1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNGLÊN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT,PHẨM CHẤT TRÁI CỦA DÂU TÂY TRỒNGTHUỶ CANH TRONG NHÀ MÀNGỞ ĐỨC TRỌNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

110 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNGLÊN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT,PHẨM CHẤT TRÁI CỦA DÂU TÂY TRỒNGTHUỶ CANH TRONG NHÀ MÀNGỞ ĐỨC TRỌNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**********

NGUYỄN THỊ VÂN KHANH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT,

PHẨM CHẤT TRÁI CỦA DÂU TÂY TRỒNG

THUỶ CANH TRONG NHÀ MÀNG

Ở ĐỨC TRỌNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí MinhTháng 08/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**********

NGUYỄN THỊ VÂN KHANH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT,

PHẨM CHẤT TRÁI CỦA DÂU TÂY TRỒNG

THUỶ CANH TRONG NHÀ MÀNG

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT,

PHẨM CHẤT TRÁI CỦA DÂU TÂY TRỒNG THỦY CANH TRONG NHÀ MÀNG

Ở ĐỨC TRỌNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

NGUYỄN THỊ VÂN KHANH

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS.TS LÊ QUANG HƯNG

Đại học Nông Lâm TP.HCM

2 Thư ký: TS LÊ ĐÌNH ĐÔN

Đại học Nông Lâm TP.HCM

3 Phản biện 1: PGS.TS PHẠM VĂN HIỀN

Đại học Nông Lâm TP.HCM

4 Phản biện 2: TS BÙI MINH TRÍ

Đại học Nông Lâm TP.HCM

5 Ủy viên: TS TRẦN THỊ DUNG

Đại học Nông Lâm TP.HCM

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Nguyễn Thị Vân Khanh, sinh ngày 26 tháng 10năm 1978 tại Vĩnh Long Con Ông Nguyễn Thành Lượng và Bà LêThị M ai Hoa

Tốt nghiệp Tú tài tại Trường phổ thông Trung học LạcNghiệp, Tỉnh Lâm Đồng, năm 1996

Tốt nghiệp Đại học ng ành Nông học hệ chính quy tại Đạihọc Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

Sau đó làm việc tại Trường Đại học Nông Lâm Th ành phố

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công tr ình nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực vàchưa từng được công bố trong bất kỳ công tr ình nào khác

Ký tên

Nguyễn Thị Vân Khanh

Trang 6

TS Trần Thị D ung đã trực tiếp hướng dẫn và khuyên bảo tôitrong quá trình thực hiện đề tài.

Các Thầy Cô giáo tham gia giảng dạy đã truyền bá kiến thứccho tôi

Anh, chị, bạn bè trong và ngoài lớp

Đặc biệt là Ba mẹ, chồng, con và anh em tôi đ ã động viên tôihọc tập và thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Vân Khanh

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài: “Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng lên sự sinh trưởng pháttriển và năng suất phẩm, chất trái của dâu tây trồng thủy canh trong nhà màng ởĐức Trọng – Tỉnh Lâm Đồng” được tiến hành tại xã Hiệp Thạnh - huyện ĐứcTrọng - tỉnh Lâm Đồng Thời gian tiến hành từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 05năm 2010 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơnyếu tố với các nội dung sau đây:

Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của GA3, NAA, BA, Paclobutrazol và Alarđến sinh trưởng phát triển của cây dâu tây

Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 đến khả năng đậu trái vàchất lượng trái dâu tây

Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng của Paclobutrazol, Alar và GA3 đến màusắc, chất lượng trái dâu tây

Nội dung 4: Khảo sát ảnh hưởng của SA đến khả năng bảo quản trái dâu tâysau thu hoạch

* Kết quả thu được như sau:

- Xử lý các chất ĐHST NAA, BA, GA3, Pac và Alar vào giai đoạn sớm củacây dâu ảnh hưởng rất nhiều đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây dâutây, làm tăng năng suất trái dâu thương phẩm rất có ý nghĩa so với nghiệm thứckhông xử lý

- Xử lý NAA và GA3 tốt nhất vào giai đoạn hoa nở vì NAA được phun vàogiai đoạn hoa nở giúp tăng tỷ lệ đậu trái và tăng tỷ lệ trái thương phẩm; phun GA3

vào lúc hoa nở giúp tăng số hoa các lứa sau đó Bên cạnh đó, xử lý NAA và GA3

vào giai đoạn hoa nở đã làm tăng năng suất trái dâu thương phẩm so với đối chứngnhưng độ ngọt trái và màu sắc trái có kém hơn đối chứng

- Xử lý Pac và Alar vào 15 ngày sau khi trái đậu giúp màu trái đẹp hơn so vớiđối chứng

- Xử lý phun SA lên cây dâu và trái vào giai đoạn trước thu hoạch một tuần

Trang 8

“Effects of growth plant regulators on growth, development, fruit yield andquality of strawberry grown in green house in Duc Trong - Lam Dong Province”has been conducted from January 2009 to May 2010 in Hiep Thanh Ward, DucTrong District, Lam Dong Province These experiments were laid out in randomizedcomplete block design (RCBD) with three replications

Experiment 1: Studies on effects of GA3, NAA, BA, Paclobutrazol and Alar

on growth and development of strawberry

Experiment 2: Studies on effects of NAA and GA3 on fruit set and fruitquality of strawberry

Experiment 3: Studies on effects of Paclobutrazol, Alar and GA3 on fruitcolor and fruit quality of strawberry

Experiment 4: Studies on effects of SA on storage time of fruit

Results of the study indicated that NAA, BA, GA3, Paclobutrazol and Alarearly treatment by foliar spray significantly influence grown and development ofstrawberry The marketable fruit yield of treatment plants were significantly higherthan of control plants

The application of NAA and GA3 at flowering period increased totalmarketable fruit yield due NAA application increased fruit set and total marketablenumber of fruits, GA3 application increased flower number However, fruit colorand fruit brix may be reduced

The application of Alar and Paclobutrazol at 15 days after fruit set increasedcolor of strawberry fruit

The application of SA by foliar and fruit spray at one week before harvestincreased storage time

Trang 9

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây Dâu tây

2.1.1 Phân loại

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây dâu tây

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của dâu tây

2.1.4 Tình hình sản xuất dâu tây trên Thế giới và Việt Nam

2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng trên cây dâu tây

2.2.1 Ảnh hưởng của auxin

2.2.2 Ảnh hưởng của của gibberellins (GA)

2.2.3 Ảnh hưởng của cytokinins ngoại sinh

iiiiiiivvviiixxxi1122233346688912

Trang 10

2.2.4 Ảnh hưởng của ethylene (Ethephon)

2.2.5 Ảnh hưởng của ABA

2.2.6 Ảnh hưởng của các chất ức chế GA

2.3 Acid salicylic (SA) và kháng tập nhiễm SAR

3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm-thời gian thí nghiệm

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Thiết bị và dụng cụ dùng trong nghiên cứu

3.2.2 Giống cây Dâu tây

3.3 Điều kiện và mô hình trồng cây thí nghiệm

3.4 Phương pháp và nội dung các thí nghiệm

3.5 Giải thích, công thức tính các chỉ tiêu, số liệu

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của GA3, NAA, BA,Paclobutrazol và Alar đến sinh trưởng phát triển của cây dâu tây

4.1.1 Ảnh hưởng của các chất ĐHST đến chỉ tiêu sinh trưởng dinhdưỡng của cây dâu tây

4.1.2 Ảnh hưởng của các chất ĐHST đến các chỉ tiêu sinh trưởng sinhthực của cây dâu

4.2 Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 đến khả năngđậu trái và chất lượng trái dâu tây

4.3 Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng của Paclobutrazol, Alar và GA3

đến màu sắc, chất lượng trái dâu tây

4.4 Nội dung 4: Khảo sát ảnh hưởng của SA đến khả năng bảo quảntrái dâu tây

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1 Kết luận

5.2 Đề nghị

1415151922222222222323262830

Trang 11

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Alar (SADH): Daminozide (N-dimethylaminosuccinamic acid)

BA: Benzyladenin

CTV: Cộng tác viên

ĐHST: Điều hòa sinh trưởng

FAO: Food and Agriculture Organization

GA: Gibberellin

GA3: Acid Gibberellic

LLL: Lần lập lại

HR: Hypersensitive Reaction (Phản ứng siêu mẫn cảm)

NAA: Napthalene acetic acid

SA: Salicylic Acid

SAR: Systemic Acquired Resistance (Kháng tập nhiễm)

TN: Thí nghiệm

TP: Thương phẩm

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1 Mô hình khung treo trồng dâu tây thủy canh

Hình 3.2 Trái dâu thương phẩm

Hình 3.3 Cây dâu bắt đầu cho trái

292929

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê sản xuất dâu tây trên thế giới

Bảng 3.2 Thống kê sản xuất dâu tây ở Tỉnh Lâm Đồng

Bảng 4.1 Số ngó/cây ở các nghiệm thức qua ba lần theo dõi

Bảng 4.2 Đường kính thân và chiều dài thân bò ở các nghiệm thức vào

120 NST

Bảng 4.3 Số lá /cây ở các nghiệm thức qua bốn lần theo dõi

Bảng 4.4 Diện tích lá (cm2)/cây ở các nghiệm thức qua bốn lần theo dõi

Bảng 4.5 Các chỉ tiêu ngày ra hoa và thu hoạch ở các nghiệm thức

Bảng 4.6 Các chỉ tiêu về số hoa ở các nghiệm thức

Bảng 4.7 Các chỉ tiêu về trái ở các nghiệm thức

Bảng 4.8 Các chỉ tiêu năng suất ở các nghiệm thức

Bảng 4.9 Các chỉ tiêu sinh trưởng sinh thực ở các nghiệm thức

Bảng 4.10 Các chỉ tiêu về trái ở các nghiệm thức

Bảng 4.11 Các chỉ tiêu năng suất/ô ở các nghiệm thức

Bảng 4.12 Các chỉ tiêu độ Brix và màu sắc trái ở các nghiệm thức

Bảng 4.13 Các chỉ tiêu về trái ở các nghiệm thức

Bảng 4.14 Các chỉ tiêu năng suất ở các nghiệm thức

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của các nồng độ SA xử lý trước thu hoạch 1 tuần

đến chất lượng và thời gian bảo quản trái dâu

6731

33343539404244474950525354

55

Trang 14

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Dâu tây (Fragaria x ananassa Duch.) là cây ăn trái thuộc họ hoa hồng Theo

thống kê đến năm 2007, dâu tây hiện được trồng ở ít nhất 78 quốc gia với tổng diệntích 256.108 ha, sản lượng đạt 3.822.989 tấn, năng suất trung bình đạt 14,93 tấn/ha

Mỹ là nước sản xuất dâu tây lớn nhất với tổng diện tích 22.000 ha và sản lượng đạt1.115.000 tấn; đồng thời cũng là nước có năng suất dâu tây cao nhất 50,69 tấn/ha(FAO, 2009) Ở Việt Nam, dâu tây đã được du nhập từ lâu và hiện đang trồng nhiềunhất ở Đà Lạt - Lâm Đồng nhưng diện tích cũng còn ít và năng suất còn thấp

Biện pháp kỹ thuật chính trong canh tác dâu tây hiện nay là dùng các phươngpháp kích thích ra hoa và đậu trái nhằm gia tăng năng suất, đồng thời đáp ứng nhucầu dinh dưỡng cây trồng để gia tăng chất lượng trái dâu tây

Ở cây dâu tây, những yếu tố tác động lên quá trình cảm ứng sự ra hoa baogồm mật độ cây trồng, chế độ dinh dưỡng, các chất điều hòa sinh trưởng (ĐHST),nhiệt độ và ánh sáng Bên cạnh ánh sáng và nhiệt độ, chất ĐHST được dùng để điềukhiển sinh trưởng và phát triển cây dâu tây Chất ĐHST ngoại sinh có thể thay thếhay cải thiện tác dụng của quang kỳ lên sinh trưởng và phát triển cây dâu tây.Những tác động này đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng mối tương tác giữa ánhsáng, nhiệt độ, và chất điều hòa sinh trưởng lên trạng thái sinh trưởng của cây dâutây vẫn chưa được làm sáng tỏ

Trang 15

Sự hiểu biết về ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến quá trìnhcảm ứng ra hoa của cây dâu tây trồng theo một quy trình cụ thể ở một địa phươngnào đó sẽ giúp cho việc quản lý sản xuất tốt hơn, đặc biệt là sản xuất dâu tây theophương pháp canh tác không cần đất là một phương pháp mới ở Lâm Đồng - ViệtNam Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của các chất điềuhòa sinh trưởng lên sự sinh trưởng phát triển và năng suất, phẩm chất trái của dâutây trồng thủy canh trong nhà màng ở Đức Trọng – Tỉnh Lâm Đồng”.

1.2 Mục đích yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Ứng dụng các chất điều hòa sinh trưởng để điều khiển sinh trưởng và pháttriển của cây dâu tây trồng theo phương pháp thủy canh trong nhà có mái che nhằmnâng cao năng suất, chất lượng trái dâu tây

1.2.2 Yêu cầu

Qua quá trình theo dõi, nắm được các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, năngsuất và phẩm chất của cây dâu tây trên từng công thức thí nghiệm

Trang 16

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây Dâu tây

2.1.1 Phân loại

Phân loại khoa học

Giới (regnum): Plantae

Ngành (division): Magnoliophyta

Lớp (class): Magnoliopsida

Bộ (ordo): Rosales

Họ (familia): Rosaceae

Phân họ (subfamilia): Rosoideae

Chi (genus): Fragaria

Loài (species): Fragaria x ananassa Duch

Cây dâu tây có tên khoa học Fragaria x ananassa Duch., là kết quả của sự lai ghép giống F Chiloensis Duch và F Virginiana Duch Fragaria có nghĩa là

"thơm", để chỉ phần cùi thịt có hương thơm của trái Ngày nay người Anh gọi dâutây là “strawberry” còn người Pháp gọi là “fraisier” “Straw ” có nghĩa là rơm vìtrước đây khi trồng dâu tây người ta thấy nông dân thường phải tủ rơm xung quanhgốc để hạn chế thối trái (Martin, 1973) Khi đem về Việt Nam vì có nguồn gốc từPháp nên được gọi là “dâu tây”

Trang 17

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây dâu tây

Dâu tây là cây thân thảo lâu năm, phản ứng với quang chu kỳ Có thể chiathành 3 nhóm quang chu kỳ là ngày dài, ngày trung bình và ngày ngắn Phần lớncác giống dâu tây sản xuất hiện nay là giống ngày ngắn (Oleg, 2008)

2.1.2.1 Thân

Cây dây tây có một thân chính hay đỉnh sinh trưởng gọi là “crown”, từ đó sẽmọc lên lá, rễ, thân bò và những chồi hoa Thường từ thân chính sẽ phát sinh thêmnhiều thân con nữa góp phần vào năng suất của cây dâu tây sau này Nhưng trongsản xuất lấy trái người ta chỉ để 2 đến 3 thân trên một cây, số thân từ 8 đến 10 sẽlàm cho cây không ra hoa

Dâu tây có 2 kiểu thân là thân chính (crown) và thân bò (runner) Thân bòhay còn gọi là ngó bao gồm 2 đốt, những cây con sẽ được tạo thành ở đốt thứ hai vàđược gọi là “daughter” Mắt đốt thứ nhất ở dạng ngủ nghỉ hoặc hình thành mộtnhánh mới sinh ra một cây con khác nhưng có thân nhỏ và yếu hơn cây con đượchình thành ở mắt đốt thứ hai Mỗi cây con ở dạng ngó có thể tiếp tục sản sinh ra câyngó tiếp theo (Fletcher, 1917)

2.1.2.2 Lá

Lá phát sinh xung quanh thân và được sắp xếp theo hình xoắn trôn ốc, lá thứ

6 có phương trùng với lá đầu tiên Lá dâu tây thông thường có cuống dài, lá képhình lông chim với 3 lá chét Chúng có lớp biểu bì bao quanh và những lớp thịt láđặc thù của cây hai lá mầm Mép lá có hình răng cưa và nhiều hay ít tùy thuộc vàocác giống khác nhau Lá của hầu hết các giống dâu tây chỉ sống được từ 1 - 3 thángrồi rụng Vào mùa lạnh giá cây dâu thường vẫn tồn tại nhưng hầu như chúng không

có lá, duy chỉ có loài Fragaria chilogensis Duch (dâu tây Chile) vẫn còn một vài lá,

và cây được thay lá trong mùa xuân (Fletcher, 1917)

Trang 18

2.1.2.3 Rễ

Rễ cơ bản được phát sinh từ đỉnh sinh truởng và sau đó mọc trực tiếp xuốngdưới đất Khi còn non rễ chia thành 2 phần rõ rệt, chóp rễ có màu trắng, phần cònlại có màu hồng nhạt dần dần chuyển sang màu trắng khi rễ trưởng thành Những rễnhánh phát sinh từ các rễ cơ bản thường dài từ 2 - 5 cm và nếu được cung cấp nướcđầy đủ chúng sẽ chuyển sang dạng bó sợi

Rễ cây dâu tây phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ đất là 250C Rễ

có vai trò cố định cây, giúp cây hấp thụ nước và dinh dưỡng Rễ dâu tây có chu kìsống khoảng 4 tuần (Fletcher, 1917)

Phấn hoa đã thành thục trước khi bao phấn nở và không phát tán ra ngoàitrước khi hoa nở Hạt phấn có thể sống được từ 2 - 3 ngày và núm nhụy có thể tiếpnhận phấn hoa hiệu quả trong vòng 8 - 10 ngày Sự thụ phấn xảy ra sau 24 - 48 giờtính từ lúc nhụy tiếp nhận hạt phấn (Fletcher, 1917)

2.1.2.5 Trái

Thực chất trái dâu tây vẫn thường gọi đó là trái giả, nó được phình ra từ đếhoa Trái thật là những trái bế thường gọi là hạt Số lượng trái bế nhiều, nhỏ, hìnhelip bao phủ bề mặt trái Phôi của trái dâu tây chứa hai lá mầm hình ½ elip bêntrong chứa protein và chất béo, không chứa tinh bột, phía chính giữa là lõi Sau khi

Trang 19

hai lớp vỏ được tách ra bởi các bó mạch thì hạt yêu cầu chất dinh dưỡng để phôiphát triển.

Trái dâu tây thường phát triển sau khi hoa nở và trái chín sau đó khoảng 20đến 30 ngày tùy theo điều kiện thời tiết Thường thì dâu tây ra trái theo chùm, xếphình sim gồm trái đầu tiên, thứ cấp và sau thứ cấp vì vậy kích thước cũng như thờigian chín cũng khác nhau Trái đầu có kích thước lớn nhất, trái thứ cấp có kíchthước nhỏ hơn, số lượng trái bế cũng ít hơn, nhưng là trái thu hoạch chính làm nênnăng suất (Fletcher, 1917)

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của dâu tây

Dâu tây là loại trái có mùi thơm quyến rũ, có vị ngọt thanh pha lẫn vị chuanên được người tiêu dùng ưa chuộng Khả năng cung cấp năng lượng của dâu tâykhông cao (100g dâu tây cho khoảng 34 calo) nhưng cung cấp nhiều loại sinh tố cầnthiết cho cơ thể con người Trái dâu tây chứa nhiều loại sinh tố: A, B1, B2 và đặcbiệt là sinh tố C khá cao, hơn cả cam và dưa hấu Đây là tính ưu việt của trái dâugiúp tăng sức đề kháng, chống nhiễm trùng, nhiễm độc, cảm cúm và chống stress

2.1.4 Tình hình sản xuất dâu tây trên thế giới và Việt Nam

Dâu tây thích nghi nhiều loại sinh thái khác nhau: ôn đới, Địa Trung Hải, cậnnhiệt đới và á ôn đới

Bảng 3.1 Thống kê sản xuất dâu tây trên thế giới

Năm

Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Diện tích (ha) 251.318 255.224 233.636 243.657 250.858 260.830 262.665 256.108Năng suất (Hg/ha) 131.017 126.226 138.720 137.568 145.752 145.293 148.819 149.272Sản lượng(tấn) 3.292.703 3.221.612 3.241.016 3.351.942 3.656.307 3.789.701 3.908.978 3.822.989

(FAO, 2009)

Trang 20

Ở nước ta, vùng trồng dâu tây chủ lực tập trung chính ở Lâm Đồng Thời vụtrồng dâu tây tại Lâm Đồng trước đây thường vào khoảng tháng 8, 9 Mùa thuhoạch chính từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với năng suất bình quân 7 tấn/ha.Hiện nay, việc ứng dụng kỹ thuật mới trong canh tác dâu tây được chú trọng như:trồng từ cây cấy mô, trồng phủ nilon, trồng trong nhà kính, nhập giống mới đã làmtăng năng suất lên 11-13 tấn/ha và có thể trồng quanh năm Lâm Đồng là tỉnh cónhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp công nghệ cao với những công nghệ mới

và đầu tư lớn cho nhà kính, nhà lưới Hình thức thủy canh đang được nghiên cứungày càng phổ biến, trong đó cây dâu tây là một đối tượng nghiên cứu quan trọng

và nó cũng là một cây trồng chiến lược cho vùng trong tương lai (Việt Báo, 2006)

Hiện nay, ở Đà Lạt có 3 giống dâu tây được trồng nhiều nhất đó là giống dâuSelva hay còn gọi là dâu Mỹ đá, giống dâu Pajero hay còn gọi là Mỹ hương vàgiống dâu New Zealand (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2002)

Bảng 3.2 Thống kê sản xuất dâu tây ở Tỉnh Lâm Đồng

Năm Chỉ tiêu

Trang 21

2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng trên cây dâu tây

Các chất điều hòa sinh trưởng là điểm then chốt trong việc kiểm soát một sốtiến trình trong vòng đời của cây dâu tây

2.2.1 Ảnh hưởng của auxin

Có rất nhiều nỗ lực trong sự thiết lập mối quan hệ giữa mức độ auxin, sựkích thích ra hoa và sinh trưởng sinh dưỡng ở cây dâu tây Theo Moore và Hough(1962), mức độ auxin trong chồi ngọn cây dâu tây dưới điều kiện cảm ứng cho quátrình ra hoa đã giảm sau 15 chu kỳ cảm ứng, nhưng nồng độ auxin này được phụchồi lại nhanh chóng Các tác giả đã chỉ ra sự dao động này như một kết quả hơn lànguyên nhân gây ra hiện tượng cảm ứng ra hoa Họ đã mô tả sự giảm sinh trưởng látrong suốt giai đoạn ngày ngắn nhưng họ đã xác định không có mối gắn kết nàogiữa sự sinh trưởng lá và mức độ auxin Tuy nhiên, họ kết luận rằng quang chu kỳkiểm soát mức độ auxin ở những giống dâu ngày ngắn

Những thí nghiệm khác cũng mô tả rằng khi xử lý auxin ngoại sinh nhưnaphthoxyacetic acid (NOA) trên những giống dâu ngày ngắn được đặt trong điềukiện quang kỳ ngắn sẽ không có ảnh hưởng đến số lượng hoa và trái bế (Tafazoli vàVince-Prue, 1978) Nói cách khác, auxin là chất điều hòa then chốt của tiến trìnhchín của trái dâu tây khi mức độ auxin trong trái giảm đáng kể, ở giai đoạn trái dâutây đã sinh trưởng hoàn chỉnh Điều này được củng cố bằng những thí nghiệm xử lýauxin trên trái, thấy rằng auxin làm trì hoãn sự hình thành màu của trái dâu tây(Archbold và Dennis, 1984; Perkins-Veazie, 1995) Sự đậu trái dâu tây và quá trìnhphát triển trái được kiểm soát bằng indolacetic acid (IAA) - một loại auxin tự nhiênđược tổng hợp trong trái bế- (Mudge và ctv, 1981) Ứng dụng naphthalene aceticacid (NAA) và Napthaleneoxi acetic acid (NOA) để thay thế IAA trong trái đã bịloại hết trái bế (Mudge và ctv, 1981) và trong các trái thụ phấn kém (Lopez-Galarza

và ctv, 1990), làm giảm phần trăm trái khuyết tật Ứng dụng auxin quan trọng trongviệc gia tăng năng suất thương mại ở điều kiện nhiệt độ mùa đông thấp (Castro và

Trang 22

ctv, 1976), trong điều kiện ít gió, hoặc thiếu côn trùng thụ phấn, là những yếu tốngăn cản sinh tổng hợp auxin và làm giảm sinh trưởng trái (Hancock, 1998).

2.2.2 Ảnh hưởng của gibberellin (GA)

Ảnh hưởng của gibberellin (GA) đã được nghiên cứu trên cây dâu tây và chothấy có liên quan tới sự kiểm soát sự sinh trưởng của cây dâu tây (Guttridge vàThompson, 1959; Guttridge, 1985) Hầu hết các nghiên cứu cho thấy cây có cảmứng khi xử lý các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh GA, các bộ phận khác nhaucủa cây dâu tây sẽ có những cảm ứng khác nhau

Ảnh hưởng sinh trưởng lá: Ứng dụng GA ngoại sinh đã làm gia tăng chiều

dài cuống lá, ở điều kiện ngày ngắn sẽ có ảnh hưởng giống như đối với quang kỳdài lên sự phát triển cuống lá (Porlingis và Boynton, 1961; Guttridge và Thompson,1964) Guttridge và Thompson (1959) cho rằng cuống lá cảm ứng phát triển bằng

GA ngoại sinh có sự gia tăng cả chiều dài và số lượng tế bào biểu bì Hơn thế nữa,khi xử lý GA ngoại sinh ở nồng độ cao ta thấy sự phát triển của cuống lá nhanh hơn(Porlingis và Boynton, 1961; Choma và Himlrick, 1984), mặc dù thời gian cần thiết

để từ khi lá xuất hiện đến khi đạt kích thước tối đa không bị ảnh hưởng (Guttridge,1970) Có sự giãn nở lá và gia tăng số lượng lá khi ứng dụng GA ngoại sinh(Waithaka và ctv, 1978), việc ứng dụng GA ngoại sinh cũng làm gia tăng diện tích

lá (Tafazoli và Vince-Prue, 1978) Trọng lượng tươi và trọng lượng khô của nhữngcây có xử lý GA tốt hơn nhiều so với những cây không xử lý (Weidman và Stang,1983)

Ảnh hưởng của gibberellin tới sự hình thành và phát triển thân bò: GA

ngoại sinh kiểm soát sự hình thành thân bò ở cây dâu tây GA ngoại sinh được hấpthụ thông qua lá và chuyển tới mầm ở nách lá Trong điều kiện ngày dài, sự pháttriển các mầm ở nách lá tạo ra thân bò nhiều hơn trong điều kiện ngày ngắn(Porlingis và Boynton, 1961) Vì vậy, sử dụng GA ngoại sinh ở nồng độ cao rất cầnthiết cho việc kiểm soát hình thành thân bò trong điều điều kiện ngày ngắn (Blatt và

Trang 23

Crouse, 1970) Theo Kender và ctv (1971), xử lý GA ngoại sinh ở trạng thái sinhdưỡng sẽ mẫn cảm hơn so với trạng thái ra hoa Ảnh hưởng của GA đối với sự sảnsinh thân bò có liên quan tới giống, một số giống ít mẫn cảm hơn so với một sốgiống khác, điều này có thể liên quan tới khả năng hình thành thân bò (Singh và ctv,1960) hoặc mức độ của GA nội sinh (Barritt, 1974).

Theo Moore và Scott (1965); Dennis và Bennett (1969); Braun và Kender(1985); Dale và ctv (1996), GA ngoại sinh có thể kiểm soát số thân bò đối vớinhững giống dâu ngày ngắn, ngày trung bình và ngày dài Bên cạnh đó, việc sửdụng GA cũng làm gia tăng chiều dài thân bò (Leshem và Koller, 1966), số lượngcác nhánh trên thân bò (Singh và ctv, 1960) và số lượng cây con (Moore và Scott,1965; Dennis và Bennett, 1969; Choma và Himelrick, 1984) Số lượng cây conđược xác định bằng số thân bò hình thành bởi những cây mẹ, bằng số thân bò ở cácnhánh bên và bằng số lượng cây con hình thành ở mỗi thân bò (Barritt, 1974)

Ảnh hưởng của gibberellin tới phát triển gốc: Theo Foster và Janick

(1969), GA làm tăng chiều dài trục chính (gốc, thân) ở các giống dâu tây trồngcũng như các giống dâu hoang dại (Guttridge và Thompson, 1964) Chiều dài gốcgia tăng khi gia tăng nồng độ GA mà không phụ thuộc vào quang kỳ (Singh và ctv,1960) Tuy nhiên, quang kỳ dài hơn sẽ ảnh hưởng tốt hơn khi xử lý GA (Tafazoli vàVince-Prue, 1978) Giống có ảnh hưởng đến việc xử lý GA ngoại sinh đến chiều dàithân (Weidman và Stang, 1983), thân thấy được rõ ràng khi cây dâu mất đi đặc tínhmọc lá thành chùm tự nhiên (Guttridge, 1985) Có sự kéo dài thân nhưng không đềcập tới việc gia tăng trọng lượng khô của thân cây (Weidman và Stang, 1983) Tuynhiên, theo Dale và ctv (1996), GA ngoại sinh không ảnh hưởng đến đường kínhthân cũng như số lượng các nhánh bên

Ảnh hưởng của gibberellin tới sự phát triển cuống hoa: Theo Leshem và

Koller (1966), xử lý GA ngoại sinh làm gia tăng chiều dài cuống hoa Sự kéo dàicuống hoa theo sau hiện tượng ra hoa giống như cảm ứng của GA tới những bộ

Trang 24

đông sau khi xử lý GA giống như trong mùa hè không xử lý GA Có mối tươngquan giữa mức độ GA nội sinh và quang kỳ (Foster và Janick, 1969) Castro và ctv(1976) đã báo cáo rằng việc xử lý GA nồng độ thấp ở những cây dâu nhóm ngàyngắn sẽ kiểm soát sự kéo dài cuống hoa, giúp quá trình thu hoạch được thuận tiệnhơn.

Ảnh hưởng của gibberellin tới đặc tính, hình thức trái dâu tây: GA

ngoại sinh có ảnh hưởng đến số lượng, trọng lượng và hình thức trái dâu tây Việc

sử dụng GA trong sản xuất đã giúp rút ngắn thời gian thu hoạch tính từ lúc bắt đầutrồng cho tới lúc thu hoạch đợt trái đầu tiên, làm gia tăng năng suất đợt trái đầu tiên,năng suất tổng cộng và kéo dài chu kỳ thu hoạch Tuy nhiên, theo Singh và ctv(1960), Tehranifar và Battey (1997), trọng lượng trái có thể bị giảm khi xử lý GA.Choma và Himelrick (1984), việc xử lý GA đối với những giống dâu tây ngày ngắn,trung tính, ngày dài làm gia tăng trọng lượng và số lượng trái nhưng khi sử dụng ởnồng độ quá cao sẽ cho kết quả đối nghịch (Dennis và Bennett, 1969; Weidman vàStang, 1983; Tehranifar và Battey, 1997) Một số giống dâu ngày ngắn tạo ra sốlượng hoa tối ưu khi được tiếp tục chiếu sáng và xử lý GA (Tafazoli và Vince-Prue,1978) Lượng trái đợt đầu sau khi phun GA góp phần lớn trong sự gia tăng tốc độchín của trái dâu tây Vì vậy, ở nồng độ thích hợp được sử dụng khi xử lý GA ởnồng độ cao hơn sẽ cho thu hoạch sớm hơn (Turner, 1963) Tuy nhiên, sử dụng GAmột lần trong điều kiện ấm hay phun lặp lại có thể gây ra sự kéo dài của đế hoa,điều đó dẫn đến hiện tượng giảm kích thước trái và tăng trái dị tật (Porlingis vàBoynton, 1961; Turner, 1963) Theo Lopez-Galarza và ctv (1989), xử lý GA ởnhững cây ngày ngắn sẽ cho đợt trái đầu tiên sớm hơn nhưng không ảnh hưởng tớinăng suất tổng cộng, trọng lượng trái, độ cứng, độ Brix, và acid hữu cơ

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng hoa sau khi phun GAnhưng trong nhiều trường hợp tất cả hoa đều bị biến dạng (Porlingis và Boynton,1961; Guttridge, 1985) Castro và ctv (1976) thấy rằng ở những giống dâu ngàyngắn khi xử lý GA ba lần lặp lại ở nồng độ thấp sẽ làm tăng sản lượng trái sớm và

Trang 25

sản lượng trái tổng cộng Số lần xử lý GA và sự ra hoa có ý nghĩa giảm đi ở nhữnggiống dâu tây ngày ngắn được xử lý GA dưới điều kiện ngày ngắn (Smith và ctv,1961) Leshem và Koller (1966) đề nghị xử lý GA ở nồng độ 50ppm khi mầm hoa

đã xuất hiện nhằm cảm ứng tạo ra trái sớm Số lần phun GA rất quan trọng, nó ảnhhưởng đến sự chín sớm của quả Một số nhà vườn trồng dâu từ những nước nhưArgentina, Italy, và Nhật đã sử dụng GA để quản lý việc kiểm soát sản lượng tráithu hoạch sớm (Oda, 1991) Theo Maroto và ctv (1993), GA tổ hợp với một số chấtđiều hòa sinh truởng khác cũng làm gia tăng năng suất trái sớm, Lopez-Galarza vàctv (1990 và 1993) cũng thấy rằng sử dụng hợp chất GA và phenothiol (este ethyliccủa methyl chloro phenoxyacetic acid) để cải thiện sự chín sớm mà không ảnhhưởng tới kích thước trái

2.2.3 Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh

Theo cấu trúc hóa học, cytokinin được xếp vào nhóm: diarylurea hoặc ureacytokinin, và adenine cytokinin (Shaw, 1994) Những dạng thuộc urea cytokinin làdạng nhân tạo, trong khi adenines là dạng tự nhiên

Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh tới sự phát triển lá: xử lý cytokinin

ngoại sinh trên cây dâu tây làm cuống lá dày, ngắn và làm giảm diện tích lá Nhữngảnh hưởng này được biểu hiện rõ hơn khi gia tăng nồng độ xử lý cytokinin(Weidman và Stang, 1983) Trong môi trường nuôi cấy in-vitro, việc sử dụngcytokinin đã làm tăng hệ số nhân cây dâu tây

Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh tới sự hình thành và phát triển thân bò: Khi xử lý cytokinin trên những cây đặt trong điều kiện quang kỳ dài và có nhiệt

độ dao động từ 300C tới 150C (ngày/đêm), thì cytokinin làm gia tăng thân bò(Waithaka và Dana, 1978; Pritts và ctv, 1986) Tuy nhiên, những giống khác nhau,không chú ý đến loại quang kỳ sẽ có những phản ứng khác nhau sau khi xử lýcytokinin (Braun và Kender, 1985; Kender và ctv, 1971) Pritts và ctv (1986) đã báocáo rằng khi xử lý cytokinin làm tăng số thân bò, nhưng khi xử lý cytokinin ở cùng

Trang 26

nồng độ nhưng được chia ra xử lý nhiều lần thì số thân bò sẽ giảm Khi xử lýcytokinin qua lá, tùy vào nồng độ xử lý sẽ gây ra sự tích lũy và duy trì dinh dưỡngtrong lá, làm giảm trọng lượng trái Việc xử lý cytokinin làm giới hạn quá trình xuấtsản phẩm đồng hóa và chất dinh dưỡng ra khỏi lá, kết quả là giảm sự cung cấp sảnphẩm đồng hóa cho các sink đang phát triển (trái, thân bò, ) Cytokinin làm giảm

sự kéo dài và kiểm soát sự dày lên của đốt giữa thân bò, điều này do sự gia tăng vềmặt số lượng cũng như sự giãn nở của tế bào (Waithaka và ctv, 1978)

Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh tới sự phát triển thân: ứng dụng

cytokinin làm tăng sự phân cành nhánh ở cây dâu tây (Weidman và Stang, 1983;Archbold và Strang, 1986), tuy nhiên đường kính thân (Dale và ctv, 1996) và trọnglượng khô (Braun và Kender, 1985) không bị ảnh hưởng

Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh tới đặc tính và hình dạng trái: xử lý

cytokinin làm tăng số lượng hoa ở những giống dâu tây ngày dài do tăng số lượngcành nhánh sau (Waithaka và Dana, 1978) nhưng khi xử lý cytokinin ở nồng độ cao

sẽ làm giảm trọng lượng quả (Archbold và Strang, 1986; Pritts và ctv, 1986; Hasse

và ctv, 1989)

Ảnh hưởng của cytokinin ngoại sinh tới sự phát triển rễ: cytokinin ngoại

sinh không ảnh hưởng đến sự phát triển rễ Tỉ lệ hình thành rễ và trọng lượng khô rễđược phân hóa bằng việc xử lý cytokinin trong điều kiện ngày dài kết hợp vớinhững giống ngày ngắn (Waithaka và Dana, 1978; Weidman và Stang, 1983) Khi

tổ hợp với auxin làm dung dịch nhúng rễ thì cytokinin làm tăng sự phát triển rễ ởnhững cây dâu tây mới đem trồng, đồng thời cải thiện tỷ lệ sống sót, độ đồng đều

và năng suất trái (Garren, 1966)

Ảnh hưởng tổ hợp giữa gibberellin và cytokinin

Các nghiên cứu in-vitro cho thấy mầm ngủ bị phá vỡ miên trạng do cảm ứngđối với tỉ lệ cytokinin/gibberellin xử lý, sự phát triển theo hướng tạo thân bò hoặc lá

Trang 27

là do đáp ứng tới tỉ lệ cytokinin/gibberellin thấp hoặc cao (Waithaka và ctv, 1980).Trong môi trường in vivo, giả thuyết cho rằng cytokinin đánh thức những chồi ngủthông qua sự phá vỡ miên trạng trong thân cây dâu tây và sau đó GA tham gia vào

sự kéo dài của những chồi này và còn phát triển thành thân bò trong điều kiện ngàydài (Kender và ctv, 1971) Những nghiên cứu sau này đã bổ sung cho giả thuyết này(Waithaka và Dana, 1978; Braun và Kender,1985; Dale và ctv, 1996) Weidman vàStang (1983) báo cáo rằng những giống dâu ngày ngắn xử lý với tổ hợp GA-cytokinin đã tạo ra nhiều hoa hơn so với những cây không xử lý Tuy nhiên, trọnglượng trái thương phẩm giảm sau khi xử lý hỗn hợp GA-cytokinin (Lopez-Galarza

và ctv, 1993) Theo những nghiên cứu gần đây, Dale và ctv (1996) đề nghị sử dụnghỗn hợp GA-cytokinin nhằm tăng số lượng cây con ở những giống dâu kiểu quang

kỳ trung tính Mặt khác, ích lợi trong việc sử dụng hỗn hợp GA-cytokinin vẫn chưađược rõ ràng do còn nhiều sai biệt

2.2.4 Ảnh hưởng của ethylene (Ethephon)

Theo Reid (1983), ethylene được sử dụng nhằm tạo ra những trái chín tậptrung để đơn giản hóa vấn đề thu hoạch bằng máy trên cây dâu tây Dâu tây là loạitrái không có kiểu hô hấp khủng hoảng nên ethylene không cảm ứng làm trái chínđược (Perkins-Veazie, 1995) Theo báo cáo của Perkins-Veazie (1995), ethephon làmột hormon tổng hợp, khi được phun lên cây dâu tây sẽ giải phóng ra ethylene.Ethephon thúc đẩy quá trình chín của trái ở những cây sinh trưởng trong điều kiệncảm ứng, di chuyển tới nơi có quang kỳ dài sau khi đã xử lý với ethephon (Blatt vàSponagle, 1974) Xử lý ethephon làm tăng năng suất vụ sớm và số lượng trái (Blatt

và Sponagle, 1974) Xử lý ethephon khi dâu tây đang ra hoa sẽ làm tăng số lượngcây con (Sachs và Iszak, 1974), tăng số lượng lá, giảm chiều dài cuống lá (Choma

và Himelrick, 1982) và ngăn cản sự phát triển của trái (Shaybany và Tafazoli,1972) Xử lý ethephon trong suốt quá trình phân hóa hoa sẽ có những kết quả giốngnhư xử lý ethephon trong điều kiện ngày dài, sẽ làm giảm sự ra hoa Hơn thế nữa,

số lượng trái bế trên trái cũng giảm (Tafazoli và Vince-Prue, 1978) Khi xử lý dưới

Trang 28

điều kiện ngày dài hoặc trước khi ra hoa, ethephon ức chế sự ra hoa và làm giảm sựsinh trưởng (đối với trọng lượng tươi của lá) (Shaybany và Tafazoli, 1972; Tafazoli

và Shaybany, 1978) Vai trò của ethylene trong sự sinh trưởng sinh dưỡng và sinhsản ở cây dâu tây vẫn chưa được làm sáng tỏ, do những kết quả mâu thuẫn đó nênchưa có ứng dụng nào của ethylene được đưa vào sản xuất

Trong thực tế việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng GA, cytokinin, vàethylene chưa được hiểu rõ trong mối tương quan giữa quá trình ra hoa và sự hìnhthành thân bò đặc biệt là ở giống dâu tây mới như ‘Sweet Charlie’ được trồngnhiều ở Mỹ và những nước khác (Howard, 1994)

2.2.5 Ảnh hưởng của ABA

Theo báo cáo của El-Antably và ctv (1967), ABA ngoại sinh làm tăng sự rahoa ở những giống dâu ngày ngắn dưới điều kiện ngày dài nhưng làm giảm sinhtrưởng sinh dưỡng (giảm chiều dài cuống lá, và số lượng thân bò) ở những giốngdâu ngày dài Ngược lại, Kender và ctv (1971) cho rằng ABA không liên quan đếntiến trình cảm ứng ra hoa ABA quan trọng trong việc kiểm soát phát triển trái hơn

sự sinh trưởng của cây Tỷ lệ ABA/auxin có thể là một tín hiệu khởi sự cho quátrình chín của trái dâu tây (Perkins-Veazie, 1995) khi có sự tích lũy của ABA vàgiảm nồng độ auxin được ghi nhận ở đế và trái bế của trái dâu tây (Archbold vàDennis, 1984) Perkins-Veazie (1995) đề nghị rằng sự tích lũy đường và tạo màu ởtrái dâu tây được kiểm soát bởi ABA trong quá trình chín của trái

2.2.6 Ảnh hưởng của các chất ức chế GA

Các chất ức chế gibberellin: vai trò của GA đối với sự sinh trưởng và phát

triển của cây dâu tây đã được chứng minh từ lâu bằng cách sử dụng các chất ức chếsinh tổng hợp GA Theo Sponsel (1995), con đường sinh tổng hợp GA được mô tảtheo sơ đồ sau:

Trang 29

Geranylgeranyl pyrophosphate (GGPP)  Copalylpyrophosphate (CPP) 

ent-kaurene  ent-kaurenol  Ent-kaurenal  Ent-kaurenoic acid 

ent-7a-hydroxy - kaurenoic acid  GA12-7- aldehyde

Sự oxi hóa ent-kaurence chuyển hóa ngay lập tức trong quá trình sinh tổnghợp GA, tất cả đều xảy ra ở màng nội chất, tạo ra ent- kaurenol (Graebe và ctv,1965) Sau quá trình oxi hóa sẽ dẫn đến sự hình thành ent-caurenal, ent-caurenoicacid, và cuối cùng tạo ra GA12, sản phẩm đầu tiên trong quá trình chuyển hóa củanhững hormons này Từ GA12, những GA khác được sinh tổng hợp trong cây trồng(Salisbury và Ross, 1992)

Dưới đây là tên của một số chất ức chế sự sinh tổng hợp GA được sử dụngtrong sản xuất để làm giảm sự kéo dài thân và sự sinh trưởng của cây nói chung, đólà: Amo-1618 [2-isopropyl-4-(trimethylammonium chloride)-5-methyl-phenylpiperidine carboxylate], ancymidol [α-cyclopropyl- α-(p-methoxyphenyl)-5-pyrimidine methyl alcohol], CCC(chlorocholine chloride), paclobutrazol [1-(4-chloroethyl)4,4-dimethyl-2-(1,2,4-triazol-1-yl)pentan-3-ol], phosphon D (tributyl-2,4—dichlorobenzylphosphonium chloride), BX-112(calcium 3,5-dioxo-4-propionyl cyclohexane carboxylate) và tetcyclacis [5-(4-chloro-phenyl)-3,4,5,9,10-pentaaza-teracyclo-5,4,10(2,6), 0(8,11)-dodeca-3,9-diene] (Salisbury và Ross,1992) Trong đó Amo-1618, CCC và phosphon D cũng có tác dụng ức chế sinh tổnghợp sterol ở cây thuốc lá (Salisbury và Ross, 1992) Tuy nhiên, Amo-1618 vàphosphon D bị bất hoạt ở cây dâu tây (Guttridge, 1969) Vì vậy, tetcyclacis,ancymidol và paclobutrazol là một lựa chọn tốt nhất để làm giảm sự sinh tổng hợp

GA Những chất ức chế phát triển này khóa sự oxi hóa ent-kaurene và cho nên ảnhhưởng đến GA sinh tổng hợp ở cây (Rood và ctv, 1990) Thêm ent-kaurenol và ent-kaurenoic acid vào dung dịch xử lý cây với ancymidol (một chất điều hòa sinhtrưởng có liên quan tới paclobutrazol) đã cho phép hình thành GA (Coolbaugh vàHamilton, 1976)

Trang 30

Ảnh hưởng của paclobutrazol

Paclobutrazol là một chất ức chế sự sinh trưởng ở cây dâu tây Do nhữnghiệu quả cao của nó mà paclobutrazol được dùng để thay thế cho CCC – là một chất

đã được nghiên cứu rộng rãi trong thời gian vừa qua (Leshem và Koller, 1966;Guttridge, 1969; Sachs và Iszak, 1974; McArthur và Eaton, 1987) Paclobutrazollàm giảm sự phát triển sinh dưỡng ở cây vì vậy khi sử dụng paclobutrazol trên câydâu tây làm tăng năng suất, đặc biệt vào thời điểm đầu mùa, khi cây dâu phân hóahình thành thân bò và lá Khi sự phát triển sinh dưỡng giảm đi thì có thể hình hoa vàtrái Vì vậy, chiều dài thân bò, cuống lá, cuống hoa, nhánh hoa, và diện tích lá đượcgiảm bớt khi sử dụng paclobutrazol trên cây dâu tây Hơn thế nữa, sinh khối củathân bò, cây con có thể bị ức chế một cách hoàn toàn Chồi, thân và rễ không bị ảnhhưởng bởi paclobutrazol mặc dù nhánh thân có sự gia tăng (Stang và Weis, 1984;Braun và Garth, 1986; McArthur và Eaton, 1987; Hasse và ctv, 1989) Nói chung,

sự giảm sinh trưởng cây tăng mạnh hay tuyến tính với nồng độ paclobutrazol (Bish

và ctv, 1996)

Paclobutrazol ảnh hưởng tới hình dạng và chất lượng trái dâu tây.Paclobutrazol có thể làm giảm năng suất vì làm giảm khả năng thụ phấn hoa do làmhạt phấn ít nảy mầm (McArthur và Eaton, 1987), hoặc trì hoãn sự hình thành trái(Bish và ctv, 1996; Stang và Weis, 1984), và làm giảm số lượng trái (McArthur vàEaton, 1987) Paclobutrazol làm giảm sự sinh trưởng sinh dưỡng của cây sau khitrồng ra đồng (Bish và ctv, 1996), kết quả là dẫn tới tăng chất đồng hóa cho sự pháttriển hoa thay vì cho thân bò và lá Ứng dụng paclobutrazol ở nồng độ 100 đến300ppm làm gia tăng trọng lượng tươi trái, độ cứng cũng như năng suất tổng cộng(Bish và ctv, 1996; McArthur và Eaton, 1987) Khi xử lý paclobutrazol làm giảm43% sinh trưởng cuống lá (Wiseman và Turnbull, 1999) và giảm trọng lượng khôcủa thân và rễ dâu tây (Deyton và Cummins, 1991) Theo Salma và ctv (2008),phun paclobutrazol làm giảm chiều dài cuống hoa nhưng tăng số lượng hoa, tăngđáng kể vitamin C ở cả hai mức độ mặn (5, 10 mM)

Trang 31

Ảnh hưởng của Alar (SADH, Daminozide)

Alar là chất kháng GAs thuộc nhóm chất có cấu trúc tương tự acid oxoglutaric, có chất nền kết hợp của hai quá trình oxid hoá, xúc tác các bước sautrong quá trình hình thành GA Nghiên cứu ở tế bào tự do phát hiện rằng hầu hết cácbước tiếp theo sau GA12-aldehyde đều bị ngăn cản, đó là sự gắn nhóm -OH ở vị trí 3

2-β (hình thành GA1 từ GA20) và ở vị trí 2 β (sự biến đổi của GA1 thành GA8) Tácđộng của nhóm này là ngăn cản 3 β -hydroxylation, từ đó ngăn cản sự hình thànhcác GA có hoạt tính cao từ các tiền chất không hoạt động Các chất trong nhóm nàyđược dùng để ổn định thân cây ngũ cốc, hoa màu và cây cải dầu; kiểm soát sự sinhtrưởng của cỏ trồng và làm giảm sự sinh trưởng dinh dưỡng trên cây ăn trái

Chưa có báo cáo dùng Alar trên dâu tây nhưng Alar đã được dùng trên nhiềucây khác Hợp chất đầu tiên dùng để điều khiển sinh trưởng chồi của cây ăn trái làaminozide (Batjer và ctv, 1963) Alar có hiệu quả trong việc điều khiển sinh trưởngdinh dưỡng và kích thích hình thành mầm hoa nhưng phải dùng với nồng độ cao Ví

dụ, khi xử lý Alar 3 lần ở nồng độ 1.000 ppm trên cây táo cũng không thể làm tăng

sự hình thành mầm hoa (Volz và Knight, 1986) Trong khi đó, khi xử lý Alar ởnồng độ 2.000 ppm thì Luckwill và Silva (1979) thấy rằng, năng suất trong năm xử

lý của táo (giống Golden Delicious) tăng do tăng quá trình đậu trái và tăng năngsuất năm tiếp theo do tăng sự hình thành mầm hoa Khi dùng Alar kết hợp vớiethephon sau giai đoạn rụng trái táo bình thường giúp làm tăng sự phân hóa mầmhoa cho năm sau (Greene và ctv, 1976)

Alar được dùng rộng rãi trong sản xuất để làm tăng màu đỏ cho táo (Saure,1990) Theo Elias (1976), xử lý SADH và ethephon làm cho trái việt quốc(rabbiteye blueberries) có màu đẹp hơn và trái chắc hơn, thời gian tồn trữ được 40ngày do có cấu trúc mô chắc và vách tế bào dày hơn SADH cải thiện màu sắc củađào (Baumgradner và ctv, 1972) và sơri chua (Unrath và ctv, 1969)

Trang 32

2.3 Acid salicylic (SA) và kháng tập nhiễm SAR

Một vài loài cây kháng bệnh đã giới hạn sự lan truyền của nấm, vi khuẩn haytác nhân gây bệnh sinh học khác ở một vùng nhỏ xung quanh điểm lây nhiễm banđầu, nơi xuất hiện những điểm chết hoại Những tế bào tự chết để bảo vệ cả cơ thểnhư thế được gọi là HR (hypersensitive reaction-phản ứng siêu mẫn cảm) HR cóthể dẫn đến SAR, là hiện tượng những bộ phận cây chưa nhiễm bệnh có thể chốnglại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh đến sau SAR phát triển ở một số giốngcây có phản ứng với những tác nhân gây bệnh tạo tổn thương ở cây, xuất hiện vàingày sau sự lây nhiễm ban đầu và có thể chấm dứt sau vài tuần SAR có tác dụngchống lại một phổ rộng các tác nhân gây bệnh và các tác nhân này có thể không liênquan gì với tác nhân lây nhiễm ban đầu (Raskin, 1992)

Tính chống chịu với các tác nhân gây bệnh và việc sản sinh ra PR protein ởcây có thể được cảm ứng bởi SA hay acetylsalicylic acid, cả trong điều kiện vắngmặt sinh vật gây bệnh Chức năng bảo vệ của SA được thí nghiệm từ 1979 trên câythuốc lá với thí nghiệm xử lý SA đã làm gia tăng hàm lượng PR-1 protein ở những

lá xử lý (White, 1979)

Theo Raskin (1992), SA được xem là phân tử tín hiệu (signal transduction)trong việc đáp ứng chống chịu bệnh ở cây Ở nhiều cây, mức độ SA trong tế bàotăng lên khi có sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh và một số loại hóa chất hay

do tác động môi trường (Yalpani và ctv, 1994) Sự gia tăng nồng độ SA có thể xảy

ra xung quanh khu vực lây nhiễm nhưng đôi khi những tế bào ở xa điểm lây nhiễmcũng thấy hiện tượng như vậy (Rasmussen và ctv, 1991) Việc ứng dụng SA haynhững chất tổng hợp tương tự như 2,6-dichloroisonicotinic acid (INA) và benzo(1,2,3) thiadiazole-7-carbothioic acid S-methyl ester sẽ cho kết quả kích hoạt nhữnggen PR và có biểu hiện của SAR (White, 1979)

Mặc dù -1,3-glucanase và chitinase có hoạt tính thủy phân chống lại tácnhân gây bệnh nhưng người ta chưa thật sự biết rõ làm thế nào những PR-protein

Trang 33

cảm ứng bởi SA góp phần chống bệnh Shirasu và ctv (1997) đã nghiên cứu và chothấy SA có tính chống chịu bệnh nhờ tác động đến độ nhạy của sự kích hoạt cáchoạt động phòng thủ trong cây Không nghi ngờ gì nữa vai trò chủ chốt của SAtrong sự kháng bệnh, những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng trong sự tương tácgiữa cây và tác nhân gây bệnh thì jasmonic acid, ethylene, nitric oxide và có thểmột số phân tử khác cũng có vai trò trong sự chống bệnh cục bộ và hệ thống(Klessig và ctv, 2000) Thêm vào đó, những nghiên cứu đã chỉ ra rằng SA có thểgiữ vai trò điều hòa trong một số quá trình khác, SA có thể tác động thay thế hoạttính oxy hóa, chống chịu lạnh, mở khí khổng, quá trình hóa già và sinh trưởng tếbào (Raskin, 1992) hay sự tích lũy SA, là cơ chế giải thích sự chống chịu bệnh tăngtheo tuổi của cây (Kus và ctv, 2002) Theo Raskin (1992), SA là chất điều hoà sinhtrưởng mới của thực vật, là chất kích kháng chống chịu lại bệnh, cảm ứng sinh racác PR-protein; mức độ SA tăng lên cục bộ và toàn cây sau khi tác nhân gây bệnhtấn công cây, SA di chuyển trong cây xuyên qua mạch libe.

Những cây chuyển gen và đột biến tác động đến sự tích lũy SA thường rấtmẫn cảm với sự nhiễm bệnh so với kiểu cây bình thường (wild) (Nawrath vàMétraux, 1999) Cây Arabidopsis chuyển gen thủy phân salicylate (nahG) thì SAchuyển thành hợp chất catechol không có hoạt tính, vì vậy việc kích hoạt gen PR vàSAR bị đình chỉ (Gaffney và ctv, 1993)

Việc ứng dụng SA để kích hoạt phản ứng SAR giúp chống lại nhiều tác nhângây bệnh trên nhiều loại cây trồng đã được nghiên cứu, ví dụ khi kích kháng ở

Arabidopsis chống lại Peronospora parasitica (Uknes, 1993), ở Arabidopsis chống lại Pseudomonas syringae pv tomato (Van Wees, 2000); ở cây điều chống lại Colletotrichum gloeosporioides (Lopez, 2002), ở dưa chuột chống lại Cladosporium cucumerinum (Narusaka và cộng sự, 1999), Colletotrichum lagenarium (Fought, 1996); ở radish chống lại Fusarium oxysporum f sp raphani (Hoffland và cộng sự, 1995); ở lúa chống lại Xanthomonas oryzae pv Oryzae (Mohan và cộng sự, 2003);

ở thuốc lá chống lại potato virus X, cucumber mosaic virus (CPI-IV) (Naylor và

Trang 34

cộng sự, 1998), Peronospora tabacina (Cohen, 1994), tobacco mosaic virus (White, 1979), Erwinia carotovora (Palva và cộng sự, 1994).

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu cơ bản và ứng dụng chất kích kháng trongphòng trừ bệnh cây chưa nhiều Theo Phạm Văn Dư và ctv (2002), sử dụng di-potassium hydrogen phosphate, SA và humic acid xử lý hạt giống hay phun trên lá

lúa để kích kháng cây lúa chống lại nấm gây bệnh đạo ôn (Pyricularia grisea Cav.)

Theo Hứa Quyết Chiến và Nguyễn Tiến Thắng (2001), Viện sinh học nhiệt đới tạiThành phố Hồ Chí Minh có nghiên cứu cho ra hai sản phẩm thương mại là ALEX(thành phần có ethylen) và EXIN (thành phần có SA) có hiệu quả phòng chốngbệnh trên nhiều loại cây Ngoài ra, SA còn giúp bảo vệ nhiều loại trái sau khi thuhoạch như ớt (Nguyễn Ngọc Trì, 2004), thanh long (Lư Thái Thịnh, 2005)

Dựa vào những nghiên cứu trên, ta có thể thử nghiệm dùng SA - là một chấtthông dụng trên thị trường, không độc hại đối với người và môi trường, để kíchkháng cây dâu tây chống lại các tác nhân gây bệnh trên trái sau thu hoạch, kéo dàithời gian tồn trữ

Như vậy, đặc điểm ra hoa kết trái của dâu tây rất phức tạp, nó lệ thuộc nhiềuvào giống, điều kiện thời tiết, chế độ dinh dưỡng và các chất ĐHST ngọai sinhđược sử dụng như là một biện pháp kỹ thuật trong quy trình sản xuất cây dâu tây.Trong từng địa phương và với từng quy trình canh tác cụ thể thì việc áp dụng cácchất ĐHST cần được thí nghiệm kỹ càng trước khi ứng dụng vào sản xuất đại trà.Với mong muốn đó chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 35

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm - Thời gian thí nghiệm

Đề tài được tiến hành ở Xã Hiệp Thạnh - Huyện Đức Trọng - Tỉnh LâmĐồng từ 1/1/2009 đến 1/5/2010

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Thiết bị và dụng cụ dùng trong nghiên cứu

- Thiết bị: cân điện tử (Satorius), máy chụp hình kỹ thuật số (Canon), thiết bịcầm tay đo EC (Milwaukee, Italia), pH (Titrans, Đài Loan), máy đo độ Brix

- Dụng cụ: Thước đo, thước kẹp

- Chất ĐHST: NAA(Asia Pacific, 98 %, Zhengzhou Asia Pacific Chemicals);

BA (YUFULL, 99 %, Shenzhen Yufull Industry); GA (APC, 99 %,Zhengzhou Aisa Pacific Chemicals); Paclobutrazol (PanPan, 95 % PanpanIndustry); Alar (B9, 99 %, Panpan Industry); SA (98 %, Rhodia)

- Các hóa chất pha dung dịch dinh dưỡng: Ca(NO3).4H2O, KNO3, NH4NO3,MgSO4.7H2O, KH2PO4, CoCl2.2H2O, CuSO4.5H2O, ZnSO4.7H2O, Na2MoO4.2H2O,Fe-EDTA, MnSO4, H3BO3

3.2.2 Giống cây Dâu tây

Giống dâu tây NewZealand 10 tuần tuổi của phòng cấy mô Thu Thủy - ĐàLạt

Trang 36

3.3 Điều kiện và mô hình trồng cây thí nghiệm

* Điều kiện thí nghiệm:

Nhiệt độ trong nhà lưới hàng ngày: Nhiệt độ trung bình ngày: 30 ± 2 0C.Nhiệt độ trung bình đêm: 20 ± 20C

* Cấu trúc nhà lưới với diện tích 500 m2(25 m x 20 m), cao 4 m xung quanhđược che kín bằng lưới chắn côn trùng, mái che nilon

Hệ thống máng dùng để trồng dâu tây trong đề tài là hệ thống khung treocách mặt đất 1m, khung cách khung 0,5 m Vật liệu lắp ráp khung là xốp dày 0.03

m, mỗi khung cao 0,15 m, rộng 0,2 m, dài 6 m (Hình 3.1)

Cơ chất được sử dụng trong hệ thống là xơ dừa Bến Tre Xơ dừa trước khiđưa vào hệ thống thí nghiệm đã được rửa trong nước sạch cho đến khi đạt được EC

EC dung dịch dinh dưỡng là 1,8 và pH = 6

Dung dịch dinh dưỡng được cung cấp cho hệ thống trung bình 5 lít/m2/ngày

Hệ thống tưới theo nguyên tắc mao dẫn

3.4 Phương pháp và nội dung các thí nghiệm

Các nghiệm thức (NT) được lặp lại 3 lần, 24 cây/ô nghiệm thức, trồng câycách cây là 0,2 m trên khung máng treo Các ô nghiệm thức được bố trí theo kiểukhối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố

Trang 37

3.4.1 Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của GA3, NAA, BA, Paclobutrazol và Alarđến sinh trưởng phát triển của cây dâu tây

Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức, các chất ĐHST được phun hai lần, lần 1 vào

15 ngày sau trồng, lần 2 vào 30 ngày sau trồng (lên toàn bộ cây, với lượng dungdịch dùng là 20 ml/cây)

NT1: Đối chứng phun nước

3.4.2 Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 đến khả năng đậu trái vàchất lượng trái dâu tây

Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, các chất ĐHST được phun hai lần, lần 1vào ngày hoa nở rộ (60NST), lần 2 vào 90 NST (lên toàn bộ cây, với lượng dungdịch dùng là 20ml/cây)

Trang 38

NT1: Đối chứng phun nước

NT2: Xử lý GA3nồng độ 10 ppm

NT3: Xử lý NAA nồng độ 20 ppm

* Chỉ tiêu theo dõi: Số hoa/cây, số trái/cây, tỷ lệ đậu trái/cây; Tổng sốtrái/cây, số trái thành phẩm/cây, tỷ lệ trái thành phẩm/cây, đường kính trái, chiềudài trái, trọng lượng trái, năng suất trái thương phẩm/cây; Tổng số trái/ô thí nghiệm,

số trái thương phẩm/ô thí nghiệm, năng suất trái thương phẩm/ô thí nghiệm; Độngọt (độ Brix) của trái thương phẩm, màu sắc trái thương phẩm

3.4.3 Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng của Paclobutrazol, Alar và GA3 đến màusắc, chất lượng trái dâu tây

Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, các chất ĐHST được phun 1 lần vào 15ngày sau khi đậu trái,ở lứa trái nhiều nhất 100 NST (lên toàn bộ cây, với lượngdung dịch dùng là 20 ml/cây)

NT1: Đối chứng phun nước

3.4.4 Nội dung 4: Khảo sát ảnh hưởng của SA đến khả năng bảo quản trái dâu tây

sau thu hoạch

Trang 39

Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, các chất ĐHST được phun 1 lần vào 20ngày sau khi đậu trái hay trước khi thu hoạch 1 tuần (phun lên toàn bộ cây, vớilượng dung dịch dùng là 20 ml/cây).

3.5 Giải thích, công thức tính các chỉ tiêu số liệu

Đánh dấu 5 cây cố định trên mỗi ô nghiệm thức, đo đếm các chỉ tiêu số liệutrên các cây này, tính giá trị trung bình

- Đếm số ngó sau 60, 90, 120 ngày trồng ở để đánh giá số ngó con/cây

- Đo đường kính thân sau 120 ngày trồng Tính đường kính trung bình/cây từ

5 cây theo dõi cố định/ ô nghiệm thức Dùng thước kẹp đo ở vị trí thân mập nhất

- Chiều dài thân bò: Tính chiều dài trung bình/cây của từ cây theo dõi cốđịnh/ ô nghiệm thức Đo từ gốc thân đến gốc cây con

- Số lá: Tính số lá trung bình/cây Đếm số lá ở 30, 60, 90, 120 ngày trồng từ

5 cây theo dõi cố định/ ô nghiệm thức

- Diện tích lá: Chụp hình 2 lá trưởng thành/cây của 5 cây theo dõi cố định/ ônghiệm thức vào các thời điểm 30, 60, 90, 120 ngày sau khi trồng để xác định diệntích lá trung bình bằng phần mềm IMAGEJ Tính diện tích lá của 1 cây = Diện tích

Trang 40

- Ngày 50 % cây ra hoa: Ngày sau trồng có 50% số cây/ô nghiệm thức nởhoa.

- Ngày thu hoạch lần đầu: ngày thu hoạch được trái ở 50 % số cây/ô nghiệmthức

- Số hoa/cây: tính trung bình từ số hoa nở của 5 cây theo dõi cố định/ ônghiệm thức ở các thời điểm 60, 90, 120 ngày sau trồng

- Tỷ lệ đậu trái: tổng số trái *100/ tổng số hoa theo dõi

- Số trái/cây: đếm tổng số trái (trái dài hơn 2 cm) của 5 cây theo dõi cố định/

ô nghiệm thức ở thời điểm quan sát

- Số trái thu hoạch/cây: đếm tổng số trái thu hoạch của 5 cây theo dõi cốđịnh/ ô nghiệm thức cho đến thời điểm 120NST (a)

- Tỷ lệ trái thương phẩm/cây: số trái thương phẩm/tổng trái thu hoạch Tráichín khoảng 80% thì thu hoạch, Trái thương phẩm là những trái có trọng lượng trên10g, không bị biến dạng và sâu bệnh

- Trọng lượng của trái thương phẩm: trọng lượng trung bình tính từ 10 trái/cây theo dõi cố định/ ô nghiệm thức ở đợt thu hoạch 90NST (b)

- Năng suất trái/cây: Số trái thương phẩm/cây * Trọng lượng trung bình/trái(a*b)

- Tổng số trái/ô NT và số trái thương phẩm/ô NT: Ở mỗi nghiệm thức thìtổng số trái được thu hoạch cho đến 120NST sẽ được cân và tính tỷ lệ thương phẩm.Trái chín ở mỗi nghiệm thức được thu hoạch 2 lần/tuần

- Tỷ lệ trái dị dạng: % trái có hình dạng méo mó bất thường/tổng trái thuhoạch

Ngày đăng: 21/12/2017, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w