DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮTBD body depth: chiều sâu thân CCL curved carapace length: chiều dài vòng cung mai trên CCW curved carapace width: chiều rộng vòng cung mai trên CITES the conven
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA LOÀI VÍCH (Chelonia mydas)
TẠI CÔN ĐẢO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 7/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA LOÀI VÍCH (Chelonia mydas)
TẠI CÔN ĐẢO
Chuyên ngành: Thú y
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn Khoa học PGS TS TRẦN THỊ DÂN
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 7/2010
Trang 3NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA LOÀI VÍCH (Chelonia mydas)
TẠI CÔN ĐẢO
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
Hội đồng chấm luận văn:
Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Viện Sinh học Nhiệt đớiViện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Thảo Cầm viên thành phố Hồ Chí Minh
Hội Chăn nuôi Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên: Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1968, tại huyệnĐức Hòa, tỉnh Long An, con Ông Nguyễn Văn Hiếu và Bà Lại Thị Kim KhuyTốt nghiệp trung học phổ thông tại trường Trung học phổ thông HậuNghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, năm 1986
Tốt nghiệp trường Trung cấp Lâm nghiệp Trung Ương 4, tỉnh Đồng Nai,năm 1988
Làm việc tại Phòng Khoa học, Ban Quản lý Vườn Quốc Gia Côn Đảo,huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ năm 1989 đến nay
Học Đại học ngành Thú y hệ tại chức tại trường Đại Học Nông Lâm, ThủĐức, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1998 và tốt nghiệp năm 2004
Học cao học chuyên ngành Thú y tại trường Đại học Nông Lâm, thành phố
Hồ Chí Minh từ tháng 9 năm 2007 đến 2010
Tình trạng gia đình:
Vợ Nguyễn Thị Lý, kết hôn năm 1997
Con: Nguyễn Thùy An, sinh năm 1999
Con: Nguyễn Yến Bình, sinh năm 2009
Địa chỉ liên lạc: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo,
số 29 đường Võ Thị Sáu, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Điện thoại:
CQ: 0643 830650 Fax: 0643 830493NR: 0643 630260 DĐ: 0918581157
giangcdnp@yahoo.com.vn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Trường Giang
Trang 6LỜI CÁM ƠN Chân thành cám ơn
Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa, Quý Thầy Cô trong Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Quý Thầy
Cô Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thứcquý báo cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Chi bộ, Ban Giám đốc và Ông Phạm Thành Đúng, Trưởng phòng Khoa học BanQuản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho tôi trong suốtthời gian học tập và thực hiện luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Trần Thị Dân đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và đóng gópnhững ý kiến quý báu trong suốt thời gian thực tập, để tôi hoàn thành tốt cuốn luận văntốt nghiệp
Thành kính công ơn
Cha mẹ, anh em và người vợ hiền của tôi đã hết lòng lo lắng và động viên trongsuốt quá trình học tập
Xin chân thành cám ơn
Quỹ bảo tồn thiên nhiên đã tài trợ kinh phí cho Dự án Bảo Tồn Rùa biển ởCôn Đảo từ năm 1995 đến 2007 và đào tạo kiến thức chuyên môn về bảo tồn rùabiển cho tôi
Các đồng nghiệp trong Phòng Khoa học đã hỗ trợ trong công tác Các công chứckiểm lâm, những người đã ngày đêm làm việc tận tâm và thu thập các thông tin về loàiVích tại các trạm bảo tồn rùa biển
Thạc Sỹ Lê Tấn Thanh Lâm đã hỗ trợ tôi trong quá trình học tập tại thành phố
Trang 7TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài Vích (Chelonia mydas) tại
Côn Đảo từ năm 1994 đến tháng 12 năm 2009, được trình bày tóm tắt như sau:
Quần thể Vích mẹ đi đẻ ở vùng biển Côn Đảo có chiều dài vòng cung mai (CCL),chiều rộng vòng cung mai (CCW) ở vị trí lớn nhất và trọng lượng (WBD) lần lượt là96,91±5,43cm, 86,92±5,76cm và 98,53±14,59kg Bốn phương trình tương quan gồm
WBD= -145 + 2,49 CCL; WBD= -64,1 + 1,85 CCW; WBD= -143 + 3,10 SPL (chiều dàiphẳng mai dưới) và CCL = 27,7 + 0,796 CCW; với hệ số tương quan (r) lần lượt là0,979; 0,899; 0,928 và 0,845 Không có sự tương quan giữa kích thước Vích mẹ với số
tổ trứng hay tổng số trứng đẻ trong năm
Mùa làm tổ của Vích mẹ là vào mùa mưa, khoảng tháng 3 đến tháng 12 hàngnăm, tập trung làm tổ cao từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 83,12% tổng số tổ đẻ trongnăm Hệ số tương quan (r) giữa lượng mưa (RFM) và số tổ trứng đẻ (QNM) là 0,821,
Pr<0,001 với phương trình hồi quy QNM= -22,8 + 0,569 RFM
Số lượng Vích mẹ lên bãi đẻ là 237,92±68,42 cá thể/năm với 751,69±277,99tổ/năm Đây là quần thể Vích đi đẻ có số lượng lớn nhất Việt Nam Tỷ lệ Vích mẹ lênnhiều bãi đẻ trứng trong một mùa làm tổ chiếm 4,39% tổng số cá thể
Thời điểm Vích mẹ lên bãi làm tổ phụ thuộc vào thủy triều cao trong đêm (trước
và sau khi thủy triều cao lần lượt là 107,27±59,46 phút và 76,29±61,16 phút) Thờilượng Vích mẹ cần để hoàn thành một tổ đẻ thành công là 105,69±41,15 phút
Vích mẹ đào các tổ đẻ có độ sâu từ mặt bãi đến đáy tổ là 63,17±7,77cm và chọn vịtrí tổ dưới bóng che chiếm 27,74±4,31%/năm Số trứng đẻ trong một tổ là 93,09±17,29trứng Số tổ đẻ trung bình của một Vích mẹ trong mùa làm tổ là 2,58±1,69 tổ
Thời gian trung bình giữa hai lần làm tổ của mỗi rùa mẹ trong năm 17,77±13,03ngày, tần số tập trung cao ở giá trị từ 10 đến 13 ngày (chiếm 50%) và mùa làm tổ củatừng cá thể Vích mẹ trung bình là 43,66±26,18 ngày Thời gian tích lũy dinh dưỡng giữa
2 mùa làm tổ liên tiếp là 4,74±1,83 năm
Vích mẹ làm tổ ở Côn Đảo có 4 vùng tìm thức ăn gồm: vùng nước quanh đảo PhúQuý, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam; Bắc Palawan – Nam Bulusan của Philippines; Bờbiển phía Đông bang Pahang của bán đảo Malaysia và đảo Natuna phía Đông tỉnh
Trang 8quần đảo Riau của Indonesia Độ dài quãng đường di cư là 739,50±408,75km Vận tốc
di cư của Vích là 47,66±20,42km/ngày
Đường kính trung bình và trọng lượng của trứng là 42,05±1,47mm và39,90±3,71g (n=220 trứng) Hệ số tương quan giữa trọng lượng trứng (WE) với đườngkính của trứng (DAv) là 0,911 (Pr<0,001, n=220) và phương trình tương quan:
DAv = 27,7 + 0,36 WE Thời gian trứng đẻ đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ là55,33±4,80 ngày Tỷ lệ trứng nở là 80,95±14,91%/tổ
Chiều dài mai phẳng (SCL), rộng mai phẳng (SCW), sâu thân (BD) và trọnglượng (WH) của Vích con lần lượt là 47,28±1,96mm, 37,73±1,87mm, 19,89±1,68mm
và 21,87±1,83g
Thời gian từ lúc trứng nở dưới lòng đất đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ là2,35±1,04 ngày (n=20) Thời điểm Vích con ngoi lên mặt tổ vào lúc trời mát hay vàoban đêm (từ 18 giờ đến 6 giờ hôm sau) chiếm 97,79% số tổ quan sát
Thời gian Vích con bò trên bãi trong 10m đầu là 103,36±36,39 giây/cá thể Vích
có trọng lượng càng lớn thì thời gian bò trong 10m càng ngắn Thời gian bò trên quãngđường 10 mét của nhóm Vích nở ra từ trạm ấp ngắn hơn thời gian bò của nhóm Vích
nở tự nhiên trên bãi Không có sự khác nhau về trọng lượng giữa hai nhóm Vích con
nở từ trạm ấp và trên bãi
Trong năm 2009, ghi nhận Vích mẹ lên bãi làm tổ không mắc bệnh khối u nguyên
bào và có một loài ngoại ký sinh (Chelonibia testudinaria) bám bên ngoài của Vích,
chiếm 19,23% số Vích khảo sát
Trang 9Long–term records of green turtle (Chelonia mydas) nesting on Con Dao Islands where
is the most important turtle rookery in Vietnam along with detailed monitoring during
1994 and 2009 are described over 12,000 nests Over 2,600 nesting green turtles weretagged on five stations of sea turtle conservation since 1998 and their biologicalcharacteristics are presented in summary as follows: Adult female averaged96.91±5.43cm in curved carapace length (CCL), 86.92±5.76cm in width (CCW) and98.53±14.59kg in body weight (WBD) There were high correlations between CCL,CCW, straight plastron length (SPL) with WBD Nesting season was during the rainyseason between March and December, peaking June to September although averageindividual nesting seasons averaged only 43.66±26.18 days Correlation coefficient (r)between rainfalls per month (RFM) with quantity of nests per month (QNM) was 0.82.The number of nesting females was 237.92±68.42 individuals and with 751.69±277.99clutches annually Only 4.39% females nested on more than one beach in nestingseason Nesting was spread cross night and depended on high tide level Amount of timerequires to complete the nesting was 105.69±41.15 minutes Average of deep nest was63.17±7.77cm and 27.74±4.31% amount of clutches in shade sites Average clutch sizewas 93.09±17.29 eggs Nesting frequency 2.58±1.69 times per female with an averageinterval of 17.77±3.03 days between clutches Remigration interval averaged 4.74±1.83years There are four feeding habitats, including as: waters around Phu Quy Islands;Northern of Palawan - Southern of Bulusan, Philippines; West coat of Pahang state,Malaysia; and around Natuna Island, Riau archipelago province, Indonesia Total ofincubation and emergency of hatchlings periods were 55.33±4.80 days with livinghatchling success rates averaging 80.95±14.91% Eggs weighed an average of39.90±3.71g and measured an average 42.0 ±1.47mm diameter Hatchlings weighed21.87±1.83g and measured 47.28±1.96mm in straight carapace length, 37.73±1.87mm
in width and 19.89±1.68mm in body depth Hatchlings spent 103.36±36.39 seconds perindividual to crawl in 10 meters on the beach The larger weight hatchlings crawledfaster on beach
Trang 10MỤC LỤC
Trang tựa
Trang chuẩn y i
Lý Lịch Cá Nhân ii
Lời Cam đoan iii
Lời cảm tạ iv
Tóm tắt v
Summary vii
Mục lục viii
Danh sách các chữ viết tắt xi
Danh sách các hình xiii
Danh sách các đồ thị xiv
Danh sách các bảng xv
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Yêu cầu 2
2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 3
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 4
2.1.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế, xã hội 5
2.2 Cơ sở lý luận 6
2.2.1 Phân loại học và định danh 6
2.2.1.1 Hệ thống phân loại 6
2.2.1.2 Phương pháp định danh loài cơ bản 7
2.2.2 Hiện trạng loài Vích 7
2.2.2.1 Hiện trạng loài Vích ở khu vực Nam và Đông Nam Á 7
2.2.2.2 Hiện trạng loài Vích ở Việt Nam 9
Trang 112.2.3 Đặc điểm sinh học của loài Vích (Chelonia mydas) ở các giai đoạn vòng đời liên
quan đến đề tài nghiên cứu 9
2.2.3.1 Vòng đời của loài Vích 9
2.2.3.2 Đặc điểm sinh học theo các giai đoạn của vòng đời 11
2.2.3.3 Dinh dưỡng 22
2.2.3.4 Dịch bệnh 22
2.2.3.5.Tuổi thọ 24
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.1.1 Địa điểm 25
3.1.2 Thời gian 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Đối tượng khảo sát 26
3.4 Chỉ tiêu khảo sát 26
3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích mẹ 26
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm ở giai đoạn ấp trứng 27
3.4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích con mới nở 27
3.4.4 Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh thường gặp ở loài Vích 27
3.5 Dụng cụ nghiên cứu 27
3.6 Phương pháp nghiên cứu 28
3.6.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích mẹ 28
3.6.1.1 Kích thước Vích mẹ 28
3.6.1.2 Tập tính làm tổ trên bãi 29
3.6.1.3 Tập tính di cư đến vùng tìm thức ăn sau mùa làm tổ 31
3.6.1.4 Tập tính hoạt động tại vùng tìm thức ăn của Vích mẹ 31
3.6.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học ở giai đoạn ấp trứng 31
3.6.2.1 Kích thước và trọng lượng trứng 31
3.6.2.2 Thời gian trứng đẻ đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ và các biến số về tổ trứng sau khi nở 31
3.6.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích con mới nở 32
3.6.3.1 Thời gian từ lúc trứng nở dưới lòng đất đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ và thời điểm Vích con ngoi lên mặt tổ 32
Trang 123.6.3.2 Tỷ lệ Vích con mới nở có các bất thường 32
3.6.3.3 Trọng lượng và kích thước mai Vích con mới nở 32
3.6.3.4 Khảo sát khả năng di chuyển của Vích con mới nở 33
3.6.4 Khảo sát một số bệnh thường gặp ở loài Vích 33
3.6.4.1 Khảo sát tần suất mắc bệnh fibropapilloma (bệnh khối u nguyên bào) 33
3.6.4.2 Khảo sát các loài ngoại ký sinh bám trên cơ thể Vích mẹ lên bãi làm tổ 34
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Đặc tính sinh học của Vích mẹ 35
4.1.1 Kích thước mai Vích mẹ 35
4.1.2 Tập tính làm tổ của Vích mẹ 37
4.1.2.1 Mùa làm tổ của Vích mẹ 37
4.1.2.2 Thời điểm Vích mẹ lên bãi làm tổ 39
4.1.2.3 Số trứng Vích đẻ trong một tổ 41
4.1.3 Tập tính di cư đến vùng tìm thức ăn sau mùa làm tổ 456 4.1.4 Tập tính hoạt động di cư sau mùa làm tổ và tại vùng tìm thức ăn 47
4.2 Đặc tính sinh học ở giai đoạn ấp trứng 48
4.2.1 Kích thước và trọng lượng trứng 48
4.2.2 Thời gian trứng đẻ - Vích con ngoi lên mặt tổ các biến số về tổ trứng sau khi nở 49
4.3 Đặc điểm sinh học của Vích con mới nở 53
4.3.1 Thời gian từ lúc trứng nở dưới lòng đất đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ và thời điểm Vích con ngoi lên mặt tổ 53
4.3.2 Tỷ lệ Vích con mới nở có các bất thường 54
4.3.3 Kích thước và trọng lượng của Vích con mới nở 55
4.3.4 Khả năng di chuyển của Vích con mới nở 56
4.4 Một số bệnh thường gặp ở loài Vích 57
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BD (body depth): chiều sâu thân
CCL (curved carapace length): chiều dài vòng cung mai trên
CCW (curved carapace width): chiều rộng vòng cung mai trên
CITES (the convention on international trade endangered species of wild fauna andflora): Công ước buôn bán quốc tế về động thực vật hoang dã nguy cấp
CN (complete nest): tổ đẻ hoàn hảo
ctv: cộng tác viên
DAV(diameter-average): đường kính trung bình của trứng
FC (false crawl): rùa bò lên bò xuống bãi (kiểm tra bãi)
FLLS(fore-limbs legth): dài hai bơi trước
FN (false nest): tổ đẻ không thành công
IOSEA (Memorandum of understanding on the conservation and management ofmarine turtle and their habitats of the Indian Ocean and South – East Asia): bản ghinhớ về việc quản lý, bảo tồn rùa biển và các sinh cảnh của chúng ở vùng biển ĐôngNam Á và Ấn Độ
IQ (individual quantity): số lượng cá thể vích trong quần thể đi đẻ ở Côn Đảo
QNM(quantity of nests per month): số lượng tổ đẻ/tháng
QNY(quantity of nests/individual/year): số lượng tổ đẻ/cá thể/năm
RFM(rainfalls per month): lượng mưa
SCL (straight carapace length) chiều dài phẳng mai trên
SCW (straight carapace width): chiều rộng phẳng mai trên
SD (standard deviation): độ lệch tiêu chuẩn
SPL (Straight plastron length): chiều dài phẳng mai dưới (yếm)
WBD(weight of body): trọng lượng toàn thân
WE(weight of egg): trọng lượng trứng
WH(weight of hatchling): trọng lượng rùa con mới nở
WTO (world trade organization): Tổ chức thương mại thế giới
Trang 14DANH SÁCH CÁC HÌNH
TRANG
Hình 2.1 Vị trí Côn Đảo trên bản đồ 3
Hình 2.2 Khóa định danh các loài rùa biển (ở vùng biển Indo – Pacific) 8
Hình 2.3 Bản đồ vùng làm tổ của rùa biển (a); vùng tìm thức ăn (b) 9
Hình 2.4 Sơ đồ vòng đời loài Vích 10
Hình 2.5 Bệnh fibropapilloma ở loài Vích 23
Hình 3.1 Bản đồ các trạm bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo 25
Hình 3.2 Vị trí đeo thẻ Inconel ở bơi trước 29
Hình 3.3 Các chiều đo của Vích con mới nở 33
Hình 4.1 Đường di cư của loài Vích sau mùa làm tổ tại Côn Đảo 46
Hình 4.2 Hai cá thể Vích được nuôi trong hồ tại bãi số 10 54
Hình 4.3 Loài Hào (Chelonibia testudinaria) bám trên cơ thể Vích mẹ tại bãi số 10 57
Trang 15DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
TRANG
Đố thị 4.1 Lượng mưa và nhiệt độ không khí trong mùa làm tổ (2004-2009) 37
Đố thị 4.2 Khuynh hướng số tổ trứng Vích đẻ trên 5 bãi đẻ qua các năm 39
Đố thị 4.3 Số lượng cá thể Vích mẹ trong quần thể theo số tổ đẻ/vích mẹ/năm 43
Đố thị 4.4 Phân bố khoảng thời gian giữa hai lần làm tổ của Vích mẹ trong năm 45
Đố thị 4.5 Phân bố thời gian từ lúc trứng đẻ đến khi Vích con ngoi lên mặt tổ 50
Trang 16DANH SÁCH CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 2.1 Các giá trị về kích thước và khối lượng Vích thành thục tính dục 11
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu về sinh sản của Vích cái các loài 13
Bảng 2.3 Các bước hoạt động làm tổ của loài Vích 15
Bảng 2.4 Các thống kê liên quan đến trứng Vích 16
Bảng 2.5 Tỉ lệ giới tính loài Vích cái sau khi nở ở một số khu vực khảo sát 19
Bảng 2.6 Thành phần loài ngoại ký sinh trên loài Vích ở Cananéia, Đông Nam Braxin 23
Bảng 3.1 Trọng lượng và số lượng cá thể Vích mẹ ghi nhận về thời lượng các công đoạn của quá trình làm tổ trên bãi ở các địa điểm 30
Bảng 4.1 Kích thước và trọng lượng Vích mẹ 35
Bảng 4.2 Kích thước mai Vích mẹ làm tổ mùa trước và trở về làm tổ ở các năm tiếp sau tại Côn Đảo (n=175) 36
Bảng 4.3 Các phương trình tương quan về các chỉ tiêu liên quan đến Vích mẹ 36
Bảng 4.4 Số tổ, số Vích làm tổ, tỷ lệ Vích mẹ làm tổ cố định ở một bãi đẻ hàng năm (n=2.855 Vích mẹ) từ 1998 - 2009 38
Bảng 4.5 Thời điểm Vích mẹ lên bãi làm tổ (n=265) và thời lượng hoàn thành một tổ đẻ thành công 39
Bảng 4.6 Thời lượng các công đoạn làm tổ trên bãi của Vích mẹ (n=25) 40
Bảng 4.7 Thời lượng mỗi đợt rớt trứng và số trứng rớt mỗi lần (n=20 Vích mẹ) 41
Bảng 4.8 Độ sâu tổ trứng, tỷ lệ tổ đẻ dưới bóng cây và số trứng trong một tổ 41
Bảng 4.9 Số tổ đẻ và tổng số trứng của một Vích mẹ trong năm (n=2.760 Vích mẹ) 42 Bảng 4.10 Khoảng thời gian giữa 2 lần làm tổ và thời gian Vích mẹ xuất hiện trên bãi, thời gian tích lũy dinh dưỡng giữa 2 mùa làm tổ liên tiếp 44
Bảng 4.11 Thời gian, quãng đường và vận tốc Vích mẹ di cư; vận tốc bơi của Vích mẹ tại vùng tìm thức ăn 47
Bảng 4.12 Kích thước và trọng lượng trứng Vích mới đẻ năm 2009 48
Trang 17Bảng 4.13 Thời gian trứng đẻ - Vích con ngoi lên mặt tổ, các tỷ lệ trứng nở và không
nở (ghi nhận 1998 – 2009) 49
Bảng 4.14 So sánh thời gian trứng đẻ đến lúc Vích con ngoi lên giữa điều kiện tổ
trứng ở vị trí ngoài trống và ở vị trí có bóng che trên từng bãi (2003 – 2009) 51
Bảng 4.15 So sánh về thời gian trứng đẻ - Vích con ngoi lên (ngày) trong trạm ấp và
trên bãi theo từng trạm bảo tồn trong năm 2009 52
Bảng 4.16 Tỷ lệ trứng nở (%) giữa các tổ trong trạm ấp và trên bãi trong năm 2009 52
Bảng 4.17 Kích thước và trọng lượng Vích con mới nở (năm 2006, 2007 và 2009) 55
Bảng 4.18 Thời gian Vích con bò trên bãi (giây/cá thể) năm 2009 (n=206) 56
Trang 18Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Tất cả các loài rùa biển đều có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới do khai thác
và sử dụng không hợp lý trong một thời gian dài Hầu hết các quần thể loài Vích đượcbiết đều suy thoái nghiêm trọng trong các vùng có ngư dân sinh sống Chúng đượcxem là sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường biển Để tạo điều kiện cho các loàirùa biển nói chung và loài Vích nói riêng phục hồi và phát triển, cần phải bảo tồn cácloài rùa biển, bao gồm bảo vệ các sinh cảnh sinh sản và tìm thức ăn, bảo vệ chúng trêncác vùng di cư, có các chương trình phục hồi hiệu quả Hơn nữa việc bảo tồn chúngkhông những là lợi ích trực tiếp trong việc khai thác tài nguyên, mà còn là nghĩa vụquốc gia của các nước tham gia trong các công ước, hiệp hội quốc tế và trong khu vực.Côn Đảo là địa điểm đầu tiên của quốc gia đã thực hiện công tác bảo tồn loàiVích (từ năm 1994), số lượng Vích mẹ làm tổ tại vùng biển Côn Đảo hàng năm chiếmđến hơn 80% số lượng Vích đẻ trứng ở Việt Nam Côn Đảo cũng chính là nơi hạt nhânnghiên cứu các mô hình bảo tồn rùa biển hiệu quả, phù hợp với điều kiện nước ta vàchia sẻ cho các vùng khác của Việt Nam
Một vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết hiện nay là làm sao nhanh chóng nghiêncứu và phân tích được các đặc tính sinh học cơ bản của rùa biển làm tổ ở Côn Đảo, kể
cả loài Vích để từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn, phục hồi quần thể rùa biển làm tổ
và sinh sống một cách có hiệu quả Đây là nội dung chính trong việc thực hiện kếhoạch “hành động quốc gia về bảo tồn rùa biển đến năm 2010” được Bộ Trưởng BộThủy sản (trước đây) phê duyệt vào năm 2002 Kết quả của đề tài này có thể là mộttrong các nguồn tài liệu cung cấp thông tin cho các nhà bảo tồn trong việc phục hồinguồn tài nguyên rùa biển tại Côn Đảo và các vùng biển khác của Việt Nam; thực hiệnnghĩa vụ quốc gia đối với các cam kết khu vực và các công ước quốc tế mà Việt Namtham gia như (1) Việt Nam là thành viên của mạng lưới bảo tồn rùa biển của khu vực
Trang 19ASEAN vào tháng 12 năm 1997; (2) Việt Nam là thành viên của công ước CITES(1994), bản ghi nhớ IOSEA (2001) và tổ chức WTO (2006).
Xuất phát từ yêu cầu nói trên của địa phương và quốc gia, được sự hướng dẫncủa PGS TS Trần Thị Dân, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số
đặc điểm sinh học của loài Vích (Chelonia mydas) tại Côn Đảo”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tổng kết các đặc điểm sinh học cơ bản của loài Vích ở Côn Đảo bao gồm đặcđiểm sinh sản, đặc điểm sinh học ở giai đoạn ấp trứng và giai đoạn Vích con mới nở;
và sơ kết tần suất mắc 2 bệnh thường gặp trên lâm sàng ở Vích mẹ lên bãi làm tổ
1.3 Yêu cầu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích mẹ
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học ở giai đoạn ấp trứng của loài Vích
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vích con mới nở
- Ghi nhận một số ca bệnh thường gặp ở Vích mẹ lên bãi làm tổ, đó là bệnhfibropapilloma, tần suất và số loài ngoại ký sinh
Trang 20Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Vườn Quốc gia Côn Đảo thuộc huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cáchthành phố Vũng Tàu 179km về hướng Đông - Nam và có tọa độ địa lý từ 8034’- 8048’
vĩ độ Bắc; từ 106031’- 106045’kinh độ Đông Tổng diện tích Vườn Quốc gia Côn Đảo
là 19.990,7ha trong đó diện tích rừng trên 14 hòn đảo là 5.990,7ha, diện tích mặt biển
là 14.000ha Nhiệm vụ của Vườn quốc gia Côn Đảo:
- Bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, sự đa dạng sinhhọc và các loài động vật, thực vật bản địa, quý hiếm, các sinh cảnh tự nhiên độc đáocủa Côn Đảo
Hình 2.1: Vị trí Côn Đảo trên bản đồ
- Bảo vệ nguyên vẹn và phát triển diện tích rừng để gia tăng độ phủ rừng đầunguồn các khe, suối, bảo vệ đất, góp phần duy trì sự sống trên đảo Cung cấp nguồnnước cho nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt và phát triển kinh tế trên đảo và trên biển Đồngthời, bảo vệ rừng nhằm góp phần củng cố quốc phòng và an ninh hải đảo
- Sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học và các dịch vụ môi trường rừng
để phát triển du lịch sinh thái, góp phần xây dựng Côn Đảo trở thành một trung tâm dulịch – dịch vụ chất lượng cao (theo Quyết định 120/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm
Trang 212009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Dự án Quy hoạch tổng thể đầu tưphát triển Vườn quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn đến năm 2020).
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Địa hình địa mạo
Côn Đảo có địa hình thuộc dạng quần đảo Trong 14 hòn đảo thuộc Ban quản lýVườn Quốc gia Côn Đảo, đảo Côn Sơn lớn nhất nằm ở vị trí trung tâm, 13 đảo nhỏcòn lại nằm cách đảo Côn Sơn từ 1 – 15km đường biển Đỉnh cao nhất là Núi ThánhGiá cao 577m, đa số các đảo ở Vườn Quốc gia Côn Đảo đều có độ dốc lớn từ 250 -
450, có nhiều chỗ tạo thành vách đá dựng đứng
- Nhân tố khí hậu - thuỷ văn
Côn Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa khô và mưa rõ rệt.Xung quanh là biển nên chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương, do đó khí hậu của CônĐảo ôn hòa hơn so với đất liền
Nhiệt độ trung bình năm 260C, tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất 28,30C(tháng 5), tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất 25,30C (tháng 1) Biên độ nhiệt giữatháng lạnh và tháng nóng nhất là 30C
Lượng mưa trung bình năm là 2.200mm, số ngày mưa trung bình năm 166 ngày,tháng có lượng mưa cao nhất (tháng 10) 348mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Độ ẩm không khí trung bình năm là 90% Biên độ biến thiên của độ ẩm khôngkhí trong năm là 5%
Hướng gió thịnh hành của Côn Đảo trong mùa mưa là gió Tây Mùa khô có gióTây - Bắc, Đông - Bắc với cường độ cấp 6, cấp 7
Trong 16 hòn đảo của quần đảo, chỉ có riêng đảo Côn Sơn và đảo hòn Cau cónước ngọt Đảo Côn Sơn do đặc thù diện tích nhỏ, độ dốc lớn, chiều ngang hẹp nênkhông có sông, suối lớn mà chỉ có các suối nhỏ như suối Ớt, suối Nhật Bổn và suốiÔng Câu Các suối này có nước trong mùa mưa đến giữa mùa khô, cuối mùa khôkhông còn nước Ngoài các suối, đảo Côn Sơn có 3 hồ chứa nước ngọt lớn là hồQuang Trung, hồ An Hải, hồ Lò Vôi, những hồ nước này là nguồn nước dự trữ cungcấp cho sinh hoạt của cộng đồng trên đảo
- Vùng triều, trầm tích ven đảo
Vùng triều được hình thành ở các nơi lõm của bờ biển, toàn quần đảo có 24 bãi
Trang 22Nhìn chung, ở tất cả các đảo đều có, nhưng bãi biển và bãi triều lớn tập trung ở đảoCôn Sơn, bãi rộng nhất nằm ở vịnh Côn Sơn dài đến 1,5km Vùng triều được tạo thànhbởi cát nhỏ, các mảnh vụn san hô.
Vùng biển Côn Đảo nằm trong trường phân bố các loại trầm tích cát và cát nhỏchiếm ưu thế Thành phần các cấp hạt thô chiếm từ 1 – 10%, cấp hạt nhỏ chiếm 50%,cấp hạt mịn dưới 1% Một số yếu tố địa hóa trong trầm tích mặt đáy biển khu vực nàynhư sau: Hàm lượng SiO2 đạt trên 80%, Al2O3 đạt 6 - 12%, Fe2O3 đạt 1 - 3% vàCaCO3đạt 10 - 20% (Lăng Văn Kẻng, 1997)
Số bãi cát có rùa biển lên làm tổ hàng năm tại Côn Đảo là 14 bãi (ghi nhận nhiềuhơn 5 lượt rùa mẹ lên bãi) Chiều dài của 14 bãi là 3,5km và diện tích mặt bãi là 24ha.Chế độ thủy triều vùng biển Côn Đảo thuộc loại triều hỗn hợp thiên về bán nhậttriều không đều, với độ cao 3,0 - 4,0m khi triều cường và 1,5 – 2m khi triều kém(Lăng Văn Kẻng, 1997) Mực nước cực đại ghi nhận là 4,1m, và cực tiểu là 0,2m, mựcnước trung bình là 2,5cm trong vòng từ năm 1959 – 1987 Hướng và độ cao sóng phụthuộc vào gió mùa Gió Đông - Bắc sóng thịnh hành với tần suất đạt 60% độ cao trungbình 0,3 - 1,5m Dòng chảy chủ yếu chịu chi phối của dòng triều, tuy nhiên gió có tácđộng đáng kể làm thay đổi dòng chảy bề mặt ở vùng biển Về mùa Đông, dòng chảy
có hướng Đông Bắc - Tây Nam trung bình 0,7 - 1,5 m/s, dòng chảy ven đảo phụ thuộcchủ yếu vào địa hình bờ đảo và hình dạng các đảo Nhiệt độ nước biển trung bình từ25,70C – 29,20C, cao nhất vào tháng 1 - 2 nhiệt độ từ 25,30C - 28,70C Độ mặn trungbình đạt 31,90/00, cao nhất đạt 350/00và thấp nhất là 15,40/00(Lăng Văn Kẻng, 1997)
2.1.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế, xã hội
Dân số Côn Đảo khoảng 6.000 người tập trung ở 03 khu vực chính là khu CỏỐng, thị trấn Côn Đảo và khu công nghiệp Bến Đầm Các khu vực này đều xa các bãilàm tổ của rùa biển Các trạm bảo tồn rùa biển thuộc diện tích Vườn Quốc gia nênđược quản lý, bảo vệ chặt chẽ, ít bị tác động của con người
Trang 23Pleurodira: bộ phụ rùa cổ bên
Cheloniidaes (họ rùa cổ uyển chuyển) gồm 49 loài
Cryptodira: bộ phụ rùa cổ rụt
Carettochelyidae (họ rùa sông Phẳng New Guinea) gồm 1 loài
Dermatemydidae (họ rùa Trung Mỹ) gồm 1 loài
Emydidae (họ rùa nước ngọt phổ biến) gồm 180 loàiKinosternidae (họ rùa Hương Mùn châu Mỹ) gồm 43 loài
Chelonia mydas Vích
Chelonia mydas agassii Rùa Đen
Caretta caretta Quản Đồng
Eretmochelys imbricata Đồi Mồi
Lepidochelys kempii Rùa Kempii
Lepidochelys olivacea Đồi Mồi Dứa
Natator depressus Rùa Lưng Phẳng
Dermochelys coriacea Rùa Da
(Pawikan, 1996)
Trang 242.2.1.2 Phương pháp định danh loài cơ bản
(1) Nhận biết giữa các nhóm rùa (Pawikan, 1996) theo vùng sống
- Rùa sống trên cạn: chi phân ngón, giữa các ngón không có màng da, móngthường không sắc, đầu và các chi có thể rút vào mai
- Rùa sống ở nước ngọt: chi phân ngón, giữa các ngón có màng da, móngthường sắc và dài, đầu và các chi có thể rút vào mai
- Rùa sống ở biển: các chi không phân thành ngón, đầu không rút vào mai.(2) Có rất nhiều cách khác nhau để nhận dạng và định danh giữa các loài rùabiển Người ta có thể dựa vào một trong các cấu trúc xương như: xương đầu, xươnggian đòn hay cấu trúc mỏ sừng để định danh loài vì ở mỗi loài rùa biển luôn có một sốcấu trúc xương khác biệt Ngoài ra, phân loại theo số vảy trên mai và trên đầu là cáchđơn giản và chính xác nhất
- Nhóm rùa mai không có vảy chỉ có gờ bằng da (hai vây bơi trước rất dài) là
loài Dermochelys coriacea.
- Nhóm rùa mai có 4 cặp vảy bìa gồm:
a Có 1 cặp vảy cạnh sau mỏ (trước trán) là loài Chelonia mydas.
b Có 2 cặp vảy cạnh sau mỏ (trước trán) là loài Eretmochelys imbrricata (cá thể
trưởng thành có thể thấy các vảy chồng lên nhau, đốm trắng với vàng hoặc đen ở mai)
- Nhóm rùa mai có 5 cặp vảy bìa là loài Caretta caretta (màu sắc ở mai tương
tự như Đồi Mồi)
- Nhóm rùa mai có từ 6 đến 9 cặp vảy bìa là loài Lepidochelys olivacea.
2.2.2 Hiện trạng loài Vích
2.2.2.1 Hiện trạng loài Vích ở khu vực Nam và Đông Nam Á
Vùng biển Đông Nam Châu Á có các quần thể loài Vích quan trọng như Indonesiavới 10.000 - 20.000 tổ/năm (Halim và ctv, 2001), tây Malaysia (vùng Sabah và các đảorùa Sarawak: có thể đến 10.000 tổ/năm), vùng duyên hải Malaysia (2.000 - 3.000tổ/năm; Chan 2001; Nasir và ctv, 1999) và các đảo rùa Tawi - Tawi thuộc Philippines(10.000 - 20.000 tổ/năm; Trono, 1991) Myanmar cũng có báo cáo 500 tổ/năm(Thorbjarnarson và ctv, 2000) trong khi đó ở Thái Lan 200 - 300 tổ đẻ hàng năm ở vịnhThái lan và có khoảng 200 - 300 tổ ở bờ biển Andaman (Chantrapornsyl, 1993) LoàiVích cũng làm tổ ở Pakistan với khoảng 1.000 tổ/ năm (Asrar, 1999), ở Lakshadweep íthơn 1.000 tổ/ năm (Tripathy và ctv, 2002) và các đảo Andaman và Nicobar với hơn
Trang 251.000 tổ/năm (Andrews và ctv, 2001), Sri Lanka (Dattatri và Samarajeeva 1982), và ởMaldives (Frazier và ctv, 2000) Tất cả các quần thể này đều đã bị suy giảm về số lượng.
Hình 2.2: Khóa định danh các loài rùa biển (ở vùng biển Indo – Pacific)
(Pawikan, 1996)
Trang 262.2.2.2 Hiện trạng loài Vích ở Việt Nam
Theo tác giả Bourret (1941), Đào Văn Tiến (1976) và Nguyễn Khắc Hường(1979) (trích từ Nguyễn Xuân Vinh, 1996) ở Việt Nam có 05 loài rùa biển Các quầnthể rùa biển tại Việt Nam cũng đang bị suy thoái nghiêm trọng Hiện nay, các vùngcòn có rùa biển đẻ trứng với số lượng đáng kể tại Việt Nam là Côn Đảo (Bà Rịa -Vũng Tàu), quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa), quần đảo Hoàng Sa (Quảng Nam - ĐàNẵng) Loài Vích phân bố rất rộng ở hầu hết các vùng biển của Việt Nam Theo ướcđoán trước thập niên 1970, loài Vích làm tổ hàng năm khoảng 100 cá thể ở các đảothuộc vịnh Bắc bộ, khoảng 500 cá thể ở khu vực miền Trung (từ Quảng Nam đến NinhThuận), gần 100 cá thể ở các bãi và đảo thuộc vịnh Thái Lan (Phạm Thược, 2001; BộThủy sản, 2003)
Hiện nay, có trên 350 rùa cái làm tổ hàng năm ở Côn Đảo, 10 rùa mẹ ở NinhThuận và 10 rùa mẹ đi đẻ ở quần đảo Phú Quốc (Nguyễn Trường Giang, 2009)
Hình 2.3: Bản đồ vùng làm tổ của rùa biển (a); vùng tìm thức ăn (b)
(Hamann và ctv, 2002)
2.2.3 Đặc điểm sinh học của loài Vích (Chelonia mydas) ở các giai đoạn vòng
đời liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.2.3.1 Vòng đời của loài Vích
Tất cả các loài rùa biển đều sinh sản trên các bãi cát Chúng có vòng đời chung
và chỉ thay đổi một ít tùy thuộc loài Các loài rùa biển đều di cư, ít nhất là trên quãngđường ngắn, từ vùng tìm thức ăn đến vùng kết cặp và giao phối, sau đó rùa đực trở vềvùng tìm thức ăn và rùa cái lên bãi làm tổ Sau mùa làm tổ chúng trở về vùng tìm thức
Trang 27ăn và bắt đầu cho kỳ sinh sản mới (sau một vài năm tới) Rùa con sau khi nở và bò lênmặt tổ, chúng lập tức bò ngay xuống biển và bơi ra khơi xa cho cuộc hành trình di cưphát triển (trong một vài năm đến vài chục năm) Vòng đời rùa biển có thể chia làm 4giai đoạn.
Giai đoạn trưởng thành
Giai đoạn rùa trưởng thành được tính từ lúc rùa thành thục về sinh sản và trở vềnơi chúng được sinh ra để làm tổ cho đến cuối cuộc đời (nếu không bị địch hại)
Giai đoạn phôi thai và ấp trứng
Trứng nở sau khi đẻ khoảng 6 - 13 tuần, tùy thuộc vào nhiệt độ (Miller, 1985,trích từ Pawikan, 1996) Giai đoạn này rất nhạy cảm với sự tác động của con người và
tự nhiên, tỉ lệ thất thoát rất cao, có thể đạt trên 47% số lượng chỉ do tác động của tựnhiên ở Côn Đảo
Hình 2.4: Sơ đồ vòng đời loài Vích
(Pilcher, 2003)
Trang 28Giai đoạn rùa con
Được tính từ lúc rùa con nở ra khỏi trứng trong lòng đất, bò lên mặt tổ, địnhhướng bò về biển và bơi ra khỏi vùng nước nông; cũng giống như giai đoạn phôi thai
và ấp trứng, nó rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài Thời gian chỉ khoảng từ 1
- 7 ngày tỷ lệ bị thất thoát ở giai đoạn này có thể đạt trên 60% số lượng (Pilcher vàctv, 2000)
Giai đoạn rùa con đến trước khi trưởng thành
Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn mất hút hay giai đoạn biển khơi, giaiđoạn di cư phát triển Các nhà khoa học hiểu biết rất ít về giai đoạn này, thời gian cóthể rất lâu như từ 35 - 50 năm đối với loài Vích
2.2.3.2 Đặc điểm sinh học theo các giai đoạn của vòng đời
a Giai đoạn trưởng thành
Rùa biển sinh sản lần đầu có kích thước nhỏ hơn kích thước trung bình quần thể,đôi khi một số cá thể có kích thước lớn hơn trung bình quần thể 10cm hoặc lớn hơn màvẫn chưa làm tổ Các loài khác nhau có kích thước trưởng thành khác nhau Điều nàychỉ ra rằng kích thước không chắc chắn chỉ ra trạng thái trưởng thành
Tuổi thành thục về sinh sản của rùa biển là 35 - 50 năm đối với loài C mydas, từ
3 - 4,5 năm đối với E imbricata Kích thước mai và khối lượng rùa mẹ khi thành thục
về sinh sản được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Các giá trị về kích thước và khối lượng rùa biển thành thục tính dục
Trang 29học và sinh thái học khi làm tổ, điều kiện khí hậu, quá trình làm tổ Hầu hết các loàirùa biển đều có 2 sinh cảnh sống chính khi trưởng thành.
- Sinh cảnh tìm thức ăn sau mùa làm tổ
Chúng có thể di cư hơn 2.600km, hầu hết ít hơn 1.000km Đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về sinh cảnh tìm thức ăn của rùa biển trên thế giới Đồi Mồi làm tổ ở đôngbắc Úc có khoảng cách di cư từ vùng tìm thức ăn đến vùng làm tổ là 368 - 2.425km(Miller và Dobbs, 1998) Một quần thể rùa biển chỉ có duy nhất một vùng làm tổ,nhưng đôi khi có một vài sinh cảnh tìm thức ăn mà chúng có thể cách xa nhau hàngngàn kilomet Đây là điều thật khó giải thích
Theo Wyneken và Salmon (1994), những nơi tìm thức ăn của một vài rùa mẹ(rùa Đầu to và loài Vích) đôi khi chỉ cách vùng làm tổ 2km, trong khi đó các rùa mẹkhác cũng làm tổ trên cùng một bãi có thể di cư đến vùng tìm thức ăn cách xa nơi dóhơn 2.500km Theo Hirth (1997), quần thể loài Vích làm tổ ở quần đảo Marshall cókhoảng cách giữa vùng tìm thức ăn và làm tổ là 3.410km
- Sinh cảnh làm tổ
Là nơi (vùng làm tổ) mà rùa biển được sinh ra và đến khi thành thục sinh sản lạitrở về để làm tổ Theo nghiên cứu của Limpus (1992), rùa mẹ làm tổ ở miền Đôngnước Úc di cư dần đến nơi làm tổ với vận tốc bơi trung bình là 32 – 44km/ngày ở rùaĐầu to và 44km/ngày ở loài Vích, trong thời gian đến 80 ngày, trên quãng đường2.548km ở rùa Đầu to Chúng sẽ hướng về vị trí chúng được nở ra trước đó (từ 0 –5km) Loài Vích có mối quan hệ này mạnh nhất Trong một mùa làm tổ, mỗi cá thể rùabiển thường làm tổ trên một bãi đẻ
- Chu kỳ làm tổ
Rùa cái không trở về làm tổ mỗi năm, trừ loài L kempii Tuy nhiên, rùa đực của
một vài loài (như rùa Đầu to) có thể có chu kỳ giao phối hàng năm hoặc 2 năm mộtlần Chu kỳ làm tổ giữa hai mùa làm tổ là 1 - 9 năm hay lâu hơn, phụ thuộc vào loài.Đối với loài Vích ở Tortuguero, có chu kỳ làm tổ 2 năm (21%), 3 năm (49%) hoặc 4năm (18%) (Carr và ctv, 1978) Đồi Mồi có chu kỳ làm tổ là 2 - 5 năm Đối với rùaĐen ở Mexico là 1 năm (Clifton, 1983; trích từ Pawikan, 1996) Chu kỳ này xét chungcho các loài rùa biển là 4 - 5 năm (Limpus, 1992) Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiềuyếu tố: nguồn thức ăn (điều kiện môi trường và con người), các yếu tố đe doạ, khoảngcách di cư Chu kỳ sinh sản giữa 2 mùa bao gồm: thời gian tích lũy dinh dưỡng
Trang 30(bằng hay lâu hơn 2 năm), thời gian để các tế bào tiểu noãn phát triển hoàn thiện là 10
- 12 tháng và thời gian di cư đến vùng làm tổ là vài ngày - vài tháng Loài Vích là loài
ăn thực vật, thời gian tích lũy dinh dưỡng cho lần sinh sản sau là rất biến động, có thểngắn là 2 năm ở vùng có nguồn thức ăn dồi dào hoặc 8 năm ở vùng thức ăn khan hiếm.Nguồn thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến chu trình năng lượng và chu kỳ sinh sản củaloài Vích
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu về sinh sản của rùa cái các loài
Loài Thờigian
(*) thời gian giữa 2 lần làm tổ liên tiếp trong mùa làm tổ (ngày)
(**) thời gian giữa 2 mùa làm tổ (năm); n: dung lượng mẫu; MBĐ: mức biếnđộng
- Ghép đôi và giao phối
Vào đầu mùa làm tổ, rùa trưởng thành di cư đến nơi làm tổ Thời gian giao phốixảy ra trên đường di cư và trước các bãi đẻ Thời gian này thường xảy ra từ 1 - 2tháng Sau khi giao phối, chúng lên bãi làm tổ lần đầu sau 2 - 4 tuần (Pilcher, 2002).Không có sự ràng buộc giữa các cặp, thường một cá thể cái có nhiều con đực trong
Trang 31suốt mùa kết cặp Một rùa cái có thể có một vài con đực theo đuổi và ngược lại Rùađực có thể lên bãi Khi thời gian kết cặp kết thúc, có thể con đực quay trở về lại vùngtìm thức ăn Thời gian của việc kết đôi có thể ngắn (2 - 3 phút) hay dài (119 giờ) vàđeo bám liên tục (Wood và Wood, 1980) Trung bình thời gian kết cặp của một rùa cáikhoảng 25,5 giờ/mùa Tinh trùng được cất giữ bên trong sừng tử cung cho sự thụ tinhtrứng của các lần đẻ tiếp theo và con cái có thể cất giữ tinh trùng cho một vài năm giữacác kỳ sinh sản Sự thụ tinh xảy ra bên trong cơ thể và tinh trùng từ nhiều con đực cókhả năng tham gia vào sự thụ tinh trong một lần đẻ.
- Hoạt động làm tổ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu để cố gắng định ra chất lượng nền tổ của rùabiển, nhưng kết quả không giải thích được tại sao một quần thể hay cá thể nào đó lạichọn nơi làm tổ riêng biệt Theo Mortimer (1982a), các điều kiện cần thiết cho một bãilàm tổ: (1) bãi phải gần biển, (2) bãi phải đủ cao so với mức triều lớn, (3) nền cát phải
dễ dàng bốc hơi hay chất khí bay lên, (4) nền cát phải đủ ẩm để ngăn ngừa sự tuột cátkhi rùa mẹ đào lỗ để đẻ Tác giả cho rằng yếu tố về địa mạo của bãi đẻ là rất quantrọng trong việc chọn nơi làm tổ Thường chúng chọn bãi và vị trí làm tổ nhằm đảmbảo tổ trứng được ấp nơi thông thoáng tốt, độ ẩm cao, độ mặn thấp và không bị ngậpnước Để tránh nhiệt độ nóng vào ban ngày, hầu hết các loài rùa biển đều lên bãi làm
tổ vào ban đêm Tuy nhiên, rùa Kempii và rùa lưng phẳng đôi khi làm tổ vào banngày, Đồi Mồi Dứa làm tổ ban ngày vào ngày hội làm tổ (arribada) Ba loài có hoạtđộng làm tổ vào ban ngày khi nhiệt độ và bức xạ mặt trời cao là bởi: (1) chúng tránhlàm tổ vào thời gian nóng nhất trong năm; (2) tránh làm tổ vào thời gian nóng nhấttrong ngày; (3) chúng làm tổ nhanh; (4) màu sắc mai sáng hơn các loài khác nên sựhấp thu bức xạ thấp hơn; (5) chúng có thể làm giảm nhiệt độ hấp thu qua đối lưu, hấpthu và dẫn truyền Để điều phối việc làm tổ tránh thời gian nóng nhất trong năm, rùabiển có thể chọn nơi làm tổ mà nhiệt độ bãi có thể hỗ trợ cho sự phát triển của phôi
Thời gian cần thiết để hoàn tất làm tổ trên bãi liên quan đến loài: L olivacea (1 giờ), L kempi (1 giờ), E imbricata (từ 1 - 1,5 giờ), N depressus (1 - 1,5 giờ), C.
caretta (1 - 2 giờ), D coriacea (1,5 giờ) và C mydas (2 - 3 giờ) Các trường hợp khác,
C mydas có thể làm tổ đến 7 giờ hoặc hơn ở những nơi nền cát khô Thời gian làm tổ
còn tuỳ thuộc vào điều kiện nơi làm tổ và kích thước của loài (phần lớn rùa thuộcnhóm cheloniid, có kích thước nhỏ và có thời gian làm tổ nhanh)
Trang 32Tiến trình làm tổ ở phần lớn các loài gần giống nhau (lên bãi, đào lỗ), đôi khi cómột số chi tiết hơi khác nhau Tiến trình này có thể chia là 11, 9 hay 7 bước, các bướcchính gồm: (a) ngoi lên mặt nước để kiểm tra bãi, (b) bò lên bãi, (c) đào tổ phần trên(dọn sạch phần mặt), (d) đào lỗ đẻ, (e) đẻ trứng, (f) lấp lỗ đẻ, (g) lấp phần trên (xóadấu vết làm tổ), (h) trở về biển Hoạt động làm tổ của rùa biển phụ thuộc vào tình trạng
cơ thể của chúng và môi trường nơi làm tổ Sự khác nhau giữa các loài là do kíchthước, tốc độ và sự nhanh nhẹn, độ sâu của tổ
Bảng 2.3: Các bước hoạt động làm tổ của loài Vích
Dò xét bãi từ xa Loài Vích thường ngoi đầu lên mặt nước để quan sát trước
khi lên bãi làm tổ khoảng vài giờ Tương tự ở tất cả các loài
Bò lên bãi Thường bò lên bãi vào lúc triều cường, vào ban đêm Tương
tự ở tất cả các loàiChọn nơi làm tổ Tương tự ở tất cả các loài, có thể có mối quan hệ với thay đổi
nhiệt độDọn sạch nơi làm tổ Tất cả các loài đều làm, dùng 2 bơi trước
Đào hố (phần trên) Chiều sâu khoảng 20 – 30cm
Đào lỗ đẻ Dùng 2 bơi sau, sâu 30 – 40cm, đường kính đáy 30 – 35cm
Đẻ trứng vào Trứng đẻ từng đợt 1 – 3 trứng/5 – 10 giây; khoảng 90
trứng/tổLấp cát phần lỗ đẻ Dùng 2 bơi sau lùa cát vào lỗ
Lấp phần thân Hất cát về phía sau bằng hai bơi trước
Tiến trình về biển Tương tự ở các loài, bò xuống dốc
Trở về sóng biển Tương tự ở các loài, ngừng lại ở mép sóng
(Nguồn: Pawikan, 1996)
Khi rùa biển vượt qua biên giới nhiệt độ giữa nơi cát ướt, lạnh hơn và nơi cát mịn
và khô hơn của bãi, nó có thể thay đổi hướng một vài lần trước khi đến được nơi làm tổ.Tất cả các loài rùa biển đều tiến hành dọn sạch nơi làm tổ trước khi đẻ trứng, chúng làmbằng hai bơi trước Độ sâu đào hố (phần trên) có mối liên quan đến độ khô của nền cát
và kích thước của cơ thể rùa Nếu cát khô rùa cần đào phần trên sâu hơn để việc đào lỗ
đẻ được thuận lợi và vì vậy mà thời gian làm tổ phải kéo dài, tăng cao nguy cơ bị địch
Trang 33hại hay bị nhiễu loạn Sự đẻ trứng của rùa mẹ có thể dời lại sau một vài đêm sau đó nếuchúng gặp một vài trở ngại hay nhiễu loạn và hầu hết là quay lại cùng một bãi.
- Khả năng đẻ trứng
Tất cả các loài có thể làm tổ một vài lần trong mùa làm tổ Số tổ trung bình của
mỗi rùa mẹ trong một mùa làm tổ biến động theo loài rùa và theo các quần thể, C.
mydas: 2,57 tổ/mùa; D coriacea đẻ 6,17 tổ/mùa; E imbricata: 2,74 tổ/mùa; C caretta: 3,49 tổ/mùa; L olivacea: 2,21 tổ/mùa Sau khi thành thục về sinh sản các loài
rùa biển có thể sinh sản trong vài chục năm, mặc dù chúng có chu kỳ sinh sản giữa haimùa làm tổ là 2 - 7 năm Yếu tố chính quyết định mùa làm tổ trong năm của mỗi quầnthể là độ ẩm nền bãi làm tổ (cần thiết cho việc đào tổ đạt độ sâu nhất định của rùa mẹ)
và nhiệt độ của môi trường (nhiệt độ tối thiểu cần thiết cho quá trình ấp trứng) Rùa cáilớn tuổi hơn thường về làm tổ sớm hơn và nhiều tổ hơn trong một mùa Loài Vích có
số trứng biến động từ 87 đến 113 trứng/tổ, tùy thuộc từng quần thể đi đẻ Nhìn chung
ở các loài loài E imbricata có số trứng cao nhất trên 1 tổ (130 trứng) và thấp nhất là rùa N depressus (52 trứng) (bảng 2.4).
Trang 34(Nguồn: (a) Hirth (1980), Buskick và Crowder (1994); (b) Pilcher và Basintal(2000); (c) Pilcher và Merghani (2000); (d) Pilcher và Alamri (1999)
Khối lượng rùa con mới nở chiếm 48 đến 59% trọng lượng trứng tính chung chocác loài Rùa đẻ càng nhiều trứng trong một lần làm tổ thì khối lượng trứng càng nhỏđối với tất cả các loài rùa biển và ngay cả ở trên mỗi loài
b Giai đoạn phôi thai và ấp trứng
Trứng rùa biển có thể chia thành hai nhóm Trứng bình thường là các trứng có hìnhelip tương đối đều, với tỉ số dạng hình (tỉ số giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ củatrứng) là 1,050,05 ở loài Vích, vỏ mịn, không tích các khối can xi và có một phôi bêntrong sau khi đẻ Trứng bất thường là các trứng có hình bầu dục dài, thường là trứng đầutiên và sau cuối, kích thước nhỏ hơn bình thường, vỏ phủ lớp can xi mỏng không đều,không có phôi hay có hơn một phôi Những trứng bất thường không thể nở thành rùacon hay chúng sẽ chết sau khi nở một thời gian ngắn, dù được ấp ở điều kiện thích hợp(Nguyễn Trường Giang, 2009)
- Tỉ lệ trứng thụ tinh
Tỉ lệ trứng rùa thụ tinh ở các loài là rất cao; khoảng 95% khi ghi nhận ở quần thể
có tỉ lệ đực cái cân bằng, ở Côn Đảo là 94% ghi nhận từ 2001 - 2003 Tỉ lệ nở ở quầnthể tự nhiên có thể lớn hơn 80% (do có một số trứng chết phôi) (Miller, 1985, trích từPawikan, 1996) Tỉ lệ trứng nở ở Côn Đảo là 83,16% trong thời gian từ năm 2001 -
2003, ở Vườn Quốc Gia Great Barrier Reef của Úc là 84 % đối với loài Vích (NguyễnTrường Giang, 2003)
- Ấp trứng
Trứng khi đẻ ra có phôi đã phát triển Tuy nhiên, sự phát triển này tạm bị dừng lạitrong khoảng thời gian từ vài ngày trước khi rùa mẹ lên bãi làm tổ đến 6 giờ sau khitrứng được đẻ ra; trong giai đoạn này, trứng có thể chịu đựng sự va chạm, lăn rơi và xáotrộn Sau giai đoạn này, phôi bắt đầu phát triển trở lại và chỉ cần một sự lăn nhẹ củatrứng cũng đủ làm rách màng phôi hay đứt các mạch máu nhỏ quanh trứng và giết chếtphôi trứng Điều kiện môi trường ấp trứng phải thỏa mãn giới hạn sự chịu đựng của phôi
về 3 yếu tố: sự trao đổi khí, độ ẩm và nhiệt độ Sự trao đổi khí nơi tổ trứng không thỏađáng sẽ làm chậm sự phát triển của phôi và tăng tỉ lệ chết phôi; tuy nhiên, tác động của
sự trao đổi khí chỉ chiếm phần nhỏ Ảnh hưởng ở các cấp độ khác nhau về độ ẩm đượcthấy rõ hơn Tỉ lệ chết phôi cao hơn ở các điều kiện nền cát khô hơn, trứng rùa biển rất
Trang 35nhạy cảm với sự khô hạn Ngược lại nước ngập qua tổ trong vài giờ cũng làm tăng tỉ lệchết phôi do sự ngập nước làm giảm lượng oxy trong các khe trống giữa các hạt cátquanh tổ trứng Sự tác động của nhiệt độ được thấy rõ ràng nhất Trứng ấp ở nhiệt độnhỏ hơn 23oC trong khoảng1/3 của kỳ ấp trứng làm tỉ lệ trứng nở thấp, trứng được ấptrong nhiệt độ lớn hơn 33oC trong thời gian dài sẽ làm chết phôi Theo Miller (1985),phôi sẽ không phát triển ở nhiệt độ tối thiểu không đổi là 23oC và nhiệt độ tối đa khôngđổi là 34oC, nhiệt độ càng cao thời gian ấp trứng càng ngắn (trích Pawikan, 1996).Trong điều kiện bình thường, trứng hấp thu nước sớm sau khi được đẻ nên nótrương phồng ra Thông thường, trứng tăng trọng lượng một ít trong kỳ ấp trứng,nhưng quan trọng hơn là trứng không mất hơn 40% khối lượng ban đầu của chúng nếuchúng tồn tại đến khi nở (Pawikan, 1996).
- Nhiệt độ - tỉ lệ giới tính - thời gian ấp trứng
Thời gian nở của trứng là một hàm toán học theo nhiệt độ Tổ trứng ở nơi cónhiệt độ thấp (25oC) sẽ có thời gian ấp trứng dài hơn 12 - 13 tuần, tổ trứng ở nơi cónhiệt độ cao (32oC) thời gian ấp trứng khoảng 7 tuần
Sự cân bằng giới tính ở các loài rùa biển không hẳn là 50% cái và 50% đực Một
số yếu tố khác có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến tỉ lệ giới tính rùa con như(1) thành phần nền cát và màu sắc (do độ sâu tổ trứng và sự hấp thu hay tỏa nhiệt củacát, (2) phân bố thực vật trên bãi làm tổ, (3) pH của bãi cát, (4) mực nước ngầm Vídụ: nhiệt độ tại độ sâu 70cm ở nơi không có bóng che biến động 5,4oC; có bóng chebiến động 3oC và nơi tiếp giáp 3,6oC Nhìn chung, nhiệt độ cao sẽ nở ra cá thể cái với
tỉ lệ cao và ngược lại đối với tất cả các loài rùa biển Tuy nhiên, nhiệt độ trung bình ngày ở các tổ tự nhiên có mối quan hệ rất thấp với tỉ lệ giới tính rùa con khi nhiệt độ tổtrứng biến động thất thường (Pawikan, 1996)
-Ở Suriname, nhiệt độ nền cát tác động để rùa con nở ra cân bằng giới tính tựnhiên đối với loài Vích là 28,75oC và rùa Da 29,25oC (Mrosovsky và ctv, 1984).Trứng loài Vích nở sau 94 ngày ở nhiệt độ 23oC - 25oC và 49 ngày nếu nhiệt độ ấp
32oC Ở Côn Đảo, khi nhiệt độ ở giai đoạn 1/3 giữa của kỳ ấp trứng là 28,60,8oC, thờigian ấp trứng khoảng 57,5 2,4 ngày với tỉ lệ trứng nở là 76,1% (n = 11 tổ) (Maria,2003) Theo Broderick (2000), các tổ trứng loài Vích có thời gian ấp trứng56 ngày nở
ra 100% rùa đực Trong điều kiện tự nhiên trên bãi, trứng sẽ được ấp ở nhiệt độ 24oC
Trang 36-32oC, mặc dù trong một thời gian ngắn nhiệt độ có thể nằm ngoài phạm vi này Với biên
độ từ 26oC đến 32oC, tăng lên 1oC thì thời gian ấp trứng sẽ rút ngắn 5 ngày
Theo kết quả nghiên cứu của Tiwol (1997), tỉ lệ giới tính của loài Vích ở điềukiện tự nhiên và điều kiện trong trạm ấp trứng ở Sabah, Malaysia như sau:
+ Ở tổ trứng tự nhiên, trứng nở 72% cái và 26% đực với nhiệt độ 30,6oC (29,4 32,4oC)
-+ Tại trạm ấp không mái che, trứng nở 100% rùa cái với nhiệt độ trung bình31,3oC (biến động 30,4 - 32,4oC), trạm ấp có mái che có thể nở ra các cá thể đực.+ Tại trạm ấp có mái che bằng lưới màu xanh như ngoài tự nhiên tỉ lệ cái:đực là7:3 (30,2oC) Nếu che bằng tấm bạt plastic nở 100% rùa cái (30,7oC) Nếu che bằnglưới màu đen tỉ lệ nở cái:đực là 8:2 (29,6oC) Nếu tổ trứng được che bằng lá dừa tỉ lệcái: đực là 7:3 Qua nghiên cứu này, ngoài nhiệt độ còn có các yếu tố khác ảnh hưởngđến tỉ lệ đực cái của rùa biển và cho thấy tỉ lệ rùa con nở bình thường là 7 cái - 3 đực
Bảng 2.5: Tỉ lệ giới tính loài Vích cái sau khi nở ở một số khu vực khảo sát
Vùng Sabah, Malaysia 70 Limpus và ctv, 1994a
Theo Ibrahim và cộng sự (1997), ở Terengganu thuộc Malaysia, các trạm ấp nhântạo thường có nhiệt độ cao hơn tự nhiên Trung bình nhiệt độ nền cát ở các trạm ấptrứng không mái che đo ở độ sâu 55cm là 33,1oC (biến động: 31,3 – 35,0oC; SD:0,74oC) Nhiệt độ cát ở trạm ấp có mái che khoảng 50% và 70% lần lượt là 30,1oC(29,1 – 33,3oC; SD: 0,74oC) và 29,8oC (28,8 – 32,9oC; SD: 0,75oC)
c Giai đoạn rùa con mới nở
Rùa con cần 1 - 3 ngày để ngoi lên mặt tổ (1,64 0,92 ngày; n=11 tổ) (NguyễnTrường Giang, 2003) hay 4 ngày (Godfrey và Mrosovsky, 1997) tùy thuộc vào độ sâucủa tổ trứng và thành phần nền cát quanh tổ Thông thường các trứng ở đáy tổ do nhiệt
độ cao hơn nên nở trước, chúng bò theo rìa tổ lên trên và sự di chuyển của chúng tạonên khoảng trống bên dưới làm cát từ bên trên đổ xuống và cứ như thế đàn rùa con tiếndần lên mặt tổ Khi đến gần mặt tổ, chúng cảm ứng được nhiệt độ bên trên mặt đất qua
Trang 37nhiệt độ cát bên trên mặt tổ, nếu nhiệt độ cao chúng sẽ dừng lại một thời gian ngắn chođến khi nhiệt độ bên trên thích hợp cả đàn sẽ bò lên mặt tổ và chỉ cần trong vài phútđàn rùa con ngoi toàn bộ lên mặt tổ Rùa con thường chui lên mặt đất vào ban đêm,gần sáng hay trời mưa (Witherington và ctv, 1990; trích từ Pawikan, 1996) hay lúc trờimát Khi nhiệt độ không khí lên cao từ 25 - 31oC rùa con sẽ ít hoạt động hơn bìnhthường Thời gian các trứng trong một tổ nở không như nhau (có thể chênh lệch đến 5ngày) nhưng chúng ngoi lên mặt tổ gần như đồng loạt và lập tức (sau một vài giây) bòxuống biển (theo một đường thẳng) và không theo một hướng nhất định nào (Carr vàOgren, 1960), chúng bơi liên tục ra khơi.
Các loài C mydas, C caretta và D coriacea có thời gian bơi không nghỉ là 24 giờ, sau thời gian này chúng không bơi vào ban đêm chỉ trừ loài D coriacea
(Wyneken và Salmon, 1994) Theo Dalton (1979), loài Vích con ở Costa Rica có thờigian bơi điên cuồng là 3 ngày (trích từ Pilcher, 2000) Vận tốc bơi trung bình (trong 6giờ đầu) ở loài Vích mới nở là 35 mét/phút (biến động từ 28 – 45 m/phút, n= 609 cáthể), với khoảng cách 2.110112m (biến động 1.980 - 2.249 m) trong suốt 6 giờ đầutiên sau khi nở (Pilcher và Enderby, 2000) Loài Vích có thể bơi trên khoảng cách 20 -70km trong 2 ngày khi không có sự trợ giúp của dòng chảy (Hughes, 1974 và Walker,1994; trích từ Pilcher và Enderby, 2000) Vận tốc bơi và khoảng cách bơi của rùa con
tỉ lệ nghịch với thời gian lưu giữ chúng sau khi nở, hay nói cách khác rùa con sẽ trởnên đờ đẫn nếu bị giữ lại trên bãi sau 6 giờ Giai đoạn đầu sau khi chui lên mặt đất từ 5– 7 ngày, rùa biển không cần ăn gì, dinh dưỡng nhờ vào lượng noãn hoàng dự trữtrong xoang bụng Trung bình vận tốc bơi giảm khi thời gian lưu giữ tại ổ tăng (r = -0,806) Điều này cho thấy khi người ta giữ rùa con chúng sẽ bị mất năng lượng mộtcách vô ích bởi các hoạt động cơ thể không cần thiết Khoảng cách bơi của rùa con sẽgiảm 11% tổng đoạn đường khi giữ chúng lại 6 giờ sau khi nở (Pilcher và Enderby,2000) Giai đoạn đầu sau khi rùa nở, chúng sinh trưởng rất nhanh, SCL (chiều dàiphẳng mai trên) có thể tăng từ 5 - 10cm/năm (Bjorndal và Bolten, 1988)
d Giai đoạn rùa con đến trước khi trưởng thành
Ngay khi rùa con rời khỏi bãi đẻ bơi ra biển, chúng hầu như bị biến mất trongnhiều năm tiếp sau đó Đây là giai đoạn vòng đời của rùa biển mà các nhà khoa họccòn thiếu nhiều thông tin, người ta còn gọi là giai đoạn mất hút của rùa biển Thườngngười ta chỉ gặp lại rùa biển khi chúng đạt kích thước từ 20 – 40cm (CCL, chiều dài
Trang 38vòng cung mai trên) Ở kích thước này có thể rùa biển đạt 5 - 10 năm tuổi, chúng sống
ở sinh cảnh tìm thức ăn từ 5 – 10 năm hay lâu hơn cho đến khi thành thục về sinh sản
(Pilcher, 2002) Đối với rùa C caretta, chúng chỉ xuất hiện lại ở thềm lục địa của nước
Úc khi CCL đạt 70 – 80cm (Limpus và ctv, 1994b) Tùy theo loài, do chúng có nguồnthức ăn khác nhau nên có sinh cảnh này khác nhau và sống cố định một chỗ trong mộtthời gian rất lâu
- Sự sinh trưởng và tuổi thành thục sinh sản
Ở các nghiên cứu trong điều kiện nuôi nhốt, rùa đạt tuổi thành thục sau 8 - 13 năm.Trong tự nhiên, thời gian này còn lâu hơn nữa do nguồn thức ăn không đầy đủ như môitrường nuôi nhốt Theo Wood và Wood (1980), loài Vích trong điều kiện nuôi nhốt đãkết cặp và đẻ trứng ở tuổi 8 - 11 năm Ghi nhận ở Mosquito, Florida, một cá thể loàiVích được nuôi từ 30cm đến 88cm sau 22 năm, đây là kích thước nhỏ nhất của quần thể
đi đẻ ở đây (Ehrhart, 1980; trích từ Pawikan, 1996) Theo một số ghi nhận khác, loàiVích đạt tuổi thành thục phải mất ít nhất là 25 - 30 năm Theo Bjorndal và Bolten(1988), loài Vích phải mất 17 năm để đạt kích thước 30 - 75cm, ở giai đoạn này mỗinăm chúng chỉ lớn lên trung bình 1,35cm (Pawikan, 1996) Tốc độ sinh trưởng trungbình là 0,1cm/năm ở kích thước 23 - 30cm (Shaver, 1994; trích từ Pawikan, 1996).Trung bình loài Vích đạt 60 – 90cm (CCL) sau 23 năm (Limpus và Walter, 1980; trích
từ Pawikan, 1996) Đối với rùa C caretta cũng phải cần 5 năm để lớn lên từ 50cm đến
70cm (Ehrhart, 1980; trích từ Pawikan, 1996) Đạt tuổi thành thục ước đoán ít nhất sau
10 - 15 năm Quần thể rùa C caretta ở Úc đạt tuổi thành thục về sinh sản trên 30 năm (Limpus, 1985) Ước tính thành thục về sinh sản của E imbricata khoảng trên 30 năm (Miller, 1994) Rùa C caretta có tốc độ sinh trưởng nhanh gấp 4 lần loài C mydas và gấp 2,6 lần loài E imbricata (Bjorndal và Bolten, 1988; trích từ Pawikan, 1996) Tốc độ
sinh trưởng ở giai đoạn đầu cao và giảm dần về sau (Mortimer, 1982b) Tốc độ sinhtrưởng ở giai đoạn trước khi thành thục là 2 - 4cm/năm, nhưng chậm dần khoảng0,2cm/năm hoặc không ở giai đoạn thành thục về sinh sản (Bjorndal và Bolten, 1988;trích từ Pawikan, 1996)
Nhìn chung, các loài rùa biển có tốc độ sinh trưởng rất biến động nhưng trongđiều kiện tự nhiên chúng phải mất từ 30 - 50 năm mới đạt tuổi thành thục về sinhtrưởng (Pawikan, 1996)
Trang 392.2.3.3 Dinh dưỡng
- Loài Chelonia mydas ăn cỏ biển, rong biển, trái cây ở rừng ngập mặn Giai
đoạn dưới một năm tuổi chúng ăn các loài động vật bậc thấp (Ross, 1985) Loài
Chelonia agassizii ăn chủ yếu là rong biển, các loài ốc nhỏ, giáp xác, các ấu trùng
động vật, hải miên, sứa và các loài giun nhiều tơ, thức ăn ở giai đoạn trước thành thụcchưa được biết (Marquez, 1990)
- Loài Caretta caretta thuộc nhóm sinh vật ăn thịt, với cấu trúc xương hàm và
đầu cứng vì vậy thức ăn luôn được nghiền nát trước khi nuốt Chúng ăn hầu hết cácloài có vỏ như các loài giáp xác và ốc, các loài sao biển gai và sứa
- Loài Lepidochelys olivacea thuộc nhóm sinh vật ăn thịt không bắt buộc Loài
này ăn hầu hết các loài có vỏ như giáp xác và ốc, động vật không xương sống nhỏ khác
- Loài Eretmochelys imbricata thuộc nhóm sinh vật ăn thịt, thích ăn hải miên và
bút biển, ngoài ra chúng cũng ăn cỏ biển, rong, đôi khi là trái cây rừng ngập mặn(Miller, 1994), ấu trùng động vật, các loài san hô mềm, nhóm giáp xác và hai mảnh vỏ
- Loài Dermochelys coriacea thuộc nhóm sinh vật ăn thịt và thức ăn chính là
các loài sứa, các loài động vật không xương sống thân mềm khác
- Loài Lepidocheys kempii có thức ăn chính là các loài cua (Pritchard và
Marquez, 1973; Zwineberg, 1977; Mortimer, 1982; trích từ Pawikan, 1996) Ngoài ra,người ta còn ghi nhận trong bao tử của rùa bị chết có: các loài tôm nhỏ, nhóm haimảnh vỏ, ốc tai tượng, sao biển gai, sứa, trứng của mực ống và cá (Marquez, 1990)
2.2.3.4 Dịch bệnh
Có rất ít công trình nghiên cứu về dịch bệnh liên quan đến các loài rùa biển.Bệnh fibropapilloma xảy ra trên tất cả các loài rùa biển, được mô tả đầu tiên vàonăm 1938 trên loài Vích (Lucke, 1938; Smith và Coates, 1938) Đây là bệnh xuất hiệnđầu tiên bằng các khối u nguyên bào trên các mô mềm cả bên trong và bên ngoài cơthể của rùa biển, về sau các khối u này lớn lên và chèn ép các cơ quan nội tạng haylàm giảm thiểu chức năng của các cơ quan lân cận hoặc mô chứa chúng như mắt, cácchi, trong khí quản và thực quản, khóe miệng; gây khó khăn cho việc thở, nuốt và nhaithức ăn… Bệnh xảy ra phổ biến hơn ở giai đoạn rùa di cư phát triển (trích dẫn bởiD’Amato và Moraes-Neto, 2000)
Theo Frazier (1986) (trích từ Pilcher, 2000) và Callaghan (2003), sự ô nhiễm cóthể ảnh hưởng nghiêm trọng đến rùa biển và thức ăn của chúng Các nghiên cứu mới
Trang 40cho thấy bệnh fibropapilloma đang giết nhiều rùa biển, có thể liên quan đến sự ônhiễm của đại dương và các vùng nước ven bờ Ghi nhận ở Tortuguero, Costa Rica có6,1% (n=197) số Vích bị bệnh fibropapilloma.
Theo Aguirre (1998), bệnh khối u nguyên bào do virus gây ra, chủ yếu là nhómherpes virus ) và nhóm retrovirus (Casey và ctv, 1996; trích từ Balaze và ctv, 1997)
Hình 2.5: Bệnh fibropapilloma ở loài Vích
(Nguồn: Keuper-Bennett trích dẫn từ D’Amato và Moraes-Neto, 2000)
Bảng 2.6: Thành phần loài ngoại ký sinh trên loài Vích ở Cananéia, Đông Nam Braxin
Loài ngoại ký sinh Tỉ lệ mắc (%) Tổng số ngoại kýsinh (cá thể) Số lượng (max) /kýchủ
(Nguồn: Loreto và Bondioli, 2008; (*) ghi nhận của Bondioli và ctv (2005), trích
từ Loreto và Bondioli, 2008)