1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA CÂY LÚAĐỐI VỚI BỆNH LÙN LÚA CỎ, LÙN XOẮN LÁỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

127 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 12,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian thực hiện từtháng 11 năm 2008 đến tháng 11 năm 2009, nghiên cứu gồm 3 nội dung sau đây; - Đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 219 giống lúa thuộc 10 bộ giốngkhác nhau đối v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

********************

NGUYỄN VĂN DŨNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA CÂY LÚA ĐỐI VỚI BỆNH LÙN LÚA CỎ, LÙN XOẮN LÁ

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 3

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA CÂY LÚA ĐỐI VỚI BỆNH LÙN LÚA CỎ, LÙN XOẮN LÁ

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đại học Nông Lâm TP.HCM

3 Phản biện 1: GS.TS NGUYỄN THƠ

Hội Bảo vệ thực vật

4 Phản biện 2: TS LÊ ĐÌNH ĐÔN

Đại học Nông Lâm TP.HCM

5 Ủy viên: PGS.TS PHẠM VĂN DƯ

Cục Trồng trọt

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

- Từ năm 2002 đến nay là giảng viên trường Cao Đẳng Nông Nghiệp Nam

Bộ, Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

- Từ tháng 9 năm 2007 theo học lớp Cao học chuyên ngành Bảo vệ thực vậttại trường Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, Tp HCM

Tình trạng gia đình: chưa kết hôn

Địa chỉ liên lạc: Nguyễn Văn Dũng, giảng viên trường Cao Đẳng NôngNghiệp Nam Bộ, Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

Điện thoại liên hệ: 0919555065

Email: nguyendung42@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Văn Dũng

Trang 6

CẢM TẠ

Để hoàn thành được chương trình sau đại học này tôi xin chân thành cảm ơnBGH, khoa Trồng Trọt và BVTV cùng các anh, chị đồng nghiệp trường Cao ĐẳngNông Nghiệp Nam Bộ, Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nơi tôi đang công tác đã tạođiều kiện thuận lợi để tôi có thể tham dự và hoàn tất việc học tập của mình

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến BGH, quý thầy cô khoa Nông học, quý thầy

cô thỉnh giảng và phòng Quản lý đào tạo sau đại học cùng anh chị em lớp Cao họcchuyên ngành BVTV khóa 2007 - 2010, trường Đại Học Nông Lâm - Tp.HCM, nơitôi theo học đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Cũng cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến TS Lê Cẩm Loan cùng tập thể anh,chị bộ môn Bệnh Cây-Viện Lúa ĐBSCL, huyện Thới Lai, Tp Cần Thơ đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp Đặc biệt tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Dư - Cục phó Cục Trồng Trọt, Bộ

NN và PTNT, người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đềtài

Và tận nơi sâu thẳm trái tim mình cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cha

mẹ, cô và các em tôi, những người đã luôn bên cạnh ủng hộ tôi, là nguồn động viênlớn nhất để tôi phấn đấu học tập và vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Đánh giá khả năng chống chịu của cây lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ,lùn xoắn lá ở đồng bằng sông Cửu Long” được tiến hành tại bộ môn Bệnh cây, Việnlúa đồng bằng sông Cửu Long huyện Thới Lai, Tp Cần Thơ Thời gian thực hiện từtháng 11 năm 2008 đến tháng 11 năm 2009, nghiên cứu gồm 3 nội dung sau đây;

- Đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 219 giống lúa thuộc 10 bộ giốngkhác nhau đối với bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn theo phương pháp nương mạ trắcnghiệm bệnh vi rút lúa Kết quả đối với bệnh lùn lúa cỏ: tỷ lệ trung bình các giốngchống chịu chiếm 69,96%, giống chống chịu trung bình chiếm tỷ lệ 27,44% vàgiống nhiễm chiếm tỷ lệ 2,60% Đối với bệnh lùn xoắn lá: tỷ lệ trung bình các giốngchống chịu chiếm tỷ lệ 40,42%, giống chống chịu trung bình chiếm tỷ lệ 50,78% vàgiống nhiễm chiếm tỷ lệ 8,80% Đã xác định được 24,53% số giống có phản ứngchống chịu đồng thời với 2 loại bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá Bên cạnh đó cũngquan sát thấy 28,82% số giống nhiễm đồng thời 2 loại bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắnlá

- Đánh giá tiếp tục trong điều kiện nhà lưới đối với 20 giống lúa đã có tínhchống chịu tốt nhất ở điều kiện ngoài đồng theo phương pháp Forced Tube, kết quảthu được; đối với bệnh lùn lúa cỏ: các giống chống chịu chiếm tỷ lệ 85%, giốngchống chịu trung bình chiếm 15% và không có giống nào nhiễm Đối với bệnh lùnxoắn lá: các giống chống chịu chiếm tỷ lệ 60%, giống chống chịu trung bình chiếm

tỷ lệ 25% và giống nhiễm chiếm tỷ lệ 15%

- Đánh giá sự mẫn cảm của cây lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn láthông qua các thời điểm truyền bệnh khác nhau (7, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40 và 50ngày ngày sau gieo) được thực hiện trong điều kiện nhà lưới, theo phương phápnuôi rầy trong lồng nhựa, kết quả:

Đối với bệnh lùn lúa cỏ: khi cây bị truyền bệnh ở 7 ngày tuổi, thời gian ủbệnh ngắn nhất là 10 ngày, tỷ lệ bệnh đạt cao nhất là 84,97%, chỉ số bệnh đạt cao

Trang 8

nhất là 31,59%, chiều cao cây giảm nhiều nhất là 43,23% Khi cây lúa được truyềnbệnh ở 35 ngày tuổi, thời gian ủ bệnh dài nhất là 20 ngày và tỷ lệ bệnh đạt thấp nhất

là 12,82%, chỉ số bệnh đạt thấp nhất là 1,64% và chiều cao cây giảm thấp nhất là1,61% Khi cây lúa được truyền bệnh ở 15 ngày tuổi tỷ lệ gia tăng số chồi đạt caonhất là 39,26% và thấp nhất là 5,51% khi cây lúa được truyền bệnh ở 25 ngày tuổi.Khi cây lúa ở 40 và 50 ngày tuổi được truyền bệnh không còn quan sát thấy triệuchứng bệnh xuất hiện

Đối với bệnh lùn xoắn lá: khi cây bị truyền bệnh ở 7 ngày tuổi, thời gian ủbệnh ngắn nhất là 9 ngày, tỷ lệ bệnh đạt cao nhất là 90,20%, chỉ số bệnh đạt caonhất là 15,53%, chiều cao cây giảm nhiều nhất là 19,81% Cây lúa được truyềnbệnh ở 40 ngày tuổi, thời gian ủ bệnh dài nhất là 18 ngày, tỷ lệ bệnh đạt thấp nhất là9,94%, chỉ số bệnh đạt thấp nhất là 2,11% Cây lúa được truyền bệnh ở 35 ngàytuổi, chiều cao cây giảm thấp nhất là 6,55% Cây lúa được truyền bệnh ở 30 ngàytuổi tỷ lệ gia tăng số chồi đạt cao nhất là 19,92% và thấp nhất là 7,54% khi cây lúađược truyền bệnh ở 35 ngày tuổi Cây lúa ở 50 ngày tuổi được truyền bệnh khôngcòn quan sát thấy triệu chứng bệnh xuất hiện

Trang 9

- Evaluating tolerance of 219 rice varieties which belonged to 10 differentgroups under field condition to rice grassy stunt virus and rice ragged virus diseases

by rice virus nursery method Results indicated that out of tested varieties, 69.96%showed tolerance, 27.44% showed moderate tolerance and 2.60% showedsusceptibility to rice grassy stunt virus disease To rice ragged stunt virus disease,40.42% showed tolerance, 50.78% showed moderate tolerance and 8.80% showedsusceptibility There are 24.53% varieties found tolerance with both rice grassystunt and ragged stunt viruses Besides that 28.82% varieties found infected withboth viruses

- Twenty varieties which were the best to rice grassy stunt virus and riceragged virus diseases under field condition then continued to be tested under greenhouse condition by Forced Tube Method Results indicated that 85% showedtolerance, 15% showed moderate tolerance and 0% showed susceptibility to ricegrassy stunt virus disease To rice ragged stunt virus disease, 60% showedtolerance, 25% showed moderate tolerance and 15% showed susceptibility

- Evaluation on the sensibility to rice grassy stunt virus and rice ragged virusdiseases through virus transmission at different rice growth stages (7, 10, 15, 20, 25,

30, 35, 40 and 50 days after sowing) was carried out under green house condition byPlastic Cage Method Results indicated that;

To rice grassy stunt virus disease: at 7 days after virus transmission, infectedplants showed the shortest incubation period of 10 days, the highest disease

Trang 10

incidence of 84.97%, the highest disease index of 31.59% and the highest heightreduction of 43.23% At 35 days after virus transmission, infected plants showed thelongest incubation period of 20 days, the lowest disease incidence of 12.82%, thelowest disease index of 1.64% and the lowest height reduction of 1.61% At 15 daysafter virus transmission, infected plants showed the highest increase of tiller number

of 39.26% and at 25 days after virus transmission, infected plants showed the lowestincrease of tiller number of 5.51% At 40 and 50 days after virus transmission, nosymptom was observed

To rice ragged stunt virus disease: at 7 days after virus transmission, infectedplants showed the shortest incubation period of 9 days, the highest disease incidence

of 90.20%, the highest disease index of 15.53% and the highest height reduction of19.81% At 40 days after virus transmission, infected plants showed the longestincubation period of 18 days, the lowest disease incidence of 9.94%, the lowestdisease index of 2.11% At 35 days after virus transmission, there was the lowestreduction of plant height of 6.55% At 30 days after virus transmission, infectedplants showed the highest increase of tiller number of 19.92% and at 35 days aftervirus transmission, infected plants showed the lowest increase of tiller number of7.54% At 50 days after virus transmission, no symptom was observed

Trang 12

2.4.1 Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) 11

2.5.2.1 Đặc điểm tác nhân vi rút gây bệnh và phương pháp chẩn đoán 18

2.5.2.4 Biện pháp canh tác và kiểm soát tác nhân môi giới rầy nâu truyền bệnh 222.6 Cơ chế kháng và các giai đoạn mẫn cảm của cây lúa đối với bệnh vi rút 24

2.6.2 Các giai đoạn mẫn cảm của cây lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn

2.7 Công tác lai tạo và đánh giá giống lúa chống chịu vi rút 262.7.1 Công tác lai tạo giống lúa chống chịu bệnh vi rút 262.7.2 Phương pháp kiểm tra tính chống chịu ngoài đồng và trong nhà lưới 27

30

Trang 13

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Kết quả đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 10 bộ giống lúa đối với

Trang 14

4.1.10 Bộ giống lai tạo 534.1.11 Tổng hợp đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 10 bộ giống lúa 554.1.11.1 Tỷ lệ mức chống chịu ngoài đồng của 10 bộ giống 554.1.11.2 Tỷ lệ nhiễm và chống chịu đồng thời với 2 loại bệnh của 10 bộ giống 594.2 Kết quả đánh giá tính chống chịu trong nhà lưới của 20 giống lúa đối với

4.2.1 Tỷ lệ bệnh ở các lần điều tra trong điều kiện nhà lưới 604.2.2 Kết quả đánh giá khả năng chống chịu trong điều kiện nhà lưới 624.3 Đánh giá sự mẫn cảm của cây lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá 63

PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh từ thí nghiệm trong nhà lưới 87

PHỤ LỤC 2: Kết quả chi tiết đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 219

Trang 15

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

DNA: Deoxyribonucleic acid

dNTPs: Deoxyribonucleic triphosphate

dsRNA: Double stranded ribonucleic acid

FAO: Food and Agriculture Organization

INGER: International Network for Genetic Evaluation of Rice

IRRI: International Rice Research Institute

LLC: Lùn lúa cỏ

LXL: Lùn xoắn lá

MSG: Mã số giống

NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NSG: Ngày sau gieo

NSTB: Ngày sau truyền bệnh

PCR: Polymerase Chain Reaction

RCBD: Randomized Complete Block Design

RGSV: Rice grassy stunt virus

RNA: Ribonucleic acid

RRSV: Rice ragged stunt virus

ssRNA: Single stranded ribonucleic acid

TLB: Tỷ lệ bệnh

WTO: World Trade Organization

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.2 Mối quan hệ sinh học giữa cây lúa, rầy nâu và vi rút 15

Hình 2.4 Triệu chứng cây lúa bị bệnh lùn xoắn lá 17

Hình 3.1 Sơ đồ thí nghiệm theo phương pháp nương mạ trắc nghiệm bệnh vi

Hình 3.2 Truyền bệnh vi rút trên lúa theo phương pháp Forced Tube 36

Hình 3.3 Truyền bệnh vi rút trên lúa theo phương pháp nuôi rầy trong lồng

Hình 4.1 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống A0 41

Hình 4.2 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống A1 43

Hình 4.3 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống A2 44

Hình 4.4 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống đặc sản 45

Hình 4.5 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống khó khăn 47 Hình 4.6 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống trung

Hình 4.7 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống IRRI 49

Hình 4.8 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống KNQG-1 51 Hình 4.9 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống KNQG-2 52 Hình 4.10 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của bộ giống lai tạo 54

Hình 4.11 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của các 10 bộ giống 57

Hình 4.12: Một số hình ảnh đánh giá tính chống chịu ngoài đồng 58

Hình 4.13 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm và chống chịu đồng thời với 2 loại bệnh lùn

Hình 4.14 Biểu đồ đánh giá tính chống chịu ngoài đồng của 20 giống lúa 62

Trang 17

Hình 4.15 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn lúa cỏ đến tỷ lệ bệnh 66

Hình 4.16 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn lúa cỏ đến chỉ số bệnh 66

Hình 4.17 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn lúa cỏ đến tỷ lệ giảm

Hình 4.18 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn lúa cỏ đến tỷ lệ gia tăng

Hình 4.19: Cây lúa được truyền bệnh lùn lúa cỏ (trái) so với cây đối chứng

Hình 4.20 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn xoắn lá đến tỷ lệ bệnh 73

Hình 4.21 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn xoắn lá đến chỉ số bệnh 74

Hình 4.22 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn xoắn lá đến tỷ lệ giảm

Hình 4.23 Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn xoắn lá đến tỷ lệ gia

Hình 4.24: Cây lúa được truyền bệnh lùn xoắn lá (trái) so với cây đối chứng

Trang 18

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tỷ lệ mức chống chịu ngoài đồng của 10 bộ lúa giống đối với bệnh

Bảng 4.2: Tỷ lệ nhiễm và chống chịu đồng thời với 2 loại bệnh lùn lúa cỏ và

Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá của 20 giống lúa đánh

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh đến thời gian ủ bệnh lùn lúa

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh đến tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn lúa cỏ đến tỷ lệ giảm

Bảng 4.7: Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh đến thời gian ủ bệnh lùn

Bảng 4.8: Ảnh hưởng của giai thời điểm bệnh đến tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh

Bảng 4.9: Ảnh hưởng của thời điểm truyền bệnh lùn xoắn lá đến tỷ lệ giảm

Trang 19

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta, nó giữ vị

trí hàng đầu về diện tích gieo trồng và sản lượng hàng năm Trong đó đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất trong cả nước, hàng năm đóng gópđến hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu Lúa gạo là mặt hàng xuất khẩu mang lạingoại tệ lớn hàng năm cho đất nước, bên cạnh đó nó còn giải quyết nhu cầu laođộng, an sinh xã hội, an ninh lương thực quốc gia (Phạm Văn Dư, 2007)

Hiện nay sản xuất lúa gạo nước ta đang đứng trước những thuận lợi và tháchthức mới Thuận lợi vì trình độ khoa học nông nghiệp nước ta không ngừng đượcnâng lên, người dân ngày càng ứng dụng nhiều những tiến bộ khoa học mới vào sảnxuất, nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước đang đầu tư cho nông nghiệp Bên cạnhnhững thuận lợi thì cũng còn không ít những khó khăn đó là diện tích đất nôngnghiệp ngày càng giảm, thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, phức tạp khichúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập sâu vào nềnkinh tế toàn cầu (Diệp Kỉnh Tần, 2007) Đặc biệt trong những năm gần đây việcchuyển đổi cơ cấu giống, thâm canh cao dẫn đến sự bùng phát về dịch hại trên lúa,sâu bệnh phá hoại mùa màng ngày càng cao hơn, việc sử dụng thuốc hóa học củangười dân càng gia tăng dẫn đến mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường.Trong số những dịch hại mới nổi lên trong thời gian qua đã và đang gây thiệt hạiđáng kể cho sản xuất lúa ở ĐBSCL là bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá Những bệnhnày do tác nhân vi rút gây ra và môi giới truyền bệnh là rầy nâu Bệnh vi rút hại lúa

là nhóm bệnh phức tạp, có quy luật phát sinh rất khác thường, do tác nhân gây bệnh

là vi rút nên không có thuốc đặc trị mà chỉ có biện pháp phòng là chính (Vũ TriệuMân, 2006) Trong điều kiện thâm canh cao như ở vùng ĐBSCL hiện nay bệnh có

Trang 20

nguy cơ bùng phát khi có sự hiện diện của tác nhân môi giới truyền bệnh là rầy nâumang bệnh ở mật độ cao Vụ Hè Thu năm 2006, bệnh đã phát triển thành dịch gâyhại nghiêm trọng cho hầu hết các tỉnh phía Nam nhất là khu vực ĐBSCL Dịch bệnh

đã gây ra lo lắng thực sự cho người trồng lúa khi mà những diện tích bị nhiễm nặngphải hủy bỏ, đồng nghĩa với việc thất thu hoàn toàn, điều rất hiếm khi xảy ra từtrước đến nay Khi dịch diễn ra trên diện rộng công tác kiểm soát bệnh của các cơquan chuyên môn gặp rất nhiều khó khăn

Ngày 4/11/2006, tại thành phố Hồ Chí Minh thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đãtrực tiếp chủ trì hội nghị bàn giải pháp phòng trừ rầy nâu, bệnh lùn lúa cỏ và lùnxoắn lá hại lúa đang diễn ra tại các tỉnh phía Nam Thông tin từ hội nghị, dịch bệnh

đã lây lan ra 21 tỉnh gây thiệt hại cho 500 nghìn ha và làm giảm sản lượng 825nghìn tấn, thiệt hại khoảng 2000 tỷ đồng cho nông dân, tập trung ở 500 nghìn hộvới 2,5 triệu dân (Thiện Thuật, 2006) Ngoài việc chỉ thị Bộ NN và PTNT tìm cáchdiệt dịch khẩn cấp, thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng đồng thời triểnkhai nhanh các chính sách hỗ trợ kịp thời để ổn định sản xuất và đời sống nhân dân.Lần đầu tiên kể từ năm 1989 đến nay, vựa lúa ĐBSCL phải mang nặng nỗi lo vềlương thực Bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá có nguy cơ ngày càng trở nên nghiêmtrọng ở khu vực ĐBSCL, do đó nếu không có các biện pháp phòng ngừa dịch bệnhhữu hiệu chắc chắn sản lượng lúa của Việt Nam sẽ bị giảm sút nghiêm trọng Thiệthại chắc chắn sẽ nhiều hơn thế nữa nếu như nông dân thất mùa liên tiếp Đến naychưa có thuốc đặc trị và cũng chưa có nhiều giống kháng đối với bệnh lùn lúa cỏ vàlùn xoắn lá trên lúa Một khi cây lúa bị nhiễm bệnh nhất là giai đoạn cây lúa cònnhỏ thì nguy cơ mất trắng có thể xảy ra và hậu quả của nó thật khó lường Trướctình hình khẩn cấp đó, ngày 12/11/2006 chính phủ đã phải ra chỉ thị cho các cơ quanchức năng tạm thời ngưng ký các hợp đồng xuất khẩu gạo để bảo đảm an ninhlương thực trong nước (Phạm Văn Quý, 2006)

Hầu hết các giống triển vọng, ngắn ngày năng suất cao đang sản xuất trên địabàn đều bị nhiễm đối với 2 bệnh này, mức nhiễm có thể nhẹ, nặng tùy nơi tùy lúc doảnh hưởng thời vụ và các biện pháp canh tác Do vậy cần phải đánh giá các giống

Trang 21

có triển vọng kháng hoặc chống chịu tốt nhằm phục vụ kịp thời cho sản xuất trongvùng (Phạm Văn Dư, 2007) Bên cạnh đó phải xác định được các giai đoạn cây lúa

dễ mẫn cảm với bệnh, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp quản lý bệnh hiệu quả

Để hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại năng suất lúa do bệnh lùn lúa cỏ,lùn xoắn lá gây nên và nhằm góp phần vào giữ vững an ninh lương thực quốc gia vàkhu vực, trên cơ sở an toàn cho môi trường và chương trình quản lý dịch hại tổng

hợp cho lúa Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá khả năng chống chịu của cây lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá ở đồng bằng sông Cửu Long”.

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá tính chống chịu của một số giống lúa đối với bệnh lùn lúa cỏ, lùnxoắn lá ở vùng ĐBSCL

- Đánh giá mức độ nhiễm bệnh và sự mẫn cảm của cây lúa đối với bệnh lùnlúa cỏ và lùn xoắn lá ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Đánh giá tính chống chịu đối với bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá của một sốgiống lúa ở ĐBSCL ở điều kiện ngoài đồng và trong điều kiện nhà lưới từ đó cónhững định hướng nghiên cứu cách quản lý bệnh tốt hơn

Quan sát và ghi nhận sự phát triển bệnh thông qua các triệu chứng và mức độbiểu hiện trên cây lúa ở thời điểm 15 và 30 ngày sau truyền bệnh trên các giai đoạnsinh trưởng khác nhau Trên cơ sở đó biết được giai đoạn nào cây lúa dễ mẫn cảmđối với bệnh để tìm ra các biện pháp quản lý bệnh hiệu quả

Xác định thời gian triệu chứng bệnh đầu tiên xuất hiện sau khi truyền bệnh,

từ đó biết được thời gian ủ bệnh trên cây lúa

Làm cơ sở cho các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn vềbệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá lúa trong thời gian tới

Trang 22

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Chọn ra một số giống có tính chống chịu tốt đối với bệnh lùn lúa cỏ, lùnxoắn lá trên cơ sở đó khuyến cáo trong công tác quản lý bệnh và sử dụng giống như

là những giải pháp chủ động, rẻ tiền, hiệu quả và bảo vệ môi trường

Biết được các giai đoạn nào cây lúa dễ nhiễm bệnh dựa trên tỉ lệ và mức độbệnh đề xuất các biện pháp bảo vệ cây lúa trong điều kiện có sự hiện diện của bệnhlùn lúa cỏ, lùn xoắn lá và vector truyền bệnh, như cách ly nguồn bệnh (mạ mùng)hoặc giảm thiểu sự gây hại của bệnh (gieo sạ né rầy) góp phần hạn chế sự gây hạicủa 2 bệnh nói trên

Trang 23

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Thế giới

Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới và là

nguồn lương thực chủ yếu cho hơn một nửa dân số toàn cầu Cây lúa cũng giữ vị tríhàng đầu về diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực hàng năm Tuy nhiên hơn90% lượng lúa trên thế giới được trồng và tiêu thụ ở châu Á nơi sinh sống của 60%dân số trên trái đất Lúa gạo cung cấp từ 35 - 75% lượng calories được tiêu thụ chohơn 3 tỷ người châu Á Ngoài ra lúa còn được gieo trồng ở một số quốc gia châuPhi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia khác nữa Diện tích gieo hàng nămkhoảng 154 triệu ha tương đương với 11% tổng diện tích đất canh tác trên toàn thếgiới (FAO, 2004)

Lúa có lẽ là cây trồng đa dạng nhất, nó được trồng ở tận vùng phía bắc TrungQuốc và kéo dài đến tận phía nam của Uruguay và bang New South Wales củaAustralia Lúa có thể mọc ở độ cao trên 300 m so với mặt nước biển ở Nepal vàBhutan và cũng có thể mọc ở độ sâu 3 m dưới mặt nước biển ở bang Kerala Ấn Độ.Môi trường phát triển của cây lúa được chia làm bốn loại chính: nước tưới chủđộng, nhờ mưa, trên cạn và ngập nước (FAO, 2004)

2.1.2 Việt Nam

Mặc dù có những bước phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực công nghiệp vàdịch vụ nhưng nông nghiệp vẫn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển chungcủa đất nước Trong nền kinh tế quốc dân, GDP ngành nông nghiệp chỉ chiếm 20%nhưng cây lương thực chiếm 40% trong GDP nông nghiệp và đồng bằng sông CửuLong chiếm 60 - 70% (Thiện Thuật, 2006) Thêm vào đó, ngành nông nghiệp ởnước ta còn giải quyết việc làm và cung cấp bữa ăn hàng ngày cho hơn 70% lực

Trang 24

lượng lao động ở khu vực nông thôn và cung cấp chỗ ở cho khoảng 80% dân số(Nguyen Huu Nghia, 2000).

Trong nông nghiệp lúa gạo là một trong những sản phẩm quan trọng nhất củaquốc gia và lúa chủ yếu được sản xuất ở vùng ĐBSCL với diện tích khoảng 4 triệu

ha, sản xuất hàng năm khoảng 16,2 triệu tấn lương thực chiếm khoảng một nửa sảnlượng của cả nước Trong những năm gần đây (2005, 2006), ĐBSCL cung cấp từ4,5 - 5 triệu tấn gạo và thu về khoảng 1 tỷ USD mỗi năm (Nguyen Cong Thanh vàBaldeo Singh, 2007)

2.2 Tình hình gây hại và nguyên nhân bùng phát bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá 2.2.1 Diễn biến tình hình gây hại của bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá

Bệnh lùn lúa cỏ có tên khoa học là Rice grassy stunt virus (RGSV) hay còngọi là bệnh vàng lùn được Rivera và ctv báo cáo đầu tiên năm 1966 tại Philippine.Quy mô bệnh lùn lúa cỏ tăng cao từ năm 1970 - 1977 ở Indonesia, năm 1973 -

1974, 1981 và 1984 ở Ấn Độ, và năm 1978 ở Nhật Bản Ngoài ra, vi rút lùn lúa cỏcòn phân bố tại các nước châu Á khác như Malaysia, Sri Lanka, Trung Quốc, ĐàiLoan, Thái Lan và Việt Nam Kể từ năm 1984, bệnh lùn lúa cỏ thường ít xuất hiện

và gây thiệt hại tại châu Á Mặc dù không được báo cáo nhiều, nhưng sự ít xuấthiện của RGSV có lẽ là do sự thay đổi khả năng truyền bệnh trong quần thể rầy nâu

Ở Philippines tỉ lệ truyền bệnh lùn lúa cỏ trong quần thể rầy nâu trên cây lúa vàokhoảng từ 3 - 50% trước năm 1977, nhưng năm 1984 chỉ còn 0 - 5% (Hibino,1996)

Bệnh lùn xoắn lá do tác nhân vi rút có tên khoa học là Rice ragged stuntvirus (RRSV) gây hại trên lúa được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1977 ởIndonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, năm 1978 ở Trung Quốc, Ấn Độ, SriLanka, Đài loan và năm 1979 ở Nhật Bản Rất nhiều quốc gia ở khu vực châu Á,bệnh lùn xoắn lá đã tiến đến ngưỡng dịch bệnh Nhưng kể từ năm 1982, quy mô củabệnh nói chung thường thấp ở nhiều quốc gia trồng lúa thuộc khu vực châu Á ngoạitrừ Thái Lan và Việt Nam Bệnh lùn xoắn lá có lẽ đã tồn tại ở những vùng nơi màquần thể vector rầy nâu tương đối thấp trong giai đoạn những năm 70 của thế kỷ 20

Trang 25

Nhưng vì rầy nâu có khả năng bay xa vượt đại dương cho nên vi rút RRSV đã đượcphát tán lan rộng từ những vùng chúng định cư sang những vùng khác trong giaiđoạn những năm 1977 - 1978 (Hibino,1996).

Theo Vũ Triệu Mân (2006), ở Việt Nam bệnh vi rút lúa được phát hiện từnăm 1910, 1920, 1940, 1963 - 1969, 1979 - 1985 Các năm từ 1963 - 1969, một trậndịch lớn do vi rút lúa gây hại đã tàn phá hàng trăm ngàn ha lúa ở miền núi, đồngbằng Miền Bắc Việt Nam, gây hại cả vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, làm cây lúalụi chết nhanh chóng, gây mất mùa cho nhiều tỉnh suốt từ Bắc cho đến Nam ViệtNam Các năm từ 1979 - 1985, bệnh vàng lá lúa lại xuất hiện ở Tây Bắc, Lạng Sơn,bệnh tungro và bệnh xoắn ngọn lá lúa xuất hiện ở các tỉnh phía Nam

Năm 1978 Viện bảo vệ thực vật đã lấy mẫu và phát hiện vi rút gây bệnh lùnxoắn lá là tiểu thể vi rút có hình cầu, đường kính 60 - 70 nm trên kính hiển vi điện

tử tại Viện vệ sinh dịch tễ trung ương Những năm 1990 - 1994 bệnh được ghi nhận

ở Khánh Hòa, Phú Yên (Ngô Vĩnh Viễn, 2006)

Theo Phạm Văn Dư (2006), ở vùng ĐBSCL từ năm 1989 có xuất hiện mộttriệu chứng cây lúa bị vàng và lùn, tỉ lệ này có thể từ 5 - 10% hoặc lớn hơn 50%trên một số giống và một số ruộng, một số giống như OMCS 96, OM 997-6,

OM 1248 được ghi nhận nhiễm bệnh Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là triệuchứng trên lại có cùng đỉnh cao xuất hiện của quần thể rầy nâu Như vậy có thể đây

là một bệnh mới cần có những nghiên cứu để kết luận nhằm tránh sự lây lan bệnhtrên diện rộng Bệnh xuất hiện thông thường với tỉ lệ rất thấp, nhưng có những nămgây hại khá lớn Qua phối hợp nghiên cứu với Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)

đã xác định trên đồng ruộng vùng Miền Đông và ĐBSCL có sự hiện diện của cả 3loại vi rút gây bệnh lùn xoắn lá, lùn lúa cỏ và tungro (do rầy xanh đuôi đen truyềnbệnh)

Đến cuối tháng 12/1999 có 13120 ha lúa bị nhiễm ở các tỉnh Bến Tre, TP HồChí Minh, Bạc Liêu và Long An, riêng TP Hồ Chí Minh có 242 ha bệnh lùn lúa cỏ

và lúa trổ không được Tháng 1/2000, Bộ NN và PTNT có gửi văn bản cho các Sở

NN và PTNT, Viện, Trường các tỉnh phía Nam thông báo về tình hình bệnh lùn lúa

Trang 26

cỏ xuất hiện cùng với sự bùng phát của dịch rầy nâu Bộ NN và PTNT cũng giaocho nhiệm vụ cho Cục BVTV chủ trì phối hợp với Viện khoa học nông nghiệpMiền Nam và Viện lúa ĐBSCL tổ chức thực hiện nghiên cứu và xác định tác nhânbệnh lùn lúa cỏ, quy luật phát sinh phát triển liên quan đến rầy nâu (Phạm Văn Dư,2006).

Trong năm 2006, lúa bị hội chứng lùn lúa cỏ ở Việt Nam được sưu tập vàkiểm tra bằng phương pháp ELISA tại Viện lúa ĐBSCL Những lá bị bệnh có triệuchứng điển hình vàng và vàng sậm màu nâu gỉ Kết quả phân tích cho thấy 90%mẫu kiểm tra có phản ứng với bệnh lùn lúa cỏ, 70% có phản ứng với vi rút gây bệnhlùn xoắn lá và 60% có phản ứng với cả 2 vi rút nói trên (Du và ctv, 2007)

2.2.2 Nguyên nhân bùng phát dịch bệnh vi rút trên lúa

Trên thế giới nhiều loại trong số 15 vi rút gây bệnh trên lúa, đặc biệt lànhững loại vi rút do côn trùng môi giới đã tiến đến quy mô dịch bệnh ở rất nhiềuquốc gia và gây ra những thiệt hại đáng kể Bệnh vi rút gây hại trên lúa thường cóliên quan đến mật độ cao của những vector truyền bệnh Mặc dù còn rất nhiều loạibệnh vi rút còn chưa được phân tích đầy đủ, nhưng quy mô gây hại gia tăng của cácloại vi rút trên lúa được cho là liên quan đến những thay đổi mạnh mẽ các biện phápcanh tác nông nghiệp Qua tổng kết nghiên cứu của các nước trồng lúa thuộc khuvực châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến sựbùng phát của các loại bệnh vi rút trên lúa bao gồm: mở rộng diện tích canh tác,thay đổi cơ cấu giống, thay đổi mùa vụ gieo trồng, thâm canh tăng vụ, sử dụngnhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật

Còn ở Việt Nam sự bùng phát rầy nâu, bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá hiện naychính là biểu hiện của sự bộc lộ tính thiếu bền vững trong sản xuất lúa Đặc biệt ởkhu vực ĐBSCL nơi đã đạt được sự tăng trưởng trong sản xuất lúa cao và liên tụctrong suốt 15 năm qua Sự thiếu tính bền vững đến từ nhiều phía: về phía nhà nước

do áp lực vừa phải tăng sản lượng, năng suất và vừa phải nâng cao phẩm chất lúagạo, áp lực này dẫn đến mất cân đối trong phát triển bền vững Về phía nông dân do

áp lực về thu nhập thấp, lao động dư thừa đã tăng vụ, 3 vụ/năm, 2 năm 7 vụ tạo ra

Trang 27

cho khu vực ĐBSCL lúc nào cũng có lúa xen kẽ nhau, không còn ranh giới mùa vụ.Việc tính toán và điều chỉnh lại sản xuất lúa ở ĐBSCL theo hướng bền vững đã trởnên cấp bách vì nếu không tính thiếu bền vững sẽ ngày càng bộc lộ nhiều vấn đềnghiêm trọng hơn trong thời gian tới (Bùi Bá Bổng, 2006) Bên cạnh thâm canh quámức là việc sử dụng các giống lúa chất lượng cao thường nhiễm rầy nặng thay thếcác giống cũ chất lượng thấp Chính những giống này (ví dụ như Jasmine 85, cácgiống nếp ) là nguồn cung cấp nguồn rầy nâu với mật độ cao làm tiền đề cho bệnhlùn lúa cỏ và lùn xoắn lá có cơ hội bùng phát (Bùi Chí Bửu, 2006) Việc sử dụngphân hóa học có phần lạm dụng đặc biệt là phân đạm (Vũ Triệu Mân, 2006), bónmất cân đối các yếu tố dinh dưỡng và không chú trọng đến các nguyên tố dinhdưỡng có khả năng nâng cao sức chống chịu cho cây lúa như lân, kali, canxi (LêXuân Đính, 2006) cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát và lan truyền củabệnh.

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá

Vùng sinh thái: những vùng trọng điểm trồng lúa thâm canh, mầm bệnh tạichỗ lớn và môi giới lan truyền bệnh mức độ cao trên đồng ruộng sẽ làm cho bệnhphát triển và lây lan mạnh hơn những vùng khác (Hồ Văn Chiến, 2008)

Giống lúa: tuỳ từng loại giống lúa mà nguy cơ bệnh lùn lúa cỏ khác nhau Sửdụng giống chống chịu với bệnh lùn lúa cỏ có thể hạn chế được tỷ lệ thiệt hại và lâylan của bệnh Một giống lúa có khả năng chống chịu tốt với rầy nâu nhưng có thểkhông có khả năng chống chịu với bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá và ngược lại (HồVăn Chiến, 2008)

Mật độ sạ và phương pháp gieo sạ: trong thực tế sản xuất khi gia tăng mật độ

sạ thì bệnh lùn lúa cỏ sẽ nặng hơn Điều này đã phủ nhận quan niệm của nông dân

về việc tăng mật độ để giảm thiệt hại bệnh lùn lúa cỏ (Hồ Văn Chiến, 2008).Phương pháp gieo sạ: trong 3 biện pháp là sạ lan, sạ hàng và cấy thì biện pháp sạhàng có tỷ lệ bệnh thấp nhất kế đến là sạ lan và nặng nhất là cấy Có thể cây lúa sạhàng có điều kiện phát triển mạnh ở giai đoạn mạ nên có khả năng chống chịu bệnhtốt hơn sạ lan Trong khi đó, cấy lúa có tỷ lệ bệnh cao nhất có lẽ do cây lúa bị nhiễm

Trang 28

trong giai đoạn mạ và mất sức sau khi cấy nên sức chống chịu kém (Hồ Văn Chiến,2008).

Thời điểm xuất hiện rầy nâu và mật độ rầy: nhiều nghiên cứu của các nhàkhoa học đã khẳng định rằng, cây lúa rất mẫn cảm đối với bệnh lùn lúa cỏ và lùnxoắn lá ở giai đoạn mạ Khi cây lúa còn non (< 20 ngày tuổi) nếu bị rầy nâu mang

vi rút chích hút thì nguy cơ bệnh là rất cao Mật số rầy nâu càng lớn thì càng cónguy cơ truyền bệnh càng cao nếu tỷ lệ rầy nâu mang vi rút càng nhiều Nếu tỷ lệrầy nâu nhiễm vi rút là như nhau thì mật độ rầy nâu trên đồng càng cao thì khả năngtruyền bệnh càng cao (Hồ Văn Chiến, 2008)

Nong nước: rầy nâu thường có tập quán sinh sống và chích hút cây lúa ởphần bẹ thân Khi mật số rầy nâu quá cao, chúng sẽ di chuyển lên sống và chích hút

ở lá Khi cây lúa bị ngập thân thì điều kiện sinh sống của rầy nâu không còn thíchhợp nữa, rầy nâu có thể di chuyển lên lá hoặc bay sang vùng khác Tỷ lệ bệnh lùnlúa cỏ ở ruộng áp dụng nong nước thấp hơn ruộng không áp dụng cũng được giảithích bởi mật số rầy nâu thấp hơn có ý nghĩa (Hồ Văn Chiến, 2008)

Lượng phân đạm: theo Ngô Vĩnh Viễn (2006), phân đạm là yếu tố ảnhhưởng đến bệnh nhiều nhất Một thí nghiệm được tiến hành ở Tiền Giang năm 1978cho thấy trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo bệnh lùn xoắn lá, với mức bón 120 kgN/ha chiều cao cây lúa giảm chỉ còn bằng 3/5 so với cây lúa chỉ bón mức 30 kgN/ha Các thí nghiệm đồng ruộng cũng cho thấy tỷ lệ bệnh và mức độ trầm trọngcủa bệnh tỷ lệ thuận với liều lượng phân đạm được bón

Nhiệt độ và độ ẩm: trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, rầy nâu có thể sống quanhnăm và biến động mật số tùy giống lúa Theo thí nghiệm từ của IRRI, rầy nâu cáinuôi ở nhiệt độ 20oC có thời gian đẻ trứng kéo dài 24 ngày, khi nhiệt độ ở 30oC thìthời kỳ này chỉ còn 3 ngày Nhiệt độ 20 - 30oC là điều kiện thích hợp cho rầy nâusinh trưởng phát triển và truyền bệnh Ẩm độ thích hợp là 80 - 86% Nếu mưa lớn

và kéo dài trong nhiều ngày sẽ làm cho quần thể rầy nâu suy yếu và khả năng truyềnbệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lá giảm (Hồ Văn Chiến, 2008)

Trang 29

Mùa vụ: có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của bệnh lùn lúa cỏ và lùnxoắn lá Qua tổng kết các đợt dịch bệnh đã diễn ra trong nhiều năm cho thấy vụ Hèthu (từ tháng 6 - 10) bệnh phát triển mạnh hơn vụ Thu đông và vụ Đông xuân Điềunày được giải thích vì đây là thời gian trùng với mùa mưa ở khu vực phía Nam thíchhợp nhất cho sự phát triển của rầy nâu môi giới truyền bệnh (Hà Minh Trung,1982).

2.4 Đặc điểm gây hại của rầy nâu, bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá trên lúa

2.4.1 Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)

Dạng cánh dài: cánh che phủ cả phần bụng Rầy cánh dài chiếm ưu thế ở đầu

và cuối giai đoạn sinh trưởng của lúa khi mà rầy từ nơi khác di chuyển đến hay sắpbay đi tìm thức ăn lúc lúa ngậm sữa, chắc hạt

Dạng cánh ngắn: cánh che phủ đến đốt thứ sáu của thân mình, dài khoảng1/3 chiều dài thân; rầy dạng cánh ngắn chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thường vàogiữa vụ lúa, thời tiết thích hợp và có khả năng đẻ trứng rất cao Chúng sống tại chỗ

và chỉ di chuyển giữa các bụi lúa

Loại hình cánh dài và cánh ngắn không phải là đặc tính di truyền mà do ảnhhưởng chủ yếu bởi điều kiện môi trường sống Trong quần thể rầy nâu tỷ lệ loạihình cách dài gia tăng khi mật độ rầy tăng cao và có sự suy giảm số lượng và chấtlượng thức ăn Chính những điều kiện sống không thuận lợi đó đã kích thích chúnghình thành cánh dài để bay xa tìm thức ăn (Mochida và ctv, 1977)

Trang 30

A Trứng rầy B Ấu trùng rầy

C Rầy trưởng thành cánh ngắn D Rầy trưởng thành cánh dài

Hình 2.1: Đặc điểm hình thái rầy nâu

(Nguồn: Bùi Bá Bổng và ctv, 2006).

2.4.1.2 Vòng đời

Rầy nâu là loại côn trùng gây hại trên lúa có kiểu biến thái không hoàn toàn

Sự phát triển của rầy nâu qua 3 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thành trùng Nhiệt độthích hợp là từ 25o - 30oC, vòng đời trung bình từ 25 - 30 ngày (Mochida vàHeinrichs, 1982)

Trứng rầy giống hình hạt gạo dài 0,3 - 0,4 mm, màu trắng trong, có bộ phậnche lại ở phía trên gọi là nắp trứng, gần nở chuyển sang màu vàng và có 2 điểm mắt

đỏ Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ lá cây lúa, mỗi hàng

có từ 8 30 trứng xếp hình nải chuối Thời gian để trứng nở trung bình khoảng 6

-7 ngày

Ấu trùng hay rầy non, còn được gọi là rầy cám có 5 tuổi, rất linh hoạt Khimới nở rất nhỏ có màu trắng sữa, càng lớn rầy càng có màu nâu lợt Rầy cám mới

nở, lột xác 5 lần sống từ 12 - 14 ngày

Trang 31

Rầy trưởng thành cánh ngắn: sống 7 - 14 ngày (đẻ trứng sớm hơn), rầytrưởng thành cánh dài: sống 7 - 14 ngày (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006) Một rầy cáicánh dài đẻ khoảng 100 trứng, rầy cái cánh ngắn đẻ từ 300 - 400 trứng Nếu điềukiện thích hợp, một rầy cái có thể đẻ hàng ngàn trứng (Phạm Văn Kim và Lê ThịSen, 1993).

2.4.1.3 Phân bố, ký chủ và tập quán sinh sống

Rầy nâu xuất hiện ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới như: Ấn Độ,Bangladesh, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, SriLanka, Tân Guinea, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam, Úc (vùng trồng lúa ởQueensland), các đảo Carolia và Mariana, Fiji, Papua Ghinê, Solomon …(NguyễnXuân Hiển và ctv, 1979)

Ngoài cây lúa, rầy nâu còn có thể sống trên một vài loài cỏ dại như: cỏ chân

vịt (Eleusine coracana), cỏ môi (Leersia hexandra), cỏ lồng vực nước (Echinochloa colona), lúa hoang (Oryza nivara và Oryza rufipogon) và một số cây trồng cạn

thuộc họ hòa thảo như mía, ngô, kê, cao lương v.v… Các loại cây này được xem là

ký chủ tạm thời của rầy nâu Chúng có thể sống tạm trên những cây này nhưngkhông thể hoàn thành được vòng đời (Nguyễn Văn Luật, 2002)

Rầy nâu thích sống ở nơi có ẩm độ cao và sợ ánh sáng mặt trời Cả thànhtrùng và ấu trùng rầy nâu đều thích sống dưới gốc lúa gần mặt nước, nhất là rầy cám

và có tập tính bò quanh thân cây hoặc nhảy xuống nước hay bay lên tán lá để lẩntránh khi bị khuấy động Rầy thích tấn công cây lúa còn nhỏ nhưng nếu mật số cao

có thể gây hại mọi giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Con trưởng thành cánh dài banđêm thích ánh sáng đèn (Lê Thị Sen, 1999)

2.4.1.4 Sự gây hại và truyền bệnh

Tác hại trực tiếp: ấu trùng và thành trùng gây hại cây lúa bằng cách cho vòichích hút vào bó libe của mô cây để hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết nước bọtphân hủy mô cây, tạo thành một lớp dịch bao xung quanh vòi, cản trở sự di chuyểnnhựa nguyên và nước lên phần bên trên của cây lúa Hiện tượng cháy rầy xảy ra khi

Trang 32

mật số rầy tăng cao do cây lúa vừa mất chất dinh dưỡng vừa mất nước nên bị khôhéo (Lê Thị Sen, 1999).

Tác hại gián tiếp: là môi giới truyền vi rút gây bệnh lùn lúa cỏ, lùn xoắn lácho cây lúa (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006) Ngoài ra cũng từ vết thương do chúngchích hút để lại trên cây lúa cũng tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh xâm nhập vàocây dễ dàng (Mochida và ctv, 1977) Rầy trưởng thành cánh ngắn xuất hiện phổbiến trước lúc trổ bông, rầy cánh dài thường xuất hiện vào giai đoạn lúa chín và dichuyển, phát tán bệnh vi rút (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006)

Rầy nâu truyền bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá theo kiểu bền vững, khôngtruyền bệnh qua trứng và hạt giống Rầy nâu chích hút nhựa cây lúa bị bệnh lùn lúa

cỏ, lùn xoắn lá rồi mang mầm bệnh vi rút này trong cơ thể để truyền sang cho câylúa khoẻ mạnh khi chúng đến chích hút cây lúa đó Tuy nhiên sự truyền bệnh củarầy thường không liên tục trong suốt vòng đời mà thường bị gián đoạn Các nghiêncứu đã chỉ ra rằng, những con rầy đã nhiễm bệnh vi rút chỉ có khả năng truyền đượcbệnh khoảng 80 % số ngày tính từ lúc đã nhiễm bệnh cho đến khi chúng chết (Ling,1972) Không có sự khác biệt về khả năng truyền bệnh giữa rầy có màu nâu sẫm vàrầy có màu nâu nhạt, giữa rầy cánh ngắn và rầy cánh dài, giữa rầy cái và rầy đựccũng như giữa các nòi (biotype) của chúng (Hibino, 1979) Loại hình rầy cánh ngắnchỉ có thể di chuyển được bằng cách bò, nhảy từ vị trí này sang vị trí khác trongcùng một bụi lúa hoặc sang những bụi lúa bên cạnh trong một diện tích hẹp Từ đặcđiểm di chuyển này nên chúng chỉ có khả năng truyền bệnh vi rút ở những cây lúatrong phạm vi giới hạn nhất định nơi chúng sinh sống nếu chúng bị nhiễm bệnh.Ngược lại loại hình rầy cánh dài ngoài chức năng bò, nhảy chúng còn có khả năngbay rất xa từ cánh đồng lúa chúng cư trú ban đầu bị nhiễm bệnh đến những nơichúng mới đáp xuống để truyền bệnh cho vùng trồng lúa khác Đây chính là nguyênnhân bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá phát tán trên diện rộng (Mochida và ctv, 1977).Rầy nâu mang mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết Cây lúa càngnon càng dễ bị nhiễm bệnh, về sau có thể không trổ bông được, năng suất giảmnghiêm trọng hoặc mất trắng Cây lúa già bị nhiễm bệnh thì năng suất bị giảm ít

Trang 33

hơn Tuổi thọ trung bình của rầy nâu không mang vi rút là 20,4 ngày, dài hơn mộtcách có ý nghĩa so với những con rầy nâu mang bệnh là 16,1 ngày (Ling, 1972).Tóm lại, rầy nâu chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh (lúa bị bệnh, lúa chét bị bệnh,

cỏ bị bệnh) tồn tại trên đồng ruộng (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006)

Hình 2.2: Mối quan hệ sinh học giữa cây lúa, rầy nâu và vi rút

(Nguồn: Theo Ling, 1972)

2.4.2 Bệnh lùn lúa cỏ

2.4.2.1 Tác nhân

Bệnh lùn lúa cỏ do vi rút có tên Rice grassy stunt virus (RGSV) gây ra thuộc

chi Tenuivirus (Vũ Triệu Mân, 2007) Các phần tử vi rút là những sợi vòng nhỏ kích

thước chiều dài khoảng 2 µm, chiều rộng từ 6 - 8 nm, với 4 loại phân tử ssRNA cócác đầu phân cực và được bao phủ một lớp áo protein và enzym RNA polymerase

Vi rút gây bệnh lùn lúa cỏ có phản ứng huyết thanh gần giống với vi rút gây bệnhsọc lá lúa (Rice stripe virus) (Hibino, 1996)

Trang 34

2.4.2.2 Phổ ký chủ và triệu chứng bệnh

Theo báo cáo của Ling và ctv (1970), ngoài loài lúa trồng Oryra sativa còn

có 15 loài lúa khác cũng là ký chủ của vi rút gây bệnh lùn lúa cỏ

Triệu chứng bệnh trên cây lúa biểu hiện: cây bị lùn, mọc nhiều chồi, bộ rễbình thường Lá ngắn, hẹp, cứng màu xanh vàng hoặc vàng cam Lá non có nhiềuđốm gỉ sắt hoặc màu vàng đỏ (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006)

Hình 2.3: Triệu chứng cây lúa bị bệnh lùn lúa cỏ 2.4.2.3 Cách lan truyền bệnh

Rầy nâu là môi giới truyền vi rút gây bệnh cho cây lúa và truyền vi rút chođến khi chết Cây lúa bị bệnh mang vi rút cho đến khi gặt, lúa chét cũng có thểnhiễm bệnh Khi bị bệnh ở giai đoạn lúa non, lúa sẽ không trổ bông, năng suất giảmnghiêm trọng hoặc mất trắng Rầy nâu chích hút cây lúa bệnh sau 5 - 10 phút làmang mầm bệnh trong cơ thể và khoảng 10 ngày sau là có thể lan truyền vi rút gâybệnh sang cây lúa khỏe khác (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006) Theo Cabunagan vàCabauatan (2006), để có thể truyền được bệnh lùn lúa cỏ, rầy nâu cần thời gian tốithiểu để chích hút là 30 phút, sau đó ủ bệnh từ 5 - 25 ngày (trung bình khoảng từ 10

- 11 ngày) và thời gian truyền bệnh cần từ vài phút đến 1 ngày (ít nhất từ 5 - 15phút) Còn theo Lê Cẩm Loan và ctv (2009), đối với bệnh lùn lúa cỏ để có thể lâynhiễm với tỷ lệ 100%, rầy nâu cần thời gian chích hút 210 phút, thời gian ủ bệnh 14ngày và thời gian truyền bệnh 150 phút Vi rút gây bệnh lùn lúa cỏ không truyềnqua trứng rầy, đất, nước, không khí (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006)

Trang 35

2.4.3 Bệnh lùn xoắn lá

2.4.3.1 Tác nhân

Bệnh lùn xoắn lá do vi rút có tên khoa học là Rice ragged stunt virus (RRSV)gây ra Vi rút gây bệnh lùn xoắn lá là thành viên của nhóm vi rút thuộc chi

Oryzavirus, họ Reoviridae gây hại trên lúa (Agrios, 2004) Các phần tử vi rút có

hình khối đa diện, đường kính khoảng 50 nm, chứa 10 sợi kép dsRNA và 5 loạiprotein chủ yếu (Hibino, 1996)

2.4.3.2 Phổ ký chủ và triệu chứng bệnh

Bên cạnh loài Oryza sativa còn có 2 loài lúa khác là O latifolia, O nivara

cũng bị nhiễm vi rút RRSV trong điều kiện tự nhiên (Hibino, 1979)

Triệu chứng bệnh trên cây lúa biểu hiện: cây bị lùn, màu lá xanh đậm Rìa lá

bị rách và gợn sóng, dọc theo gân lá có bướu Chóp lá bị biến dạng, xoăn tít lại Lúakhông trổ được, bị nghẹn đòng, hạt lép (Bùi Bá Bổng và ctv, 2006)

Hình 2.4: Triệu chứng cây lúa bị bệnh lùn xoắn lá

(Nguồn: Phạm Văn Kim, 2006)

2.4.3.3 Cách lan truyền bệnh

Cách lan truyền bệnh lùn xoắn lá cơ bản như bệnh lùn lúa cỏ, nhưng thờigian chích hút, thời gian ủ bệnh và thời gian truyền bệnh thường ngắn hơn bệnh lùnlúa cỏ Đối với bệnh lùn xoắn lá, rầy nâu cần thời gian chích hút khoảng 1 ngày từcây lúa bị bệnh lùn xoắn lá, thời gian ủ bệnh từ 3 - 35 ngày (trung bình từ 8 - 10ngày) và thời gian truyền bệnh khoảng 6 giờ (ít nhất là 1 giờ) (Cabunagan và

Trang 36

Cabauatan, 2006) Còn theo Lê Cẩm Loan và ctv 2009, để có thể lây bệnh với tỷ lệbệnh 100%, rầy nâu cần thời gian chích hút 60 phút, thời gian ủ bệnh 12 ngày vàthời gian truyền bệnh 60 phút.

Lưu ý: có trường hợp trên một cây lúa đồng thời xuất hiện cả hai triệu chứng

bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá

2.5 Tổng hợp quản lý bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá lúa

2.5.1 Quản lý bệnh bền vững trên cơ sở sinh thái học

Lúa là cây có lịch sử gieo trồng từ lâu đời ở khu vực châu Á trải qua cáchnay khoảng từ 2000 - 4000 năm Rất nhiều loại vi rút cùng tồn tại để thiết lập trạngthái cân bằng trong mối quan hệ giữa ký sinh và ký chủ ở mỗi vùng Sự cân bằngnày đã bị phá vỡ bởi hệ thống nông nghiệp thâm canh cao những năm gần đây Trên

cơ sở sinh thái học đã chỉ ra rằng, hệ thống thâm canh tăng vụ quá mức là nguyênnhân chính dẫn đến sự bùng phát nhiều loại dịch bệnh, trong đó có bệnh vi rút.Thực tế chưa có những biện pháp quản lý một cách bao quát hiệu quả trong hệthống nông nghiệp thâm canh cao để xử lý những vấn đề gây ra bởi những bệnh virút và các dịch hại khác Ở một số nước thuộc châu Á quy mô bệnh vi rút trên lúanói chung tương đối thấp trong vòng hơn 10 năm qua, điều này chỉ ra rằng khả năngthiết lập một quần thể cân bằng mới giữa cây lúa và ký sinh của nó Việc áp dụnggieo trồng kết hợp với giai đoạn bỏ không canh tác sau mỗi vụ ở những vùng xácđịnh đã thành công trong việc quản lý bệnh vi rút trên lúa Những vùng áp dụngbiện pháp này bệnh vi rút trên lúa hình như mang tính bản địa và không gây ranhững thiệt hại kinh tế đáng kể Cần có những nghiên cứu nhiều hơn nữa về dịch tễhọc bệnh vi rút trên lúa trong thời gian tới, đặc biệt về mối tương quan sinh họctrong hệ thống nông nghiệp thâm canh cao như hiện nay để có những chiến lượcquản lý bệnh hiệu quả hoàn thiện hơn (Hibino,1996)

2.5.2 Các biện pháp phòng trừ bệnh vi rút trên lúa

2.5.2.1 Đặc điểm tác nhân vi rút gây bệnh và phương pháp chẩn đoán

Các tác nhân nấm, vi khuẩn, tuyến trùng… gây bệnh trên cây lúa là nhữngnhóm ký sinh ngoại bào, trong khi đó vi rút là nhóm bệnh ký sinh nội bào bắt buộc,

Trang 37

chúng phải xâm nhập và nhân lên trong tế bào sống để tái tạo thế hệ vi rút mới Chutrình nhân lên của vi rút nói chung gồm 5 bước: hấp phụ, xâm nhập, sinh tổng hợp(axit nucleic và protein), lắp ráp và phóng thích (Phạm Văn Ty, 2007) Từ nhữnghiểu biết cơ bản về đặc điểm tác nhân vi rút gây bệnh trên cây trồng chúng ta mới

có các biện pháp phòng trừ bệnh một cách hiệu quả

Các biện pháp chẩn đoán bệnh gồm;

Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng triệu chứng bên ngoài: thông qua cáctriệu chứng bên ngoài chúng ta có thể hiểu biết ít nhiều về nguyên nhân gây bệnhbên trong và ngược lại Tuy nhiên, trong chuẩn đoán bệnh cây nếu chỉ dựa vào triệuchứng có thể còn phiến diện nên người ta thường dùng nhiều phương pháp phối hợpnhau để kết luận nguyên nhân gây bệnh một cách chính xác (Vũ Triệu Mân và LêLương Tề, 1998)

Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng cây chỉ thị: cây chỉ thị (plant indicator)thực chất là cây ký chủ của bệnh vi rút nhưng đặc biệt hơn chúng mẫn cảm cao với

vi rút và thường tạo ra các triệu chứng khá rõ trên lá (Vũ Triệu Mân và Lê Lương

Tề, 1998)

Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng côn trùng môi giới truyền bệnh: các loạibệnh vi rút trên lúa chủ yếu là do côn trùng truyền bệnh nên có thể sử dụng côntrùng như một phương pháp chẩn đoán bệnh (Cabunagan và Cabauatan, 2006)

Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng dung dịch I ốt: phương pháp này dựa trênnguyên lý tích tụ tinh bột trong lá lúa và tinh bột phản ứng với dung dịch I ốt(Cabunagan và Cabauatan, 2006)

Phương pháp ELISA chẩn đoán bệnh: bản chất của ELISA (Enzyme LinkedImmunosorbent Assay) là phương pháp huyết thanh học dựa trên nguyên lý phảnứng đặc hiệu giữa kháng thể và kháng nguyên Phương pháp huyết thanh học chẩnđoán bệnh vi rút thường dùng là DAS-ELISA (Double Antibody Sandwich EnzymeLinked Immunosorbent Assay) Phương pháp này được sử dụng phổ biến để chẩnđoán các bệnh vi rút trên lúa hiện nay vì nó có tính chính xác khá cao (IRRI, 2008)

Trang 38

Phương pháp PCR chẩn đoán bệnh: phương pháp này được thực hiện dựatrên cơ sở khả năng tổng hợp của DNA invitro (Vũ Triệu Mân, 2007).

Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng kính hiển vi điện tử: kính hiển vi điện tử

để chẩn đoán bệnh vi rút là một phương pháp có độ chính xác rất cao Để thực hiệnđược kỹ thuật quan sát và chụp ảnh hiển vi điện tử có thể xem trực tiếp mẫu vi rút

đã được làm tinh khiết (Vũ Triệu Mân, 2007)

2.5.2.2 Phòng bệnh

Phòng bệnh là các biện pháp bảo vệ cây trồng từ nguồn bệnh, từ sự xâmnhiễm, và từ những yếu tố môi trường cho sự phát triển bệnh Hay nói một cáchkhác phòng bệnh là bất kỳ biện pháp nào mà có thể loại trừ, hạn chế, ngăn chặnhoặc làm giảm sự phát tán của bệnh

Biện pháp phòng bệnh trên cây lúa thông thường nhất là nhổ bỏ cây bị bệnh.Biện pháp này chỉ hiệu quả khi mức độ phát tán của vi rút thấp và tỉ lệ rất ít cây bịbệnh trên cách đồng, những vùng lân cận không có những giống nhiễm bệnh vàphải làm thường xuyên Bên cạnh đó phải cày lật gốc rạ sau khi thu hoạch để loạitrừ lúa chét mọc lên từ những cây mẹ mang bệnh không có triệu chứng vì bị nhiễm

ở giai đoạn cây lúa đã già Trong công tác phòng bệnh xác định đúng tác nhân côntrùng môi giới để quản lý chúng là điều hết sức quan trọng

Miễn dịch đối với bệnh của cây trồng là việc quan tâm đến chọn tạo cải thiệngiống kháng đối với sự xâm nhiễm và phát triển của bệnh Đây cũng là một biệnpháp chủ động phòng bệnh tích cực, thường được biết đến như là giải pháp giốngkháng trên cây trồng Ở Philippines sau khi bệnh lùn lúa cỏ bùng phát (1973 -1974), các giống chống chịu được đưa vào gieo trồng thì sự gây hại của bệnh cũnggiảm dần những năm sau đó (Ling và Tiongco, 1979) Theo kinh nghiệm từ cácnước trong việc đối phó với bệnh vi rút trên lúa thì giải pháp giống kháng hoặcchống chịu tỏ ra hiệu nhất, rẻ tiền nhất, chủ động và đơn giản nhất trong việc kiểmsoát bệnh

Bài học từ việc phòng chống bệnh vàng lụi ở các tỉnh phía Bắc ở nước tanhững năm 1960 cho thấy, sau khi tuyển chọn và đưa vào sản xuất giống mới chống

Trang 39

chịu tốt đối với rầy nâu và bệnh vàng lụi thay thế những giống cũ nhiễm bệnh vànglụi và rầy nâu tình hình dịch bệnh bệnh cũng từng bước được đẩy lùi (Ngô VĩnhViễn, 2006).

Bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá gây hại cây lúa cho đến nay chưa có thuốc đặctrị vì vậy biện pháp đầu tiên là phòng bệnh Thực hiện triệt để các biện pháp phòngtrừ rầy Áp dụng các biện pháp canh tác đồng bộ để tạo cây lúa khỏe nhất là giaiđoạn trước trổ để gia tăng sức đề kháng của cây Cần lưu ý thêm rằng sử dụng thuốchóa học có thể làm giảm mật số rầy hại lúa nhưng vẫn không thể giải quyết đượcbệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá, vì sự truyền bệnh có thể xảy ra giữa rầy và cây lúatrong khoảng thời gian rất ngắn (Phạm văn Dư, 2008)

Theo khuyến cáo của Bộ NN và PTNT (2006), giai đọan lúa còn non (0 - 40ngày sau gieo sạ): nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh nặng thì phải tiêu hủy ngay bằngcách cày, trục cả ruộng để diệt mầm bệnh; trước khi cày vùi phải phun thuốc trừ rầynâu để tránh phát tán truyền bệnh sang ruộng khác; nếu bị nhiễm nhẹ thì phải nhổ

bỏ cây bệnh và vùi xuống ruộng, không bỏ tràn lan trên bờ

Giai đoạn lúa sau gieo sạ 40 ngày trở đi: thường xuyên thăm đồng và nhổ,vùi bỏ bụi lúa bệnh, đồng thời nếu phát hiện rầy cám có mật số trên 3 con/dảnh(tép) thì phải phun thuốc trừ rầy Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh quá nặng thì tiêu hủybằng cách cày, trục cả ruộng và trước khi cày, trục phải phun thuốc trừ rầy nâu nếu

có rầy trên lúa để tránh phát tán truyền bệnh sang ruộng khác (Bùi Bá Bổng và ctv,2006)

2.5.2.3 Trừ bệnh

Trừ bệnh là cách trị bệnh sau khi cây trồng đã bị nhiễm bệnh, ở đây thường

đề cập đến các biện pháp vật lý và các hợp chất hóa học Các biện pháp vật lýkhông phổ biến để trị bệnh vi rút trên cây trồng ngoại trừ biện pháp xử lý nhiệt hạtgiống Rất nhiều thí nghiệm đã được tiến hành nhưng không có bất kỳ bằng chứngnào chỉ ra rằng vi rút trên lúa truyền qua hạt giống do vậy biện pháp là xử lý nhiệthạt giống là không có ý nghĩa (Ling và ctv, 1970) Những cố gắng trong việc sửdụng các hóa chất kháng vi rút trong trị bệnh cho cây lúa chưa mang lại kết quả, bởi

Trang 40

khó tìm được các chất nào vừa ngăn chặn sự nhân lên của vi rút mà lại không làmảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây, vì vi rút nhân lên trong tế bào cây

ký chủ Một thực tế đã chỉ ra rằng các chất ngăn cản sự nhân lên của phần tử vi rútthì cũng gây thiệt hại đến cây trồng Một vài hợp chất như là 2-thiouracil và 8-azaquanine sử dụng để phun qua lá hoặc nhúng cây bệnh vào được báo cáo là có thểngăn chặn sự phát triển triệu chứng của bệnh và giảm bớt sự tập trung của các phần

tử vi rút Tuy nhiên những cây đã được xử lý lại quay trở lại trạng thái bệnh ban đầukhi ngưng sử dụng hóa chất nói trên (Ling và ctv, 1970) Chưa tìm được hợp chấtthương mại nào có hiệu quả cao trong việc trừ bệnh vi rút trên lúa Các hợp chấtkhác như tetracyclines, tetracycline hydrochloride, cholortetracycline, dimethylchlortetracycline hoặc oxytetracycline cũng được thử nghiệm để trị bệnh vi rút trênlúa nhưng cũng không có hiệu quả khác biệt so với không xử lý, nhưng tỉ lệ câychết lại cao hơn so với đối chứng không xử lý khi các hoạt chất này ở nồng độ cao(IRRI, 1968)

Ở Việt Nam các hoạt chất salicylate (Hứa Quyết Chiến, 2006) vàninnangmycin (Nguyễn Trần Oánh, 2006) đã được thử nghiệm và báo cáo là có khảnăng ngăn cản sự tái tạo của vi rút Nhìn chung những nỗ lực trong nghiên cứu trịbệnh vi rút trên cây lúa chưa mang lại những kết quả đáng kể nào

2.5.2.4 Biện pháp canh tác và kiểm soát tác nhân môi giới rầy nâu truyền bệnh

Theo khuyến cáo của Bộ NN và PTNT (2006), không trồng lúa liên tục trongnăm, bảo đảm thời gian cách ly giữa hai vụ lúa ít nhất 20 - 30 ngày, không để vụ lúachét Theo sự phân vùng của ngành nông nghiệp, thời vụ trong cùng một vùng phảitập trung, không được gieo sạ kéo dài;

Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày, trục kỹ trước khi gieo sạ, dọn sạch cỏ bờruộng, mương dẫn nước;

Sử dụng giống lúa kháng rầy, lúa giống có chất lượng tốt, không lấy lúa thịtlàm lúa giống; có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống

Không gieo sạ quá dày trên 120 kg giống/ ha;

Ngày đăng: 21/12/2017, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm