1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN THỨC ĂN HỖN HỢP TỔNG SỐ (TMR) LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU DỊCH DẠ CỎ, CHẤT LƯỢNG SỮA VÀ MỘT SỐ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP TRÊN BÒ SỮA

130 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 14,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH *************** NGUYỄN THỊ LIỄU KIỀU ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN THỨC ĂN HỖN HỢP TỔNG SỐ TMR LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU DỊCH DẠ CỎ, CHẤT

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***************

NGUYỄN THỊ LIỄU KIỀU

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN THỨC ĂN HỖN HỢP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***************

NGUYỄN THỊ LIỄU KIỀU

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN THỨC ĂN HỖN HỢP

TỔNG SỐ (TMR) LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU

DỊCH DẠ CỎ, CHẤT LƯỢNG SỮA VÀ MỘT SỐ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN THỨC ĂN HỖN HỢP

TỔNG SỐ (TMR) LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU DỊCH DẠ CỎ, CHẤT LƯỢNG SỮA VÀ MỘT SỐ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP

TRÊN BÒ SỮA

***************

NGUYỄN THỊ LIỄU KIỀU

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

1 Chủ tịch: PGS.TS Bùi Xuân An

Trường Đại học Hoa Sen

2 Thư ký: TS Nguyễn Văn Phát

Trường Đại học Nông lâm TPHCM

3 Phản biện 1: PGS.TS Dương Nguyên Khang

Trường Đại học Nông lâm TPHCM

4 Phản biện 2: TS Chung Anh Dũng

Viện KHKTNN Miền Nam

5 Ủy viên: PGS.TS Lê Đăng Đảnh

Trường Đại học dân lập Bình Dương

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: Nguyễn Thị Liễu Kiều

Ngày sinh: 22 tháng 10 năm 1975 tại thành phố Hồ Chí Minh

Họ tên cha: Nguyễn Văn Tây

- Chồng: Huỳnh Kim Khánh, kết hôn năm 2003

- Con: Huỳnh Nguyễn Phước Lộc, sinh năm 2005

- Địa chỉ liên lạc: 313 Lương Định Của, phường An Phú, quận 2, thành phố HồChí Minh

- Điện thoại: 08.22406919 - 0983270000; cơ quan: 08.38221131

- Email: nguyenthilieukieu@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

TÔI XIN CAM ĐOAN đây là công trình nghiên cứu

của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình

hoặc luận văn nào trước đây

TPHCM, ngày 01 tháng 03 năm 2010

Tác giả

NGUYỄN THỊ LIỄU KIỀU

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS LÊ ĐĂNG ĐẢNH và TS NGUYỄN VĂN KHANH đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đồng thời đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Xin được gửi lời tri ân đến ba, mẹ tôi là ông Nguyễn Văn Tây và bà Nguyễn Thị

On, người đã sinh thành, nuôi dưỡng và cho tôi cuộc sống tốt đẹp ngày hôm nay.

Gủi lời cảm ơn đến ba, mẹ chồng tôi là ông Huỳnh Kim Minh và bà Nguyễn Thị Bảy, người đã tiếp sức rất nhiều về mặt tinh thần cho tôi trong suốt thời gian theo học chương trình Cao học này.

Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến chồng tôi Huỳnh Kim Khánh và con trai Huỳnh Nguyễn Phước Lộc, những người luôn là chỗ dựa tinh thần để tôi quyết tâm phấn đấu hoàn thành chương trình Cao học.

Chân thành cảm ơn tất cả Anh Chị Em trong gia đình, đã động viên và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành chương trình Cao học một cách thuận lợi.

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, Khoa Chăn Nuôi - Thú Y cùng quý Thầy - Cô trong Khoa Chăn Nuôi - Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt cho tôi vốn kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành chương trình học tại trường.

Chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, Phòng Kỹ thuật, Trạm Khuyến nông Củ Chi

và các anh chị đồng nghiệp của Trung tâm Khuyến nông TPHCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học và thực hiện đề tài.

Xin cảm ơn sự nhiệt tình hợp tác của BSTY Trần Anh Minh và ba hộ chăn nuôi

bò sữa ở xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TPHCM trong quá trình triển khai đề tài.

Chân thành cảm ơn các bạn cùng lớp Cao học Thú Y giai đoạn 2007 - 2010 đã động viên, góp ý kiến và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và thực hiện đề tài.

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Ảnh hưởng của khẩu phần thức ăn hỗn hợp tổng số (TMR) lên một số chỉtiêu dịch dạ cỏ, chất lượng sữa và một số bệnh lý thường gặp trên bò sữa” được thựchiện tại 3 hộ chăn nuôi bò sữa thuộc xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, thành phố HồChí Minh

Thí nghiệm trên 27 bò sữa lai 7/8 máu HF trở lên, phân vào 3 lô thức ăn khácnhau (đối chứng, thí nghiệm 1, thí nghiệm 2), mỗi lô 9 con

Kết quả đạt được như sau:

Chỉ tiêu dịch dạ cỏ

- pH cao nhất ở lô 1 (pH = 7,34); thấp nhất ở lô 3 (pH = 6,95)

- Hàm lượng NH3 và axít béo bay hơi tổng số thấp nhất ở lô 1 (6,89 mg% và88,98 mmol/l); cao nhất ở lô 3 (9,85 mg% và 98,22 mmol/l)

- Tổng số lượng protozoa cao nhất ở lô 1 (3,14 x105/ml); thấp nhất ở lô 3 (1,85x105/ml)

- Tổng số lượng vi khuẩn thấp nhất ở lô 1 (2,98 x 109/ml); cao nhất ở lô 3 (5,95 x

109/ml)

Khả năng sản xuất sữa

- Sản lượng sữa trung bình 305 ngày và sản lượng sữa hiệu chỉnh theo tỷ lệ 4%béo sữa thấp nhất ở lô 1 lần lượt là 13,70 kg sữa/con/ngày và 12,24 kg sữa/con/ngày;cao nhất ở lô 3 lần lượt là 16,39 kg sữa/con/ngày và 16,37 kg sữa/con/ngày

- Lô 3 có hệ số sụt sữa thấp nhất (- 4,68%); cao nhất ở lô 1 (- 8,48%)

- Tỷ lệ béo và vật chất khô trong sữa thấp nhất ở lô 1 (3,29% và 11,87%); cao

nhất ở lô 3 (3,99% và 12,49%)

- Tỷ lệ protein trong sữa cao nhất ở lô 1 (3,30%); thấp nhất ở lô 3 (3,27%)

- Tiêu tốn vật chất khô tổng thể, năng lượng trao đổi tổng thể, protein thô tổng thể

và chi phí thức ăn để sản xuất 1kg sữa cao nhất ở lô 1; thấp nhất ở lô 3

Trang 8

Khả năng sinh sản

- Hệ số phối giống cao nhất ở lô 1 (2,23 lần); thấp nhất ở lô 3 (1,44 lần)

- Thời gian phối giống lại sau khi sinh chậm nhất ở lô 1 (111,82 ngày); nhanhnhất ở lô 3 (85,11 ngày)

- Tỷ lệ đậu thai thấp nhất ở lô 1 (51,39%); cao nhất ở lô 3 (77,78%)

Tình trạng bệnh của đàn bò đang cho sữa

Đàn bò ở các lô thí nghiệm được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, nên tỷ lệ bệnh làkhông đáng kể, chứng tỏ không có sự tác động xấu nào đến thí nghiệm

Trang 9

The thesis “The effect of total mixed ration on rumen fluid targets, milk qualityand clinical signs on the cows” was implemented in three dairy-farming households, in

An Nhon Tay commune, Cu Chi district, Ho Chi Minh city

One experiment was carried out on 27 crossbred cows of 7/8 HF blood or more divided into three treatments There were 9 cows per treatment

- The highest number of protozoa was in treatment 1 (3,14 x105/ml) and lowest intreatment 3 (1,85 x105/ml)

- The amount of bacteria cell was lowest in treatment 1 (2,98 x 109/ml) and thehighest in treatment 3 (5,95 x 109/ml)

Milk quantity and quality

- The average milk production and FCM (4%) production of treatment 1 waslowest with 13,70 kg of milk/cow/day and 12,24 kg of milk/cow/day; that of treatment

3 was highest with 16,39 kg of milk/cow/day and 16,37 kg of milk/cow/day

- The milk production pesistency of treatment 1 was highest (- 8,48%) and lowest

Trang 10

- The dry matter, energy and protein conversion and feed was highest intreatment 1; lowest in treatment 3.

The clinical signs in the experiment

Cows in the experiment were received good care and good feed, therefore thedisease rate was not significantly, differently indicating there were no harmful effects

to the cows

Trang 11

2.4 Hệ vi sinh vật dạ cỏ và vai trò của vi sinh vật với vật chủ 8

2.4.2 Tương tác giữa các vi sinh vật trong dạ cỏ 102.4.3 Vai trò tiêu hóa chất dinh dưỡng của hệ vi sinh vật dạ cỏ 11

Trang 12

2.5.2 Cho ăn theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) 14

2.8.5 Giun sán ký sinh trên đường tiêu hóa bò 24

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 28

3.4.3 Khẩu phần thức ăn lô 3 (TMR -Total Mixed Ration) 323.5 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 33

Trang 13

3.5.3 Khả năng sinh sản 383.5.4 Tình trạng bệnh của đàn bò đang cho sữa 39

4.1.4 Tổng số lượng nguyên sinh động vật (protozoa) 49

4.2.1 Sản lượng sữa 305 ngày và sản lượng sữa hiệu chỉnh 54theo tỷ lệ 4% béo sữa (FCM)

4.2.3 Tiêu tốn thức ăn tổng thể để sản xuất 1kg sữa 64

Trang 14

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77

PHỤ LỤC 2 Một số hình ảnh thực hiện đề tài 107

Trang 15

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ABBH: Axít béo bay hơi

ATP (Adenosine TriPhosphate): phân tử mang năng lượng

CMT (California Mastitis Test): Thuốc thử viêm vú

CP (Crude Protein): Protein thô

Cv (Coefficient of variation): Hệ số biến động

DM (Dry Matter): Vật chất khô (VCK)

EE (Ether Extract): Béo thô

FCM (Fat Corrected Milk): Sản lượng sữa hiệu chỉnh theo tỷ lệ 4% béo sữaFeed center: Trung tâm sản xuất thức ăn

HF (Holstein Friesian): Bò sữa Hà Lan

MB (Methylen Blue): Thuốc thử xanh methylen

ME (Metabolizable Energy): Năng lượng trao đổi (NLTĐ)

n: Số bò thí nghiệm

NPN (Non Protein Nitrogen): Nitơ phi protein

NRC (National Research Council): Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa KỳNSS: Năng suất sữa

P (Probability): Xác suất thống kê

PMR (Partial Mixed Ration): Thức ăn hỗn hợp từng phần

Protozoa: Nguyên sinh động vật

SD (Standard Deviation): Độ lệch tiêu chuẩn

TMR (Total Mixed Ration): Thức ăn hỗn hợp tổng số

TCGĐTN: Trong cả giai đoạn thí nghiệm

TGPGLSS: Thời gian phối giống lại sau sinh

X: Trị số trung bình

Trang 16

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số lượng protozoa trong dịch dạ cỏ 9

Bảng 2.4 Nhu cầu dinh dưỡng cho sản xuất 1kg sữa 16

với tỷ lệ mỡ sữa khác nhau

Bảng 2.5 Các nhu cầu duy trì và tăng trọng 500g/ngày 17

của bò đang cho sữa

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng các thực liệu thí nghiệm 31

Bảng 4.2 Hàm lượng NH3(mg%) trong dịch dạ cỏ 45

Bảng 4.3 Hàm lượng axít béo bay hơi tổng số trong dịch dạ cỏ 48

Bảng 4.4 Số lượng protozoa trong dịch dạ cỏ 50

Bảng 4.5 Số lượng vi khuẩn trong dịch dạ cỏ 52

Bảng 4.7 Sản lượng sữa của bò sữa lai 7/8 máu HF 55

do một số tác giả ghi nhận

Bảng 4.8 Sản lượng sữa hiệu chỉnh theo tỷ lệ 4% béo sữa của các lô 56

Bảng 4.9 Sản lượng sữa qua từng tháng cho sữa 56

Bảng 4.10 Hệ số sụt sữa trong chu kỳ sữa của các lô 57

Bảng 4.11 Tỷ lệ béo trong sữa ở các lô thí nghiệm 58

Bảng 4.12 Tỷ lệ béo bình quân trong sữa do một số tác giả ghi nhận 60

Trang 17

Bảng 4.13 Tỷ lệ protein trong sữa ở các lô thí nghiệm 60

Bảng 4.14 Tỷ lệ protein bình quân trong sữa do một số tác giả ghi nhận 61

Bảng 4.15 Tỷ lệ vật chất khô trong sữa ở các lô thí nghiệm 62

Bảng 4.16 Tỷ lệ vật chất khô bình quân trong sữa do một số 63

tác giả ghi nhận

Bảng 4.17 Tiêu tốn thức ăn tổng thể để sản xuất 1kg sữa của các lô 64

Bảng 4.18 Chi phí thức ăn cho 1kg sữa sản xuất 66

Bảng 4.19 Hệ số phối giống (lần) của đàn bò sữa 67

Bảng 4.20 Hệ số phối giống của bò sữa lai 7/8 máu HF do 68

một số tác giả ghi nhận

Bảng 4.21 Thời gian phối giống lại sau khi sinh của các lô 69

Bảng 4.22 Thời gian phối giống lại sau khi sinh của bò sữa lai 71

7/8 máu HF do một số tác giả ghi nhận

Bảng 4.23 Tỷ lệ đậu thai ở lần phối đầu tiên sau khi sinh của đàn bò sữa 71

Trang 18

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1 Tác động của môi trường trong dạ cỏ đến các sản phẩm 6

lên men trung gian

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.2 Hàm lượng NH3qua các thời điểm 46

Biểu đồ 4.3 Hàm lượng axít béo bay hơi tổng số qua các thời điểm 49

Biểu đồ 4.4 Số lượng protozoa qua các thời điểm 51

Biểu đồ 4.5 Số lượng vi khuẩn qua các thời điểm 53

Biểu đồ 4.6 Biến đổi sản lượng sữa qua các tháng cho sữa của các lô 57

Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ béo trong sữa của các lô thí nghiệm 59

Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ protein trong sữa của các lô thí nghiệm 60

Biểu đồ 4.9 Tỷ lệ vật chất khô trong sữa của các lô thí nghiệm 62

Biểu đồ 4.10 Hệ số phối giống của các lô thức ăn 67

Biểu đồ 4.11 Thời gian phối giống lại sau khi sinh của các lô 69

Biểu đồ 4.12 Tỷ lệ đậu thai ở lần phối đầu tiên sau khi sinh 71

Trang 19

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.2 Thu gom thực liệu và phân phối thức ăn TMR 19

Hình 2.5 Một số vi khuẩn gây bệnh viêm vú tiềm ẩn trên bò 22

Hình 2.6 Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica 24

Hình 2.7 Sán lá dạ cỏ và trứng sán lá dạ cỏ Paramphistomum cervi 25

Hình 2.10 Trứng giun đũa Toxocara vitulorum 26

Hình 3.4 Băm thái cỏ và phối trộn thủ công 33

Hình 4.1 Lấy mẫu sữa thử CMT và điều trị viêm vú tiềm ẩn 74

Trang 20

Hiện nay, do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ngàycàng thu hẹp, người chăn nuôi chưa chủ động được nguồn cung cấp thức ăn thô xanhcho bò sữa Thông thường, để khai thác được nhiều sữa, các hộ chăn nuôi có xu hướng

“bồi bổ” cho bò như tăng nhiều thức ăn tinh (cám hỗn hợp, hèm bia, xác mì,….), giảmthức ăn thô xanh hoặc thêm thức ăn tinh để bù vào lượng thức ăn thô bị thiếu hụt Kếtquả điều tra của Lã Văn Kính và ctv (2002) cho thấy hàm lượng protein của tất cả cáckhẩu phần đều vượt từ 15 – 34% so với nhu cầu Khi hàm lượng protein trong khẩuphần vượt quá 25% so với nhu cầu sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sinh sản ở bò sữa, cụ thể là

tỷ lệ đậu thai ở lần phối đầu tiên chỉ đạt 45,6% (Nguyễn Ngọc Tấn, 2003) Như vậy,khẩu phần ăn không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men ở dạ cỏ, từ

đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sữa (% mỡ sữa thấp hơn 3,5%, độ axít sữacao) và kèm theo là hàng loạt bệnh do sự mất cân đối dinh dưỡng (viêm hà móng, sưngkhớp, tiêu chảy, chướng hơi,…), suy giảm khả năng sinh sản (chậm động dục, khó thụthai, tăng khoảng cách lứa đẻ, sẩy thai, sót nhau,…) (Lê Đăng Đảnh, 2004)

Ngoài ra, tập quán cho bò ăn của nông hộ thường tách riêng từng loại thức ăn (cỏ,cám, hèm bia, xác mì,…) Điều này làm cho môi trường dạ cỏ thay đổi theo số lượngbữa ăn ăn vào, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ, nếu mỗi lần cung cấpthức ăn gây xáo trộn môi trường dạ cỏ sẽ ảnh hưởng ngay đến kết quả tiêu hóa (VũDuy Giảng, 2004) Do đó, nuôi dưỡng bò sữa có hiệu quả là phải tạo môi trường dạ cỏ

Trang 21

luôn ổn định, góp phần tăng sinh khối hệ vi sinh vật để chuyển hóa hiệu quả nhất thức

ăn thành sữa, nâng cao khả năng sinh sản, giảm thiểu bệnh tật Lê Đăng Đảnh (2004)

và Nguyễn Quốc Đạt (2004) khuyến cáo nên sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp tổng

số (TMR) trong chăn nuôi bò sữa, mà nhiều nước có nền chăn nuôi bò sữa tiên tiến đãứng dụng

Kết quả thử nghiệm tại Trung Quốc, Thái Lan cho thấy phương thức nuôi áp dụngkhẩu phần TMR đã giúp tăng năng suất sữa của đàn bò 30 – 50% so với phương thứccho ăn tinh và thô riêng Theo tài liệu của Hiệp hội bò HF Israel, nếu sử dụng phươngthức cho ăn TMR có thể giảm khoảng 30% chi phí thức ăn để sản xuất 1kg sữa, giáthành sản xuất sữa cũng giảm tới 20%/lít sữa Theo kết quả thử nghiệm khẩu phần thức

ăn TMR tại trại bò sữa An Phước, Long Thành – Đồng Nai của Lê Đăng Đảnh và LêThị Thu Hà (2006) cho thấy năng suất sữa tăng so với không sử dụng là 1,94kg/con/ngày; tiết kiệm 14,52% chi phí để sản xuất 1kg sữa

Xuất phát từ thực tế trên, được sự chấp thuận của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Đăng

-Đảnh và PGS.TS Nguyễn Văn Khanh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh

hưởng của khẩu phần thức ăn hỗn hợp tổng số (TMR) lên một số chỉ tiêu dịch dạ

cỏ, chất lượng sữa và một số bệnh lý thường gặp trên bò sữa”.

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá tác động của khẩu phần TMR đối với môi trường dạ cỏ, khả năng sảnxuất và sức khỏe của bò sữa

1.3 Yêu cầu

Đánh giá ảnh hưởng của khẩu phần thức ăn đến:

- Một số chỉ tiêu trong dịch dạ cỏ của bò: pH, hàm lượng NH3, hàm lượng axítbéo bay hơi tổng số, số lượng nguyên sinh động vật và vi khuẩn

- Khả năng sản xuất sữa: sản lượng sữa thực tế, chất lượng sữa, hệ số sụt sữa.…

Trang 22

- Khả năng sinh sản: hệ số phối giống, thời gian phối giống lại sau khi sinh, tỷ lệđậu thai ở lần phối giống đầu tiên sau khi sinh.

- Tình trạng bệnh lý: bệnh chướng hơi dạ cỏ, viêm vú tiềm ẩn, viêm tử cung, bạiliệt sau khi sinh, ký sinh trùng…

- So sánh hiệu quả của các khẩu phần thức ăn khác nhau trên đàn bò sữa

Trang 23

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN2.1 Sơ lược về dạ cỏ

Dạ cỏ chiếm 85 - 90% dung tích dạ dày, 70 - 75% dung tích đường tiêu hóa Chialàm 2 phần: túi nang lưng và nang bụng; gồm 3 lớp: lớp trên chứa đầy hơi, lớp giữachứa thức ăn thô, lớp dưới cùng chứa chất lỏng Khi thức ăn vào dạ cỏ, tùy thuộc vàothành phần (chất xơ, chất lỏng) mà thức ăn đi vào nơi cố định Nhờ hoạt động của dạ

cỏ, thức ăn sẽ được trộn đều và tạo thành môi trường lý tưởng cho hoạt động của hệ visinh vật dạ cỏ, đặc biệt là vi khuẩn tiêu hóa chất xơ Theo Đinh Văn Cải và ctv (1995),

dạ cỏ là trung tâm tiêu hóa quan trọng nhất của loài nhai lại Dạ cỏ chứa thức ăn thô vàkhông có enzym tiêu hóa, sự tiêu hóa thức ăn ở dạ cỏ chủ yếu nhờ vào hoạt động của

hệ vi sinh vật dạ cỏ (vi khuẩn, protozoa và nấm men) Thức ăn được lên men ở dạ cỏtạo thành các axít béo bay hơi (ABBH) và một lượng năng lượng đáng kể dưới dạngATP, nhờ nguồn năng lượng này giúp hệ vi sinh vật dạ cỏ sinh trưởng và phát triển Tỷ

lệ giữa các axít béo bay hơi phụ thuộc vào tỷ lệ giữa thức ăn tinh và thô trong khẩuphần Khẩu phần nhiều xơ thì axít acetic nhiều làm tăng độ béo trong sữa; khẩu phầnnhiều đường hòa tan hay tinh bột thì nồng độ axít propionic và butyric nhiều làm tăngglucose và năng suất sữa

Theo Vũ Duy Giảng (2004), dạ cỏ vừa là nơi dự trữ thức ăn, vừa là nơi xảy rahàng loạt các phản ứng hóa học, quá trình lên men, tổng hợp và hấp thu các chất dinhdưỡng Những vi sinh vật trong dạ cỏ là những vi sinh vật có lợi, chúng sống cộng sinh

và phân chia chức năng với nhau Dựa trên hoạt động sinh lý và sự lên men một số chấtdinh dưỡng chủ yếu, người ta chia hệ vi sinh vật dạ cỏ thành bốn nhóm:

+ Nhóm phân giải xơ (chủ yếu là cellulose)

+ Nhóm phân giải tinh bột và đường

+ Nhóm phân giải protein và NPN (non protein nitrogen)

Trang 24

+ Nhĩm phân giải và tổng hợp các sản phẩm trung gian từ quá trình phân giải xơ,tinh bột, đường.

Theo Lê Đăng Đảnh (2004), khoảng 65% nguồn dưỡng chất cung cấp cho bị sữa

từ sự chuyển hĩa các chất do quá trình lên men thức ăn và sinh khối từ xác của hệ visinh vật trong dạ cỏ, phần thức ăn cịn lại sẽ được tiêu hĩa bởi chính men tiêu hĩa của

bị ở dạ múi khế và trong ruột non Với sự đa dạng về chủng lồi vi sinh vật, phát triểnnhanh chĩng về sinh khối, sẽ cung ứng nguồn dưỡng chất cĩ phẩm chất cao cho bị, đểsản xuất sữa cĩ giá trị về dinh dưỡng cao cấp dễ tiêu cho con người Mỗi lồi vi sinhvật sẽ phân giải và sử dụng một số chất chuyên biệt trong nguồn thức ăn của bị, trongmột mơi trường độ pH ổn định sẽ tạo ra nguồn sinh khối tối ưu cho bị

(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)Theo Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch (2003), hệ vi sinh vật sống vàphát triển mạnh trong dạ cỏ nhờ các điều kiện thích hợp sau:

- Nhiệt độ luơn duy trì ở 38 - 420C, ẩm độ 80 - 90%

- Tuyến mang tai luơn tiết nước bọt, đảm bảo cho chất chứa dạ cỏ được thấm ướt

và giữ cho pH ổn định (pH dạ cỏ = 6,5 – 7,1), thích hợp cho vi sinh vật hoạt động

- Sự hình thành các chất khí: CH4, CO2, N2, H2, H2S tạo nên mơi trường yếm khí

Hấâp thu các dưỡng chất

Hấp thu các dưỡng chất

60-70% tổng số các chất hữu cơ được tiêu hóa xảy ra ở dạ cỏ và dạ tổ ong

30-40% tổng số các chất hữu cơ được tiêu hóa xảy ra ở đường ruột

Hình 2.1 Khả năng tiêu hĩa ở dạ cỏ

Trang 25

- Tỷ lệ thức ăn tinh thô không phù hợp.

- Đặc điểm của nguồn thức ăn thô

- Phương pháp cho ăn không thích hợp

- Đặc điểm của những thức ăn bổ sung nhất là thức ăn cung protein

- Sự thiếu hay thừa một số khoáng chất cũng làm pH dạ cỏ tăng hoặc giảm

Như vậy, tạo được môi trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi sinh vật dạ cỏ tồn tại,

Trang 26

Sơ đồ 2.1 Tác động của môi trường trong dạ cỏ

đến các sản phẩm lên men trung gian(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)

2.2 Vai trò của pH trong dạ cỏ

pH dạ cỏ thay đổi liên tục bởi các quá trình lên men Các axít béo bay hơi tạo ratrong quá trình lên men được hòa tan bởi các muối kiềm của nước bọt Các axít béođược trung hòa bởi NH3 tạo ra do quá trình các vi sinh vật phân giải protein Mặt khác,phần lớn các axít béo bay hơi tạo ra và được hấp thu qua niêm mạc dạ cỏ, do đó hạnchế sự thay đổi pH trong dạ cỏ Khi pH dạ cỏ thấp dẫn đến thay đổi số lượng vi khuẩnphân hủy cellulose, amilose và thường protozoa cũng bị mất theo Giá trị pH dạ cỏ cònphụ thuộc vào thời gian sau khi ăn, nước bọt và sự di chuyển các ion bicacbonat quabiểu mô dạ cỏ giúp cho sự ổn định pH

Dịch đệm dạ cỏ là môi trường thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn, nấm men,protozoa yếm khí và cho axít béo bay hơi tích tụ trong dạ cỏ Chỉ số pH thích hợp chohoạt động của vi sinh vật dạ cỏ là trung tính (Chenost và Kayuli, 1997)

2.3 Vai trò NH 3 trong lên men dạ cỏ

Theo Preston và Leng (1987), NH3 là sản phẩm cuối cùng của sự phân giảiprotein và nitơ phi protein của thức ăn Sự tạo thành NH3 trong dạ cỏ liên hệ chặt chẽvới lượng nitơ trong khẩu phần, hoạt động của vi sinh vật và chế độ nuôi dưỡng Saukhi ăn, lượng NH3 trong dạ cỏ tăng lên và sau đó giảm từ từ cho đến lần ăn sau

Để có tỷ lệ tiêu hóa tối đa trong dạ cỏ và qua đó cũng cho khối lượng vi sinh vậtlớn nhất, lượng NH3 luôn biến động theo khẩu phần Lượng NH3 tới hạn trong 1 lítdịch dạ cỏ diễn biến từ 50 - 250mg NH3 Theo Alvarez và ctv (1983), với loại cỏ chứamột lượng protein thô đáng kể thì số vi sinh vật bám vào sợi xơ phụ thuộc vào nitơ cótrong thành phần tế bào thức ăn Hiệu suất sinh trưởng của loại vi sinh vật này ít bị ảnh

Trang 27

hưởng bởi lượng NH3 trong dịch dạ cỏ Đối với loại thức ăn nhiều xơ, ít nitơ hoặc cácloại thức ăn chủ yếu là cacbohydrat hòa tan thì nồng độ NH3 tới hạn phải cao hơn sovới thức ăn giàu protein.

Theo Satter và Slyter (1974), tốc độ sinh trưởng của vi sinh vật cao nhất ở nồng

độ NH3 trong dung dịch dạ cỏ từ 50 - 80 mgN/l dịch dạ cỏ Nhưng một số thí nghiệmcho thấy rằng các khẩu phần thức ăn khác nhau có ảnh hưởng đến mức NH3 thích hợp

và nồng độ NH3 có thể đạt mức 150 – 200 mgN/lít dịch dạ cỏ, thiếu NH3dẫn đến giảmhiệu quả của hệ thống vi sinh vật dạ cỏ (Leng và Nolan (1984), Perdok (1987))

NH3 có vai trò quan trọng cho việc tổng hợp axít amin và protein vi sinh vật Ởnồng độ NH3 thấp trong dạ cỏ, những phản ứng nối NH3 thành axít amin cần ATP,nhưng khi nồng độ NH3 trong dạ cỏ cao hơn nồng độ thích hợp nào đó thì NH3 gắn vàoaxít amin không cần sử dụng ATP

Số lượng NH3 được tạo thành phụ thuộc vào bản chất protein của thức ăn cũngnhư vào số lượng glucid trong khẩu phần, vi khuẩn dạ cỏ sẽ sử dụng toàn bộ lượng

NH3 này để tổng hợp tế bào chất của chúng Đó chính là protein của vi khuẩn, nếulượng NH3 tạo ra không cân đối với lượng glucid trong khẩu phần, NH3 thừa ra vìkhông được vi khuẩn sử dụng sẽ được hấp thu qua dạ cỏ vào máu, lượng NH3 này sẽđược gan khử độc bằng cách tổng hợp thành urê rồi thải qua đường nước tiểu vàthường gây mệt mỏi cho gia súc Nếu lượng NH3 vượt quá khả năng khử độc của ganthì con vật sẽ bị ngộ độc và có thể chết Từ đó, khẩu phần phải được cân đối một cáchnghiêm ngặt giữa năng lượng với các hợp chất chứa nitơ, đặc biệt là các hợp chất chứanitơ phi protein (Hoàng Văn Tiến và ctv, 1995)

2.4 Hệ vi sinh vật dạ cỏ và vai trò của vi sinh vật với vật chủ

2.4.1 Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Hệ vi sinh vật dạ cỏ cung cấp 60 - 70% chất dinh dưỡng cho bò, gồm 3 nhómchính: vi khuẩn, protozoa và nấm men

Vi khuẩn

Trang 28

Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ 109 - 1010/ml dịch dạ cỏ, vi khuẩn sinh sản thêm7%/ mỗi giờ (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992) Số lượng vi khuẩn tăng theo nồng

độ dưỡng chất khẩu phần và khối lượng thức ăn ăn vào của thú Trong dạ cỏ, vi khuẩn

ở thể tự do chiếm 30% và 70% vi khuẩn sống bám vào các mảnh thức ăn, nếp gấp biểu

mô, protozoa Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ nên phần lớn vi khuẩn sẽ bị cuốn đi

và tiêu hóa khi vào ruột non Vì vậy, số lượng vi khuẩn ở dạng tự do trong dịch dạ cỏrất quan trọng để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn Vi khuẩn dạng tự donày thay đổi theo khẩu phần, cách nuôi dưỡng, thời gian sau khi cho ăn (Preston vàLeng, 1987)

Trong dạ cỏ có khoảng 100 loài vi khuẩn, được chia thành các nhóm: vi khuẩnphân giải cellulose; tinh bột, glucid hòa tan; phân giải các chất chứa nitơ

Protozoa

Tổng số protozoa trong dạ cỏ là 105- 106/ml dịch dạ cỏ, số lượng này thay đổi tùythuộc vào cách nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2004) Sự xuất hiệncủa protozoa trong dịch dạ cỏ được chứng minh qua kết quả nghiên cứu sau:

Bảng 2.1 Số lượng protozoa trong dịch dạ cỏ

2,5 – 5,9 Minor và cộng sự, 19770,5 – 1,3 Punia và cộng sự, 1984

(Preston và Leng, 1987)

Khẩu phần thức ăn nhiều xơ và ít đường hòa tan thì mật độ nguyên sinh động vậtthấp (< 105/ml dịch dạ cỏ); ngược lại khẩu phần giàu tinh bột và đường hòa tan thì sốlượng protozoa trên 4.106/ml dịch dạ cỏ, có thể lên đến 70% và sinh khối vi khuẩngiảm xuống còn khoảng 30% (Preston và Leng, 1987)

Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ Phần lớn protozoa ở dạ cỏ thuộc lớp

trùng tơ, được chia thành hai nhóm chính: Entodiniomorphs (chủ yếu là Entodinia spp.) và Holotrichs (chủ yếu là Isotricha spp hoặc Dasytricha spp.) Trong đó,

Trang 29

Entodiniomorphs có mặt trong dạ cỏ động vật ăn tinh bột hoặc khẩu phần chủ yếu là xơ; loài Holotrichs có mặt trong khẩu phần nhiều xơ, đường hòa tan.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất địnhnhư không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn Khi mật độ protozoa trong dạ cỏcao thì một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào, làm giảm tỷ lệ axít amin tiêu hóacủa vi khuẩn, từ đó làm giảm khả năng tiêu hóa (Lưu Trọng Hiếu, 1988)

Mỗi protozoa có thể thực bào 600 - 700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn

109/ml dịch dạ cỏ Ngoài ra, protozoa cũng không tổng hợp được vitamin mà sử dụngvitamin từ thức ăn hay do vi khuẩn tạo nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ

2.4.2 Tương tác giữa các vi sinh vật trong dạ cỏ

Vi khuẩn - vi khuẩn

Nhiều loài vi khuẩn tham gia phân giải chất xơ thành axít béo bay hơi, trong suốtquá trình này chúng tương hỗ nhau như mối “kết giao”: vi khuẩn này phát triển trên sảnphẩm trao đổi chất cuối cùng của vi khuẩn khác Tuy nhiên, giữa các nhóm vi khuẩnkhác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn Trong trường hợp gia súc ăn khẩuphần giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải xơ giảm, do đó

tỷ lệ tiêu hóa xơ thấp

Mặt khác, tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đường và xơ còn liênquan đến pH trong dạ cỏ Trong đó, quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ratrong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ lớn hơn 6,2; ngược lại phân giải

Trang 30

tinh bột có hiệu quả khi pH nhỏ hơn 6,0 Như vậy, tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩuphần sẽ làm cho axít béo bay hơi sản sinh nhanh, làm giảm đột ngột pH dịch dạ cỏ, do

đó ức chế hoạt động của vi khuẩn phân giải chất xơ

Vi khuẩn - protozoa

Trong điều kiện bình thường, giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh cólợi, đặc biệt là trong tiêu hóa chất xơ Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào có tácdụng lên men trong đó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với cácđiều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động

Tác động tiêu cực cũng xảy ra giữa protozoa và vi khuẩn Protozoa ăn và tiêu hóa

vi khuẩn, khi chết xác của chúng trôi nổi trong dịch dạ cỏ Vì vậy, protozoa làm giảmlượng vi khuẩn bám vào mẫu thức ăn (Hungate, 1966; Coleman, 1975) Protozoa còncạnh tranh thức ăn với vi khuẩn, nhất là thức ăn nhiều bột đường

Chính những tác động trên mà một vấn đề được đặt ra là có nên hay không loại bỏprotozoa khỏi dạ cỏ Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc loại bỏ protozoa đối với khả năngtiêu hóa thức ăn còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có hệ số tiêu hóa của thức ăn.Khẩu phần có hệ số tiêu hóa thức ăn cao (lớn hơn 60%) thì việc loại trừ protozoa làmgiảm sự tiêu hóa thức ăn (Veira, 1986) Với thức ăn khó tiêu hóa (các khẩu phần giàuxơ), loại bỏ protozoa trong dạ cỏ làm cho thức ăn sẽ tiêu hóa tốt hơn (Soetanto, 1986).Như vậy, việc loại trừ protozoa để giúp gia tăng lượng vi khuẩn phân giải chất xơ có ýnghĩa với các khu vực chăn nuôi mà khẩu phần chủ yếu là thức ăn giàu xơ như hầu hếtđàn bò ở Việt Nam sử dụng Có thể dùng các sản phẩm tự nhiên có sẳn ở nông thôn đểloại bỏ protozoa như lá cây điệp tai bèo (Dương Nguyên Khang và Bùi Xuân An,1994)

Như vậy, thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần của bò có ảnh hưởngrất lớn đến sự phát triển của khu hệ vi sinh vật dạ cỏ và mối tương tác giữa chúng

2.4.3 Vai trò tiêu hóa chất dinh dưỡng của hệ VSV dạ cỏ

Chất xơ (cellulose)

Trang 31

Chất xơ trong thức ăn chủ yếu là cỏ, rơm Cellulose và hemicellulose là thànhphần cấu tạo của tế bào thực vật, rất khó tiêu hóa do có sự liên kết giữa cellulose,hemicellulose và lignin Dưới tác động của protozoa, phá vỡ màng cellulose và để lộnhững thành phần bên trong của tế bào như tinh bột, đường, protein, tạo điều kiệncho vi khuẩn lên men hoạt động.

Theo Durand (1989), 80% cellulose và hemicellulose được phá vỡ bởi protozoa sẽđược vi khuẩn lên men tạo thành các axít béo bay hơi gồm axít acetic, propionic,butyric và một ít axít valeric Các axít béo này được chuyển hóa thành năng lượng cho

bò và tổng hợp nên mỡ cho cơ thể và sữa

Quá trình tiêu hóa chất xơ của vi khuẩn giảm khi pH giảm xuống 6,5 Trong cáckhẩu phần có nhiều carbohydrate dễ tiêu mà bổ sung thêm thức ăn tinh có thể gây nênviệc giảm đột ngột pH dạ cỏ do việc tăng nhanh nồng độ các axít béo bay hơi (Chenost

và Kayuli, 1997)

Chất bột đường

Chất bột đường trong thức ăn chủ yếu là tinh bột và đường đa Vi khuẩn vàprotozoa phân giải tinh bột thành polysaccharid, glycogen và amilopectin Nhữngđường đa này sẽ tiếp tục được lên men để tạo thành các axít béo bay hơi, trong đó sựlên men dần của amilopectin có ý nghĩa trong sự ngăn ngừa lên men quá mạnh, hìnhthành quá nhiều thể khí có thể gây chướng bụng, đầy hơi sau khi bò ăn nhiều thức ăntươi xanh non vào dạ cỏ

Khi khẩu phần ăn của bò sữa chứa quá nhiều chất bột đường (thức ăn tinh, củ quả,

rỉ mật đường) không những gây tốn kém mà còn gây hiện tượng trúng độc axít lactic vìlàm mất cân bằng giữa nhóm vi sinh vật phân giải chất xơ với nhóm phân giải chất bộtđường, tạo ra nhiều axít lactic làm giảm pH gây ức chế hoạt động của vi sinh vật phângiải chất xơ và gây ra các căn bệnh về chân, móng (Phùng Quốc Quảng, Nguyễn XuânTrạch, 2003)

Protein

Trang 32

Khi protein trong thức ăn vào dạ cỏ sẽ bị men protease của nhóm vi khuẩn,protozoa cắt các nối peptid của các đại phân tử thành các polypeptid, menpolypeptidase của hệ vi sinh vật tiếp tục cắt polypeptid thành axít amin và qua phảnứng khử amin tạo ra NH3, CO2 Vi khuẩn sẽ sử dụng nitrogen trong NH3 kết hợp với C,

H, O trong thức ăn tạo thành protein của vi khuẩn; protozoa ăn vi khuẩn và khiprotozoa chết sẽ tạo thành protein cho cơ thể bò sữa

Lipid

Lipid của thức ăn đi vào dạ cỏ cũng được thủy phân bởi vi sinh vật tạo thànhglycerin và axít béo Glycerin được vi sinh vật lên men tạo thành axít propionic Cácaxít béo chưa bão hòa được chuyển thành axít béo bão hòa bằng cách gắn thêm hydronhờ vi sinh vật Cường độ hình thành các axít béo bay hơi trong dạ cỏ rất nhanh vàmạnh, trung bình khoảng 4 lít/ ngày

Chất khoáng và vitamin

Hệ vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B như: B1, B2, B6,

B12, biotin, axít folic, axít nicotinic, axít pantothenic, đủ cho nhu cầu của bò

2.5 Một số phương thức cho ăn

2.5.1 Cho ăn riêng từng loại thực liệu

Hiện nay, hầu hết các nhà chăn nuôi ở nước ta đều áp dụng phương pháp này.Trong đó, thức ăn tinh thường được cho bò ăn trước hoặc sau vắt sữa bằng cách trộnchung với nước rồi đổ vào máng cho bò húp; sau đó mới cho ăn thức ăn thô Điều nàydẫn đến cung cấp chất dinh dưỡng không đồng nhất và cách sử dụng năng lượng nhưthế là không hiệu quả trong chăn nuôi

Theo Đinh Văn Cải và ctv (1995), khi cho bò sữa ăn nhiều thức ăn tinh (chất bộtđường) thì vi sinh vật phân giải bột đường nhận được nguồn thức ăn dồi dào nên pháttriển rất mạnh, nó dành nitơ của vi sinh vật phân giải chất xơ Mặt khác, các sản phẩmphân giải từ tinh bột làm cho pH dạ cỏ thấp (pH = 5) gây chứng axít hóa dạ cỏ, bất lợicho vi sinh vật phân giải chất xơ Vì vậy, chất xơ không được tiêu hóa tốt Ngoài ra,

Trang 33

còn làm tăng lượng axít lactic ngấm vào máu gây độc là một nguyên nhân gây ra bệnhđau móng, què chân ở bò sữa Theo Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch(2003), nếu cho ăn một lượng thức ăn tinh lớn trong mỗi lần ăn thì sẽ rất nguy hiểm, vìvậy cần cung cấp thức ăn tinh cho bò làm nhiều lần trong ngày để đảm bảo ổn định visinh vật dạ cỏ.

Khi cho bò sữa ăn khẩu phần nhiều thức ăn tinh, quá trình tiêu hóa làm sản sinhnhiều axít béo bay hơi trong dạ cỏ, pH dịch dạ cỏ giảm, bò nhai lại ít hơn, nước bọt tiết

ít hơn so với khẩu phần chứa nhiều thức ăn thô giàu xơ Nước bọt chứa chất đệm (muốibicacbonat) để trung hòa axít dạ cỏ Khi nước bọt tiết ít, axít sản sinh không được trunghòa, pH dạ cỏ giảm mạnh Ở mức pH thấp hơn 6, vi khuẩn phân giải xơ hoạt độngkém, dẫn đến giảm tỷ lệ tiêu hóa xơ của khẩu phần, từ đó lượng thức ăn tiêu thụ cũnggiảm và sản lượng sữa giảm theo, bò bị rối loạn tiêu hóa Trong trường hợp ăn quánhiều thức ăn tinh hoặc chuyển đột ngột từ thức ăn thô sang thức ăn tinh, bò sẽ bị axíthuyết, có thể dẫn đến chết (Vũ Duy Giảng, 2004)

2.5.2 Cho ăn theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR)

Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi bò sữa trên thế giới Ởnước ta, phương pháp này cũng đã bắt đầu được một số nhà chăn nuôi bò sữa ở CủChi, Lâm Đồng áp dụng

Định nghĩa

TMR là khẩu phần trong đó tất cả các thực liệu được trộn chung với nhau và phốihợp với một số dưỡng chất chuyên biệt để phòng ngừa sự tách rời và cho ăn tự do Mỗimiếng ăn vào, có sự đồng đều và cân bằng về dinh dưỡng, cho phép tiêu thụ các chấtdinh dưỡng có tỷ lệ cân bằng

Các ưu điểm của cách cho ăn TMR

Theo tài liệu của NRC (1989), khẩu phần TMR có một số ưu điểm sau:

- Bảo đảm tiêu thụ các loại thức ăn thô có phẩm chất khác nhau với tỷ lệ thức ăntinh cố định

Trang 34

- Cung cấp nguồn dưỡng chất nhiều hơn và ổn định hơn cho hệ sinh vật dạ cỏ,duy trì độ pH và môi trường trong dạ cỏ luôn ổn định.

- Giảm các nguy cơ gây xáo trộn tiêu hóa

- Bò cái đạt được và duy trì lượng vật chất khô ăn vào cao hơn và cải thiện sứcchuyển hóa thức ăn

- Cho phép sử dụng nhiều hơn các phụ phẩm và thực liệu không ngon miệng nhưNPN (non protein nitrogen),

- Gia tăng số lượng các bữa ăn nhỏ hàng ngày

- Thích hợp tốt với cơ khí hóa, giảm công lao động trong chăn nuôi bò sữa

- Kiểm soát, quản lý cách cho ăn, khẩu phần ăn thích hợp hơn

- Khi thức ăn thô bị giới hạn, khẩu phần TMR cho phép sử dụng khẩu phần thức

ăn có tỷ lệ thức ăn thô thấp hơn và có thể sử dụng một khối lượng chất xơ không từthức ăn thô

Theo Lior Yaron (2004), khi sử dụng khẩu phần thức ăn TMR giúp giảm lượngbụi của thức ăn tinh, người chăn nuôi có thể chủ động điều khiển chương trình ăn của

bò, giảm diện tích máng ăn

Trên báo Nông nghiệp Việt Nam số ra ngày 23/11/2004, theo tính toán của LêĐăng Đảnh, nếu người chăn nuôi không cung cấp đủ thức ăn thô có giá trị protein cầnthiết cho đàn bò, thì bù vào đó phải cho ăn từ 0,4 – 0,5 kg thức ăn tinh cho mỗi kg sữasản xuất, từ đây làm cho bò dễ bị xáo trộn về tiêu hóa, gây ra hiện tượng axít máu(acidosis) dẫn đến bò bị đau móng, khó thụ thai, lượng sữa không đạt được đỉnh caocủa chu kỳ sữa và đây là nguyên nhân làm cho mỗi bò sữa sẽ mất khoảng 250 - 500

kg sữa trong 1 chu kỳ sữa Do đó, người chăn nuôi cần cho bò ăn theo khẩu phần phốitrộn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR), nhất là trong giai đoạn đầu của chu kỳ sữa

2.6 Nhu cầu dinh dưỡng cho bò sữa

Nếu một bò sữa có sản lượng sữa trung bình 4.000kg/ chu kỳ thì trong một chu kỳ

nó tạo ra khoảng 480kg VCK (tính với hàm lượng vật chất khô của sữa là 12%) Khi

Trang 35

lượng thức ăn hàng ngày đã thỏa mãn các nhu cầu cho duy trì thì các chất dinh dưỡnghấp thu còn lại mới chuyển sang phục vụ các nhu cầu sản xuất như tiết sữa, tăng trọng,phát triển bào thai.

Đối với bò sữa, sự thiếu hụt năng lượng trong khẩu phần là một trong nhữngnguyên nhân chính làm giảm năng suất sữa Nhu cầu protein của bò sữa phụ thuộc vàonăng suất sữa là chính, ngoài ra còn phụ thuộc vào giai đoạn tiết sữa, thời gian mangthai và sự phát triển của cơ thể

Nhu cầu dinh dưỡng cho bò sữa theo tiêu chuẩn NRC, 1989 (National ResearchCouncil), được trình bày qua các bảng sau:

Bảng 2.2 Nhu cầu vật chất khô của bò sữa (tính theo % trọng lượng cơ thể)

Trọng lượng Năng suất sữa

Bảng 2.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì (theo trọng lượng cơ thể)

Bảng 2.4 Nhu cầu dinh dưỡng cho sản xuất 1 kg sữa với tỷ lệ mỡ sữa khác nhau

Trang 36

là trộn khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng gồm xơ, protein, béo, khoáng, vitamin,…nhằm đáp ứng nhu cầu của từng nhóm bò để khai thác được lượng sữa cao nhất vớichất lượng tốt nhất Hiện nay, các nước chăn nuôi bò sữa tiên tiến như: Mỹ, Canada,Nhật, Israel, Hàn Quốc… đều sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR)

để nuôi bò sữa

Với phương thức nuôi dưỡng theo TMR, năng suất sữa của đàn bò sữa HF tại cácnước trên đạt cao nhất thế giới, trung bình 30kg sữa/con/ngày, riêng tại Israel năng suấtsữa đạt 37kg sữa/con/ngày Hiện nay, hầu hết các nước phát triển cũng như đang pháttriển ngành chăn nuôi bò sữa đều cho triển khai phương thức chăn nuôi TMR Kết quả

Trang 37

thử nghiệm tại Trung Quốc, Thái Lan cho thấy phương thức nuôi áp dụng khẩu phầnTMR đã giúp năng suất sữa của đàn bò tăng thêm 30 – 50% so với phương thức cho ăn

cũ Thức ăn TMR giúp bò ăn vào đều có khối lượng dưỡng chất như nhau làm cho hệ

vi sinh vật dạ cỏ luôn ổn định, hệ vi sinh vật sẽ hoạt động hiệu quả dẫn đến quá trìnhtiêu hóa sẽ thuận lợi, cải thiện đáng kể về năng suất, chất lượng sữa Hiện nay, nhiềunước đã xây dựng các nhà máy chuyên sản xuất TMR cho bò sữa

Theo tài liệu của Hiệp hội bò HF Israel, nếu sử dụng phương thức cho ăn TMR cóthể giảm khoảng 30% chi phí thức ăn để sản xuất 1kg sữa, giá thành sản xuất 1 lít sữacũng giảm tới 20% Tuy nhiên, theo Nguyễn Quốc Đạt để sử dụng TMR hiệu quả cầnmột số yêu cầu như sau:

- Có nguồn nguyên liệu tương đối ổn dịnh, đồng bộ; chủ động tồn trữ nguồnnguyên liệu, giảm thiểu sự thay đổi thành phần nguyên liệu của khẩu phần; nếu thayđổi thường xuyên sẽ làm thay đổi khẩu vị, bò giảm ăn, giảm sản lượng sữa

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chuồng trại, đường đi nội bộ phù hợp để dễ vận chuyểnthức ăn, dễ chuyển ghép bò vào từng nhóm không gây stress làm giảm sản lượng sữa

- Đầu tư đồng bộ trang thiết bị chuyên dùng: máy trộn và hệ thống cân tự động, xebồn vận chuyển thức ăn hàng ngày

- Phân nhóm bò để có chế độ khẩu phần ăn thích hợp: nhóm đang vắt sữa, cạn sữa

và bò tơ; thường chia bò vắt sữa thành 2 nhóm: nhóm có sản lượng sữa/ngày cao hơnbình quân toàn đàn và sản lượng sữa thấp hơn bình quân toàn đàn Nếu không phânnhóm, khi sử dụng TMR những cá thể ở cuối chu kỳ cho sữa, sắp cạn sữa có khuynhhướng quá mập, dễ gặp khó khăn khi sinh sản, giảm sản lượng sữa ở chu kỳ kế tiếp

- Quy mô đàn trên 500 bò vắt sữa sử dụng TMR mới hiệu quả; ngược lại quy môdưới 50 con có thể sử dụng phương thức mua TMR từ các trung tâm sản xuất thức ăn

- Lao động phải có trình độ kỹ thuật, quản lý như: sử dụng vi tính, thiết bị chuyêndùng để có thể tính toán khẩu phần, kiểm soát, phát hiện và điều chỉnh kịp thời nhữngsai sót trong khẩu phần trộn; biết ghi chép theo dõi đánh giá kết quả chăn nuôi

Trang 38

Nói chung, tổ chức chăn nuôi tập trung thâm canh, theo quy trình quản lý chặtchẽ, chuyên nghiệp, đồng bộ thì sử dụng TMR sẽ đạt hiệu quả cao Trong khi đó, gần80% số hộ chăn nuôi bò sữa trên địa bàn TP.HCM có qui mô đàn dưới 10 con Do vậy,

còn hạn chế nhiều khi triển khai TMR

tại Việt Nam

Hình 2.2 Thu gom thực liệu và phân phối thức ăn TMR

(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)

2.7.2 Tại Việt Nam

Hiện nay, bò sữa được nuôi chủ yếu tại nông hộ nhỏ lẻ, nguồn nguyên liệu thức

ăn gia súc không ổn định, quy mô đàn chưa cao, kỹ thuật của người nuôi còn hạn chế,chi phí đầu tư công nghệ, trang thiết bị cao,… nên việc sử dụng khẩu phần TMR chưađược người chăn nuôi nhỏ quan tâm Tuy nhiên, các trại chăn nuôi lớn như ở TuyênQuang, Nghệ An, của Vinamilk đã sử dụng TMR mang lại hiệu quả kinh tế cao

Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa cao sản, một số cơ sở chăn nuôi đãbắt đầu sử dụng thức ăn hỗn hợp từng phần PMR (Partial mixed ration) Đây là loạithức ăn được trộn riêng theo từng nhóm nguyên liệu:

- Nhóm nguyên liệu thô xơ như rơm, cỏ đã được băm nhỏ

- Nhóm nguyên liệu bột

Trang 39

- Nhóm phụ phế phẩm công nghiệp như hèm bia, bã đậu nành, bã khoai mì.

Sau đó, các nhóm được trộn chung với nhau trước khi cho bò ăn Tuy PMR khônghoàn hảo như TMR nhưng chất lượng dinh dưỡng có thể tương đương, nhất là phù hợpvới điều kiện thực tế chăn nuôi bò sữa của các nông hộ (nguồn nguyên liệu, thiết bịcông nghệ trộn, cơ sở chuồng trại, tồn trữ thức ăn, trình độ chăn nuôi và lao động,…).Một mô hình liên kết giữa xí nghiệp thức ăn gia súc An Phú (Tổng Công ty Nôngnghiệp Sài Gòn) và một số hộ chăn nuôi bò sữa (xã Tân Thạnh Đông, Củ Chi) để sảnxuất và sử dụng PMR đang được thử nghiệm tại TPHCM, trong đó nhà máy sản xuấthỗn hợp các nguyên liệu bột đầy đủ dinh dưỡng; các hộ chăn nuôi tự xử lý thức ăn thôxanh rơm cỏ, hèm bia,… và trộn chung vào phần hỗn hợp của nhà máy theo qui trìnhhướng dẫn của các nhà khoa học (Trung tâm Quản lý và Kiểm định giống cây trồng vậtnuôi và trường ĐHNL) trước khi cho bò ăn trong ngày

Kết quả bước đầu sản lượng sữa tăng 8 - 15%; tỷ lệ chất khô, béo đều ổn định, đạttiêu chuẩn thu mua của nhà máy chế biến sữa; thể trạng bò khỏe mạnh, lông da bóngmượt trong khi giá thành sản xuất giảm 5 - 10%, tăng lợi nhuận chăn nuôi Theo kếtquả thử nghiệm khẩu phần thức ăn TMR tại trại bò sữa An Phước, Long Thành – ĐồngNai của Lê Đăng Đảnh và Lê Thị Thu Hà (2006) cho thấy năng suất sữa tăng so vớikhông sử dụng là 1,94 kg/con/ngày, tiết kiệm 14,52% chi phí thức ăn để sản xuất 1kgsữa Đây là kết quả đáng khích lệ làm cơ sở để các nhà đầu tư, các hộ chăn nuôi liênkết hợp tác đầu tư, tiến tới sản xuất TMR phục vụ cho đàn bò sữa

Trang 40

(Nguồn: Nguyễn Thị Liễu Kiều, 2007)

2.8 Một số bệnh thường gặp trên bò sữa

2.8.1 Chướng hơi dạ cỏ

Bệnh xảy ra do bò sữa ăn quá nhiều cỏ non, đặc biệt là vào đầu mùa mưa; tỷ lệthức ăn tinh trong khẩu phần cao hoặc do thay đổi thức ăn đột ngột, làm rối loạn hệ visinh vật dạ cỏ và gây ra các phản ứng lên men sinh hơi quá mức, con vật không thể ợhơi để thoát hơi ra ngoài kịp dẫn đến chướng hơi cấp Sự tăng quá mức về thể tích dạ

cỏ khi chướng hơi làm chèn ép hệ thống tuần hoàn, hô hấp làm bò chết rất nhanh.Ngoài ra, cũng có thể do kế phát của những căn bệnh gây sốt cao và làm giảm, liệt nhuđộng dạ cỏ, bò không thể ợ hơi được dẫn đến hơi sinh ra tích tụ lại gây chướng hơi

2.8.2 Viêm vú tiềm ẩn (viêm vú cận lâm sàng)

Là sự nhiễm trùng không lộ rõ của bầu vú, không có triệu chứng đặc trưng nên

người chăn nuôi không thể phát hiện được Staphylococcus aureus được biết là nguyên

nhân chiếm 50% số trường hợp viêm vú tiềm ẩn (Quinn và ctv, 1994)

Thể bệnh này là giai đoạn đầu của viêm vú lâm sàng, làm giảm sản lượng sữacũng như chất lượng sữa (Gianneechini và ctv, 2001) Một số người chưa ý thức đầy đủ

về sự lưu hành cũng như tầm quan trọng về mặt kinh tế của viêm vú tiềm ẩn, bởi vì sữagần như ở trạng thái bình thường, thể bệnh này rất quan trọng bởi các lý do sau:

- Sự lưu hành tỷ lệ bệnh cao gấp 15 – 40 lần so với thể lâm sàng

- Luôn là nguy cơ của thể lâm sàng

- Bệnh kéo dài, khó phát hiện

- Giảm sản lượng sữa

- Có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng sữa

Hình 2.3 Phối trộn thức ăn TMR

Ngày đăng: 21/12/2017, 10:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w