TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN TRÊN THÚ ĂN THỊT TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN, HIỆU QUẢ TẨY TRỪ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC VÀ THỜI GIAN TÁI NHIỄM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN PHẠM MINH PHƯƠNG
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN TRÊN THÚ ĂN THỊT TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN, HIỆU QUẢ TẨY TRỪ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC VÀ THỜI GIAN TÁI NHIỄM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN PHẠM MINH PHƯƠNG
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN TRÊN THÚ ĂN THỊT TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN, HIỆU QUẢ TẨY TRỪ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC VÀ THỜI GIAN TÁI NHIỄM
Trang 3TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN TRÊN THÚ ĂN THỊT TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN, HIỆU QUẢ TẨY TRỪ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC
VÀ THỜI GIAN TÁI NHIỄM
NGUYỄN PHẠM MINH PHƯƠNG
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch : TS NGUYỄN VĂN KHANH
Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM
2 Thư ký : PGS.TS NGUYỄN NGỌC TUÂN
Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM
3 Phản biện 1 : TS NGUYỄN HỮU HƯNG
Trường Đại học Cần Thơ
4 Phản biện 2 : PGS.TS TRẦN THỊ HỒNG
Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch Tp HCM
5 Ủy viên : TS LÊ HỮU KHƯƠNG
Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Phạm Minh Phương
Trang 6Chân thành cảm ơn !
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Phòng Đào Tạo Sau Đại Học
Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Ban Giám đốc Thảo Cầm Viên Sài Gòn, ban chỉ huy Đội Động vật, lãnh đạo Phòng Giáo dục bảo tồn và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình hỗ trợ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Chân thành cảm ơn sinh viên Hà Thị Dung, BSTY Trần Thị Thanh Hằng cùng các anh chị em tổ thú dữ tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã hỗ trợ, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài: “ Tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên, hiệu quả tẩy trừ của một số loại thuốc và thời gian tái nhiễm” được thực hiện từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009 tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi và lắng gạn của 65 thú thuộc 5
họ: họ chó (Canidae), họ gấu (Ursidae), họ chồn (Musteslidae), họ cầy (Viverridae)
Hiệu quả tẩy sạch trứng của Albendazol-Stada với liều 8 mg/kg thể trọng đối với giun móc và giun đũa trên cọp, sư tử, gấu chó và gấu ngựa đạt 100% Ở nhóm
thú này, thời gian tìm thấy trứng Ancylostoma sp xuất hiện trong phân cọp là sau 3 tuần và trên sư tử, gấu sau 8 tuần Trứng của Toxocara cati cũng thấy ở phân cọp sau 3 tuần và sư tử sau 9 tuần Thời gian tái nhiễm Toxascaris leonina trên cọp là
sau 11 tuần và sư tử là 9 tuần
Biaverm với liều 1 viên/5 kg cho mèo rừng, mèo gấm, báo lửa, mèo cá và
báo gấm có hiệu quả tẩy sạch 100% đối với Ancylostoma, Toxocara, Spirometra mansoni và Echinochasmus perfoliatus trên báo lửa, báo gấm, mèo cá Trên mèo rừng, thuốc không tẩy được Spirometra mansoni; còn mèo gấm, hiệu quả của thuốc đối với Ancylostoma sp và Spirometra mansoni là 100% nhưng không tẩy được Toxocara cati Sau 2 tuần được tẩy bằng biaverm, trứng Ancylostoma sp được tìm thấy trong phân của báo lửa và trứng Toxocara cati trong phân báo gấm Trứng của
Trang 8Ancylostoma sp., Toxocara cati, Toxascaris leonina và Spirometra mansoni cũng
được tìm thấy ở phân cọp, báo lửa, báo gấm sau 3 tuần Thời gian tái nhiễm của
Echinochasmus perfoliatus trên báo lửa là sau 12 tuần và trên mèo gấm là sau 16
Trang 9SUMMARY
The survey “The situation of helminth infestation on captive wild carnivores
at Saigon Zoo Botanical Gardens, the efficacy of some anthelmintics and the parasitic reinfective time” was carried out from April 2009 to December 2009
Feces of 65 animals belonging to 5 families (Canidae, Ursidae, Mustelidae, Viverridae and Felidae) were examined by sedimentation method and floatation method for detection of intestinal helminths
Of 65 animals examined, 42 animals (64.62%) were infected with 6 helminth species (3 nematode species, 2 cestode species and 1 trematode species) and the rate
of infection of each species was as follows: Ancylostoma sp 60%, Toxocara cati 13.8%, Toxascaris leonina 12.3%, Spirometra mansoni 23.08%, Taenia sp 1.54% and Echinochasmus perfoliatus 4.62%
All fecal samples of Asian wild dogs, Malayan sun bears, Yellow throated
martens, Binturongs, Large Indian civets, Leopard cats, Marbled cats, Golden cats, Clouded leopards, Lions and Indochinese tiger were infected with worm eggs
(100%) while the rate of infection of Palm civet, Malayan sun bears and Fishing cat
was 40%, 33.33% and 33.33%, respectively
Albendazol-Stada at the rate of 8 mg per kg of body weight was found to be
100% effective in eliminating Ancylostoma eggs and Toxocara eggs in Indochinese
tigers, lion, Malayan sun bears and Asiatic black bears In this animal group, the
reoccurrence of fecal eggs of Ancylostoma sp was 3 weeks post-treatment in tigers and 8 weeks post-treatment in bears The eggs of Toxocara cati were also found in
tiger feces by 3 weeks post-treatment and in lion feces by 9 weeks post-treatment
The re-infestation of Toxascaris leonina in Indochinese tiger was 11 weeks
post-treatment and in lion was 9 weeks post-post-treatment
Biaverm at dosage 1 tablet per 5 kg of body weight was 100 percent effective
against Ancylostoma, Toxocara and Spirometra mansoni in Leopard cat, Marbled
cat, Golden cat, Clouded leopard and Fishing cat and 100 percent effective against
Trang 10Echinochasmus perfoliatus in Golden cats, Clouded leopards, and Fishing cats Biaverm was not effective in the treating Spirometra mansoni found in Leopard cats However, It was 100 percent effective in treating Ancylostoma sp and Spirometra mansoni found in Mabled cats but it had no efficacy on Toxocara cati
By two weeks post-treament with Biaverm, the eggs of Ancylostoma sp in Golden cats feces and the eggs of Toxocara cati in Clouded leopard feces were found The eggs of Ancylostoma sp., Toxocara cati, Toxascaris leonina and Spirometra mansoni were also detected in feces of Indochinese tigers, Golden cats and Clouded leopards three weeks post treatment The re-infestation of Echinochasmus perfoliatus in Golden cats was 12 weeks post-treatment and in Mable cats was 16
weeks post-treatment
Dectomax at the rate 0.3 mg per kg of body weight was 100 percent efficacy
against Ancylostoma and Toxocara in Asian wild dogs, Binturongs, Palm civet,
Large Indian civet, and Yellow throated marten For the animal group treated with
doramectin, the reoccurrence of Ancylostoma sp eggs was 12 weeks post-treatment while Toxocara cati eggs were found by 6 weeks post-treatment in Yellow throated
marten feces
Trang 112.1 Giới thiệu sơ lược về Thảo Cầm Viên Sài Gòn 3
2.2 Giới thiệu sơ lược về bộ ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn 3
2.3 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn 6
2.4 Tình hình chăn nuôi thú y tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn 8
2.5 Tình hình nghiên cứu giun sán trên thú ăn thịt trong và ngoài nước 11
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.5.1.2 Các nghiên cứu trên thú hoang dã ăn thịt 12
2.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 13
2.5.2.2 Các nghiên cứu trên thú hoang dã ăn thịt 14
2.6 Giới thiệu một số loài giun sán ký sinh trên thú ăn thịt 17
Trang 122.6.2 Các loài sán dây (lớp Cestoda) 20
2.6.4 Tác hại của giun sán trên vật chủ 29
2.7 Sơ lược một số loại thuốc trị ký sinh trùng được thử nghiệm trong đề tài 30
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Thời gian và địa điểm 37
3.2 Vật liệu nghiên cứu 37
3.2.1 Dụng cụ 37 3.2.2 Hóa chất 37
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt 45
4.1.1 Tỉ lệ nhiễm giun sán chung trên thú ăn thịt 45
4.1.3 Tỉ lệ nhiễm theo lớp giun sán trên thú ăn thịt 53
4.1.4 Tỉ lệ nhiễm các loài giun tròn trên thú ăn thịt 56
4.1.5 Tỉ lệ nhiễm các loài sán dây, sán lá trên thú ăn thịt 60
4.2 Hiệu quả tẩy trừ của thuốc 64
Trang 134.2.3 Hiệu quả tẩy trừ của Dectomax 66
4.3 Tình hình tái nhiễm giun sán trên thú ăn thịt 67
4.3.1 Tình hình tái nhiễm Ancylostoma sp trên thú ăn thịt 67
4.3.2 Tình hình tái nhiễm Toxocara cati trên thú ăn thịt 71
4.3.3 Tình hình tái nhiễm Toxascaris leonina trên thú ăn thịt 74
4.3.4 Tình hình tái nhiễm Spirometra mansoni trên thú ăn thịt 77
4.3.5 Tình hình tái nhiễm Echinochasmus perfoliatus trên thú ăn thịt 77
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82 5.2 Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng động vật thuộc bộ ăn thịt tại Thảo Cầm Viên 5
Bảng 2.2 Tóm tắt các loại thức ăn của thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên 6
Bảng 2.3 Một số bệnh thường gặp trên thú tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Bảng 4.4 Tỉ lệ nhiễm các loài giun tròn trên thú ăn thịt 58
Bảng 4.5 Tỉ lệ nhiễm các loài sán dây, sán lá trên thú ăn thịt 62
Bảng 4.6 Hiệu quả tẩy giun tròn của Albendazol-Stada 64
Bảng 4.7 Hiệu quả tẩy giun sán của Biaverm 65
Bảng 4.8 Hiệu quả tẩy giun sán của Dectomax 66
Bảng 4.9a Tình hình tái nhiễm Ancylostoma sp trên thú ăn thịt 69
Bảng 4.9b Tình hình tái nhiễm Ancylostoma sp trên thú ăn thịt 70
Bảng 4.10a Tình hình tái nhiễm Toxocara cati trên thú ăn thịt 72
Bảng 4.10b Tình hình tái nhiễm Toxocara cati trên thú ăn thịt 73
Bảng 4.11a Tình hình tái nhiễm Toxascaris leonina trên thú ăn thịt 75
Bảng 4.11b Tình hình tái nhiễm Toxascaris leonina trên thú ăn thịt 76
Bảng 4.12a Tình hình tái nhiễm Taenia sp., Spirometra mansoni và
Echinochasmus perfoliatus 78
Bảng 4.12b Tình hình tái nhiễm Taenia sp., Spirometra mansoni và
Echinochasmus perfoliatus 79
Trang 15DANH SÁCH HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 2.1 Trứng của Clonorchis sinensis 19
Hình 2.2 Vòng đời của Clonorchis sinensis 19
Hình 2.3 Trứng của Dipylidium caninum 21
Hình 2.4 Vòng đời của Dipylidium caninum 21
Hình 2.5 Trứng của Spirometra mansoni 22
Hình 2.6 Vòng đời của Spirometra mansoni 23
Hình 2.7 Trứng của Taenia taeniaeformis 24
Hình 2.8 Vòng đời của Taenia taeniaeformis 24
Hình 2.10 Vòng đời của Ancylostoma sp 26
Hình 2.11 Trứng của Toxascaris leonina 27
Hình 2.12 Vòng đời của Toxascaris leonina 28
Hình 2.13 Trứng của Toxocara mystax 28
Hình 2.14 Vòng đời của Toxocara mystax 29
Hình 3.1 Trọng lượng của 3 miếng thịt được nhét thuốc 42
Hình 3.2 Cách nhét thuốc vào miếng thịt để cho thú ăn 43
Hình 3.3 Dụng cụ gồm ống chích và kim tiêm 43
Hình 3.4 Cách bơm thuốc và bơm hơi vào ống chích 44
Hình 3.5 Cách cấp thuốc qua đường tiêm 44
Hình 4.2 Trứng của Toxocara cati 49
Hình 4.3 Trứng của Toxascaris leonina 49
Hình 4.4 Trứng của Taenia sp 49
Hình 4.5 Trứng của Spirometra mansoni 49
Hình 4.6 Trứng của Echinochasmus perfoliatus 50
Trang 16DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ nhiễm giun sán chung của các họ thuộc bộ thú ăn thịt 46
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ nhiễm theo lớp giun sán trên thú ăn thịt 55
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ nhiễm các loài giun tròn theo họ trên thú ăn thịt 57
Biểu đồ 4.4 Tỉ lệ nhiễm các loài sán dây, sán lá theo họ trên thú ăn thịt 61
Trang 17là bệnh xảy ra khá phổ biến trên các loài động vật, chiếm tỉ lệ cao trên thú ăn thịt (như báo lửa, báo gấm, mèo rừng, mèo gấm, …) và có thể gây ra những tác hại nặng ảnh hưởng đến sức khỏe của thú Điều kiện lây lan chính là các loài thú này sống trong môi trường nuôi nhốt làm cho chúng dễ tiếp xúc với các loài giun sán qua đường tiêu hóa, da và các ký chủ tích trữ
Nhiều tác giả đã khảo sát tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên như: Vũ Thị Liên (2007) ghi nhận tỉ lệ nhiễm giun sán trên thú ăn thịt là 49,28% và tỉ lệ nhiễm trên nhóm thú họ mèo 70 – 100%; Phạm Anh Dũng (2008) cho biết tỉ lệ nhiễm giun sán trên báo lửa là 100% ; Hà Thị Dung (2009) cũng có nhận xét về tỉ lệ nhiễm giun sán trên thú họ mèo là 80% Tại vườn thú Thủ Lệ - Hà Nội, Phạm Sỹ Lăng (1990) cũng cho biết tỉ lệ nhiễm giun tròn trên thú ăn thịt rất cao từ 50 – 100%
Việc phòng trừ giun sán trên thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn vẫn được phòng trừ thường xuyên nhưng tình hình nhiễm giun sán ở động vật ăn thịt vẫn gia tăng Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc trên thú hoang dã vẫn chưa được điều tra, đánh giá đúng mức, chủ yếu dựa trên liều dùng điều trị cho chó, mèo, gia súc và thiếu những thông tin về hiệu quả tẩy trừ trên thú hoang dã Do đó việc thử nghiệm
Trang 18để đạt hiệu quả cao, đảm bảo được sức khỏe của thú và tiết kiệm được chi phí và thời gian chăm sóc và nuôi dưỡng thú cũng là yêu cầu cấp bách đối với công tác thú
y tại vườn thú
Từ những yêu cầu thực tế trên thúc đẩy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi -Thú Y, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh và dưới sự đồng ý hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của TS Lê Hữu Khương và TS Võ Đình Sơn, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn, hiệu quả tẩy trừ của một số loại thuốc và thời gian tái nhiễm”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
Khảo sát tình hình nhiễm giun sán, hiệu quả tẩy trừ của một số thuốc và thời gian tái nhiễm trên thú ăn thịt để có cơ sở khuyến cáo xây dựng nên quy trình phòng bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe và sự phát triển tốt nhất cho thú ăn thịt được nuôi tại Thảo Cầm Viên
1.2.2 Yêu cầu
- Khảo sát tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt
- Đánh giá hiệu quả tẩy trừ của một số thuốc
- Ghi nhận thời gian tái nhiễm một số loài giun sán thường gặp
- Đề xuất qui trình tẩy trừ giun sán trên thú ăn thịt
Trang 19Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu sơ lược về Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Thảo Cầm Viên Sài Gòn được thành lập vào năm 1864 và vị giám đốc đầu tiên là ông Louis Pierre (1833 – 1905) người Pháp Vườn thú nằm đối diện với Dinh Thống Nhất cách khoảng 2 km Với diện tích rộng 17 ha, đây là công viên lớn nhất
ở trung tâm thành phố, trưng bày bộ sưu tập động vật và thực vật có chọn lọc ở trong nướcvà khu vực trong đó có nhiều loài quý hiếm Ngày nay, Thảo Cầm Viên
là một trong những vườn động, thực vật cổ nhất trong khu vực Đông Nam Á
Trải qua gần 145 năm hình thành và phát triển, đến nay bộ sưu tập thực vật của Thảo Cầm Viên có 2.100 cây thân gỗ thuộc 360 loài, thực vật có gần 989 loài, trong đó có 107 loài thuộc lớp thực vật hai lá mầm, 35 loài thuộc lớp thực vật một
lá mầm và thảm cỏ xanh Bộ sưu tập động vật có hơn 850 cá thể thuộc 117 loài, trong đó có 52 loài thú, 48 loài chim, 17 loài bò sát Chính vì sự đa dạng các loài động thực vật, lại ở ngay trong lòng thành phố, Thảo Cầm Viên Sài Gòn không những là nơi nuôi dưỡng, nghiên cứu và bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm
mà còn là nơi vui chơi giải trí của người dân thành phố và của du khách trong và ngoài nước, là một trường học sinh động giúp học sinh và mọi người tìm hiểu về thế giới thiên nhiên kỳ thú
2.2 Giới thiệu sơ lược về bộ ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Ở Việt Nam, bộ ăn thịt hiện có khoảng 39 loài thuộc 24 giống trong 5 họ, trong đó có 22 loài được xếp vào diện quí hiếm, đặc hữu Hiện nay, bộ ăn thịt
(Carnivora) tại Thảo Cầm Viên có 18 loài thuộc 5 họ bao gồm họ Cầy (Viverridae),
họ Chó (Canidae), họ Chồn (Mustelidae), họ Gấu (Ursidae) và họ Mèo (Felidae)
Họ Cầy bao gồm những thú cỡ nhỏ hay trung bình, thân dài mảnh, chân
Trang 20nửa bàn Tuyến hậu môn phát triển, có tuyến xạ ở giữa hậu môn và cơ quan sinh dục tiết ra một chất thơm dùng làm xạ hương Họ cầy bao gồm 75 loài trong 36 giống, phân bố chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới Châu Á và Châu Phi, 2 loài phân bố ở Nam Tây Âu
Họ Chó là những thú ăn thịt nguyên thủy nhất, có kích cỡ trung bình, thích nghi với việc săn mồi bằng cách đuổi bắt (chạy nhanh và dai sức), chân cao, đi bằng ngón chân, vuốt không co lên được nên dễ bị cùn, đuôi dài gần bằng than, răng thịt phát triển, chủ yếu ăn thịt Họ chó bao gồm khoảng 35 – 37 loài thuộc 14 giống phân bố trên các châu lục trừ Châu Úc
Họ Chồn gồm những thú ăn thịt cỡ nhỏ hoặc trung bình, chân ngắn, có 4 hoặc 5 ngón, có móng co lên được ít nhiều Đi bằng ngón chân hoặc nửa bàn chân
Có túi hậu môn tiết ra chất hôi khá phát triển Họ chồn gồm khoảng 65 – 70 loài xếp trong 24 – 29 giống phổ biến ở các châu lục trừ Châu Úc sống nhiều trên các môi trường: trên cạn, sông, hồ, biển, …
Họ Gấu bao gồm những thú ăn thịt lớn, đuôi rất ngắn, đi bằng chân, ngón chân có vuốt khỏe song không co lên được Dáng đi nặng nề nhưng leo trèo rất giỏi
Ăn tạp Họ gấu gồm 7 loài trong 6 giống, phổ biến ở Châu Âu, Châu Á, Bắc Mỹ và Bắc Phi, chỉ có một loài sống ở Nam Mỹ Ở Việt Nam có 2 loài gấu: gấu ngựa
(Ursus thibetanus) và gấu chó (Ursus malayanus)
Họ Mèo bao gồm những thú ăn thịt có kích thước trung bình hoặc lớn, có cấu tạo chuyên hóa, thích nghi nhất với lối săn mồi bằng cách rình và vồ: chân dài, đi bằng ngón chân có vuốt sắc co được Đầu tròn, mặt ngắn, nên hàm ngắn và rất khỏe Răng nanh và răng thịt rất phát triển Họ mèo gồm 36 loài trong 4 giống, phân
bố trên các lục địa trừ Châu Úc và Mã Đảo
Tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn, theo thống kê tính đến tháng 05 năm 2009, trong bộ ăn thịt có 18 loài thuộc 5 họ (theo bảng 2.1)
Trang 21Bảng 2.1 Số lượng động vật thuộc bộ ăn thịt tại Thảo Cầm Viên
Giới tính Stt Tên thông thường Tên khoa học Số
cá thể
Đực Cái Không
rõ
I Họ Mèo Family Felidae
8 Cọp Đông Dương Panthera tigris corbetti 4 2 2 -
II Họ Chó Family Canidae
III Họ Cầy Family Viverridae
11 Cầy vòi hương Paradoxurus
hermaphrodites
10 1 2 7
IV Họ Chồn Family Mustelidae
V Họ Gấu Family Ursidae
Trang 222.3 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn 2.3.1 Thức ăn, nước uống
Tại Thảo Cầm Viên, thú ăn thịt được cho ăn chủ yếu là thịt bò sống, thỉnh thoảng có thể thay đổi bằng thịt heo sống Thịt heo thì không tốt cho sức khỏe của thú ăn thịt vì chứa quá nhiều mỡ Thú ăn thịt heo có xu hướng béo phì và giảm khả năng vận động, sinh sản, do vậy thú hoang dã ít khi được cho ăn thịt heo (Phan Việt Lâm, 2010) Ngoài ra, thú còn được cho ăn thêm xương heo, xương bò vì xương có tác dụng tốt cho răng, lợi và tạo được cách cho ăn phù hợp với tập tính thiên nhiên của thú Giờ cho ăn được quy định phù hợp với tập tính của từng loài Thú được cho
ăn mỗi ngày 2 lần: buổi sáng lúc 9 giờ và buổi chiều lúc 15 giờ Riêng đối với thú
họ mèo được cho ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều lúc 15 giờ Trong một tuần, thú được cho ăn thịt trong 5 ngày, nhịn đói 1 ngày để kích thích sự thèm ăn và ngày hôm sau cho ăn thú sống (thỏ, gà, vịt, chuột bạch, cút…) để duy trì khả năng săn mồi của thú
Bảng 2.2 Tóm tắt các loại thức ăn của thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên
Động vật Thức ăn
Họ mèo Họ chó Họ gấu Họ cầy Họ chồn
Trang 23Nguồn thực phẩm sống cung cấp cho thú được đặt mua tại công ty Vissan, điều này cho thấy nguồn thực phẩm này có thể đảm bảo không bị nhiễm ký sinh trùng Đối với thú sống được đặt mua của tư nhân thì đây có thể là nguồn dễ lây lan
ký sinh trùng cho thú ăn thịt khi chúng ăn nguyên con mồi sống Những con mồi này có thể là ký chủ trung gian hay ký chủ tích trữ của một số loài giun sán và có khả năng truyền lây cho thú Việc vận chuyển, bảo quản, chế biến thực phẩm, công nhân chế biến và khu chế biến thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, sát trùng sau mỗi buổi làm việc để hạn chế việc lây lan nguồn bệnh ký sinh trùng Khâu chế biến thực phẩm và nguồn cung cấp thức ăn cho thú tại vườn thú rất quan trọng vì đây có thể là nguồn dễ lây lan mầm bệnh cho thú nếu không được kiểm soát chặt chẽ
Thức ăn chỉ cung cấp được 25% nhu cầu nước của cơ thể nên cần phải cung cấp nước thường xuyên và đủ cho thú Cho nên thú còn được cung cấp nước sạch thường xuyên và được cho uống tự do tại các máng nước được đặt trong chuồng Các máng nước được vệ sinh và thay nước mới hằng ngày
2.3.2 Quản lý chăm sóc
Trong điều kiện nuôi nhốt, công tác quản lý và kiểm dịch động vật tại vườn thú được thực hiện đúng qui trình Theo dõi hồ sơ quản lý động vật bao gồm những thông tin các lần tiêm chủng, bệnh tật, các chi tiết về phẫu thuật, gây mê, các vấn đề
ký sinh trùng, các loại thuốc đã dùng … để có thể loại trừ những thú bệnh Tiến hành cách ly động vật mới nhập trong thời gian 30 ngày Công việc này được bắt đầu từ giai đoạn kiểm dịch và tiếp tục trong suốt thời gian thú sống tại vườn thú và trong trường hợp thú chết thì biên bản khám tử cũng đưa vào hồ sơ bệnh án Sử dụng hố sát trùng ở lối ra vào khu kiểm dịch để tránh lây nhiễm mầm bệnh cho thú mới nhập, tránh lây nhiễm mầm bệnh ra ngoài, cho người nuôi và cho động vật
Tại vườn thú, vấn đề nhập thú mới và thực hiện chế độ kiểm dịch rất quan trọng Nếu không đây có thể là nguồn dễ lây lan mầm bệnh cho những loài thú khác, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng Vì vậy vấn đề này cần được chú trọng để hạn chế tỉ lệ nhiễm giun sán trên thú và hạn chế được số lượng các loài giun sán nhiễm
Trang 24trên thú do thú nhập thường đến từ nhiều vùng khác nhau nên tình hình nhiễm giun sán cũng khác nhau
Điều kiện chuồng nuôi thú ăn thịt tại vườn thú vừa là nền xi măng vừa là nền đất, có trồng cỏ nên thú ăn thịt có thể nhiễm các trứng giun sán Khó khăn hiện nay
là việc tiêu diệt trứng và ấu trùng trong chuồng nuôi Thời hạn kiểm dịch 30 ngày
là đủ để phát hiện thời kỳ nung bệnh của hầu hết các bệnh truyền nhiễm và đủ thời gian để kiểm tra ký sinh trùng nhiều lần và có biện pháp phòng trừ kịp thời cho thú Đối với động vật bắt được từ rừng có thể phải thực hiện thời gian kiểm dịch lâu hơn
để điều trị ký sinh trùng
Hàng ngày người công nhân phải quan sát và theo dõi biểu hiện bên ngoài,
sự hoạt động, ăn uống và các chất thải của con vật trong chuồng và làm vệ sinh chuồng trại, quét dọn phân, rác 2 lần/ngày Định kỳ sát trùng chuồng trại hàng tuần bằng thuốc sát trùng Virkon S hoặc Lenka Khi có trường hợp bất thường xảy ra thì người chăn nuôi phải báo ngay với tổ thú y để kịp thời xử lý và có hướng điều trị thú thích hợp
2.4 Tình hình chăn nuôi thú y tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
2.4.1 Tình hình chăn nuôi
Theo thống kê tại Thảo Cầm Viên tính đến tháng 01 năm 2009, tổng số thú
đang được nuôi dưỡng là 857 cá thể thuộc 117 loài gồm 3 lớp: lớp thú (Mammalia), lớp chim (Aves) và lớp bò sát (Reptilia)
Lớp chim: Thảo Cầm Viên là nơi có số lượng lớn các loài chim quí hiếm
như: sếu đầu đỏ, trĩ sao, cao cát, hồng hoàng, với tổng số lượng 335 cá thể
Lớp bò sát: gồm các loài như rùa, ba ba, cá sấu, trăn, kỳ nhông, kỳ đà,
với tổng số 182 cá thể
Trang 25Chuồng nuôi thú ăn thịt có 2 phần: chuồng ép và sân chơi, giữa hai phần có vách ngăn và cửa kéo để có thể tách thú ra hai nơi khác nhau khi vệ sinh chuồng hằng ngày Chuồng được bọc bằng lưới B40 chắc chắn, kể cả nóc chuồng đặc biệt là các chuồng dành cho thú họ mèo vì đa số chúng đều có khả năng leo trèo và nhảy khá cao Nền chuồng của thú vừa là nền xi măng vừa là nền đất, có trồng cây cỏ trong chuồng hay đặt khúc gỗ, phiến đá để thú ẩn nấp, mài móng vuốt hoặc nằm phơi nắng Có một số đồ chơi như xích đu (gấu), dàn cây leo và những hốc cây, bọng cây để thú có thể vận động và nghỉ ngơi (thú họ mèo) hoặc xây dựng những hang nhỏ cho thú trú ẩn (rái cá, sói xám) hoặc bố trí sạp nằm bằng gỗ (thú họ mèo) Phía ngoài chuồng có hệ thống ròng rọc để đóng, mở cửa an toàn và thuận lợi Bên cạnh đó còn có những hồ nước cho những thú có tập tính thích ngâm mình dưới nước (rái cá, cọp, …) và nước hồ tắm 2 ngày được thay 1 lần
Để việc nuôi thú đạt hiệu quả, tất cả các loại thức ăn đã được tổng hợp, chế biến và xử lý kiểm tra tại khu nhà chế biến của Thảo Cầm Viên trước khi phân phối cho mỗi chuồng thú để tránh vấy nhiễm hóa chất hay vi sinh vật gây bệnh
Hiện nay, thú trong điều kiện nuôi nhốt tại vườn thú rất dễ nhiễm ký sinh
trùng vì diện tích chuồng trại hẹp, ký sinh trùng dễ tồn tại trong môi trường đất và
dễ dàng lây nhiễm trở lại cho thú nuôi Ngoài ra những loài động vật sống hoang như chuột, chim, mèo nhà và các loài động vật khác từ ngoài chui vào chuồng thú đều có thể là những nguồn lây nhiễm giun sán Đây là vấn đề khó khăn mà hiện nay vườn thú chưa thể kiểm soát được
2.4.2 Công tác thú y
Tại Thảo Cầm Viên, động vật mới nhập phải được nhốt riêng, xác định rõ nguồn gốc, hồ sơ bệnh lý và thực hiện chế độ kiểm dịch trong thời gian 30 ngày, bố trí người chăm sóc riêng và vệ sinh sát trùng khu kiểm dịch Trong thời gian kiểm dịch, thú được theo dõi liên tục và tiến hành kiểm tra ký sinh trùng khoảng 2 - 3 lần qua việc lấy mẫu phân xét nghiệm Nếu phát hiện có ký sinh trùng, tiến hành tẩy xổ với các loại thuốc thích hợp trước khi cho thú nhập đàn
Trang 26Chương trình phòng trừ ký sinh trùng tại Thảo Cầm Viên bao gồm việc kiểm tra phân định kỳ và tẩy trừ ký sinh trùng 3 tháng 1 lần đối với thú ăn thịt Một số loại thuốc thường dùng để tẩy xổ ký sinh trùng trong 5 năm trở lại đây như sau:
Fenbendazole: liều dùng 10 mg/kg thể trọng cho uống
Ivermectin: liều dùng 0,2 mg/kg thể trọng tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Mebendazole: liều dùng 10 – 15 mg/kg thể trọng cho uống
Pyrantel: liều dùng 3 – 5 mg/kg thể trọng cho uống
Ngoài ra thú cũng được bồi dưỡng tăng cường sức đề kháng bằng vitamin A,
C, B-complex …hàng tuần Định kỳ 3 tháng sát trùng toàn bộ chuồng nuôi thú bằng thuốc sát trùng Virkon S hoặc Lenka
Công tác thú y tại vườn thú còn thực hiện nhiều ca phẫu thuật cho thú bị gãy xương, thú sinh sản, nhổ răng, cắt móng, lấy máu, theo dõi ghép đôi giao phối … Những công tác điều trị, chẩn đoán bệnh, xét nghiệm của tổ thú y được hỗ trợ bởi những trang thiết bị như máy siêu âm, X – quang, phòng mổ … Ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng thú, các cán bộ thú y còn tổ chức tập huấn cho công nhân nuôi thú trong 2 năm trở lại đây để nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp thu những phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng động vật, theo dõi và phát hiện thú có biểu hiện bệnh và
xử lý kịp thời
2.4.3 Tình hình dịch bệnh trên thú tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Qua tổng kết các số liệu theo dõi và điều trị bệnh trên động vật được ghi chép hàng ngày của tổ thú y tại Thảo Cầm Viên trong 3 năm gần đây (2006 – 2008) Những bệnh thường gặp trên các loài thú hoang dã là những bệnh trên đường hô hấp, tiêu hoá, sinh dục, những bệnh về mắt, da, xương khớp, trong đó tình hình bệnh mỗi năm tăng lên một cách rõ rệt (bảng 2.2) Ngoài ra, tình hình nhiễm giun sán trên các loài thú ngày càng gia tăng, đặc biệt là trên thú ăn thịt
Trang 27Bảng 2.3 Một số bệnh thường gặp trên thú tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
(2006 – 2008)
2.5 Tình hình nghiên cứu giun sán trên thú ăn thịt trong và ngoài nước
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.5.1.1 Các nghiên cứu trên chó và mèo nhà
Phạm Sỹ Lăng và Đào Hữu Thanh (1990) đã xét nghiệm phân 453 chó và mổ khám 17 chó khu vực Hà Nội trong 2 năm 1986 – 1987 Kết quả có 50,6% chó
nhiễm sán dây, 40,61% chó nhiễm Dipylidium caninum và 11,26% chó nhiễm Diphyllobothrium mansoni
Trần Văn Ba (2002) khảo sát một số chỉ tiêu cơ thể học và tình hình nhiễm giun sán trên mèo trưởng thành, đã tiến hành mổ khám 30 mèo có nguồn gốc thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa Kết quả cho biết tỉ lệ nhiễm giun sán chung trên
mèo là 80% Kết quả phát hiện 6 loài giun tròn (Ancylostoma tubaeforme, A braziliense, Toxocara cati, Physaloptera brevispiculum, P praeputialis và Strongyloides stercoralis), 2 loài sán dây (Spirometra mansoni và Taenia spp.) và
không phát hiện sán lá Với tỷ lệ nhiễm giun tròn 70% và sán dây 33,33%
Nguyễn Phước Sang (2002) điều tra tình hình nhiễm giun sán trên mèo tại
huyện Cao Lãnh đã phát hiện 1 loài sán lá (Opisthorchis felineus), 2 loài sán dây
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tên bệnh Tổng số ca
bệnh
Số ca bệnh
Tỉ lệ (%)
Số ca bệnh
Tỉ lệ (%)
Số ca bệnh
Tỉ lệ (%) Bệnh trên hệ hô hấp 161 21 13,04 52 32,3 88 54,66 Bệnh trên hệ tiêu hóa 163 16 9,82 61 37,42 86 52,76 Bệnh trên hệ sinh dục 26 12 46,15 7 26,92 7 26,92
Bệnh trên xương khớp 103 32 31,07 30 29,13 41 39,81
Trang 28(Spirometra mansoni và Taenia spp.), và 6 loài giun tròn (Ancylostoma caninum, A braziliense, Toxocara cati, Physaloptera brevispiculum, P praeputialis và Gnathostoma spinigerum) Kết quả cho biết tỉ lệ nhiễm chung là 87,5% và thống kê
thành phần giun sán nhiễm trên mèo là 80% giun tròn, 30% sán dây và 2,5 sán lá
Nguyễn Quốc Doanh và ctv (2002 – 2003) đã mổ khám 37 mèo và kiểm tra
250 mẫu phân mèo nuôi tại một số quận, huyện của Hà Nội Kết quả định danh có 7
loài giun sán trong đó có 2 loài giun tròn (Toxocara mystax, Ancylostoma braziliense), 3 loài sán dây (Dipylidium caninum, Diphyllobothrium dendriticum, Hydatigena taeniaformis) và 1 loài sán lá Clonorchis sinensis
Lê Hữu Khương (2005) bằng phương pháp mổ khám toàn diện 1598 chó ở
13 tỉnh phía Nam Kết quả ghi nhận được 1563 chó bị nhiễm giun sán (chiếm tỉ lệ
97,81%) định danh có 12 loài giun sán trong đó có 4 loài sán dây (Dipylidium caninum, Spirometra mansoni, Taenia hydatigena, T pisiformis) và 8 loài giun tròn (Gnathostoma spinigerum, Toxocara canis, Dirofilaria immitis, Spirocerca lupi, Trichocephalus vulpis, Ancylostoma caninum, A braziliense, Uncinaria stenocephala), không tìm thấy sán lá Chó ở các nhóm tuổi đều có tỉ lệ nhiễm cao
và nhiễm tăng dần theo tuổi từ 95,85% đến 99,04%
2.5.1.2 Các nghiên cứu trên thú hoang dã ăn thịt
Phan Thị Tùng (1992) đã xét nghiệm 22 mẫu phân trên 4 báo lửa, 8 báo gấm,
3 báo hoa mai, 2 báo Nam Mỹ, 5 cọp tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn Kết quả tỉ lệ nhiễm trên các loài báo 50 – 100% trên cọp 33,33 – 50% chủ yếu nhiễm các loài
giun tròn Ancylostoma sp., Toxocara mystax, Toxascaris leonina
Phạm Sỹ Lăng và ctv (1993) đã xét nghiệm phân (225 mẫu phân của 38 thú
ăn thịt và 318 mẫu phân chó cảnh) và mổ khám (9 thú ăn thịt và 21 chó cảnh) từ năm 1989 đến 1991 ở vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội) Kết quả đã tìm thấy 8 loài giun
tròn nhiễm trên thú ăn thịt Toxocara canis, Toxascaris leonina, Toxocara mystax, Trichocephalus vulpis, Ancylostoma caninum, Uncinaria sp., Gnathostoma spinigerum và Strongyloides sp Với tỉ nhiễm khác nhau: Toxocara mystax 85 –
Trang 29100%, Trichocephalus vulpis 17,1 – 50%, Ancylostoma caninum 50 – 100%, Uncinaria sp 50 – 100%, Strongyloides sp 40 – 100%
Phan Địch Lân và ctv (1996) đã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh trên thú ăn
thịt như sau: Toxascaris leonina, Toxocara mystax, Ancylostoma sp ký sinh trên ruột non của chó, cọp, báo, sư tử, mèo rừng Toxocara canis ký sinh ở ruột non của chó, gấu Trichocephalus vulpis ký sinh ở manh tràng của chó, báo, sư tử, mèo
lệ nhiễm trên nhóm thú họ mèo 70 – 100%, họ gấu là 50% và họ chồn 20%, họ chó
và họ cầy không nhiễm Hiệu quả tẩy sạch trứng trên phân của albendazole với liều
10 mg/kg thể trọng là 100% đối với 2 loài giun móc và giun đũa, còn pyrantel đều không có hiệu quả tẩy sạch trứng đối với sán dây Thời gian tái nhiễm của 2 loài giun móc và giun đũa trên thú ăn thịt là rất ngắn
Phạm Anh Dũng (2008) khi điều tra đặc điểm sinh học và tình hình nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở loài báo lửa nuôi tại Thảo Cầm Viên đã cho biết trên báo
lửa có nhiễm 3 loài ký sinh trùng là Ancylostoma spp., Toxocara mystax và Isospora với tỉ lệ lần lượt là 100%, 50% và 20%
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước về giun sán trên thú ăn thịt, đặc biệt là trên thú hoang dã còn ít, đa số chỉ điều tra tỉ lệ nhiễm bằng phương pháp xét nghiệm phân Một số ít nghiên cứu về hiệu lực thuốc xổ giun và thời gian tái nhiễm nhưng cũng chưa đưa ra qui trình phòng ký sinh trùng cho từng loài thú
ăn thịt
2.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.5.2.1 Các nghiên cứu trên chó và mèo nhà
Trang 30Cho và ctv (1981) đã xét nghiệm phân trên 102 chó ở Hàn Quốc cho biết có
72 chó nhiễm giun sán, trong đó Dipylidium caninum 47%, Ancylostoma caninum 26%, Toxascaris leonina 16%, Toxocara canis 13%, Taenia pisiformis 9%, Echinostoma hortense 4%, E cinetorchis 2%, Spirometra mansoni 2%
Bourdeau và Chermette (1985) xét nghiệm 474 mẫu phân chó ở Pháp đã phát
hiện 25,5% chó nhiễm giun sán, trong đó Trichocephalus vulpis 14,8%, Ancylostoma spp 7,6%, Toxocara canis 7,4%, Toxascaris leonina 0,8% và Dipylidium caninum 0,8%
Epe và ctv (1995) nghiên cứu hiệu quả điều trị ký sinh trùng bằng ivermectin hoặc doramectin trên chó cái để ngăn ngừa sự lây nhiễm trước khi sinh và để tránh truyền lây qua sữa gây nhiễm cho thú con sau khi sinh Thí nghiệm trên 30 chó cái mang thai được điều trị bằng ivermectin hoặc doramectin bằng cách tiêm dưới da với liều 1mg/kg thể trọng Hiệu quả của việc điều trị được xác định sau khi xét nghiệm phân trên chó cái và so sánh với số lượng chó con bị nhiễm ký sinh trùng và
có triệu chứng bộc phát ở mỗi nhóm chó Nhóm chó con có mẹ được điều trị ký sinh trùng bằng ivermectin hoặc doramectin kiểm tra phân thấy số lượng trứng có trong phân giảm nhiều trong suốt 70 ngày đầu sau khi sinh chiếm tỉ lệ 68 – 96% Các phương pháp điều trị với ivermectin hoặc doramectin không có ảnh hưởng xấu đến thú đang mang thai, trọng lượng sau khi sinh và không ảnh hưởng đến sức khỏe của chó con Sau khi dùng ivermectin tiêm dưới da, 50% chó cái được điều trị có phản ứng chai cứng da tại vị trí tiêm
2.5.2.2 Các nghiên cứu trên thú hoang dã ăn thịt
Worley và ctv (1976) điều tra tình hình nhiễm giun sán bằng phương pháp xét nghiệm phân trên 70 con gấu xám và 30 con gấu ngựa ở Montana và vùng lân
cận Kết quả phát hiện nhiễm 4 loài giun tròn: Trichinella spiralis, Baylisascaris transfuga, Uncinaria sp., Dirofilaria ursi; 2 loài sán dây: Diphyllobothrium sp., Taenia sp.; 1 loài sán lá Echinostoma revolutum
Yasuda và ctv (1993) tìm thấy trên 3 con mèo rừng bị giết ở Nhật Bản các
loài ký sinh trùng sau: 2 loài sán lá (Pharyngostomum cordatum, Paragonimus sp.);
Trang 311 loài sán dây (Spirometra erinacei) và 9 loài giun tròn (Arthrostoma hunanensis, Uncinaria felidis, Uncinaria sp., Ancylostoma tubaeforme, Molineus springsmithi, Toxocara cati, Capillaria aerophila, Capillaria felis – cati và Capillaria sp.)
Patton và Rabinowitz (1994) đã xét nghiệm 92 mẫu phân trên thú họ mèo (báo Hoa Mai, báo gấm, báo lửa, cọp, mèo rừng) tại Thái Lan Kết quả tìm thấy
được các loài sau: Paragonimus sp., Mesocestoides sp., Mammomonogamus sp., Toxocara sp., Toxascaris sp., Capillaria spp và Giardia sp
Graf (1995) đã xét nghiệm 112 mẫu phân của 58 con sư tử (Panthera leo) tại
công viên quốc gia Serengeti và khu bảo tồn Ngorongoro Crater, Tanzania, Đông
Châu Phi, kết quả nhiễm như sau: Spirometra sp., Taenia sp., Ancylostoma sp
Gau và ctv (1999) đã dùng phương pháp xét nghiệm phân để điều tra tình
hình nhiễm ký sinh trùng trên 56 con gấu xám (Ursus arctos) ở vùng tây Bắc (Canada) Kết quả phát hiện được Diphyllobothrium sp và Baylisascaris sp
Sato và ctv (1999) đã điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng trên động vật hoang dã ăn thịt ở Tây Bắc Tohoku, Nhật Bản Bằng phương pháp xét nghiệm phân
trên 60 động vật hoang dã ăn thịt bao gồm các loài 7 con cáo (Vulpes vulpes japonica), 20 con lửng chó (Nyctereutes procyonoides viverrinus), 29 con chồn mactet Nhật Bản (Martes melampus melampus), 3 con chồn (hai loài Mustela itatsi sibirica và một loài M nivalis namiyei), và 1 con lửng Nhật Bản (Meles Meles anakuma) Kết quả phát hiện nhiễm giun tròn (Toxocara canis được tìm thấy ở cáo
và Toxocara tanuki ở lửng Nhật Bản), giun móc (Ancylostoma kusimaense và Arthrostoma miyazakiense) và Molineus sp thường ký sinh chủ yếu ở ruột non của cáo và lửng chó Nhật Bản tìm thấy loài Aonchotheca putorii trong dạ dày chồn mactet, Molineus sp và Euryhelmis costaricensis trong ruột non
Bjork và ctv (2000) điều tra về ký sinh trùng và những giai đoạn phát triển của ký sinh trùng trên sư tử ngoài tự nhiên ở vùng miền bắc Tanzania Xét nghiệm
phân trên 33 con sư tử (Panthera leo) tại công viên quốc gia Serengeti và khu bảo tồn Ngorongoro Crater ở miền bắc Tanzania đã tìm thấy có 19 loài ký sinh trùng là Toxascaris leonina, Toxocara cati, Capillaria sp., Ancylostoma spp., Physaloptera
Trang 32spp., Cylicospirura subequalis, Habronema sp., Linguatula sp., Gnathostoma sprinigerum, Dipylidium sp., Taenia spp., Echinococcus spp., Mesocestoides sp., Acanthocephala, Pharygostomum cordatum, Spirometra sp., Schistosoma sp
Varadharajan và ctv (2000) khảo sát 60 mẫu phân trên thú ăn thịt được nuôi
tại vườn thú Ấn Độ Kết quả đã tìm thấy: Toxocara sp., Ancylostoma sp., Strongyloides và Artyfechinostomum ký sinh trên thú ăn thịt
Foster và ctv (2006) xét nghiệm phân của 35 con báo đen (Puma concolor coryi) ở 6 thành phố phía Nam Florida (Hoa Kỳ) đã tìm thấy có 9 loài giun sán, trong đó sán lá có 1 loài Alaria marcianae 100%, sán dây có 2 loài Spirometra mansonoides 91%, Taenia omissa và giun tròn có 6 loài Ancylostoma pluridentatum 89%, A caninum 11%, Molineus barbatus 11%, Physaloptera rara 6%, Strongyloides sp 22%, Toxocara mystax 6%
Bagrade và ctv (2003) phát hiện trên mèo rừng Châu Âu (Lynx lynx) ở Latvia nhiễm 1 loài sán dây Taenia pisiformis, 5 loài giun tròn: Toxocara mystax, Thominx aerophilus, Trichinella sp., Capillaria felis-cati và Nematoda sp
Christine và ctv (2006) điều tra tình hình nhiễm giun sán trên động vật hoang
dã ăn thịt thuộc họ chó và họ mèo sống ngoài tự nhiên vùng Bolivian Chaco, Mỹ
Xét nghiệm 10 mẫu phân mèo rừng Nam Mỹ (Leopardus pardalis), 8 mẫu phân mèo đồng cỏ Nam Mỹ (Oncifelis geoffroyi), 1 mẫu phân báo chân ngắn đuôi dài (Herpailurus yaguarondi), 5 mẫu phân cáo đồng cỏ Nam Mỹ (Pseudalopex gymnocercus), và 3 mẫu phân trên cáo ăn cua (Cerdocyon thous) tại 3 địa điểm ở
Bolivian Chaco Bằng phương pháp xét nghiệm phân đã xác định được 12/13 loài
thú thuộc họ mèo và 5/6 loài thú thuộc họ chó nhiễm các loài sau: Aelurostrongylus abstrusus, Ancylostoma tubaeforme, Uncinaria sp., Crenosoma sp., Toxocara cati, Spirurida, Capillaria aerophila, Spirometra sp., Taeniidae, and Cystoisospora sp
Young (2006) tìm ra những loài giun sán nhiễm trên sư tử (Panthera leo) và
có khả năng gây ra những bệnh khác tại công viên quốc gia Kruger, Nam Phi
Những loài ký sinh trên sư tử như Trichinella spiralis, Dirofilaria sp., Echinococcus granulosus felidis và Taenia spp
Trang 33González và ctv (2007) đã xét nghiệm phân 2 loài thú ăn thịt tại vùng Đông
Siberia Kết quả có 5 loài giun sán được tìm thấy ở cọp (Panthera tigris altaica): 1 loài sán lá (Platynosomum fastosum) và 4 loài giun tròn (Strongyloides sp., Ancylostoma sp., Toxascaris leonina và Toxocara cati) Ở loài mèo (Felis bengalensis euptilurus) cũng phát hiện có 5 loài: 1 loài sán dây (Dipylidium sp.) và
4 loài giun tròn (Trichuris sp., Ancylostoma spp, Toxascaris leonina và Aelurostrongylus abstrusus)
Shrikhande và ctv (2008) đã xét nghiệm 5 mẫu phân cọp trắng, 7 mẫu phân
cọp (Panthera tigaris) và 1 mẫu phân sói tại công viên động vật Rajiv Gandhi, Ấn
Độ Ở loài cọp trắng nhiễm Spirometra sp., cọp Panthera tigaris nhiễm Toxoascaris
sp và sói nhiễm Paragonimus sp
Vieira và ctv (2008) đã tổng kết có 95 loài giun sán ký sinh trên 21 loài thú
ăn thịt tại Brazil
Esfandiari và ctv (2010) đã có báo cáo về tình hình nhiễm Toxocara cati trên mèo Persian (Panthera pardus saxicolor) ở Iran
Tóm lại, kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy đa số giun sán thường gặp trên thú ăn thịt ở các nước cũng nằm trong số những loài được phát hiện ở Việt
Nam như: Dipylidium caninum, Ancylostoma caninum, Spirometra mansoni, Toxascaris leonina, Toxocara canis, Taenia taeniaeformis, Ancylostoma spp., Trichocephalus vulpis, Strongyloides sp, Những loài này chủ yếu thuộc lớp
giun tròn và sán dây, rất hiếm gặp sán lá Tuy nhiên cũng có một số ít giun sán được phát hiện trên thú ăn thịt ở các nước nhưng chưa tìm thấy ở Việt Nam như:
Echinostoma hortense, E cinetorchis, Taenia omissa, Molineus barbatus, Physaloptera rara, Aelurostrongylus abstrusus… Thuốc dùng để phòng trị giun sán
trên thú hoang dã là những loại thuốc như ivermectin, mebendazole, febendazole
2.6 Giới thiệu một số loài giun sán ký sinh trên thú ăn thịt
Dựa vào các kết quả nghiên cứu về giun sán trên thú ăn thịt tại Việt Nam của nhiều tác giả như: Phạm Sỹ Lăng và ctv (1993) nghiên cứu trên thú ăn thịt tại vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội); Lê Hữu Khương (2005) khảo sát trên chó ở một số tỉnh miền
Trang 34Nam; Nguyễn Quốc Doanh và ctv (2002 – 2003) và một số tác giả nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán trên thú ăn thịt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn Từ đó, chúng tôi
đã so sánh tư liệu và ghi nhận có khoảng 8 loài giun sán thường gặp trên thú ăn thịt được nhiều tác giả công nhận như sau:
Trang 35Hình 2.1 Trứng của Clonorchis sinensis
(http://www.parasitologie.nl/index.php?id=783)
Vòng đời
Hình 2.2 Vòng đời của Clonorchis sinensis
(http://jpkc.sysu.edu.cn/jscx/Textbook/two-2.html) Chu kỳ phát triển của Clonorchis sinensis có sự tham gia của 2 ký chủ trung
gian Ký chủ trung gian thứ nhất là ốc nước ngọt, ký chủ trung gian thứ hai là cá
Trứng theo phân ra ngoài, sau vài ngày đến 18 ngày nở ra Miracidium Sau đó chui vào ốc nước ngọt (ký chủ trung gian thứ nhất) phát triển thành Sporosysts, Rediae và Cercariae chui ra khỏi ốc xâm nhập hoặc gắn vào cá (ký chủ trung gian
Trang 36thứ hai) về cơ mang, cơ lưng tạo thành kén Metacercaria ở cơ Khi động vật (chó,
mèo, heo) ăn phải cá sống, khi người ăn gỏi cá có kén, ấu trùng di chuyển về ống dẫn mật, túi mật phát triển thành dạng trưởng thành sau 1 tháng
Echinochasmus perfoliatus Ratz, 1908
Hình thái
Sán dài từ 1 – 12 mm, bề mặt cơ thể phủ đầy gai dày Viền cổ có 24 móc xếp thành một hàng mỗi bên 12 móc, ngắt quãng ở mặt lưng Sán thường ký sinh ở ruột non Trứng hình bầu dục (oval), có kích thước 0,09 – 0,135 x 0,055 - 0,095 mm (Bowman và ctv, 2002)
Vòng đời
Trứng theo phân thải ra ngoài hình thành Miracidium, xâm nhập vào ốc nước ngọt (ký chủ trung gian 1) hình thành Sporocyst, Redia, Cercaria rồi chui ra
khỏi ốc sống được 10 – 12 giờ Sau đó xâm nhập vào ký chủ trung gian 2 (cá nước
ngọt) tạo kén Metacercariae bám ở cơ mang cá Động vật nhiễm do ăn phải cá có chứa Metacercariae sẽ phát triển thành sán trưởng thành sau 10 – 40 ngày (Trịnh
Văn Thịnh và Phạm Văn Khuê, 1982), sau 13 – 15 ngày (Abulade, 1982)
2.6.2 Các loài sán dây (lớp Cestoda)
Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758)
Hình thái
Sán dài từ 10 – 75 cm, rộng 2 – 3 mm, đầu nhỏ có 4 giác bám hình ellip Trứng có hình tròn, dài 0,052 mm, rộng 0,045 mm, có hai lớp vỏ mỏng chứa phôi sáu móc Đỉnh đầu có 3 – 4 hàng móc có từ 30 – 150 móc Đốt trưởng thành và đốt già chiều dọc lớn hơn chiều ngang và có hình dạng giống như hạt dưa Mỗi đốt có 2
cơ quan sinh dục đổ ra 2 bên của đốt Tử cung đốt già chia ra nhiều bọc trứng, mỗi bọc chứa 8 – 20 trứng Sán ký sinh ở ruột non chó mèo, cáo, chó sói và những động vật ăn thịt khác
Trang 37Vòng đời
Hình 2.4 Vòng đời của Dipylidium caninum
(http://www.marvistavet.com/html/body_page26270.html) Đốt sán già rụng theo phân ra ngoài Mỗi đốt chứa khoảng 3000 trứng Đốt sán bị phá vỡ giải phóng trứng và bọc trứng Nếu vật chủ trung gian (bọ chét và rận
chó) ăn phải sẽ phát triển thành Cysticercoid sau 18 ngày Vật chủ cắn lông ăn phải
Hình 2.3 Trứng của Dipylidium caninum
(http://dic.academic.ru/pictures/dewiki/68/Dipylidium_caninum_ovum_1.JPG)
Trang 38bọ chét hoặc bọ chét chó mèo rơi vào thức ăn, nước uống của người vào trong đường tiêu hóa của vật chủ phát triển thành trưởng thành sau 3 tuần
Spirometra mansoni (Cobbolb, 1882)
Hình thái
Về hình thái rất giống Diphyllobothrium latum chỉ khác là trứng hình bầu dục có 2 đầu nhỏ hơn, tử cung hình xoắn ốc có 2 – 7 vòng, lỗ Cirrus và âm đạo phân chia rõ rệt Trứng hình bầu dục có 2 đầu nhỏ hơn trứng của D Latum, có mấu
Con trưởng thành ký sinh trên động vật ăn thịt Vòng đời phát triển qua hai
ký chủ trung gian: ký chủ trung gian 1 là các giống giáp xác thuộc họ Cycloptidae,
ký chủ trung gian 2 là ếch nhái, cá, rắn và các động vật có vú trên cạn
Trứng được thải ra qua lỗ tử cung của đốt sán và theo phân ra ngoài Sau 15
ngày phát triển thành Coracidium sống được trong nước khoảng 12 giờ Nếu Coracidium được các loài giáp xác thuộc họ Cycloptidae nuốt phải sau 2 – 3 tuần sẽ phát triển thành ấu trùng Procercoid Sau đó nếu các loài giáp xác được các loài ếch
Trang 39nhái ăn phải, Procercoid sẽ di hành đến cơ hoặc các cơ quan khác hình thành ấu trùng thứ hai là Plerocercoid Nếu ký chủ cuối cùng là các loài động vật ăn thịt ăn
phải ếch nhái sẽ phát triển thành sán trưởng thành ở ruột non sau khoảng 1 tháng
Trang 40Hình 2.7 Trứng của Taenia taeniaeformis
(http://cal.vet.upenn.edu/projects/dxendopar/quizcases/felinequiz/eggquiz.htm)
Vòng đời
Đốt già từ ruột mèo sẽ được thải theo phân và phân tán trứng sán ra môi trường Trứng được ký chủ trung gian (loài gậm nhấm như chuột, thỏ …) nuốt phải
sẽ hình thành ấu trùng Strobilocercus fasciolaris (trông giống như sán non, đầu dính
liền với một bọc nước nhỏ nhưng không lộn vào trong) ký sinh ở gan chuột Mèo ăn chuột sẽ nhiễm sán trưởng thành trong 42 ngày
Hình 2.8 Vòng đời của Taenia taeniaeformis
(http://www.profender.info/116/Worms/Tapeworms/Taenia_taeniaeformis.htm)
2.6.3 Các loài giun tròn (lớp Nematoda)