstocks did not effects on the plant height, the inter-node length, the rate of fruit setting, the thickness of fruit

Trang 9

plants gave flowers and fruit earlier than seedlings, from 9 to 14 days Bitter gourd grafted on bottle gourd gave the lowest survival percentage (46,7%) up to the

harvest time, whereas using the angled luffa (Luffa acutangula) gave the highest

successful percentage (90,6%) Grafting bitter gourd on angled luffa, had the highest yield (22,3 tons per ha) There were non significant differences among treatments on the percent of fungus wilt infected plants as well as the percent of infected plants of foot rot disease So far, angled luffa was the best and was recommended as a kind of rootstock for bitter gourd to proceed the experiments in future

 

 

Trang 10

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

TRANG CHUẨN Y ii

LÝ LỊCH CÁ NHÂN iii

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

TÓM TẮT vi

ABSTRACT vii

MỤC LỤC ix

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiii

DANH SÁCH CÁC HÌNH xvii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Nguồn gốc, vùng phân bố và giá trị dinh dưỡng của khổ qua 3

2.2 Sử dụng 3

Trang 11

2.3 Đặc tính sinh học của cây khổ qua 4

2.4 Diện tích và giống 9

2.5 Các nghiên cứu ngoài và trong nước 9

2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước 9

2.5.1.1 Kỹ thuật ghép - chăm sóc sau ghép 9

2.5.1.2 Lịch sử nghiên cứu phát triển trên rau ghép và trên cây khổ qua 11

2.5.1.3 Trên các cây rau khác 13

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 21

2.5.2.1 Trên cây khổ qua 21

2.5.2.2 Trên cây rau khác 23

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Nội dung 25

3.1.1 Nội dung 1: Tuyển chọn gốc ghép cho tỷ lệ sống cao 25

3.1.2 Nội dung 2: Ảnh hưởng các gốc ghép đến sinh trưởng phát triển khổ qua ngoài đồng 25

3.2 Phương pháp 25

3.2.1 Nội dung 1: Tuyển chọn gốc ghép cho tỷ lệ sống cao 25

3.2.1.1 Thí nghiệm 1: 25

3.2.1.2 Thí nghiệm 2: 28 3.2.2 Nội dung 2: Thí nghiệm 3 “Ảnh hưởng các gốc ghép đến sinh trưởng phát

Trang 12

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Nội dung 1 35

4.1.1 Thí nghiệm 1: 35

4.1.1.1 Giai đoạn trước ghép 35

4.1.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát sự sinh trưởng, tỷ lệ sống sau ghép của 7 gốc ghép và 2 ngọn ghép khổ qua lai F1 41

4.1.2.1 Giai đoạn trước ghép 41

4.1.2.2 Giai đoạn ghép 43

4.2 Nội dung 2: Thí nghiệm 3 “Khảo sát ảnh hưởng của các gốc ghép đến sinh trưởng phát triển của khổ qua ngoài đồng” 46

4.2.1 Sự tăng trưởng 46

4.2.1.1 Chiều dài dây, chiều dài lóng, chiều cao phân nhánh 46

4.2.1.2 Số cành hữu hiệu 48

4.2.1.3 Đường kính gốc 48

4.2.1.4 Đường kính thân 49

4.2.1.5 Tỷ lệ cây sống ở các ngày sau trồng 50

4.2.2 Sự phát dục 52

4.2.2.1 Thời gian 50% cây ra hoa 52

4.2.2.2 Tỷ lệ đậu quả trung bình trên cây 54

4.2.2.3 Ngày bắt đầu thu hoạch 54

4.2.2.4 Thời gian thu hoạch 55

Trang 13

4.2.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 57

4.2.3.1 Số quả trên cây 57

4.2.3.2 Tỷ lệ quả loại 1 (%) 58

4.2.3.3 Trọng lượng quả (gr) 59

4.2.3.4 Năng suất thực tế (tấn /ha) 60

4.2.4 Khảo sát quả 61

4.2.4.1 Chiều dài quả 61

4.2.4.2 Đường kính quả 62

4.2.4.3 Độ dày thịt và số hạt trên quả 63

4.2.4.4 Chiều dài cuống quả 63

4.2.4.5 Số gai trên quả 64

4.2.4.6 Chiều rộng gai quả 65

4.2.4.7 Màu sắc – dạng gai quả 66

4.2.4.8 Cấu trúc thịt – vị quả 67

4.2.4.9 Thời gian bảo quản 68

4.2.5 Tình hình sâu bệnh hại 69

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Đề nghị 73

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 74

Trang 14

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cty CP Giống cây trồng MN: công ty cổ phần Giống cây trồng Miền Nam  

Cty Giống Cây trồng TP: công ty Giống cây trồng Thành phố

Viện KHKTNNMN: Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam

Sở NN-PTNT Tp.HCM: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tp Hồ Chí Minh

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích trồng và giống khổ qua sử dụng ở một số nước 9

Bảng 2.2: Thời gian gieo và ghép ở một số giống rau 11

Bảng 2.3: Tỷ lệ cây sống và sức sống của khổ qua ghép 12

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu theo dõi trên cây khổ qua ghép 12

Bảng 2.5: Kết quả sau ghép giữa cà chua ớt với các giống khác 16

Bảng 2.6: Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ thành công giữa cặp ghép cà chua và cà tím 16

Bảng 2.7: Tỷ lệ nhiễm bệnh héo xanh (%) trên cà chua ghép 23

Bảng 3.1 Bảng mã nghiệm thức và nguồn gốc 27

Bảng 3.2: Mã hóa các nghiệm thức cho thí nghiệm 2 29

Bảng 3.3: Khí tượng ở một số tháng năm 2010 31

Bảng 3.4: Phân tích đất tại khu thí nghiệm 31

Bảng 3.5: Mã hóa các nghiệm thức cho thí nghiệm 3 32

Bảng 4.1: Tỷ lệ mọc mầm, ngày mọc mầm và ngày xuất hiện lá thật đầu của các gốc và ngọn ghép 36

Bảng 4.2: Chiều cao cây của gốc ghép và ngọn ghép ở các ngày sau gieo 38

Bảng 4.3: Tỷ lệ sống (%) các cây ở 2 ngày, 4 ngày và 6 ngày sau ghép 39

Bảng 4.4: Lịch gieo ghép cho các gốc và ngọn ghép 40

Bảng 4.5: Tỷ lệ mọc mầm, ngày mọc mầm và ngày xuất hiện lá thật ở các gốc ghép và ngọn ghép 42

Trang 16

Bảng 4.6: Chiều cao cây (cm) và đường kính (mm) cây ở các ngày sau gieo 43

Bảng 4.7: Tỷ lệ cây sống (%) ở 2 ngày sau ghép 45

Bảng 4.8: Dài dây (cm) các cây khổ qua ghép và đối chứng đo ở cuối vụ 46

Bảng 4.9: Dài lóng (cm) các cây khổ qua ghép và đối chứng 47

Bảng 4.10: Chiều cao phân nhánh (cm) các cây khổ qua ghép và đối chứng 47

Bảng 4.11: Số cành hữu hiệu trên khổ qua ghép và đối chứng 48

Bảng 4.12: Đường kính gốc đo tại vết ghép (cm) đo tại cuối vụ 49

Bảng 4.13: Đường kính thân (cm), đo cách gốc 20 cm đo ở cuối vụ 50

Bảng 4.14: Tỷ lệ cây sống (%) ở 60 ngày sau trồng 52

Bảng 4.15: Thời gian (ngày) khi 50% cây xuất hiện hoa cái 53

Bảng 4.16: Tỷ lệ đậu quả (%) trên khổ qua ghép và đối chứng 54

Bảng 4.17: Ngày bắt đầu thu hoạch kể từ khi trồng (ngày) 55

Bảng 4.18: Thời gian thu hoạch (ngày) từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thu hoạch 56

Bảng 4.19: Số quả trung bình/cây (quả) 58

Bảng 4.20: Tỷ lệ quả loại 1(%) trên khổ qua ghép và đối chứng 59

Bảng 4.21: Trọng lượng trung bình của quả (gr) 60

Bảng 4.22: Năng suất thực tế (tấn/ha) 61

Bảng 4.23: Chiều dài quả (cm) 62

Bảng 4.24: Đường kính quả (cm) 63

Bảng 4.25: Chiều dài cuống quả (cm) trên khổ qua ghép và đối chứng 64

Trang 17

Bảng 4.27: Chiều rộng gai (cm) quả khổ qua trên các gốc ghép 66

Bảng 4.28: Màu - dạng gai quả khổ qua trên các gốc ghép 67

Bảng 4.29: Cấu trúc thịt - vị quả 67

Bảng 4.30: Số ngày quả vàng hoàn toàn (ngày) 68

Bảng 4.31: Tỷ lệ nhiễm bệnh thối gốc (%) 69

Bảng 4.32: Tỷ lệ nhiễm bệnh héo xanh (%) 70

Bảng 4.33: Tỷ lệ nhiễm sâu xanh (%) 71

Bảng 4.34: Tỷ lệ nhiễm rầy mềm (%) 72

Trang 18

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Một số kỹ thuật ghép trên rau 10

Hình 2.2: Kỹ thuật ghép áp 17

Hình 2.3: Gốc ghép giữ lại một lá mầm 18

Hình 2.4: Kỹ thuật ghép nêm đọt 19

Hình 2.5: Kỹ thuật ghép bên hông 20

Hình 2.6: Kỹ thuật ghép nối cành 20

Hình 4.1: Cắt vạt ngọn ghép 40

Hình 4.2: Tiến hành ghép ngọn 40

Hình 4.3: Tỷ lệ (%) sống của cây khổ qua ở các ngày sau ghép 45

Hình 4.4: Tỷ lệ sống (%) của khổ qua ở các ngày sau trồng 51

Hình 4.5: Khổ qua ghép ở 5 ngày và 25 sau trồng 51

Hình 4.6: Diễn biến thu hoạch (kg/ô) ở các ngày sau trồng 57

 

 

Trang 19

có các đặc tính quý ấy

Khổ qua hay mướp đắng là loại rau ăn quả giàu chất sắt và vitamin C, được

ưa chuộng do dễ chế biến thành nhiề món ăn ngon, đặc biệt là loại rau không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền ở Nam bộ… Bên cạnh chế biến ăn tươi, khổ qua còn được dùng làm nguồn nguyên liệu cho ngành dược và chế biến trà xuất khẩu

Theo kết quả điều tra cơ cấu giống của Sở NN-PTNT Tp.HCM năm 2004, diện tích trồng khổ qua ở vụ đông xuân với 384,8 ha chiếm 17,26% trong đó có 11 giống F1 (chiếm 81,1% diện tích) và 1 giống OP, ở vụ hè thu diện tích trồng là 100

ha, chiếm 4%, năng suất biến động từ 15 đến 28 tấn/ha, thời gian thu hoạch trung bình 1 - 1,5 tháng Hiện nay, do sản xuất liên tục ở các vùng chuyên canh nên các mầm bệnh tích lũy trong đất là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất đáng kể

Vì vậy việc tìm kiếm các biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng được đặt ra bên cạnh các phương pháp như chuyển gien và lai tạo giống thì biện pháp sử dụng gốc ghép cho kết quả nhanh, phổ biến rộng rãi Ở nhiều nơi trên thế giới việc

ghép trên rau đã trở thành kỹ thuật thông dụng trong hệ thống sản xuất cây giống

Kỹ thuật ghép trên rau được áp dụng đầu tiên ở Nhật Bản vào những năm 1920 trên

Trang 20

này đã giúp kiểm soát việc giảm năng suất do nguồn bệnh từ đất Ở Trung Quốc sử dụng cây dưa hấu và dưa leo ghép chiếm gần 20% diện tích, ở Hy Lạp sử dụng 100% cây dưa hấu ghép

Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu và ứng dụng trên cà chua, cà tím và dưa hấu để kháng bệnh giảm bớt sự sử dụng thuốc, nhưng trên cây khổ qua thì chưa được nghiên cứu đầy đủ, vì vậy đề tài: “Ảnh hưởng của một số gốc ghép họ bầu bí đến sinh trưởng và phát triển cây khổ qua” được tiến hành, nhằm tìm kiếm các gốc ghép có thời gian thu hoạch sớm, nâng cao năng suất là việc cần thiết

1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu

- Xác định giống làm gốc ghép có sự tương thích cao với khổ qua

- Xác định ảnh hưởng của gốc ghép đến sự sinh trưởng, phát dục, thời gian thu hoạch, năng suất và phẩm chất để làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

- Chỉ tiến hành trên một số gốc ghép thu thập được và ngọn ghép được chọn

từ các thử nghiệm so sánh năng suất của Trung tâm Quản Lý Kiểm định giống cây trồng- vật nuôi –Tp HCM

- Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ được trồng trong 1 vụ hè thu xã Phạm Văn Hai, Bình Chánh, từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010

Trang 21

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc, vùng phân bố và giá trị dinh dưỡng của khổ qua

Tên khoa học: Momordica charantia L

Thuộc họ bầu bí: Cucurbitaceae

Số nhiễm sắc thể 2n = 22

Các tên khác: Bitter gourd, bitter cucumber, balsam pear, karela…

Theo Trần Thị Ba (2009), khổ qua có nguồn gốc vùng nhiệt đới Châu Á, có thể là Đông Ấn và Nam Trung Quốc, được sử dụng như là loại rau ăn quả giàu chất sắt và vitamin C và canh tác được quanh năm ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới

Theo Grubben và ctv (2004), các giống có nguồn gốc châu Á được trồng ở vùng nhiệt đới châu Mỹ và cũng được trồng ở vùng phía nam của Mỹ Ở châu Phi, đôi khi khổ qua được thu thập từ hoang dã như một loại rau hay cây thuốc trồng

Ngày nay Việt Nam vẫn còn “khổ qua rừng” trái nhỏ, vị rất đắng Dân ta ở nông thôn thường thu để ăn và làm thuốc, thu đọt non sử dụng như một loại rau hoang dã và là vị thuốc quí

Thành phần dinh dưỡng: 100 gr quả tươi phần ăn được cho 71 kJ gồm: 94,0

g nước; 0,2 g đạm; 0,2 g chất béo; 3,7 g đường bột; 2,8 g chất xơ; 19 mg canxi; 19

mg magiê; 31 mg lân; 0,4 mg sắt; 0,8 mg kẽm; 380 IU vitamin A; 0,04 mg thiamin; 0,04 mg ribolamin, 0,04g niacin; 72µg folate; 84mg ascorbic acid (USDA, 2002

được trích dẫn bởi Grubben, 2004)

2.2 Sử dụng

Theo Võ Văn Chi (2004), quả dùng làm rau ăn có tác dụng bổ máu, giảm sốt,

ho, trị nhọt mủ hay rôm sẩy Lá trị vết thương nhiễm độc, viêm mủ da, rắn cắn, rễ

Trang 22

dùng chữa đau dạ dày Hạt dùng chữa ho, việm họng, trẻ em lên kinh giật do sốt cao hay kinh phong

Theo Grubben và ctv (2004), trái non dùng với thịt để hầm hay ngâm, ở Tây Phi quả non của cây hoang dã dùng như thức ăn phụ, ở Zimbabwe dùng khổ qua như món rau trộn Quả chín của cây giống hoang dại được cho là độc với người và gia súc, ở châu Á đọt non là loại rau ăn lá được cho là có lợi cho sức khỏe

Trà khổ qua là thức uống có lợi sức khỏe rất phổ biến ở Nhật Bản và một vài nước châu Á khác Đặc biệt ở Congo hạt dùng làm thuốc trừ giun, ở Tây Phi cây làm thuốc giảm sốt, thân và lá chữa ghẻ cóc Cây khổ qua còn chữa bệnh kí sinh trùng trên da, đặc biệt rất nổi tiếng trong việc chữa bệnh tiểu đường

2.3 Đặc tính sinh học của cây khổ qua

Cây leo quấn, hàng niên, thân mọc dài đến 5 m

Lá đơn, mọc cách, lá xẻ từ 3 đến 9 thùy

Hoa: đơn tính mọc ở nách lá, lá bắc nhô cao ở chân cuống hoa, đài hoa hình ống ngược, cánh hoa mỏng dài 2 cm, màu vàng nhạt đến vàng cam, hoa đực có 3 nhị, hoa cái bầu noãn hạ, hình trứng hay hình thoi, có u gai, núm nhụy có 3 thùy, phát triển rất nhanh sau khi thụ phấn Hoa thụ phấn nhờ côn trùng, chủ yếu là ong

Quả: có kích thước 11cm x 4 cm, có những giống kích thước đến 45 cm x 9

cm, thường có từ 8 đến 10 sóng dài dọc trái nhưng ở một số giống không có sóng Trái ăn tươi có thể thu hoạch 2 tuần sau khi thụ phấn, chứa từ 20 đến 30 hạt

Hạt: thuôn, cỡ hạt 10 mm x 5 mm, dẹt phẳng, màu trắng hay nâu, vỏ hạt có vân, mép hạt có rãnh, ở các giống trồng trọng lượng 1000 hạt từ 180 đến 200 gr, ở loại hoang dã có thể nhỏ hơn

Sinh trưởng – phát triển

Cây mầm xuất hiện sau gieo từ 5 đến 7 ngày, nhưng hạt tươi thường bị miên trạng rất khó phá và có thể kéo dài vài tháng Thân bắt đầu kéo dài sau 2 tuần Hoa đực xuất hiện trước 5 đến 6 tuần sau gieo, trong khi hoa cái xuất hiện trễ hơn 10 ngày, ra hoa có thể kéo dài trong 6 tháng, hoa nở sớm vào buổi sáng Bao phấn nở

Trang 23

trước khi hoa nở khoảng 2 giờ, hạt phấn có sức sống cao nhất và sự tiếp nhận phấn của núm nhụy đạt được khi hoa nở

Bắt đầu thu hoạch khoảng 2 tháng sau gieo, thu hoạch theo đợt khoảng 2-3 lần/tuần, kéo dài từ 2 đến 3 tháng, quan trọng phải thu đúng thời điểm, khi đó trái đạt đúng kích cỡ, vỏ vẫn cứng và hạt còn mềm Thu hoạch muộn hơn giai đoạn này trái sẽ xốp, đắng hơn và mất giá trị thương mại, thường xuyên để trái chín trên cây làm giảm đậu quả mới

Năng suất từ 8 đến10 tấn/ha, có thể đạt đến 20 tấn/ha ở giống OP, ở Thái Lan các giống lai F1 trong điều kiện quản lý và chăm sóc tốt có thể đạt đến 40 tấn/ha, số quả/cây phụ thuộc vào giống trồng, có thể từ 5 đến 100 trái, những giống cho trái nhiều thì nhỏ trái

Yêu cầu sinh thái

Grubben và ctv (2004) cho rằng khổ qua ưa nhiệt độ cao, khoảng 25oC, nhiệt độ quá cao trên 37oC ảnh hưởng đến đậu quả Ở Ấn Độ có giống vẫn có thể đậu quả ở nhiệt độ 40oC, phát triển trong tự nhiên ở độ cao lên đến 1700 m, với lượng mưa cao, nếu trồng trong điều kiện quá ẩm, vi khuẩn và nấm sẽ trở thành vấn

đề lớn dẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng quả, thời gian thu hoạch bị rút ngắn Khổ qua thích đất nhiều mùn, thoát nước tốt hay đất phù sa có hàm lượng hữu cơ

cao và có khả năng giữ nước

Palada và ctv (2003) cho rằng yêu cầu nhiệt độ tối thiểu là 18oC trong suốt quá trình sinh trưởng, nhiệt độ tối thích từ 24 đến 27oC, có thể chịu đựng nhiệt độ thấp hơn so với các giống bầu nhưng nhiệt độ lạnh sẽ làm chậm quá trình sinh trưởng và sương giá có thể làm chết cây Cần tưới nước đều đặn để đảm bảo năng suất cao, pH thích hợp từ 6,0 đến 6,7 nhưng có thể chịu đựng đến 8,0

Theo Trần Thị Ba (2009), khổ qua thích nghi rộng với điều kiện thời tiết nên trồng được quanh năm trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Cây phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 20 đến 35oC, vũ lượng 1500 - 2500 mm và cao độ đến 1000 m Cây chịu đựng được nhiều điều kiện đất khác nhau nhưng phát triển tốt nhất trên đất

Trang 24

Kỹ thuật trồng- chăm sóc

Theo Grubben và ctv (2004), khổ qua thường được gieo trực tiếp, khoảng 3

kg hạt giống/ha, vùng Đông Nam Á nông dân thường cấy cây theo khoảng cách rộng do đó chỉ dùng từ 1,2 đến 1,5 kg/ha Việc xử lý hạt trước khi gieo, bọc hạt trong vải ủ qua đêm đến khi xuất hiện rễ làm cho cây con tốt Khoảng cách trồng hàng cách hàng 120 - 250 cm, cây cách cây 50 – 60 cm, mật độ từ 6000 đến 20000 cây/ha phụ thuộc vào giống và cấu trúc giàn, cây thường được trồng trên luống ngừa úng nước Khổ qua phù hợp với trồng giàn, nông dân châu Á thường làm giàn mắt cáo cao 2 m, tuy nhiên ở Ấn Độ hiếm khi dùng giàn, ở Philippin chỉ sử dụng giàn cho dạng quả dài, không dùng cho dạng quả địa phương, đất trồng được phủ rơm hay bạt plastic Lượng phân chuồng 10 tấn/ha kết hợp phân NPK 200 kg/ha bón trước khi trồng Việc bón thêm đạm 100 kg/ha khi cây phân nhánh và 200 kg/ha khi cây bắt đầu ra hoa sẽ kéo dài thời vụ, khổ qua rất nhạy cảm với việc thiếu

vi lượng chẳng hạn như boron, việc sử dụng các yếu tố này sẽ cải thiện mạnh mẽ kết quả mùa vụ cho nông dân Khổ qua bị một vài loại sâu bệnh như virus PRSV (papaya ring spot virus) ít mẫn cảm với virus WMV (watermelon mosaic virus), một vài nấm gây hại nghiêm trọng như bệnh đốm lá, phấn trắng Tại Đài Loan khổ qua được ghép trên gốc bí đỏ, mướp và bầu không chỉ tăng cường lực và năng suất

mà còn bảo vệ cây chống lại bệnh héo và tuyến trùng

Palada và ctv (2003) cho rằng việc phun các chất kích thích ra hoa khi cây có

từ 6 đến 8 lá thật sẽ tăng số lượng hoa cái và có thể tăng gấp đôi số trái, chẳng hạn phun gibberellic acid từ 25 đến 100 ppm làm tăng hoa cái lên 50%, những hormones khác có hiệu ứng tương tự, nhưng có thể giảm chiều dài dây, diện tích lá dẫn đến giảm năng suất Ở Đài Loan, năng suất của khổ qua được nâng cao khi ghép trên gốc mướp Mướp kháng bệnh héo vi khuẩn và chịu úng hơn cho phép khổ qua ghép sống sót trong điều kiện đất ngập nước

Thu hoạch và bảo quản

Nên thu hoạch quả bằng tay, đóng gói cẩn thận và cách ly với những quả được sản xuất bằng ethylen (dứa, chuối, táo) ngừa cho quả chín sau thu hoạch, khổ

Trang 25

qua có thể lưu giữ đến 4 tuần ở nhiệt độ 1-20C và ẩm độ 85 - 90%, không nên bảo quản dưới 0oC quả chuyển vàng, nứt và mất chất lượng

Giống – giống lai

Theo Grubben và ctv (2004), Momordiaca có khoảng 40 loài Giống khổ qua

hoang dã và giống canh tác được xếp loại riêng biệt Hầu hết các giống trồng được

sử dụng tại Đông Phi được nhập khẩu từ châu Á Cây hoang dại lai dễ dàng với cây trồng cho ra nhiều dạng trung gian Các giống hoang dại châu Phi được khai thác như nguồn kháng bệnh tiềm năng Ngày nay các nhà lai tạo tập trung nghiên cứu lai tạo giống F1 cho các lợi thế năng suất tiềm năng, tính kháng bệnh tốt hơn, quan trọng là tuyển chọn đánh giá các dòng sớm, tỷ lệ hoa cái cao, kháng sâu bệnh và mức độ đắng của quả Hàm lượng chất khô của quả cao rất cần cho chế biến cắt lát

và sấy khô, chúng được bán và sử dụng làm trà Ở vùng nhiệt đới châu Á nhiều giống điạ phương được cải thiện từ hình dạng, màu sắc, kích thước, công ty East- West đã đưa ra khoảng 10 giống lai, với những đặc tính biến động lớn như thu hoạch sớm (thu hoạch lần đầu từ 37 đến 52 ngày sau gieo), trái (màu trắng hay xanh nhạt đến xanh đậm, nhẵn hay có sóng…)

Theo Robinson (1996), ở Ấn Độ giống trồng có quả hình thoi, giống hoang

dã quả nhỏ, tròn Việc lai giữa các giống trồng để tạo ra các giống có sức sống mạnh, trái to, thịt dày

Theo Palada và ctv (2003), giống lai cho năng suất cao nhưng giá tương đối cao và phải đặt hàng trước mỗi vụ, giống OP có thuận lợi là tự để giống và sử dụng cho các vụ sau Việc lựa chọn giống trước khi trồng cần dựa vào yêu cầu của thị trường của vùng và dựa vào màu sắc, hình dạng Tổng quát có 3 dạng quả:

+ Dạng nhỏ: dài trái từ 10 đến 20 cm, nặng 100-300 gr, màu thường xanh đậm, rất đắng;

+ Dạng dài: trái từ 20 đến 30 cm, nặng 200 - 600 gr, xanh nhạt, đắng nhẹ, gai quả trung bình;

+ Dạng tam giác: trái từ 9 đến 12 cm, nặng 300 - 600 gr, xanh nhạt đến xanh

Trang 26

Theo Mai Văn Quyền và ctv (1995), hiện nay ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh nông dân chủ yếu trồng 2 loại khổ qua trái xanh và trái trắng Loại khổ qua trái xanh trái thường ngắn hơn, gai nhỏ, da xanh hơn khổ qua trái trắng Khổ qua trái trắng thì trái to, gai lớn, khi chín có màu gần như trắng, da láng (có nơi gọi là khổ qua mỡ), nhìn chung 2 loại cho năng suất khá, chất lượng cao Theo Trần Thị Ba (2009), có hai loại khổ qua: khổ qua lai và khổ qua địa phương

- Giống khổ qua lai gồm có:

+ Giống Polo 192 và May 185 (Chiatai): là giống lai F1 do công ty Trang Nông phân phối có sức sinh trưởng mạnh, trái dài, suông đẹp, đầu đuôi trái hơi nhọn, gai nở to xanh bóng, thịt dày, độ đắng trung bình Chiều dài trái 24 - 25 cm và trọng lượng 150-170 gr (Polo 192), dài 20 cm và nặng 120-140 gr (May 185), năng suất cao, trồng quanh năm

+ Giống khổ qua lai EW 242: Do công ty Đông Tây phân phối, cây sinh trưởng tốt ở mọi thời vụ, kháng bệnh đốm lá Thời gian bắt đầu thu hoạch trái 38 -

40 ngày sau khi gieo và kéo dài 1,5 - 2 tháng Năng suất 3 - 4,5 kg/cây Chiều dài trái 19 - 22 cm, màu xanh sáng, rất bóng, gai lớn thẳng

- Giống địa phương gồm có:

+ Giống TH-12: do công ty giống cây trồng Miền Nam chọn lọc từ giống khổ qua mỡ địa phương Giống cho trái sớm, bắt đầu thu trái 40 ngày sau gieo, trái dài 18 - 20 cm, thon hai đầu, không vai, màu xanh trung bình, gai dọc liền và nổi rõ, thịt trái dầy, ít đắng, thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Năng suất trung bình từ

Trang 27

+ Giống khổ qua Rô: trái nhỏ 12 - 15 cm, hai đầu nhọn, không vai, vỏ xanh trung bình, gai nhỏ, nhọn, vị đắng nhiều, sai trái nhưng năng suất thấp hơn khổ qua Xiêm Loại này thích hợp chế biến sấy khô làm trà

Đặc điểm quả Lượng giống

sử dụng (Tấn hạt)

Tên giống chủ lực Việt Nam 12000 80% Dạng quả trung bình (50%),

xanh nhạt, mềm

75% lai: > 12 EW 242

Dạng quả nhỏ (35%), xanh nhạt, mềm

90% lai: > 10 EW 241

Dạng quả trung bình (15%), xanh nhạt, gai trung bình

40% lai: 2,5 EW 277

Philippines 12000 70% Dài (90%), xanh đậm, mềm 75% lai: 7 Galary, EW

Ngắn (10%) Thái Lan 3500 90% Lớn (95%), mềm, vai tròn 95% lai: 4

Nhỏ(5%), nhiều gai, xanh đậm 50% lai: 0,3 Mod Dam Indonesia 8000 40% Lớn (50%), mềm , vai rộng 40% lai: 2 EW Raden,

EW Siam Trung bình (30%), mềm,

vai rất rộng

50% lai: 1,8 Giok, EW

Dài (20%), trắng, hơi mềm 30% lai: 0.6 EW

Nguồn <http://www.avrdc.org/APSA/2007/preseAations/08-SdeHoop.pdf>

2.5 Các nghiên cứu ngoài và trong nước

2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước

2.5.1.1 Kỹ thuật ghép - chăm sóc sau ghép

* Phương pháp và thời gian ghép

Các phương pháp phù hợp với mỗi loài khác nhau, thông thường các phương

Trang 28

1997; Oda,1999) Ghép ống (tube) thì nhanh hơn thích hợp cho các cây nhỏ, trong khi đó phương pháp ghép nêm ngọn yêu cầu có sự tiếp hợp sâu giữa ngọn và gốc ghép Việc lựa chọn phương pháp ghép liên quan đến loài, điều kiện khí hậu và sức sống của gốc ghép

Ngọn và gốc ghép được cố định bằng các kiểu kẹp khác nhau hay bằng các ống nhựa hay que ghim bằng gốm cũng được dùng trong 1 số trường hợp

Một số biện pháp cải thiện nhằm nâng cao tỷ lệ sống cây ghép, ở phương pháp ghép nhanh, như cắt bớt lá mầm, xoay trục lá mầm của ngọn ghép theo trục của gốc ghép Nhìn chung tỷ lệ sống của cây ghép có liên quan đến điều kiện trao đổi chất, kích thước cây, kiểu ghép

(Nguồn: <http:www.ecoponic.de/data/publications>)

Hình 2.1: Một số kỹ thuật ghép trên rau

Oda (1999), đưa ra thời gian gieo và ghép trên 1 số loài rau ăn quả như sau:

Trang 29

Bảng 2.2: Thời gian gieo và ghép ở một số giống rau

Ngọn

ghép

Gốc ghép Kiểu ghép Ngày

gieo ngọn (1)

Ngày ghép (2)

Số lá thật (3) Ngọn

ghép

Gốc ghép

(Trích dẫn bởi Leonardi và Romano, 2004, http:www.ecoponic.de/data/publications>)

1) Ngày sau khi gieo gốc

(2) Ngày sau khi gieo ngọn

(3) Số lá thật tại thời điểm ghép

* Chăm sóc cây sau ghép

Cây sau ghép được đưa vào nhà kính, che mát yêu cầu nhiệt độ 24 - 270C,

ẩm độ khoảng 100%, che sáng 60-70%, tuy nhiên cần hạn chế việc che sáng quá mức sẽ làm cây yếu ớt Giai đoạn này mất khoảng 5 ngày: trong 3 ngày đầu cây cần duy trì độ ẩm cao sau đó tăng dần độ thông gió cho cây Thời gian này có thể thay đổi tùy thuộc vào gốc ghép, quá trình phát triển Hiện nay có 2 quan điểm đối ngược nhau:

+ Kéo dài thời gian này trong điều kiện thích hợp để cây phát triển tốt

+ Rút ngắn để tiết kiệm thời gian, giảm các thiệt hại do bệnh và làm cây phát triển yếu

Sau đó cây được đưa vào nhà ươm, chăm sóc, tuyển chọn trước khi đem trồng

2.5.1.2 Lịch sử nghiên cứu phát triển trên rau ghép và trên cây khổ qua

Theo Sakata và ctv (2007), việc nghiên cứu gốc ghép trên rau tại Nhật Bản

bắt đầu từ 1920 trên cây dưa hấu, bí đỏ được sử dụng làm gốc ghép để ngừa bệnh

Trang 30

bầu và phương pháp ghép ở giai đoạn cây mầm được phát triển Từ 1950 -1970

nghiên cứu các gốc ghép kháng bệnh Năm 1980 dựa vào kết quả các thử nghiệm

khác nhau chọn được giống bầu Renshi làm gốc ghép Từ đó gốc bầu kháng bệnh vi

khuẩn được sử dụng làm gốc ghép chính tại Nhật

Reyes nghiên cứu khả năng ghép chồi ngọn của khổ qua lên gốc bầu và

mướp Bầu được ghép 20 ngày sau khi gieo, cao 3 - 5 cm, cho tỷ lệ thành công cao

hơn Mướp được ghép 30 ngày sau gieo khi chiều cao thân 5 cm, áp dụng kỹ thuật

ghép chồi Ngọn được lấy ở cây khổ qua có ít nhất 20 ngày tuổi hay lấy ngọn ở cây

trưởng thành, kết quả ở gốc ghép mướp có tỷ lệ thành công (87%) cao hơn gốc bầu

(83%), có sức sống (4,75) cao hơn bầu (3,5) và một số chỉ tiêu sinh trưởng khác

Khổ qua ghép trên các gốc mướp, bầu có ngày ra hoa đầu tiên sớm hơn đối

chứng từ 10 đến 17 ngày, chiều cao lóng mang hoa đầu tiên thấp hơn đối chứng từ 3

đến 4cm, dài quả ngắn hơn đối chứng từ 1,9 đến 4,5cm, có số hạt thấp hơn đối

chứng từ 3,3 – 17 hạt, riêng đường kính trái thì không có sự khác biệt

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu theo dõi trên cây khổ qua ghép

Gốc ghép Ngày ra hoa

đầu tiên

Lóng mang hoa đầu tiên

Dài trái (cm)

Đường kính trái (cm)

Trang 31

Theo Hwang và ctv (1998), khi nghiên cứu bệnh héo do Alternaria alternata

f cucurbitae trên cây ghép giữa khổ qua và mướp, cho thấy bệnh tấn công trên cây

ghép ở nhiệt độ 8-160C, có thể phòng bệnh bằng cách ghép ở nhiệt độ 20 - 240C Thử nghiệm trên 3 loại thuốc: mancozeb, iprodione và pyrifenox Pyrifenox có ảnh hưởng ức chế cao đến sự phát triển của sợi nấm trong môi trường thạch cũng như trong nhà ươm cây

Theo Lin và ctv (1998), khi nghiên cứu tính kháng bệnh héo vi khuẩn do

Fusarium oxysporum f momordicae (FOM) ở cây khổ quá ghép trên gốc mướp và

năng suất của nó Nấm FOM chỉ tấn công khổ qua và bí đao không tấn công trên các cây họ bầu bí khác do đó các gốc này được sử dụng như gốc ghép kháng bệnh cho khổ qua Những thí nghiệm trên hầu hết các gốc ghép họ bầu bí cho thấy chỉ có

bí đỏ, bầu và mướp ghép thành công trên khổ qua Gốc mướp có tỷ lệ sống cao trong nhà plastic, sức sống mạnh, kháng bệnh héo vi khuẩn cao khi được lây nhiễm nhân tạo Trong 3 năm theo dõi cặp ghép khổ qua giống số 3 của công ty Known You Seed và gốc mướp địa phương L39 bằng phương pháp ghép nêm ngọn cho năng suất cao từ 61 đến 108 tấn/ha so với cây không ghép cho năng suất từ 0 đến

24 tấn/ha

2.5.1.3 Trên các cây rau khác

- Diện tích cây rau ghép: tỷ lệ diện tích dưa hấu ghép trồng trong nhà kính

tại Nhật Bản chiếm 100%, trồng ngoài đồng chiếm trên 95%, trên cây dưa lê tỷ lệ diện tích cây ghép trồng trong nhà kính chiếm 73% ở Nhật Bản, chiếm 96% ở Hàn Quốc, trong khi đó tỷ lệ diện tích cây ghép ngoài đồng là 68% và 84% (Robinson,1996)

- Ảnh hưởng của gốc ghép đến ngọn ghép

Gu và ctv (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép Cucurbita ficifolia

đến sự trưởng, tính kháng và chất lượng trái dưa leo, thí nghiệm dùng 4 gốc ghép:

Bouche, King Hybrid, Qingdao và ‘Shuangli No 1” ghép trên giống Yuexiu 181, kết quả các cây ghép có chiều cao hơn, vị trí hoa cái thấp, năng suất tăng đáng kể so

Trang 32

giống King Hybrid Lượng đường và protein hòa tan ở các cây ghép đều tăng có ý

nghĩa Lượng vitamin C cao hay thấp hơn so với đối chứng tùy thuộc vào gốc ghép

Lượng nước và vị quả không khác biệt rõ ràng giữa cây ghép và đối chứng

Theo Palada và Chang (2003), trong gần 10 năm Trung tâm nghiên cứu phát

triển Rau Á châu (AVRDC) đã phát triển kỹ thuật ghép cà chua trên cà tím nhằm

nâng cao năng suất và sản xuất cà trong mùa mưa ở những vùng phụ cận nông thôn

Đông Nam Á, các nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy cà chua ghép có sức chống chịu

tốt trong điều kiện ngập úng và bệnh héo vi khuẩn kết quả cho năng suất cao hơn

20-100 % so với cà chua không ghép Các thí nghiệm tại nông hộ ở Philippines và

Việt Nam năng suất cà chua ghép tăng 100% so với cà chua không ghép bị chết khi

đất ngập nước

Halit và Nebahat (2004) nghiên cứu tỷ lệ sống sau ghép ở các gốc ghép bầu,

bí đao, bí đỏ, mướp hương trên gốc dưa hấu cho thấy gốc bầu có tỷ lệ sống cao hơn

các gốc ghép khác, kiểu ghép áp cho tỷ lệ sống cao hơn kiểu ghép toàn bộ cây mầm,

tất cả các gốc ghép đều có sinh khối lớn hơn đối chứng ngoại trừ gốc ghép mướp

Nghiên cứu cho thấy các gốc ghép ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sự phát triển trên

cây dưa hấu

Maršic và Osvald (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến

tỷ lệ sống và năng suất của 2 giống cà chua trồng trong nhà kính (plastic) Giống 'Monroe' và 'Belle' được dùng làm ngọn ghép, 'PG 3' và 'Beaufort'

dùng làm gốc ghép Phương pháp ghép nêm ngọn (cleft grafting) và ghép ống (tube

grating), kết quả cả hai cách ghép đều phù hợp để ghép trên cà chua Gốc ghép thích

hợp với ngọn ghép cho tỷ lệ sống sau ghép từ 79 đến100% Ở phương pháp ghép

nêm, giống Monroe có tỷ lệ sống 100% trên cả 2 gốc, giống Belle có tỷ lệ sống trên

2 gốc tương đương nhau 92%-93% Ở phương pháp ghép tháp tỷ lệ sống thấp nhất

79% ở giống Monroe ghép trên gốc Beaufort khi ghép tháp Năng suất cao nhất

(4,62 kg/cây) được ghi nhận ở giống Monroe ghép trên giống Beaufort

Adil và ctv (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và cây ghép lên sự

sinh trưởng và phát triển của cà chua trong điều kiện có kiểm soát, thí nghiệm dùng

Trang 33

các giống chịu nhiệt làm gốc ghép: cà chua Summer set và giống cà tím Black Beauty, giống cà chua kém chịu nhiệt UC 82-B làm ngọn ghép, cây được đặt trong

tủ nuôi, ở 2 chế độ nhiệt 300C ban ngày, 220C ban đêm và 380C ban ngày, 27 0C ban đêm, kiểu thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 lần lập lại Các chỉ tiêu theo dõi diện tích lá, trọng lượng tươi, khô của thân, lá, rễ, số hoa, số hạt phấn, độ dẫn điện Kết quả có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức UC82-B/ Black Beauty và UC82-

B ở nhiệt độ 380C ban ngày, 27 0C ban đêm ở một số chỉ tiêu sinh trưởng, nhìn chung cây ghép ảnh hưởng yếu đến sinh trưởng phát triển vô tính của cây cà chua trong điều kiện nhiệt độ cao

- Kỹ thuật ghép

Kỹ thuật ghép cà chua trên gốc cà tím tại Philippines, gốc cà tím giống EG

203, EG 219 được gieo trước 3 ngày so với ngọn cà chua giống ASVEG 4, Monotaro 93, FMTT 586, CLN 5915-206D4-2-2, các giống cà chua ASVEG 6 và SaAa thì gieo cùng lúc với gốc cà tím Khi gốc cà tím được 3 lá thật đường kính thân 1,6 - 1,8 cm tiến hành ghép, tưới cây 4 giờ trước khi ghép, không tưới sau khi ghép và giai đoạn liền vết ghép Tuyển chọn gốc ghép và chuyển vào khay, cắt vát gốc ghép 300 phía trên trụ mầm và dưới lá thật thứ nhất Chọn ngọn ghép cùng kích thước với gốc, cắt vát ngọn ghép 300 phía trên hay dưới trụ mầm sau đó đưa ngọn ghép vào phân nửa ống nhựa ghép có đướng kính 1,8 - 2 cm dài 1 cm, đưa ống nhựa ghép vào gốc ghép sao cho vết ghép của gốc và ngọn khớp với nhau Sau khi ghép cây được che phủ và đưa vào phòng kiểm soát nhiệt độ ở 26oC và ẩm độ 90%, ánh sáng cũng được cung cấp cho phòng Giai đoạn kết dính của ngọn và gốc từ 6 đến 7 ngày, 4 - 5 ngày đối với kết hợp cà chua - cà chua, cà tím - cà tím Sau đó cây được đưa huấn luyện để tăng tính thích nghi

Trang 34

Bảng 2.5: Kết quả sau ghép giữa cà chua ớt với các giống khác

ghép

Số cây thành công

Tỷ lệ ghép thành công (%)

Nguồn: <http://libAs.avrdc.org.tw/fulltext_pdf/ >

Attanayaka và ctv (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp ghép

áp và ghép cài đến tỷ lệ thành công ghép giữa cà chua và cà tím kết quả cho thấy

phương pháp ghép áp cho tỷ lệ thành công (86,9%) cao hơn ghép cài (59%) và

không có sự khác biệt giữa cây ghép được che sáng một phần và cây đặt trong tối

Bảng 2.6: Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ thành công giữa cặp ghép cà

chua và cà tím

Nguồn: < http://libAs.avrdc.org.tw/fulltext_pdf>

Hassell và Demmont (2007) nêu một số kỹ thuật ghép trên cây dưa hấu:

- Ghép áp có lưỡi: đây là phương pháp khá đơn giản và cũ nhất trong các

phương pháp ghép

Hạt dưa được gieo 5 ngày trước gốc ghép, khi có ít nhất 1 lá thật thì tiến

hành ghép dùng dao cắt 1 vết trên gốc ghép theo hướng từ trên xuống, trên ngọn

ghép cắt theo hướng từ dưới lên (hay ngược lại), độ dài 2 vết cắt tương đương nhau,

kết hợp ngọn ghép và gốc ghép với nhau dùng dây nhôm che kín vết ghép, sau 3

Trang 35

ngày vết ghép đã liền thì cắt bỏ ngọn của gốc ghép Sau 7 ngày thì cắt bỏ gốc ghép

và bỏ dây nhôm

Ưu điểm: cho tỷ lệ sống cao không yêu cầu ánh sáng nhẹ, độ ẩm môi trường cao.

Nhược điểm: tốn công lao động cho quá trình dưỡng cây sau ghép phải loại

bỏ ngọn và gốc của gốc ghép và ngọn ghép, diện tích nhà kính cần rộng hơn cách ghép khác

độ yêu cầu khoảng 250 C trong 3 ngày, sau đó tăng ánh sáng, giảm độ ẩm để đưa cây trở lại với môi trường bên ngoài

Trang 36

Nhược điểm: phải kiểm soát được nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm Nếu ghép không đúng kỹ thuật và tuổi gốc ghép không thích hợp thì mầm của gốc ghép sẽ phát triển và ngọn dưa hấu bị thui chột

Nguồn:<http://scialert.net/fulltext/>

Hình 2.3: Gốc ghép giữ lại một lá mầm

- Ghép nêm đọt (Hole insertion grafting) phương pháp này được các nhà trồng dưa ưa thích vì cây dưa có kích thướt nhỏ so với gốc, hạt dưa được gieo vài ngày sau khi gieo hạt gốc ghép, số ngày tùy thuộc vào từng loại gốc ghép Sau khi gieo hạt dưa từ 7 đến 8 ngày có 1 lá ở ngọn và 1 lá nhỏ ở gốc ghép thì tiến hành ghép Ngọn dưa được cắt vát, loại bỏ ngọn của gốc ghép dùng tăm đâm tạo 1 lổ trên đỉnh gốc ghép đặt ngọn dưa vào lổ trên gốc ghép Sau đó chuyển cây vào phòng giữ

ẩm, nhiệt độ khoảng 250C, ánh sáng nhẹ trong 3 ngày Lưu ý không đặt ngọn dưa vào lổ rỗng ruột trên gốc ghép vì rễ ngọn dưa có thể phát triển dọc theo thân gốc đi vào đất và làm mất tính kháng bệnh của gốc ghép

Ưu điểm: không cần phải kết hợp cây (như ghép áp) hay cắt tỉa nhiều

Nhược điểm: đòi hỏi phải có kỹ thuật và kiểm soát được môi trường ở phòng dưỡng cây sau ghép Nếu không thực hiện đúng thao tác và đúng tuổi gốc ghép thì mầm của gốc ghép sẽ phát triển và ngọn dưa hấu bị thui chột

Trang 37

Nguồn:<http://scialert.net/fulltext/>

Hình 2.4: Kỹ thuật ghép nêm đọt

- Ghép bên hông: phương pháp này được cải biên từ phương pháp ghép toàn

bộ, khi các cây có ít nhất 1 lá thật thì tiến hành ghép dùng dao rạch 1 vết trên thân gốc ghép, ngọn ghép được cắt vát, dùng tăm mở vết rạch trên thân gốc ghép để đưa ngọn ghép vào Sau đó chuyển cây vào phòng giữ ẩm, nhiệt độ khoảng 250C, ánh sáng nhẹ trong 3 ngày, cắt bỏ ngọn gốc ghép sau 5 ngày

Ưu điểm: kỹ thuật ghép này rất đơn giản

Nhược điểm: tốn công cắt bỏ ngọn gốc ghép, phải kiểm soát chặt nhiệt độ và

ẩm độ

Trang 38

Nguồn:<http://scialert.net/fulltext/>

Hình 2.5: Kỹ thuật ghép bên hông

- Ghép nối cành: phương pháp này có nhiều triển vọng, cả 2 gốc và ngọn ghép đều cần phải già hơn các phương pháp khác, có 2 - 3 lá thật, dùng dao cắt bỏ ngọn gốc ghép, cắt dưới 2 lá mầm vết cắt từ 35 đến 450, cắt tương tự cho ngọn dưa, đặt ngọn dưa lên gốc ghép dùng kẹp cố định vết ghép, đưa cây vào phòng giữ ẩm 7

- 10 ngày Phương pháp này vẫn còn ở giai đoạn đầu cần được nghiện cứu thêm trong tương lai

Nguồn:<http://scialert.net/fulltext/>

Hình 2.6: Kỹ thuật ghép nối cành

Trang 39

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước

2.5.2.1 Trên cây khổ qua

- Nguyễn Xuân Trường (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của các gốc ghép bầu,

bí đao, mướp địa phương đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây khổ

qua (Momordica charantia L.) trên vùng đất đen Xuân Bắc, Xuân Lộc, Đồng Nai,

cho thấy cây ghép trên mướp cho tỷ lệ sống cao nhất 84,8%, ở bầu là 73,5% và thấp nhất là bí đao 69,9% Trong giai đoạn vườm ươm tỷ lệ sâu bệnh hại giữa các nghiệm thức không khác biệt nhau và không xuất hiện bệnh hại Tỷ lệ sống của khổ qua ghép sau khi trồng: khổ qua ghép trên gốc mướp có tỷ lệ sống cao nhất là 96%, trên gốc bầu là 88%, trên gốc bí là 76% Khổ qua ghép trên mướp có tốc độ tăng trưởng chiều cao, khả năng phân cành và số cành hữu hiệu tốt so với các gốc ghép còn lại Thời gian ra bông đực và bông cái giữa các gốc ghép không có sự khác biệt

và chậm hơn đối chứng 2-3 ngày Thời gian thu hoạch lần đầu muộn hơn đối chứng

từ 3 đến 6 ngày và kết thúc chậm hơn đối chứng từ 2 đến 9 ngày Sự khác biệt này không có ý nghĩa trong sản xuất Khổ qua ghép trên gốc mướp cho năng suất cao nhất đạt 35,2 tấn/ha, có lợi nhuận cao nhất, đạt trên 52 triệu/ha, cao hơn các nghiệm thức khác từ 50 đến 60% Không có sự khác biệt về kích thước, trọng lượng trái, hình dạng trái giữa các cây khổ qua ghép từ các gốc ghép khác nhau

- Trần Hồng Chánh (2005) nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của 8 giống khổ qua: HMT 241, CT 59, SG 4.1, TN 73, HMT 277, HMT 242, TN92, có triển vọng trồng trong vụ Đông Xuân huyện Dương Minh Châu Tỉnh Tây Ninh, kết quả cho thấy các giống HMT 241, CT 59, SG 4.1 có khả năng sinh trưởng tốt với chiều cao cây đạt từ 300,9 - 313,8 cm và khả năng phân cành biến động từ 15,7 đến 24,2 cành Các giống TN 73, HMT 277, TN92 có khả năng sinh trưởng kém với chiều cao cây đạt 262,4 - 288,6 cm, khả năng phân cành biến động 18,0 - 27,8 cành Các giống TN 73, HMT 277, HMT 241, HMT 242, TN 92, có thời gian phát dục sớm biến động từ 21 đến 22 ngày sau gieo, giống SG 4.1, TH 8, CT59 có thời gian phát dục từ 24 đến 25 ngày

Trang 40

Tỷ lệ nhiễm bệnh héo rũ cao nhất trên giống TN8 (21,7%) kế đến là giống CT59 (10,5%) Các giống còn lại nhiễm bệnh với tỷ lệ biến động 1,04 - 3,19%

Các giống TN 73, HMT 277, HMT 241, HMT 242, SG 4.1 cho năng suất cao nhất đạt từ 28,52 đến 29,62 tấn/ha, giống TN 8 cho năng suất thấp nhất 16,95 tấn/ha

- Lê Ngọc Thành (2005) nghiên cứu sự sinh trưởng phát triển và năng suất 5 giống khổ qua: HN, TN, HMT 241, HMT 242, và HMT 277 trồng trong vụ hè thu tại xã Tiến Lợi - thành phố Phan Thiết - Tỉnh Bình Thuận kết quả giống HMT 241,

227, HMT 242 có khả năng sinh trưởng tốt về chiều cao cây đạt từ 266,3 đến 317,4

cm, số cành đạt cao nhất từ 42,2 đến 41,4 cành Giống HN nhiễm sâu hại cao nhất 45,6%, các giống còn lại nhiễm 34,21- 45,6% Giống HN và HMT 241 kháng bệnh chạy dây và mẫn cảm với bệnh đốm lá; Giống TN và HN mẫn cảm với bệnh chạy dây và bệnh đốm lá, giống HMT 242 kháng tốt với bệnh chạy dây và mẫn cảm với bệnh đốm lá Giống HMT 241, 227, HMT 242 cho năng suất 27,1 - 30,6 tấn/ha, giống TN cho năng suất thấp nhất 23 tấn/ha

- Phạm Toàn Thắng (2007) nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng xuất của 5 giống khổ qua: HMT 241, HMT 242, TN, Big 49 và SG 4.1, trồng vụ hè thu, trên vùng đất xám Xã Tân Lập, Huyện Đồng Phú, Tỉnh Bình Phước kết quả giống HMT 241, HMT 242, SG 4.1, Big 49 tăng trưởng tốt chiều cao 415,1- 455,2

cm, số lá 64,3 - 67,3 lá/cây; số nhánh 22,3 - 29,5 nhánh/cây Giống MT 242 có chiều cao nhất 455,2 cm, Big 49 và SG4.1 có số lá nhiều nhất 67,3 lá/cây

Giống Big 49, HMT 242, TN có thời gian phát dục sớm 22-23 ngày sau gieo và thu hoạch sớm 35-37 ngày sau gieo.Tỷ lệ nhiễm bệnh đốm lá 20-32%, nặng nhất là SG 4.1 (33,3%) Giống SG 4.1 và TN nhiễm bệnh héo rũ, chạy dây với tỷ lệ tương ứng

là 20% và 6%, các giống còn lại không nhiễm Tỷ lệ nhiễm sâu ăn lá 24,7 - 40,3%, nặng nhất là TN 40,3% Giống Big 49 cho năng suất cao nhất (44,6tấn/ha), SG 4.1 cho năng suất 39,2 tấn/ha, HMT 241 là 38,3 tấn/ha, TN là 31,4 tấn/ha, HMT 242 là 35,94 tấn/ha Các giống Big 49, HMT 241, HMT 242, SG4.1 có mã trái đẹp, thịt trái dày từ 1,1 - 1,2 cm, chiều dài 16,9 - 21,2 cm, đường kính trái từ 4,9 - 5,5 cm, màu xanh đậm đến hơi nhạt, thời gian bảo quản từ 4-5 ngày

Ngày đăng: 21/12/2017, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm