Các giải pháp chính phòng trị bệnh chân móng cho bò sữa: * Cải thiện vệ sinh thông qua việc dọn phân thường xuyên, sát trùng chuồng trại kết hợp với sử dụng tấm lót chân đã làm giảm tỉ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
******************
PHAN VIỆT THÀNH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CHÂN MÓNG
CHO BÒ SỮA KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CHÂN MÓNG
PHAN VIỆT THÀNH
Hội đồng chấm luận văn
Hội thú y Việt Nam
Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
3 Phản biện 1: PGS.TS NGUYỄN NGỌC HẢI
Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
4 Phản biện 2: TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
5 Ủy viên: PGS.TS NGUYỄN VĂN KHANH
Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4Từ ngày 15 tháng 9 năm 2006 về làm việc tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam Chức danh là Nghiên cứu viên
Tháng 9 năm 2006 theo học Cao học chuyên ngành Thú y tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: Vợ là Đinh Kim Liên, kết hôn năm 2003
Con là Phan Việt Long, sinh năm 2004 Địa chỉ liên lạc: 39/15 Tây B, Đông Hòa, Dĩ An, Bình Dương
Điện thoại: 0918 207574
Email: thanhrrtc@yahoo.com
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài của Phòng Nghiên cứu Sinh lý động vật, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, tôi đã tham gia nghiên cứu và được phép sử dụng một phần kết quả của đề tài
Bình Dương, ngày 17 tháng 9 năm 2010
Người cam đoan
Phan Việt Thành
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Chăn nuôi Thú y và Phòng Đào tạo sau đại học trường Đai học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành được chương trình học Cao học này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Phòng Nghiên cứu Sinh lý động vật, Phòng Nghiên cứu Sức khỏe gia súc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Ban giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Gia súc lớn cùng toàn thể cán bộ công nhân viên và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các trại chăn nuôi bò sữa tại Hóc Môn, Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh và các trại chăn nuôi bò sữa tại Thủ Dầu Một – Bình Dương đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra cũng như triển khai thực hiện đề tài
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS NGUYỄN VĂN KHANH và TS ĐOÀN ĐỨC VŨ đã tận tình hướng dẫn, động viên và đóng góp những ý kiến quí báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài Xin cảm ơn ThS Nguyễn Văn Trí và hai sinh viên Nguyễn Thị Kim Nhung,
Lê Văn Thật đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện đề cương nghiên cứu cũng như thu thập và xử lý số liệu của đề tài
Về phía gia đình, tôi xin chân thành cảm ơn Cha, Mẹ, Vợ Con cùng tất cả Anh Chị Em đã luôn động viên thăm hỏi và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn tất chương trình học này
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và thử nghiệm một số biện pháp
phòng trị bệnh chân móng cho bò sữa khu vực Đông nam bộ” đã được tiến hành
tại các trại chăn nuôi bò sữa thuộc 2 huyện Hóc Môn - Củ Chi, TP Hồ Chí Minh và các trại bò sữa thuộc thị xã Thủ Dầu Một, trại bò sữa của Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Gia súc lớn, tỉnh Bình Dương trong khoảng thời gian từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010
Các nội dung của đề tài bao gồm:
1 Điều tra xác định các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh chân móng thông qua phiếu điều tra ở 45 hộ/3 qui mô đàn
2 Xác định vi sinh vật gây bệnh chân móng bò sữa: Phân tích 20 mẫu bệnh phẩm bệnh chân móng nhằm xác định vi sinh vật gây bệnh chân móng
3 Xây dựng một số giải pháp phòng trị bệnh chân móng: Vệ sinh sát trùng chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, điều trị cục bộ chân móng
Kết quả thu được như sau:
1 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến bệnh chân móng trong đề tài là: Phương thức chăn nuôi, độ khô thoáng nền chuồng và sát trùng chuồng trại
2 Vi sinh vật phân tích được trong bệnh chân móng là Streptococcus spp
3 Các giải pháp chính phòng trị bệnh chân móng cho bò sữa:
* Cải thiện vệ sinh thông qua việc dọn phân thường xuyên, sát trùng chuồng trại kết hợp với sử dụng tấm lót chân đã làm giảm tỉ lệ mắc bệnh chân móng, kéo dài thời gian xuất hiện bệnh chân móng, tăng khả năng thu nhận thức ăn, tăng năng suất sữa so với việc không dọn phân thường xuyên, không sát trùng chuồng trại và không sử dụng tấm lót chân
Tỉ lệ mắc bệnh chân móng là 40% và 30%, năng suất sữa đạt 17,7kg và 17,9kg khi sát trùng chuồng trại hoặc sát trùng chuồng trại kết hợp sử dụng tấm lót
Trang 8chân so với tỉ lệ mắc bệnh lên tới 90%, năng suất sữa chỉ đạt 15,8% khi không sát trùng chuồng trại (chăn nuôi trong điều kiện bình thường)
* Cải thiện chăm sóc nuôi dưỡng bằng cách cho bò vận động đi lại tự do trong chuồng và cho ăn khẩu phần cân đối dinh dưỡng làm giảm tỉ lệ mắc bệnh chân móng, kéo dài thời gian xuất hiện bệnh chân móng (thời gian giữ cho bò không bị bệnh chân móng được lâu hơn), tăng lượng thức ăn thu nhận được, tăng năng suất sữa
Tỉ lệ mắc bệnh chân móng là 30% và 20%, năng suất sữa đạt 17,67kg và 18,38kg khi cho bò đi lại tự do trong chuồng hoặc đi lại tự do kết hợp với ăn khẩu phần cân đối dinh dưỡng so với tỉ lệ mắc bệnh lên tới 100%, năng suất sữa chỉ đạt 16,55kg khi cầm cột hoàn toàn bò trong chuồng và không áp dụng biện pháp cải thiện nào
* Điều trị bệnh chân móng bằng cách gọt móng hoặc gọt móng kết hợp với xịt thuốc mang lại hiệu quả cao hơn so với điều trị bằng phương pháp xịt thuốc
Tỉ lệ khỏi bệnh là 80% và 90%; thời gian khỏi bệnh là 2,38 ngày và 1,78 ngày; Tỉ lệ tái phát bệnh là 62,5% và 33,3%; thời gian tái phát bệnh là 168,6 ngày
và 183,7 ngày khi điều trị bằng phương pháp gọt móng hoặc gọt móng kết hợp với xịt thuốc so với tỉ lệ khỏi bệnh chỉ đạt 30%; thời gian khỏi bệnh kéo dài tới 5,33 ngày; tỉ lệ tái phát bệnh lên tới 100%; thời gian tái phát chỉ có 69 ngày khi điều trị bằng cách xịt thuốc cục bộ nơi tổn thương
Trang 9ABSTRACT
The thesis: “Study on effect factors and try some measures to prevent and treat on dairy cow hoof diseases in South-east regions in Vietnam” was carried out
in HCMC and Binh Duong dairy farms from Sep 2009 to May 2010
The results show that, factors affecting hoof diseases of dairy cows include: Animal husbandry system, wet level of floor and stall disinfectant
The microorganism that occur in hoof medical waste is Streptococcus spp
Stall disinfectant or stall disinfectant combined with the rubber mat for cow standing decreased considerably hoof diseases incidence and prolong time to appear foot lesions
Free stall housing or free stall housing combined with balance ration to make decreased incidence of lameness and prolong time to appear foot lesions after beginning the experiment too These treatments increased food intake and milk yield of dairy cows
Claw trimming or claw trimming combined with violet-antibiotic spray make increasing rate out of illness (recover from illness rate), shorten treated time and prolong the reappearance of lameness of the cows
Trang 10MỤC LỤC
Chương 1 MỞ ĐẦU 01
1.1 Đặt vấn đề 01
1.2 Yêu cầu của đề tài 02
Chương 2.TỔNG QUAN 03
2.1 Cấu tạo và chức năng bàn chân bò sữa 03
2.2 Các nhân tố dẫn tới bệnh chân móng và cách quản lý chúng 06
2.2.1 Môi trường 06
2.2.2 Di truyền 09
2.2.3 Dinh dưỡng 11
2.3 Những yếu tố rối loạn và bệnh chân móng thông thường-cách xử lý 14
2.4 Một số nghiên cứu về bệnh chân móng 19
2.4.1 Nghiên cứu ngoài nước 19
Bệnh chân móng do quản lý, môi trường và dinh dưỡng 19
Các giải pháp hiện đang được áp dụng 22
Thiệt hại về kinh tế 24
2.4.2 Nghiên cứu trong nước 24
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Nội dung nghiên cứu 27
3.1.1 Điều tra xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh chân móng bò sữa 27
3.1.2 Khảo sát một số vi khuẩn liên quan đến bệnh chân móng bò sữa 27
3.1.3 Xây dựng một số biện pháp phòng trị bệnh chân móng bò sữa 27
3.1.3.1 Cải thiện vệ sinh chuồng trại, tiểu khí hậu chuồng nuôi 27
3.1.3.2 Cải thiện chế độ chăm sóc nuôi dưỡng 28
3.1.3.3 So sánh một số biện pháp điều trị chân móng 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh chân móng bò sữa miền Đông Nam Bộ qua phiếu điều tra 28
3.2.2 Khảo sát một số vi khuẩn liên quan đến bệnh chân móng bò sữa 30
Trang 113.2.3 Xây dựng một số giải pháp phòng trị bệnh chân móng 31
3.2.3.1 Thí nghiệm 1: Cải thiện vệ sinh và sát trùng chuồng trại 31
3.2.3.2 Thí nghiệm 2: Cải thiện chế độ chăm sóc nuôi dưỡng 32
3.2.3.3 Thí nghiệm 3: So sánh một số biện pháp điều trị chân móng 33
3.3 Xử lý số liệu 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh chân móng bò sữa 35
4.1.1 Tỉ lệ bò bị bệnh chân móng 35
4.1.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh chân móng 36
4.1.2.1 Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến bệnh chân móng 36
4.1.2.2 Ảnh hưởng của hộ chăn nuôi, qui mô đàn đến tỉ lệ bệnh chân móng 37
4.1.2.3 Ảnh hưởng của độ tuổi, lứa đẻ, giống đến bệnh chân móng 38
4.1.2.4 Ảnh hưởng của độ khô thoáng nền chuồng với bệnh chân móng 39
4.1.2.5 Ảnh hưởng của chăm sóc, kiểm tra và sát trùng đến bệnh chân móng 39
4.1.2.6 Ảnh hưởng của khẩu phần ăn đến bệnh chân móng 40
4.1.2.7 Bệnh chân móng và một số chỉ tiêu sinh sản và viêm vú 41
4.1.2.8 Tiểu khí hậu chuồng nuôi và bệnh chân móng 42
4.1.2.9 Ảnh hưởng của việc sát trùng chuồng trại đối với bệnh chân móng 42
4.2 Khảo sát vi sinh vật gây bệnh chân móng cho bò sữa 42
4.2.1 Vi sinh vật trên nền chuồng 42
4.2.2 Vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi 43
4.2.3 Vi sinh vật trong bệnh phẩm bệnh chân móng 44
4.3 Xây dựng một số giải pháp phòng trị bệnh chân móng 45
4.3.1 Thí nghiệm 1: Cải thiện vệ sinh và sát trùng chuồng trại 45
4.3.1.1 Tỉ lệ bò mắc bệnh chân móng 45
4.3.1.2 Mức độ mắc bệnh chân móng trên số bò khảo sát 46
4.3.1.3 Tỉ lệ các dạng bệnh chân móng trên bò thí nghiệm 1 47
4.3.1.4 Thời gian xuất hiện bệnh chân móng sau khi bắt đầu thí nghiệm 48
4.3.1.5 Khả năng thu nhận thức ăn 49
Trang 124.3.1.6 Năng suất sữa 49
4.3.2 Thí nghiệm 2: Cải thiện chế độ chăm sóc nuôi dưỡng 50
4.3.2.1 Tỉ lệ bò mắc bệnh chân móng 50
4.3.2.2 Mức độ mắc bệnh chân móng trên số bò khảo sát 51
4.3.2.3 Tỉ lệ các dạng bệnh chân móng trên bò thí nghiệm 2 51
4.3.2.4 Thời gian xuất hiện bệnh chân móng sau khi bắt đầu thí nghiệm 52
4.3.2.5 Khả năng thu nhận thức ăn 53
4.3.2.6 Năng suất sữa 54
4.3.3 Thí nghiệm 3: So sánh một số biện pháp điều trị chân móng 54
4.3.3.1 Tỉ lệ khỏi bệnh và thời gian khỏi bệnh 54
4.3.3.2 Tỉ lệ tái phát bệnh 56
4.3.3.3 Thời gian tái phát bệnh 57
4.3.3.4 Khả năng thu nhận thức ăn 57
4.3.3.5 Năng suất sữa 58
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Tái liệu tiếng Việt 60
Tài liệu tiếng Anh 61 PHỤ LỤC
Trang 13DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỉ lệ bệnh chân móng
Bảng 4.2: Tỉ lệ bò bị bệnh viêm móng theo các phương thức chăn nuôi
Bảng 4.3: Tỉ lệ hộ có bò bị bệnh chân móng theo qui mô đàn
Bảng 4.4: Tỉ lệ bò bị bệnh chân móng theo qui mô đàn
Bảng 4.5: Tỉ lệ bò bị bệnh chân móng theo độ tuổi, lứa đẻ, giống
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của mức độ khô thoáng nền chuồng đối với bệnh viêm móng Bảng 4.7: Tình trạng chăm sóc, kiểm tra và sát trùng chân móng của các hộ
Bảng 4.8: Cân đối khẩu phần ăn bò sữa ở các qui mô
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của bệnh chân móng tới một số chỉ tiêu sinh sản và viêm vú Bảng 4.10: Nhiệt độ, ẩm độ và THI trong chuồng nuôi
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của việc sát trùng chuồng trại đối với bệnh chân móng Bảng 4.12: Kết quả phân tích vi sinh vật nền chuồng theo các qui mô
Bảng 4.13: Kết quả phân tích vi sinh vật trong không khí theo các qui mô
Bảng 4.14: Kết quả phân tích vi sinh trong bệnh phẩm bệnh chân móng
Bảng 4.15: Tỉ lệ bò bị bệnh chân móng sau khi áp dụng biện pháp vệ sinh sát trùng Bảng 4.16: Mức độ bệnh chân móng trên số bò khảo sát
Bảng 4.17: Tỉ lệ các dạng bệnh chân móng trên bò TN1
Bảng 4.18: Thời gian từ khi bắt đầu thí nghiệm đến khi có bệnh chân móng xuất
hiện
Bảng 4.19: Khả năng thu nhận thức ăn tính theo vật chất khô
Bảng 4.20: Năng suất sữa 3 tháng đầu sau khi sinh
Bảng 4.21: Tỉ lệ bệnh chân móng sau khi áp dụng biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng Bảng 4.22: Mức độ nhiễm bệnh chân móng trên số bò khảo sát
Bảng 4.23: Tỉ lệ các dạng bệnh chân móng trên bò TN2
Bảng 4.24: Thời gian từ khi bắt đầu thí nghiệm đến lúc có bệnh chân móng xuất
hiện
Trang 14Bảng 4.25: Khả năng thu nhận thức ăn tính theo vật chất khô Bảng 4.26: Năng suất sữa 3 tháng đầu sau khi sinh
Bảng 4.27: Tỉ lệ khỏi bệnh và thời gian khỏi bệnh sau khi điều trị Bảng 4.28: Tỉ lệ tái phát bệnh sau khi điều trị
Bảng 4.29: Thời gian tái phát sau khi khỏi bệnh
Bảng 4.30: Khả năng thu nhận thức ăn tính theo vật chất khô Bảng 4.31: Năng suất sữa 3 tháng đầu sau khi sinh
Trang 16DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP: Crude Protein
HF: Holstein Friesian
KCLĐ: Khoảng cách lứa đẻ
ME: Metabolic Energy
THI: Temperature Humidity Index
Trang 17Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi bò sữa, bệnh tật là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất
và hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi Do đó, đã và đang có nhiều dự án nghiên cứu và chương trình quản lý phòng và trị bệnh cho bò sữa, nhất là tại các nước có ngành sản xuất sữa đang phát triển Tuy nhiên, ngày nay tỷ lệ bò loại thải trước chu
kỳ sữa thứ ba là rất cao với các nguyên nhân khác nhau Phần lớn số bò sữa bị loại thải do bốn nguyên nhân chính sau: Vô sinh do phối giống không đậu thai; viêm vú
do nhiễm trùng bầu vú kéo dài dẫn đến giảm sản lượng sữa; bệnh chân móng do nhiễm trùng hoặc tổn thương dẫn đến vô sinh và giảm khả năng thu nhận thức ăn làm giảm sản lượng sữa; sản lượng sữa thấp mặc dù có tiềm năng sản xuất sữa cao gây thiệt hại về hiệu quả kinh tế
Nguyên nhân dẫn tới việc phải loại thải bò sữa do bệnh chân móng hiện nay chiếm một tỉ lệ không nhỏ và đứng hàng thứ ba trong tất cả các nguyên nhân phải loại thải bò nêu trên Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh chân móng và những yếu
tố liên quan tới bệnh chân móng nhằm giảm bớt nguy cơ loại thải và góp phần làm tăng năng suất vật nuôi còn rất hạn chế
Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng: bệnh chân móng ở bò sữa đang là một trong những biểu hiện bệnh tật chiếm một phần lớn trong vấn đề sức khỏe bò sữa (Rushen và cộng sự, 2004) Những đàn bò sữa có tỷ lệ bệnh chân móng cao thường gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế (Enting và cộng sự, 1997; Kossaibati và Esslemont, 1997) Bệnh chân móng trên bò sữa xảy ra thường xuyên
và trên hầu hết các đàn bò, thậm chí có những kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bò
bị bệnh trong đàn lên tới 50% tại một số trại (Whay và cộng sự, 2003) Tuy nhiên
Trang 18các chủ gia súc thường không quan tâm đến bệnh này và họ chỉ phát hiện được 1/3
số ca bệnh (Wells và cộng sự, 1995; Whey và cộng sự, 2003; Espejo và cộng sự, 2006)
Ở Việt Nam, một vài nghiên cứu chỉ ra sự liên quan của thức ăn tinh trong khẩu phần đến chân móng bò sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2004), ảnh hưởng của tỉ lệ tinh/thô khẩu phần đến tình trạng bệnh viêm móng (Đoàn Đức Vũ và cộng sự, 2001) Bên cạnh các nguyên nhân gây bệnh chân móng trên, một số tác giả còn cho biết sự cầm cột hoàn toàn gia súc trong quá trình nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng tới bệnh chân móng (Lã Văn Kính và cộng sự, 2002)
Từ những tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu tìm ra các nguyên nhân chính và đưa ra các giải pháp phòng trị thích hợp cho bệnh chân móng là thực sự cần thiết trong điều kiện chăn nuôi bò sữa hiện nay
Căn cứ tình hình thực tiễn chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng và thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh chân móng
bò sữa khu vực Đông Nam Bộ” nhằm mục đích giảm chí phí trong điều trị bệnh
chân móng, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi cũng như tăng thu nhập từ bò sữa cho người nông dân
1.2 Yêu cầu của đề tài
• Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh chân móng bò sữa
• Thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh chân móng bò sữa
Trang 19Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Cấu tạo và chức năng bàn chân bò sữa (Nocek, 1996)
Hệ thống xương bàn chân: Bàn chân bò sữa bao gồm có hai ngón chân, khác
với ngựa là chỉ có một ngón chân Xương ngón chân là cấu trúc đầu tiên hỗ trợ cho bàn chân Trong mỗi ngón chân có 3 loại xương chính như 3 đốt ngón chân, những xương này bắt đầu từ phía trên cẳng chân Đốt đầu, đốt giữa và đốt cuối Các xương khác nhỏ hơn định vị trong mỗi ngón như là các xương vừng Chức năng đầu tiên của chúng là chỉ dẫn cho các sợi gân Xương được xây dựng chủ yếu từ khoáng can
xi và phot pho Xương bàn đạp (đốt cuối) thường gây những biến đổi về hình dạng của đốt cuối Đốt xương này nằm trong hộp móng cứng và cũng là xương nhạy cảm nhất đối với tổn thương và đối với bệnh do vi khuẩn xâm nhập qua những vết rạn nứt của bàn chân
Hình 2.1 Cấu tạo bình thường của bàn chân bò
Trang 20Khớp là điểm nối giữa hai xương Tại những điểm nối này, đoạn cuối của xương được bao bọc bởi một tổ chức dai chắc và trơn, được gọi là sụn Lớp sụn này rất trơn nhẵn và chống lại sự chà sát giữa các xương khi di chuyển Khớp được bao bọc bởi một lớp vỏ Trong lớp vỏ này có chứa dịch để bôi trơn và làm giảm sự ma sát Khi chống đỡ cơ thể, các xương được ghìm và khớp lại cùng nhau tạo nên sự liên kết chặt chẽ giúp chống đỡ cơ thể Nếu xung quanh khớp bị bầm tím hoặc viêm nhiễm, vi khuẩn có thể vào khớp và gây thoái hóa nghiêm trọng tổ chức sụn, gây chà sát tại khớp, mang lại sự đau đớn và không thoải mái cho con vật Khớp sưng là những dấu hiệu cảm quan của sự tổn thương hoặc viêm nhiễm
Dây chằng là tổ chức dai chắc, rất bền và có thể co dãn tự nhiên Dây chằng nối liền xương với xương và ràng buộc lẫn nhau như một tổ chức tương hỗ Một vài dây chằng đan chéo giữa các ngón chân với nhau Và nhờ sự ràng buộc giữa các xương liền kề với nhau, các dây chằng có thể ngăn ngừa sự choãi và bẹp ra của bàn chân
Dây chằng chính trong bàn chân của bò được đan chéo nhau với những dây chằng phụ kèm theo Nếu bò bị trượt chân hay bước đi sai lệch, những dây chằng này có thể bị căng và trật ra khỏi vị trí ban đầu gọi là trật gân dẫn tới bị sưng phù và què
Gân có cấu trúc tương tự như dây chằng, nhưng nó khác với dây chằng là nối
cơ với xương Có 2 loại gân, gân cơ gấp và gân cơ duỗi Gân cơ gấp thì nâng bàn chân và cẳng chân, gân cơ duỗi cho phép duỗi thẳng và hạ xuống một cách từ từ Gân được bọc trong một cái vỏ, nó được bảo vệ và bôi trơn Khi lớp vỏ này
bị rách hoặc tổn thương thì tổ chức này bị sưng phù lên Vi khuẩn có thể xâm nhập vào và gây viêm nhiễm dẫn tới tình trạng viêm gân và què quặt nghiêm trọng
Khả năng di chuyển là một quá trình phức tạp bao gồm sự phối hợp của cơ, gân, dây chằng và xương Trước hết cơ phải co rút, sau đó gân hoạt động kéo hoặc gấp xương lại Điều này giúp nâng bàn chân lên khỏi mặt đất, sau đó bàn chân mở rộng để hoàn chỉnh bước đi Do đó gân cơ gấp được nghỉ ngơi, gân cơ duỗi và cơ co
Trang 21rút để duỗi thẳng chân và đặt bàn chân xuống Rất nhiều cơ, gân phối hợp làm việc
để thực hiện quá trình di chuyển
Sự chuyển tiếp giữa mô da và mô sừng móng gọi là bờ lợi móng (đường vành) Phía dưới bờ lợi móng là vùng sinh trưởng của bàn chân Bàn chân phát triển
từ trên xuống dưới Thành móng là một tổ chức da cứng được sắp xếp khăng khít như là những tấm mỏng Thành móng dày nhất gần phía đầu trước ngón chân và mỏng dần về phía gót chân Điều này cho phép mở rộng thành móng khi áp lực đè lên bàn chân trong khi di chuyển
Phía ngoài móng là thành phần chính bảo vệ bàn chân chống lại sự tổn thương và sự xâm nhập của vi khuẩn Sự rạn nứt hay cắt vào thành móng hoặc gan bàn chân từ lỗ thủng hoặc chấn thương có thể phá vỡ hàng rào ngăn cách này
Cấu trúc bên trong của móng: bao gồm lớp bảo vệ phần thấp phía ngoài gọi
là hộp móng Vùng mô đệm nhạy cảm nằm khít trong hộp móng được bảo vệ bởi thành móng Tổ chức đệm này cũng bị ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động đi lại Những xương nằm khít trong hộp móng và được nối với nhau bởi các dây chằng
Giống như thành móng, lớp mô liên kết bao gồm bởi các phiến mỏng Nhưng các phiến mỏng này không giống các phiến mỏng ở thành mỏng
Trang 22Giữa thành móng và tổ chức mô liên kết bên trong có rất nhiều dây thần kinh
và mạch máu để nuôi dưỡng các mô ở bàn chân Ở phần dưới của móng là lớp đệm ngón chân bao gồm các mô sợi dai chắc và thấm nhiễm với lớp acid béo lắng đọng trong đó Lớp đệm này định vị phía dưới xương và hoạt động trước hết như một bộ phận giảm các chấn động từ bên ngoài
Với tất cả các hoạt động của bàn chân trên cấu trúc của nó, chúng ta có thể biết rõ các vị trí dễ bị tổn thương và dẫn tới què Có rất nhiều lí do dẫn tới phá vỡ cấu trúc khăng khít của bàn chân, mặc dù không thấy các dấu hiệu bên ngoài như rạn nứt hoặc áp xe
2.2 Các yếu tố dẫn tới bệnh chân móng và cách quản lý chúng
2.2.1 Môi trường
Nền chuồng: Bề mặt nền chuồng bằng xi măng gây ra nhiều chấn động hơn
so với nền chuồng bằng đất Nền bằng đất giúp giảm chấn động khi bò bước đi trong khi nền xi măng thì không, chấn động này tác động trực tiếp lên bàn chân và làm tăng tổn thương mặt dưới bàn chân Mặt dưới của bàn chân trở nên dẹt hơn sau 2-3 tháng đi trên nền chuồng bằng xi măng
Gan bàn chân là một lớp bảo vệ chống lại sự tổn thương và xâm nhập của vi khuẩn Khi lớp này trở nên mỏng, mềm hơn hoặc nứt rách thì bàn chân rất dễ bị tổn thương và vi khuẩn xâm nhập
Không cho bò mới gọt móng vào chuồng có nền xi măng mới xây dưới 2 tuần Gan bàn chân sẽ bị đục thủng, chân có thể viêm nhiễm và rất nhiều bò bị què
Mặt khác, nền chuồng quá trơn nhẵn hoặc cứng có thể dẫn tới sự phát triển móng rất nhanh Nền chuồng trơn trượt cũng có thể dẫn tới tổn thương do chăm sóc kém kèm theo stress, đặc biệt là sự nhốt gia súc quá đông đúc chật chội
Nền chuồng ẩm ướt có thể làm bàn chân mềm hơn Điều này làm giảm sự bảo vệ bàn chân và tăng nguy cơ bị tổn thương cũng như vi khuẩn xâm nhập Môi trường quá hanh khô cũng mang lại sự giòn, dễ rạn nứt cho móng
Trang 23Nên cho bò vào khu vực chuồng khô thoáng, bằng phẳng ít nhất một lần trong ngày, vệ sinh sạch sẽ chân móng làm giảm áp lực stress lên móng và cho vận động tắm nắng Sự đi lại của bò là rất quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tật Khu vực máng ăn uống là nơi thích hợp cho vi khuẩn sinh sôi phát triển, vì vậy cần phải đảm bảo sự khô thoáng, dễ thoát nước cho khu vực này
Ngăn chuồng và loại chuồng: Các ngăn chuồng luôn đảm bảo khô ráo, sạch
sẽ và riêng biệt với nhau Chuồng nên được thiết kế giúp cho bò đứng lên nằm xuống một cách tiện lợi và dễ dàng nhất Một ngăn chuồng tiện nghi là ngăn chuồng
mà bò có thể nằm nghiêng một cách thoái mái và nhai lại ở đó
Cách tốt nhất để xác định bò có thích ngăn chuồng của nó hay không là cho mỗi bò vào một ngăn chuồng riêng Nếu tỉ lệ bò nằm từ 90-95% là tốt, còn ít hơn 85% thì chúng ta cần xem lại Chỉ số tiện nghi chuồng nuôi (Stall Comfort Index-SCI) như là một tiêu chí để đánh giá sự thoải mái tiện nghi của bò Chỉ số này được đánh giá như sau: Lấy tổng số những bò nằm nghỉ trong các ngăn chuồng chia cho tổng số bò có mặt trong chuồng rồi nhân với 100
Nhiều báo cáo cho thấy nhiều trường hợp bị què chân, đặc biệt là tổn thương gan bàn chân khi bò được chuyển từ nền đất sang nền xi măng Thậm chí ngay cả bê con cũng có thể bị sưng viêm vùng móng chân khi được nuôi trên nên chuồng cứng
Thông thường, lượng đệm lót đầy đủ có thể làm tăng thời gian nghỉ ngơi của
bò trong các ngăn chuồng Ở chuồng có nền cứng, chất độn chuồng không đầy đủ,
bò có thời gian nghỉ ngơi trung bình khoảng 7 giờ, nhưng với đầy đủ chất độn chuồng thì bò có thể nghỉ ngơi tới 14 giờ
Gần đây, việc sử dụng tấm lót nền chuồng trở nên thông dụng để thay thế dần việc sự dụng các chất đệm lót trong nền chuồng như vỏ bào, mùn cưa, cát … nhằm làm tăng sự tiện nghi thoải mái cho bò
Bất cứ nền chuồng hay đệm lót kiểu gì thì vấn đề vệ sinh vẫn là yếu tố then chốt Ngăn chuồng sạch, khô làm giảm sự sinh sôi nảy nở của vi khuẩn và nguy cơ bệnh ở móng cũng như làm giảm tỉ lệ viêm vú
Trang 24Ánh nắng ban ngày: Ánh nắng ban ngày cũng ảnh hưởng một phần tới sự
sinh trưởng của móng Trung bình móng mọc thêm được khoảng 6,35cm (2,5 inchs) mỗi năm Khoảng 34% phần mọc thêm diễn ra trong mùa xuân và những tháng đầu mùa hè và tỉ lệ mọc móng giảm theo sự giảm ánh nắng chiếu sáng
Giai đoạn tiết sữa: 100 ngày đầu sau khi đẻ là thời gian bị stress nặng nề nhất
trong kỳ cho sữa của bò cái Đây cũng là thời gian dễ gây ra những xáo trộn trong quá trình trao đổi chất của cơ thể, thường gặp nhất là nhất là ketosis, sốt sữa, kể cả những vấn đề về móng
Những vấn đề về chân cũng thường thấy trong thời gian này Bệnh đặc trưng như loét gan bàn chân thường gặp nhất trong suốt tháng thứ 2 sau khi đẻ
Lứa tuổi: Tỉ lệ mắc bệnh què chân tăng theo lứa tuổi Một kết quả điều tra
trên 136.000 bò cái sữa cho thấy bò 3-4 năm tuổi có 3% bị tổn thương chân, bò 5-6 năm tuổi là 7%, bò 7-8 năm tuổi là 11%, bò 9-10 năm tuổi là 13% Như vậy bò 9-10 năm tuổi có tỉ lệ mắc bệnh chân móng gấp hơn 4 lần so với bò 3-4 năm tuổi
Mùa: Thời gian trong năm cũng có tác động lớn đến các vấn đề về chân
móng Các dạng què cũng xuất hiện khác nhau trong năm Điều này có thể liên quan tới lượng mưa Tổng kết 3 năm ở châu Âu, có sự tương quan giữa tỉ lệ què với lượng mưa trong cùng một tháng hoặc so với tháng trước Tùy theo vùng miền, một vài điều tra đã chỉ ra rằng: tháng 3,4,10 và 11 có tỉ lệ mắc bệnh què chân cao nhất
Tỉ lệ què cao ở tháng 3,4 cũng có thể liên quan tới độ dài thời gian mà bò bị nhốt trong chuồng trong suốt những tháng mùa đông Đến khi trở lại đồng cỏ thì tỉ lệ bệnh chân móng có xu hướng giảm xuống
* Quản lý môi trường bò sữa:
- Nếu nền chuồng cứng, thô nhám hoặc dễ gây trầy xước cần phải giảm độ nhám xuống bằng cách mài những vị trí này
- Nếu nền xi măng quá trơn thì có thể khía cạnh hoặc xẻ rãnh trên mặt nền
Trang 25- Nếu có thể, hàng ngày cho bò sang những ngăn chuồng khô thoáng, thoát nước tốt và không có những gạch đá lổn nhổn Tránh những nơi trơn trượt, lầy lội
và lạnh giá Tăng cường cho bò vận động làm khỏe cơ và lưu thông tuần hoàn ở vùng bàn chân
- Tránh để bò đứng trên nền xi măng cứng trong một thời gian dài, chẳng hạn như thời gian đứng chờ quá lâu trước khi vắt sữa
- Các ô (ngăn) chuồng nên thật tiện nghi và thoải mái Thường xuyên kiểm tra chỉ số tiện nghi chuồng nuôi (Stall Comfort Index, 2001)
- Gọt móng và sát trùng chân móng nên được làm cho bò ngay từ khi còn là
bò tơ để giảm các vấn đề bệnh chân móng ở các chu kỳ sữa sau này
2.2.2 Di truyền
Những nét đặc trưng cho thấy một bàn chân tốt là có gót sâu, góc móng tạo với mặt phẳng nền càng lớn càng tốt và các ngón chân không có hình dạng bất thường
Có những vấn đề bàn chân trực tiếp ảnh hưởng bởi di truyền bao gồm: bàn chân mỏng, bàn chân có hơn 2 ngón, móng xoắn ốc và một số trường hợp viêm móng (laminitis) đặc trưng
Di truyền đóng một vai trò nhỏ, thứ yếu trong toàn bộ những vấn đề bệnh chân móng Ở bò tơ rất nhiều những vấn đề chân móng thường không được phát hiện cho đến các chu kỳ sữa sau này Điều này có thể do bởi những con bò nhiều năm tuổi phải chống đỡ cơ thể to lớn và nặng hơn trên một đơn vị bàn chân so với những bò tơ Việc quản lý môi trường và nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến những vấn đề về chân móng và có thể che đậy những khiếm khuyết về di truyền
Với bất cứ đặc tính nào, một số lượng lớn đời con cần được xác minh nhận dạng đời cha Sự biến đổi gen trong những đặc tính về chân móng tồn tại ở những
bò lứa tuổi tơ và có khác biệt lớn hơn so với những bò già Thêm vào đó, các yếu tố đặc trưng của đàn tạo nên khác biệt rõ ràng lên kích thước và hình dạng bàn chân
Trang 26Từ khi những vấn đề chân móng xuất hiện ở những bò lớn tuổi, sự chọn lọc
để loại bỏ những khiếm khuyết có thể chỉ thực hiện được khi chọn cha mẹ của những đực giống còn ít tuổi Điều này có thể mất một vài năm để xây dựng một chương trình gen nhằm cải thiện các đặc tính về chân móng
Di truyền và chọn lọc là những giải pháp ngắn hạn đối với những vấn đề chân móng Tuy nhiên, sự chọn lọc để giữ lại những bò tốt và phân loại những vấn
đề chân móng vẫn là biện pháp sử dụng lâu dài và liên tục
* Quản lý về mặt di truyền để giảm các vấn đề về chân móng:
- Lưu giữ những báo cáo về bệnh chân móng để phát hiện ra những gia đình
bò dễ mắc bệnh về chân móng Ghi chép hình dạng bàn chân những bò có khuynh hướng dẫn tới bị bệnh chân móng
- Chọn lọc đực giống: Chọn những đực giống có khả năng đứng được lâu trên đôi chân của mình
2.2.3 Dinh dưỡng
Sự thiếu hụt hay quá thừa chất dinh dưỡng có thể dẫn tới bệnh tật và bệnh què trên bò sữa, bao gồm sự thiếu vitamin E, vitamin D, bệnh trao đổi can xi và phốt pho, độc tố Flo Những yếu tố này thường được cân bằng trong hầu hết các khẩu phần
Vi chất dinh dưỡng: Lưu huỳnh là một vi khoáng tới hạn để duy trì tình trạng
nguyên vẹn của móng Lưu huỳnh có mặt (hiện diện) ở cả dạng hữu cơ và vô cơ, và
là một nhân tố được tìm thấy trong cysteine và methionine Chất keratine bao phủ quanh móng chứa một hàm lượng lưu huỳnh cao, và hàm lượng cysteine liên quan đến độ cứng của móng Lưu huỳnh trong cầu nối disulfide duy trì tình trạng nguyên vẹn và độ cứng của móng Methionine là acid amine có lưu huỳnh và cũng góp phần tạo nên sự nguyên vẹn của móng
Hàm lượng lưu huỳnh trong vật chất khô của khẩu phần tổng số của bò đang vắt sữa nên đạt từ 0,20 đến 0,22% và cũng có thể bổ sung từ nhiều nguồn thức ăn
Trang 27Tuy nhiên những nghiên cứu đã cho thấy sự bổ sung methionine trong khẩu phần mang lại sự mềm hơn của bàn chân so với lô đối chứng cho ăn thức ăn ủ si lô Methionin hydroxyl analog (MHA) làm mềm chân móng MHA không nên được sử dụng như một nguồn lưu huỳnh trong khẩu phần chính để cải thiện độ cứng của móng chân
Kẽm là một chất khoáng được chú ý quan tâm bởi mối quan hệ của nó với
các tổ chức mô nguyên vẹn và hệ thống miễn dịch Kẽm là một chất thiết yếu cho việc làm lành vết thương Nhu cầu chất kẽm trong khẩu phần bò sữa khoảng chừng 40ppm, một vài nghiên cứu đưa ra rằng với mức kẽm cao hơn có thể cải thiện tình trạng làm lành vết thương
Những khẩu phần bổ sung oxid kẽm hoặc hỗn hợp kẽm với methionine (400mg) làm giảm 30 và 40% tế bào thân (soma) tương ứng Các mức này cũng có thể giúp làm giảm bớt những tổn thương phía trong móng
Nguồn kẽm bổ sung trong khẩu phần bao gồm sulfat kẽm, oxid kẽm và phức hợp kẽm
Đồng: Tương tự như kẽm, đồng là một thành phần cấu tạo enzyme, nó giúp quá trình tổng hợp collagen Cầu nối disulfite là một phần quan trọng của cấu trúc keratin và sự toàn vẹn của móng Cừu và bò được chăn thả trên đồng cỏ thiếu hụt đồng có thể dễ bị gãy và rạn nứt xương
Nhu cầu đồng cho bò đang vắt sữa là khoảng 10ppm Mức đồng có thể cần được tăng khi bò bị stress để cân đối với sự thừa thãi của molipden trong khẩu phần
bò sữa giai đoạn đầu
Protein: Các mức cao protein trong khẩu phần bò sữa đã được coi là gây ra những vấn đề về chân móng Tuy nhiên, mức protein gây nên những vấn đề về bàn chân trong nuôi dưỡng và quản lý thì vẫn chưa được làm rõ
Năng lượng: Khẩu phần cao năng lượng, thấp xơ làm thay đổi quần thể vi sinh vật ở dạ cỏ Hậu quả là làm tăng vi khuẩn sản sinh acid lactic dẫn tới làm giảm
Trang 28pH dạ cỏ, tăng tính acid, cuối cùng tạo ra sự nhiễm acid Viêm móng là một dạng bệnh thông thường liên quan tới các mức ăn ngũ cốc cao và sự nhiễm acid
Sự nhiễm acid làm chết các vi khuẩn gram âm với sự phóng thích nội độc tố Nội độc tố này gây nên sự co các mao mạch ở vùng đệm mô liên kết trong móng gây nên sự sưng phồng và đau đớn
Sự phát triển sừng móng và hóa sừng sai lệch tạo nên những mô sừng mềm hơn Mô móng mềm và dị hình kết hợp với những tổn thương ở đường trắng dưới
đế móng gây loét gan bàn chân và ăn mòn gót chân Hàm lượng thức ăn hỗn hợp cao cũng liên đới tới sự tăng nhu cầu gọt móng
Độ lớn của thức ăn thô: Độ lớn của thức ăn cũng ảnh hưởng đến quá trình nhiễm acid ngay cả khi những thành phần xơ hóa học có đầy đủ trong khẩu phần
Độ lớn của thức ăn có thể không đủ để kích thích tiết nước bọt làm chất đệm trong
dạ cỏ
Thông thường, tỉ lệ tinh thô trong khẩu phần là 50:50 tính theo vật chất khô đối với giai đoạn đầu của chu kỳ sữa Nếu thức ăn ủ silo chỉ là thức ăn thô, thức ăn hạt không nên vượt quá 50%
Thức ăn bổ sung: Thức ăn bổ sung trong khẩu phần có thể giúp làm giảm bớt
những vấn đề về chân móng, đặc biệt là bệnh thối móng Phức hợp kẽm bổ sung trong khẩu phần nhằm giúp ngăn ngừa các vấn đề về chân móng Các chất đệm được bổ sung trong khẩu phần có thể giúp làm giảm số lượng acid thừa thãi khi cho
ăn khẩu phần nhiều ngũ cốc Natri bicarbonate, oxid magnesium thường được sử dụng làm chất đệm Natri bicarbonate thường được phối hợp trong khẩu phần khoảng 170g/con/ngày, oxid magnesium khoảng 56g/con/ngày
Chlortetracycline là kháng sinh thường được bổ sung trong thức ăn hỗn hợp cho bò cái giai đoạn không vắt sữa để ngăn ngừa bệnh thối móng Tỉ lệ bổ sung là 0,1mg/45,4 kg P (0,22mg/100kg P)
* Quản lý dinh dưỡng:
Trang 29- Cho ăn khẩu phần cân bằng trong các giai đoạn sinh trưởng cũng như sinh
lý của gia súc Đảm bảo bổ sung thích hợp các vi khoáng (đặc biệt là lưu huỳnh, đồng và kẽm), vitamin, năng lượng, protein và hàm lượng xơ
- Duy trì thích hợp độ lớn của các thức ăn thô Độ dài lý thuyết của ngô ủ si
lô ít nhất là 0,95 cm (3/8 inch)
- Tỉ lệ phần trăm tinh/thô trong khẩu phần không vượt quá mức 60/40, nhất
là đối với bò giai đoạn đầu của chu kỳ sữa
- Tránh cho ăn ngũ cốc hoặc tỉ lệ cao thức ăn hỗn hợp trong một hoặc hai bữa ăn trong ngày Nếu không thể cho ăn khẩu phần TMR (Total Mixed Ration) thì cho ăn một ít thức ăn thô trước khi cho ăn thức ăn ngũ cốc hay thức ăn hỗn hợp để làm giảm acid trong dạ cỏ
- Quan tâm tới việc sử dụng phức hợp kẽm để ngăn ngừa những vấn đề chân móng Các chất khoáng tạo môi trường đệm cũng có thể được khuyến cáo sử dụng giúp giảm acid dạ cỏ
2.3 Những rối loạn và bệnh chân móng thông thường - cách xử lý
Viêm móng (Laminitis): là một trường hợp viêm không có sự nhiễm khuẩn ở
vùng mô nhạy cảm ngay sát phía trong hộp móng Bệnh này có thể bắt nguồn từ khi còn là bò tơ
Viêm móng được xem là nguyên nhân dẫn tới sự què ở bò sữa Bệnh này được nhận biết là do sự cung cấp chất dinh dưỡng không đầy đủ cho vùng móng dẫn tới các tổ chức mô bị hư hại Các mạch máu nuôi dưỡng vùng chân móng bị tổn thương nên chúng không thể tới những nơi cần thiết cung cấp và nuôi dưỡng các tổ chức đó, mà lại cung cấp dinh dưỡng cho các tổ chức không có lợi phát triển làm trở ngại đến hoạt động bình thường của chân móng
Viêm móng cấp tính: phá hủy các mao quản, chất thanh dịch tiết ra lẫn máu Các lớp mô đệm phát triển và giãn nở
Trang 30Viêm móng cận lâm sàng: Các mao quản chảy về phần thấp của chân sau đó phát triển rộng ra tạo nên sự thiếu chất dinh dưỡng và oxy ở phần chính của móng
Viêm móng mãn tính: Các mô thiếu chất dinh dưỡng và oxy làm cho tế bào
bị hủy hoại
* Các tổn thương đặc trưng với viêm móng cận lâm sàng:
- Bệnh ở đường trắng: Đường trắng là nơi tiếp giáp giữa thành móng và gan bàn chân Vùng này đặc biệt nhạy cảm với những tổn thương tác động từ bên ngoài cũng như từ bên trong Bệnh đường trắng có thể lan rộng ra toàn bộ vành móng, làm cho đường trắng có thể đỏ lên hoặc tối sẫm lại
- Đế đúp (hai gan bàn chân): tình trạng này thường kết hợp với sự nứt nẻ ở gót chân hoặc gan bàn chân, điều mà cho phép góp nhặt những mảnh vỡ trong các
mô phía dưới dọc theo đáy gan bàn chân
- Sự ăn mòn gót chân: Bình thường gót chân thường trơn nhẵn, khi bị mòn nhìn thấy xù xì hoặc có rãnh Điều này tạo cơ hội cho vi sinh vật xung quanh xâm nhập gây bệnh ở gót chân
- Xuất huyết gan bàn chân: Chảy máu gan bàn chân thì rất thường gặp, nó thường liên quan tới viêm móng cận lâm sàng (subclinical laminitis) Quá trình này
do các mạch máu nhỏ bị phá hủy phía trong bàn chân, khi gan bàn chân bị tổn thương, máu chảy ra ngoài theo vết rạn nứt hay thủng của gan bàn chân
Kiểm soát bệnh viêm móng:
- Tối đa lượng vật chất khô ăn vào mà không phá vỡ hệ sinh thái dạ cỏ
- Cho ăn tối đa lượng thức ăn thô
- Không nhốt gia súc quá đông
- Nhốt bò tơ riêng, số lượng bò ổn định trong đàn giúp tăng cường thành tích sản xuất
Trang 31- Đưa bò tơ có chửa đến chuồng nền cứng trong vòng 30-60 ngày trước khi
đẻ để giúp chúng có cơ hội thích nghi và quen dần với môi trường mới
- Cho bò vận động Bò ít vận động có thể gây phù, còn vận động quá nhiều trên nền chuồng xi măng có thể gây tổn thương cơ học ở bàn chân
- Duy trì sự thoải mái tiện nghi trong mỗi ngăn chuồng Giới hạn diện tích nền bằng xi măng và thô nhám Cung cấp một chỗ nằm mềm, không nhám và một kích thước ngăn chuồng thích hợp sẽ làm cho bò dễ dàng sử dụng và cảm thấy thoải mái
- Khuyến cáo dinh dưỡng:
+ Cho ăn khẩu phần có xơ thô cao + Hiệu quả của xơ: Mặc dù không có những thông số minh chứng cho
sự ngăn ngừa bệnh acidosis của xơ, nhưng những hướng dẫn sau có thể rất
có ích Đảm bảo rằng có 25% thức ăn thô có độ dài lớn hơn 2,54cm (1 inch) và/hoặc khẩu phần TMR có từ 5-10% mẩu thức ăn dài hơn 1,9cm (0,75 inch) Điều này giúp cung cấp đầy đủ thức ăn thô ăn vào để đảm bảo rằng lượng xơ có hiệu quả duy trì sức khỏe của dạ cỏ
- Không cho ăn quá nhiều protein mặc dù không có bằng chứng nào cho biết mức protein nào có thể làm viêm móng Một số protein nào đó có thể dẫn tới phản ứng dị ứng, điều này có thể ảnh hưởng tới sự tuần hoàn ở ngón chân
- Gọt móng là vấn đề then chốt để duy trì sự ổn định, thăng bằng và toàn vẹn của móng
- Sử dụng dung dịch ngâm chân thích hợp làm sạch chân, cứng chân và loại bỏ những kích thích khó chịu cho móng chân
Loét gan bàn chân (Sole ulcers): Loét là một sự tổn thương hở gây đau đớn
bởi sự thoái hóa mô, thông thường loét định vị ở gan bàn chân, phía trước của gót chân
Trang 32Nguyên nhân: Vùng gan bàn chân phía dưới đốt ngón chân cuối cùng thường
rất mỏng và ít có mạch máu đi tới Do đó vùng này rất dễ bị tổn thương, khó lành và phát triển thành vết loét
Vùng gan bàn chân mềm và mỏng sẽ tăng tính nhạy cảm đối với tổn thương Nền chuồng ẩm ướt, gọt móng không đúng cách, sự mài mòn móng quá mức đều làm cho gan bàn chân mềm và mỏng hơn Sự xòe ra của ngón chân cũng gây nên áp lực và phá hủy những mô mềm bên trong dẫn tới loét
Nếu loét gan bàn chân xuất hiện trên 10% tổng số bò cái trong đàn trong một năm thì bệnh viêm móng có lẽ là nguyên nhân cơ bản gây nên loét
Điều trị và phòng ngừa: Vùng bị viêm nhiễm cần được cạo, tỉa gọt để làm lộ
ra chỗ bị loét Nếu được, có thể gọt luôn cả phần thành móng để hỗ trợ tìm kiếm vết loét Khi vết loét được lộ ra bề mặt gan bàn chân, những ngón không bị ảnh hưởng
có thể chịu lực để làm nhẹ bớt áp lực lên ngón bị viêm nhiễm và giúp quá trình làm lành vết thương nhanh hơn Điều này cũng giúp cho bò có bước đi tự do và ít đau đớn hơn Một vài tác giả tin vào các tác nhân hóa học có thể làm bỏng, cháy, mòn vết thương, làm chậm lại tiến trình làm lành vết thương Những đề nghị khác cho rằng việc bổ sung đồng sulfat, bột sulfa và kháng sinh vào vết thương cho kết quả tốt
Thối rữa bàn chân (Foot rot): Là sự viêm nhiễm những vùng nhạy cảm đặc
biệt nằm giữa hai ngón chân và xung quanh gót chân Bò có chân bè ra nhạy cảm cao với bệnh này
Những triệu chứng chung: Trong suốt những giai đoạn đầu của sự thối rữa,
bờ móng chân bắt đầu sưng lên, nơi mà vi khuẩn xâm nhập có thể gây chảy mủ và
có mùi thối Chỗ thối rữa thường nóng hơn so với vùng bình thường xung quanh và
bò có thể tăng thân nhiệt
Nguyên nhân: Sự bùng phát thối rữa chân móng kết hợp với một vài chấn
thương cho phép sự xâm nhập của vi khuẩn Fusobacterium necrophorum Vi khuẩn
này có thể gây viêm hoại tử thối rữa
Trang 33Gần đây, vi khuẩn Bacteroides nodosus và vi khuẩn B.melaninogenicus cũng
được phát hiện trong bệnh này Căn bệnh này bùng phát mạnh khi đàn bò thường
xuyên đi lại trong những vùng lầy lội
Điều trị và phòng ngừa: Điều trị cục bộ bao gồm sát trùng bởi một chất diệt
khuẩn Nếu nghiêm trọng có thể sử dụng kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng Vaccine phòng ngừa bệnh này cho thấy ít thành công
Những bò bệnh được cách ly và sử dụng sulfat đồng tắm chân Không nên sử dụng chất ăn da để điều trị bò bị thối rữa chân
U thịt kẽ móng:
Nguyên nhân: Bò có bàn chân bè ra do hệ thống dây chằng yếu hoặc có thể
do di truyền và gọt móng không đúng cách Tình trạng này kích thích lên phần thịt giữa hai móng làm cho nó giãn ra Các nguyên nhân khác như cát, chất bẩn có thể lọt vào qua các vết nứt, tạo ra sự viêm nhiễm mãn tính Bệnh thường xảy ra ở những vùng bẩn thỉu và ẩm ướt
Điều trị: Cắt khối thịt này là biện pháp tối ưu mang lại sự thoải mái hơn cho
con vật Các chất ăn mòn có thể sử dụng để mài mòn khối u nhưng hiệu quả không cao
Viêm da phía sau kẽ móng/giữa 2 ngón (Interdigital dermatitis): Đây là sự
viêm nhiễm cấp hoặc mãn tính ở vùng da giữa hai ngón chân do vi khuẩn
Bacteroides nodosus gây nên Những tổn thương này tiếp giáp với vùng da thường
được làm dày lên Đôi khi sự viêm nhiễm này làm cho gót chân bị ăn mòn
Sự chảy dịch viêm ở giữa hai ngón chân sẽ khô lại và tạo nên một lớp vẩy cứng làm cho bò thay đổi cách đi đứng
Những tác nhân dẫn tới viêm da kẽ móng bao gồm sự ẩm ướt, tình trạng dơ bẩn Cách điều trị tốt nhất là ngâm chân với dung dịch 5% sulfat kẽm hoặc sulfat đồng Quan trọng nhất vẫn là giữ cho chân bò khô ráo
Trang 34Mụn cóc gót chân (gót dâu): Trong 15 năm qua tình trạng gót dâu đã được
quan tâm như một nguyên nhân gây bệnh và què
Sự xuất hiện và tỉ lệ nhiễm: Bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước châu Âu, Mỹ,
Canada, Mexico và một số nước trên thế giới Tỉ lệ nhiễm bệnh thay đổi tùy theo vùng miền nhưng nhìn chung nằm trong khoảng từ 10-40% trong đàn, tuy nhiên cũng có thể lên tới 90%
Bò đẻ lứa đầu rất nhạy cảm với bệnh này Bệnh thường bị ở một bàn chân tuy nhiên cũng có khi bị ở một vài chân Khi mắc bệnh trọng lượng và sản lượng sữa bò có thể giảm
Điều trị: Rất nhiều phương pháp điều trị đã được đưa ra Hầu hết là sử dụng
liệu pháp kháng sinh trong hố khử trùng, điều trị cục bộ bàn chân hoặc thậm chí toàn thân
Sử dụng oxytetracycline trong điều trị mang lại kết quả tốt, penicilline dường như rất ít hiệu quả Điều trị tổn thương cục bộ trực tiếp bằng kháng sinh cũng có hiệu quả làm giảm tỉ lệ bệnh
Việc ngâm tắm bàn chân mang lại sự thành công rất cao để kiểm soát căn
bệnh này
2.4 Một số nghiên cứu về bệnh chân móng
2.4.1 Nghiên cứu ngoài nước
* Bệnh chân móng thường do nguyên nhân tổng hợp giữa các yếu tố quản
lý, môi trường và dinh dưỡng gây nên (Shearer và Amstel, 2000)
Các biện pháp quản lý như vệ sinh, gọt cắt móng, cung cấp bãi chăn thả hoặc sân chơi và kết cấu nền chuồng bò sữa có ảnh hưởng lớn đến tình hình bệnh chân
móng trên bò Gọt cắt móng không định kỳ và không đúng cách là nguyên nhân phổ
biến gây bệnh chân móng trên bò sữa (Van Amstel và cộng sự, 2000; Shearer và Van Amstel, 2001)
Trang 35Phần sừng của thành móng chân phát triển với tốc độ trung bình 5mm/tháng (Vermunt và Greenough, 1995) Khi tốc độ mòn chậm hơn tốc độ phát triển của móng và nếu không được gọt móng định kỳ, phần móng sừng phía ngoài mọc nhanh hơn móng sừng phía trong, nhất là đối với các bò nuôi cầm cột tại chỗ Khi móng sừng mọc dài, sự phân bố trọng lượng cơ thể bò thay đổi và thường làm tăng sức ép lên lớp mô liên kết (Toussaint-Raven, 1989) Những sang chấn như vậy thường gây nên những quá trình viêm và có thể phát triển thành những vết loét lòng bàn chân (Lischer và Ossent, 2001)
Theo nghiên cứu của Rushen và cộng sự (2004), hiện tượng bệnh chân móng thường xảy ra cao hơn ở những bò đang khai thác sữa mà không được chăn thả trên đồng cỏ Trong một nghiên cứu khác của Haskell và cộng sự năm 2006 tại Anh trên
37 đàn bò, tỷ lệ bò bị bệnh chân móng trên những đàn không được chăn thả là rất cao, chiếm 39%, so với đàn được chăn thả với 15% Điều này xảy ra một phần vì độ cứng của nền khi móng bò có đặc điểm cấu tạo phù hợp với sự vận động trên mặt nền mềm và đàn hồi của bãi cỏ
Khoảng thời gian sau khi sinh cũng ảnh hưởng đến đến bệnh chân móng và thường bò hay phát bệnh vào tháng cho sữa thứ năm Nguy cơ bệnh cũng tăng lên theo tuổi của bò (Huang và cộng sự, 1995)
Bò thường có xu hướng đứng nhiều hơn khi bị stress nhiệt do chúng có thể hô hấp một cách dễ dàng hơn trong khi đứng, do đó chúng có thể thải được một lượng khí lớn hơn tức là thải được nhiều nhiệt hơn so với khi nằm Nhưng tăng thời gian đứng cũng dẫn đến nhiều vấn đề về chân móng hơn Khi phải đứng nhiều giờ trên mặt sàn xi măng thô cứng, ẩm thấp, đọng phân và nước tiểu sức nặng của bò sữa áp đặt trên chân với móng không được cắt gọt sẽ gây áp lực nặng lên phần mềm của móng gây tổn thương (Raven, 1989; Haalstra và cộng sự, 1989)
Do đó các biện pháp đối lưu, thông gió tốt có thể hỗ trợ tốt hơn cho bò trong việc thải nhiệt trong trường hợp này Nền chuồng ẩm ướt và dơ bẩn tạo điều kiện cho vi sinh vật tồn tại trong nền chuồng trại (Phillips và Morris, 2000; Hernandez,
Trang 36Shearer và cộng sự, 2002; Shearer và van Amstel, 2003) gây nên chứng viêm da
quanh móng (digital dermatitis) do Treponema sp là 25%, chứng viêm da kẽ móng (interdigital dermatitis) do Fusobacterium necrophorum và Dichelobacter nodosus
Chứng thối móng (footrot) là bệnh truyền nhiễm gây sốt trên bò và thiệt hại rất lớn cho ngành bò sữa Móng bò ngấm nước rất nhanh làm chúng trở nên mềm, dễ bị mòn và tổn thương hơn (Rushen, 2004; Borderas và cộng sự, 2004)
Người ta cho rằng lượng acid lactic tăng lên đã trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến lưu lượng máu Điều này có thể dẫn đến sung huyết nặng làm tăng áp lực lên các mô dẫn đến tổn thương, đặc biệt với các vùng chịu áp lực cao như móng chân Bên cạnh ảnh hưởng của việc sản sinh nhiều acid, khẩu phần ăn nhiều tinh bột còn có thể làm tăng lượng độc tố vi khuẩn được hấp thụ vào máu, và điều này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng của các mô vùng móng (McNamara và Gay, 2002)
Chứng acid dạ cỏ gây nên sự rối loạn tiểu tuần hoàn trong lớp màng đệm phá
vỡ liên kết da-biểu bì giữa móng chân và xương ngón thứ 3 (Glickman và cộng sự, 1981; Blowey, 1994; Blowey, 1996) gây nên sưng phù, xuất huyết, chết mô màng đệm của móng (Shearer và Amstel, 2001), kết quả là sự lở loét và hoại tử lớp đệm của chân móng và làm cho bò nhạy cảm với nấm gây bệnh chân móng Onychomycosis (Shearer và Amstel, 2003)
* Các giải pháp hiện đang được áp dụng:
Việc gọt móng là nhằm ngăn ngừa những tổn thương về móng và cải thiện sự vận động qua việc phục hồi hoặc duy trì cả sự cân đối giữa các móng và hình dạng của móng, do đó có thể nâng đỡ khối lượng cơ thể một cách chắc chắn (Amstutz, 1987; Toussaint-Raven, 1989; Kasari, 1991; Kloosterman, 1997; Phillips và cộng sự , 2000)
Manson và Leaver (1988) nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt gọt móng đến sự vận động của bò trong 6,5 tháng vắt sữa đầu đã cho thấy rằng gọt móng không ảnh hưởng gì đến tỷ lệ tổn thương chân móng nhưng có liên quan đến việc giảm khó
Trang 37khăn trong vận động của bò và rút ngắn thời gian điều trị với những bò bị nhiễm trùng chân móng
Một số nghiên cứu đã thử nghiệm ảnh hưởng của các kiểu chuồng trại và quản
lý đến bệnh chân móng Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ bệnh xảy ra thấp hơn ở những trại có mặt sân rải rơm so với những trại chỉ thả bò tự do hoặc trong các ô chuồng
có nền xi măng (Logue và Offer, 2001; Somers và cộng sự, 2003)
Sử dụng một bề mặt mềm hơn của cao su để trải trên trên bề mặt lối đi có khả năng giảm tổn thương chân móng so với chỉ sử dụng nền bê tông hoặc sàn gỗ (Vokey và cộng sự, 2001)
Cũng trong một nghiên cứu về ảnh hưởng của tấm lót nền chuồng bằng cao su
so với nền bê tông đến sự vận động của bò sữa do Telezhenko năm 2005 cho thấy
cả bò bình thường và bò bị bệnh chân móng đều di chuyển một cách dễ dàng hơn với sải chân dài hơn trên nền chuồng có sử dụng tấm lót cao su
Rushen và cộng sự (2004) khẳng định rằng sàn chuồng với độ mềm và độ nhám thích hợp tăng tốc độ di chuyển của bò và giảm hiện tượng trượt ngã Các tác giả cũng cho rằng sàn chuồng mềm hơn trước máng ăn có thể làm tăng thời gian bò đứng quanh khu vực máng và tăng lượng thức ăn ăn vào Bên cạnh đó, nền chuồng phải được thiết kế hợp lý để có khả năng thoát nước tốt nhằm tránh cho móng bò khỏi bị ẩm ướt quá mức, đảm bảo cho độ cứng chắc của móng và giảm hiện tượng nhiễm trùng móng
McNamara và Gay (2004) khuyến cáo, để giảm nguy cơ bị hội chứng acidosis, thức ăn của bò cần được chia làm nhiều lần cho ăn trong ngày với giới hạn lượng tinh bột trong khẩu phần không quá 60% tính theo vật chất khô và bò phải được cung cấp đủ lượng thức ăn thô để kích thích tiết đủ lượng nước bọt nhằm duy trì pH dạ cỏ Kích thước thức ăn thô cũng phải đảm bảo độ dài 2,5-5cm hoặc cỏ khô
để duy trì độ xốp trong dạ cỏ đồng thời giúp tạo búi thức ăn làm thuận lợi cho quá trình nhai lại từ đó kích thích việc tiết đủ lượng nước bọt cần thiết cho việc duy trì
pH dạ cỏ
Trang 38Trong việc điều trị khi bệnh chân móng đã được phát hiện, sử dụng hố sát trùng chân móng chứa kháng sinh, CuSO4 hoặc formaldehyde riêng rẽ hoặc hòa lẫn
là phương pháp thường được sử dụng (Blowey, 1990; Estill, 2002; Shearer và cộng
sự 1998; Shearer và Van Amstel, 2000) Tuy nhiên, đây là phương pháp điều trị mang lại hiệu quả không cao Bên cạnh đó, nếu không có biện pháp quản lý cẩn thận và chặt chẽ, đây lại chính là nguy cơ lan truyền bệnh trong đàn (Estill, 2002)
Sử dụng kháng sinh toàn thân với procaine penicillin G, hỗn hợp streptomycin cho kết quả điều trị tương đối tốt (Estill, 2002; Hosie, 2004) Tùy theo điều kiện môi trường mà 90% hoặc nhiều hơn các trường hợp bệnh có thể được phục hồi sau khi tiêm kháng sinh
penicillin-Xử lý kháng sinh tại chỗ bằng cách tẩm, thấm tetracycline, oxytetracycline, lincomycin hoặc hỗn hợp lincomycin và spectinomycin mang lại hiệu quả điều trị cao (trên 90%) tuy nhiên đòi hỏi tiến hành nhiều thao tác và mất nhiều thời gian Ngày nay, việc sử dụng bình xịt chứa kháng sinh đã trở nên phổ biến với nhiều loại kháng sinh khác nhau được sử dụng Một quy trình phun với oxytetracycline đã được kiểm chứng thành công trong 5 ngày phun liên tục mỗi tháng cho tất cả chân
bò và phun hàng ngày tất cả các vết thương có thể quan sát được đến khi khỏi Việc rửa vết thương bằng vòi nước và tẩy rửa bề mặt vết thương trước đó bằng propylene glycol hoặc xà phòng sẽ tăng khả năng tiếp xúc và thẩm thấu của kháng sinh vào vết thương Hiệu quả điều trị của vết thương một phần phụ thuộc vào vị trí của vết thương Các vết thương nằm trong kẽ ngón thường lâu lành hơn so với các vết thương gần gót hoặc móng đeo (Estill, 2002)
* Thiệt hại về kinh tế: Các nhà nghiên cứu người Anh đã ước tính rằng loét
gan bàn chân là hiện tượng gây thiệt hại lớn nhất, khoảng 627USD/ca, bệnh trên ngón chân với thiệt hại 257USD/ca, viêm da ngón và thối móng 128USD/ca Trong một nghiên cứu của Warnick và cộng sự (2001) trên hai đàn bò A (1796 con) và B (724 con), kết quả cho thấy rằng trên cả hai đàn, sản lượng sữa giảm một cách đáng
kể với những bò được chẩn đoán bị bệnh chân móng Trong đàn A, sản lượng sữa
Trang 39của bò bị bệnh chân móng giảm 1,5kg/con/ngày so với bò không bị bệnh trong hơn hai tuần đầu khi xuất hiện bệnh ở đàn B số liệu tương ứng là 0,8kg/con/ngày Sự giảm sản lượng sữa liên quan đến bệnh chân móng xảy ra cao hơn ở bò trong chu kỳ sữa thứ hai trở đi và trong những trường hợp bệnh nặng hơn
2.4.2 Nghiên cứu trong nước
Tại phía Nam, phần lớn bò được nuôi tập trung ở Tp Hồ Chí Minh tại các vùng ven đô thị như Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh với diện tích chăn nuôi nhỏ hẹp nên bò chủ yếu được nuôi theo phương thức cầm cột Thức ăn xanh chủ yếu dựa vào các nguồn cung cấp cỏ cắt hàng ngày nên thường không đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn thô cho bò và phải bù lại bằng cách tăng lượng thức ăn tinh làm tăng nguy
cơ của bệnh chân móng Bên cạnh đó, diện tích chuồng trại hẹp, nền chuồng bê tông hoặc láng xi măng cùng với việc không có sân chơi làm cho móng bò càng dễ bị tổn thương Phân và nước tiểu không được thu gom và dọn rửa đúng mức làm nền chuồng ẩm ướt và bẩn tạo điều kiện cho sự tồn tại của vi khuẩn gây bệnh đồng thời làm mềm và yếu móng chân bò (Đoàn Đức Vũ, 2001)
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2004), cho bò ăn nhiều thức ăn tinh một lúc rất dễ làm tăng độ axit dạ cỏ Thức ăn tinh sau khi ăn vào bị lên men quá nhanh, tạo ra nhiều axit, làm giảm pH dạ cỏ Hơn nữa, axit lactic sinh ra được hấp thu vào máu (cùng với các axit béo bay hơi khác) gây toan huyết (acidosis), làm rối loạn các chức năng chuyển hóa và trao đổi chất, làm cho hồng cầu không thực hiện được chức năng vận chuyển ôxy và cácbônic gây tổn thương các phần thấp của cơ thể, đặc biệt là những nơi có ít mạch máu như mô liên kết vùng móng
Theo Lê Xuân Cương và cộng sự (1995) trong dự án IDRC, kết quả điều tra cho thấy trong mùa khô, số lượng cỏ xanh cung cấp cho bò chỉ đạt 19,8kg/con/ngày
và có những khẩu phần lượng cỏ chỉ đạt 5-10kg/con/ngày, phần còn lại chủ yếu là xác mỳ, xác đậu và hèm bia dẫn đến sự mất cân bằng khẩu phần theo hướng thừa tinh bột dẫn tới bệnh chân móng
Đoàn Đức Vũ và cộng sự (2001) cho biết tỷ lệ tinh/thô khẩu phần ở các mức
Trang 40là 25/75, 40/60/ 60/40 và 77/23 thì pH dịch dạ cỏ đo được giảm dần tương ứng với 6,58; 6,42; 6,25 và 5,98 Đây chính có thể là yếu tố nguy cơ cao, kết hợp với các yếu tố khác như điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao của khu vực phía Nam, góp phần vào tình trạng bệnh chân móng trên bò sữa với tình trạng sử dụng quá nhiều thức ăn tinh
và nhuyễn như hiện nay
Lã Văn Kính và cộng sự (2002) cho biết lượng Ca, P trong khẩu phần là không thiếu nhưng hiện tượng bò bị yếu chân khá phổ biến Các tác giả cho rằng nguyên nhân có thể do bò được nuôi nhốt là chính nên không có cơ hội tiếp xúc với ánh sáng làm khả năng hấp thu khoáng bị hạn chế
Theo Đinh Văn Cải và cộng sự (2003), do điều kiện tự nhiên nóng ẩm ở các tỉnh phía Nam, bò sữa thường chịu ảnh hưởng của stress nhiệt nhất là với các điều kiện chuồng trại thiếu thông thoáng, sự đối lưu của không khí kém do diện tích chuồng trại và khu vực chăn nuôi chật hẹp Những yếu tố này cũng có thể gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe bò nói chung và sức khỏe chân móng nói riêng Trong thực tế chăn nuôi bò sữa tại các tỉnh phía Nam, hiện tượng viêm chân móng trên bò sữa vẫn là vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất trong chăn nuôi bò sữa gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Tuy nhiên, trừ khi phải điều trị bằng kháng sinh hoặc bò gặp khó khăn trong việc di chuyển để lấy thức ăn và nước uống thì ảnh hưởng của bệnh chỉ mang tính gián tiếp nên vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức (Đinh Văn Cải, 1995)
Biện pháp can thiệp chính vẫn là sử dụng kháng sinh toàn thân gây giảm thu nhập do phải loại bỏ lượng sữa chứa kháng sinh Một số trại chăn nuôi cũng có quan tâm đến việc làm giảm các ảnh hưởng của bệnh nhưng cũng chỉ ở mức sử dụng tấm cao su làm nệm cho bò đứng, cũng có một số trại sử dụng dung dịch sulfat đồng (CuSO4) để ngâm rửa chân móng cho bò Tuy nhiên các biện pháp này vẫn chỉ được thực hiện theo cảm tính và chưa được kiểm chứng biện pháp nào là cần thiết
và có hiệu quả