1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

113 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

******************

NGUYỄN NGỌC QUYẾN

VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 12/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH ĐỨC

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 12/2010

Trang 3

VAI TRÒ CỦA CÁ CẢNH BIỂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KINH DOANH VÀ

NGƯỜI NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC QUYẾN

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: TS NGUYỄN PHÚ HÒA

Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

2 Thư ký: TS NGUYỄN VĂN TRAI

Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN THANH TÙNG

Viện Kinh Tế và Quy Hoạch Thủy Sản

4 Phản biện 2: PGS TS NGUYỄN TƯỜNG ANH

Đại học Khoa Học Tự Nhiên – ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh

5 Ủy viên: TS NGUYỄN MINH ĐỨC

Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Nguyễn Ngọc Quyến sinh ngày 29 tháng 07 năm 1983 tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Con Ông Nguyễn Văn Duyến và Bà Nguyễn Thị Thoi

Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, tỉnh Quảng Ninh năm 2001

Tốt nghiệp Đại học nghành Nuôi Trồng Thủy Sản hệ chính quy tại Đại học Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Sau đó làm việc tại thành phố Nha Trang trong vai trò phụ trách kỹ thuật nuôi Tôm sú thương phẩm theo hình thức công ngiệp

Tháng 09 năm 2008 theo học Cao học nghành Nuôi Trồng Thủy Sản tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: Hiện chưa lập gia đình

Địa chỉ liên lạc: Đội 8, thôn 6, xã Hải Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Điện thoại: 0979 786551; 0333 786551

Email: ngocquyen44nt@gmail.com

Nguyễn Ngọc Quyến

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đề tài này cũng là một phần của đề tài “Đánh giá vai trò của cá cảnh đối với người nuôi giải trí và người sản xuất

Trang 6

CẢM TẠ

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm tạ Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Thủy Sản cùng các thầy, cô đã giúp đỡ và truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học tại trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, tôi gửi lời cám ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Minh Đức đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tiếp theo, tôi cám ơn các nhà cung cấp tại Nha Trang và Bình Thuận, các cửa hàng kinh doanh, những người nuôi cá cảnh biển tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi trong quá trình thu thập số liệu thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cám ơn các bạn học viên lớp Cao học Thủy Sản 2008 về những giúp đỡ của các bạn trong thời gian học tập cùng nhau tại trường Đại học Nông Lâm thành phố

Hồ Chí Minh

Cuối cùng, tôi gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ và các anh, các chị tôi, những người đã luôn ủng hộ và giúp đỡ tôi cả vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập

Dù rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả mong người đọc góp ý để luận văn hoàn thiện hơn

Nguyễn Ngọc Quyến

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Vai trò của cá cảnh biển đối với người kinh doanh và người nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận từ tháng 01/2010 – 10/2010 Số liệu được thu thập qua

ba đợt khảo sát bằng bảng câu hỏi soạn sẵn

Tất cả các nhà cung cấp và cửa hàng kinh doanh đều hài lòng với tình hình kinh doanh của mình Nuôi cá cảnh biển không những làm cho không gian sống đẹp hơn mà còn còn giúp cho người nuôi vui vẻ và hạnh phúc, kinh doanh thuận lợi hơn

Bằng mô hình hồi quy đa biến với biến giả đã xác định các yếu tố tác động lên tổng chi phí nuôi cá cảnh biển gồm: Chi phí mua cá cảnh, chi phí mua bể nuôi

và chi phí mua các loại sinh vật cảnh biển khác, địa điểm nuôi cá cảnh tại gia đình, vai trò làm giảm stress của nuôi cá cảnh biển, nuôi cá cảnh biển với mục đích giải trí, mục đích kinh doanh và tiêu chí ngoại hình để chọn mua cá cảnh biển, mức thu nhập của người nuôi từ 10 – 15 triệu đồng/tháng

Mô hình binary logistic đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng của người nuôi cá cảnh biển bao gồm: Tổng chi phí, vai trò làm giảm căng thẳng của nuôi cá cảnh biển, tiêu chí hoạt động bơi lội để lựa chọn cá cảnh biển, khó khăn không có nhiều thời gian chăm sóc bể cá cảnh, địa điểm nuôitương tác với thời gian nuôivà tổng chi phí, thời điểm cho cá ăn vào buổi chiều, hình thức nuôi tương tác với tổng chi phí, địa điểm nuôi tương tác với hình thức nuôi

Kết quả hồi quy binary logistic cho thấy địa điểm nuôi, tổng chi phí và tương tác giữa thời gian nuôi với mức thu nhập làm tăng vai trò làm giảm stress của nuôi

cá cảnh biển Tương tác giữa thời gian nuôi với địa điểm nuôi làm giảm vai trò này

Trang 8

ABSTRACT

The thesis "The role of marine ornamental fish for businessmen and hobbyists in Ho Chi Minh city" had been conducted in Ho Chi Minh City, Khanh Hoa province, and Ninh Thuan province, Binh Thuan province from January, 2010

to September, 2010 Data were collected through three periods of using the survey questionnaire

All providers and store owners were satisfied with their business situation Keeping marine ornamental fish not only made living space more beautiful, but also helped hobbyist’s feel more cheerful and happier Also, it made their business more favorable

Linear regression model with dummy variables identified the factors affecting total cost of the keeping marine ornamental fishes, including cost for buying ornamental fishes, aquaria and other kinds of marine ornamental creatures; places to locate aquaria, hobbyist’s of perception keeping marine fishes as a method

to reduce stress; and income level

Through binary logistic model, researchers identified the factors affecting the satisfaction of marine ornamental fish hobbyist’s, including total cost, the role of keeping marine ornamental fish in stress reduction, criteria for swimming activity to select marine ornamental fish, time to care about aquarium

The results show that keeping sites, total cost and the interaction between experience and income increased the reducing-stress role of marine ornamental fish hobby, interaction between experience and keeping sites reduced this role

Trang 9

2.1 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh 3

2.2 Một số vùng biển phong phú cá cảnh biển tại Việt Nam 6

2.3 Hiện trạng cá cảnh biển tại TP HCM 6

2.3.1 Các loài cá cảnh biển được kinh doanh 6 2.3.2 Thông tin các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển 8

2.3.3 Thị hiếu người chơi cá cảnh biển 10 2.3.4 Tình hình xuất nhập khẩu cá cảnh biển 11 2.4 Kỹ thuật nuôi và chăm sóc cá cảnh biển 12 2.5 Phương pháp hồi quy logistics và ứng dụng 13

2.5.2 Ứng dụng hồi quy logistics trong nghiên cứu thủy sản 14

Trang 10

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16 3.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 16

3.2.3 Phương pháp lập bảng câu hỏi điều tra 16

3.2.4.1 Xây dựng mô hình binary logistic thực nghiệm 16 3.2.4.2 Xây dựng hàm chi phí thực nghiệm 19 3.2.5 Mã hóa thông tin và xử lý số liệu 20

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21 4.1 Nhà cung cấp cá cảnh biển cho thị trường TP HCM 21 4.2 Hiện trạng kinh doanh cá cảnh biển 24

4.3.2 Các loại sinh vật biển được nuôi 35

4.3.2.2 Các loại sinh vật biển khác 35

4.3.3.2 Tiêu chuẩn chọn cá cảnh biển 40

Trang 11

4.3.3.5 Dịch bệnh cá nuôi 46

4.3.4 Các yếu tố tác động lên chi phí nuôi cá cảnh biển 48

4.3.4.2 Mô hình các yếu tố tác động lên chi phí 49 4.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng 52 4.3.5.1 Mức độ hài lòng của người nuôi cá cảnh biển 52 4.3.5.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng 54 4.4 Lợi ích và vai trò nuôi cá cảnh biển 57

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 GDP của TP HCM từ năm 2001 đến năm 2008 3

Bảng 2.2 GDP bình quân/người /năm của người dân TP HCM 4

Bảng 2.3 Cơ cấu dân số sống ở khu vực thành thị và nông thôn 5

Bảng 2.4 Mức độ phổ biến các loài cá cảnh biển 8

Bảng 2.5 Diện tích mặt bằng kinh doanh cá cảnh biển 8

Bảng 2.6 Mặt hàng kinh doanh tại các cửa hàng cá cảnh biển 9

Bảng 2.7 Kinh nghiệm kinh doanh của các cửa hàng 10 Bảng 2.8 Tính ưa chuộng các loài cá cảnh biển 10 Bảng 2.9 Sản lượng và kim nghạch xuất khẩu cá cảnh của TP HCM 12 Bảng 4.1 Thời gian, mặt bằng kinh doanh của nhà cung cấp 21

Bảng 4.2 Các mặt hàng cung cấp cho thị trường TP HCM 22

Bảng 4.3 Hình thức cung cấp cá cảnh biển cho thị trường TP HCM 23

Bảng 4.4 Lực lượng lao động trong các cửa hàng cá cảnh biển 24 Bảng 4.5 Thời gian kinh doanh và mặt bằng kinh doanh của cửa hàng 25

Bảng 4.6 Hình thức kinh doanh 26

Bảng 4.7 Các dịch vụ của cửa hàng 31

Bảng 4.8 Sở thích nuôi cá cảnh biển 38

Bảng 4.9 Chỉ tiêu chọn cá cảnh biển 40 Bảng 4.10 Vật liệu dùng trong bể lọc 43

Bảng 4.11 Thức ăn và thời điểm cho cá ăn 45 Bảng 4.12 Nguồn thông tin kỹ thuật nuôi cá cảnh biển 47

Bảng 4.13 Chi phí nuôi cá cảnh biển 48

Bảng 4.14 Chi phí nuôi cá cảnh biển của nhóm nuôi tại gia đình 49 Bảng 4.15 Chi phí nuôi cá cảnh biển của nhóm nuôi tại quán cà phê 49

Bảng 4.16 Các yếu tố tác động lên chi phí nuôi cá cảnh biển 50

Bảng 4.17 Kết quả kiểm định ý nghĩa chung của mô hình 51

Trang 14

Bảng 4.18 Những khó khăn khi nuôi cá cảnh biển 52

Bảng 4.19 Các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng 55

Bảng 4.20 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 55

Bảng 4.21 Kiểm định chung mô hình 55

Bảng 4.22 Mức độ dự báo của mô hình 56

Bảng 4.23 Vai trò và lợi ích của nuôi cá cảnh biển 57

Bảng 4.24 Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò làm giảm căng thẳng 59

Bảng 4.25 Kiểm định sự phù hợp mô hình vai trò làm giảm căng thẳng 60 Bảng 4.26 Kiểm định chung mô hình vai trò làm giảm căng thẳng 60

Bảng 4.27 Mức độ dự báo mô hình vai trò làm giảm căng thẳng 61

Trang 15

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Dân số TP HCM từ năm 2001 đến 2008 4

Hình 4.1 Mặt hàng kinh doanh 28

Hình 4.2 Nguồn cung cấp cá biển cho các cửa hàng tại TP HCM 29

Hình 4.3 Mạng lưới phân phối cá cảnh biển và sinh vật biển khác 30

Hình 4.4 Sự thay đổi số lượng khách hàng 32

Hình 4.5 Thu nhập của người nuôi cá cảnh biển tại TP HCM 33

Hình 4.6 Địa điểm nuôi cá cảnh biển 33

Hình 4.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người mua 40

Hình 4.13 Yếu tố quyết định mua cá biển 41 Hình 4.14 Kích thước bể nuôi 42

Hình 4.15 Tần số thay nước 44

Hình 4.16 Tỉ lệ nước mỗi lần thay 44

Hình 4.17 Lắp đặt và trang trí bể nuôi 47

Hình 4.18 Tỉ lệ thay đổi loài cá nuôi 53

Hình 4.19 Mức độ hài lòng của người nuôi cá cảnh biển 54

Trang 16

các năm, năm 2001 GDP là 84852 tỷ đồng thì đến năm 2008 đạt 289550 tỷ đồng

Mức tăng trưởng GDP của TP HCM liên tục tăng và giữ ở mức hai con số từ năm

2001 cho đến năm 2007 (Cục Thống kê TP HCM, 2010) Đời sống của người dân thành phố ngày càng được nâng cao và ổn định Thu nhập bình quân trên đầu người không ngừng tăng lên dẫn tới nhu cầu vật chất của người dân TPHCM nói chung và nhu cầu các mặt hàng thủy sản nói riêng cũng tăng lên, nhu cầu về đời sống tinh thần theo đó cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn Hiện nay, nhiều gia đình cũng xem bể cá cảnh như một thứ không thể thiếu trong nhà để tăng thêm vẻ tươi mát, duyên dáng cho không gian mỗi căn phòng, góc làm việc mà còn là một liệu pháp giải trí giúp cho tâm hồn trở nên thư thái Hơn thế, một số người còn tin rằng nuôi cá cảnh sẽ đem lại nhiều may mắn, an lành và thịnh vượng (Nguyễn Văn Chinh và Trần Thị Phượng, 2009)

Trên thế giới có khoảng 1,5 triệu người nuôi cá cảnh biển vào mục đích giải trí hoặc kinh doanh, giá trị giao dịch thương mại cá cảnh biển từ 200 – 300 triệu USD mỗi năm (Dowling, 2004) Do vị trí nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam

Á nên Việt Nam thuộc về một trong ba trung tâm cá cảnh của thế giới Nước ta có nhiều tiềm năng sản xuất và kinh doanh cá cảnh do có khí hậu nhiệt đới, bờ biển trải dài với nguồn tài nguyên thủy sản phong phú Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm

cá cảnh của Việt Nam vì có khí hậu nhiệt đới thuận lợi và lịch sử sản xuất, kinh doanh cá cảnh từ lâu

Trang 17

Những nghiên cứu về cá cảnh tại thành phố Hồ Chí Minh trước đây có nhiều nhưng chủ yếu tập trung vào các đối tượng cá cảnh nước ngọt Nghiên cứu về cá cảnh biển ít hơn và tập trung vào nghiên cứu phân loại, kỹ thuật sinh sản nhân tạo hay kỹ thuật thuần dưỡng cá cảnh biển tự nhiên Thông tin về thị trường kinh doanh

và người nuôi cá cảnh biển còn hạn chế

Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố

Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm khoa Thủy Sản, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Vai trò của cá cảnh biển đối với người kinh doanh và người nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả nghiên cứu của đề tài không những sẽ cung cấp những thông tin

tổng quát về hiện trạng kinh doanh, người chơi cá can biển mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà khoa học, nhà quản lý và bảo tồn nguồn lợi nói chung và nguồn lợi cá cảnh biển nói riêng

Xác định hiện trạng kinh doanh cá cảnh biển tại TP HCM

Xác định hiện trạng nuôi cá cảnh biển tại TP HCM

Xác định vai trò, lợi ích của cá cảnh biển đối với người kinh doanh và người nuôi tại TP HCM

Trang 18

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất của Việt Nam, mặc dù chỉ chiếm 0,6 % diện tích và 7,5 % dân số của Việt Nam nhưng đóng góp tới 24,3 % tổng sản phẩm quốc nội của cả nước (tính đến năm 2007) GDP của

TP HCM tăng liên tục qua các năm từ mức 84852 tỷ đồng năm 2001 đến 289550 tỷ đồng năm 2008 (bảng 2.1) Mức tăng trưởng GDP của TP HCM liên tục tăng từ năm 2001 cho đến năm 2007 và liên tục giữ ở mức hai con số, năm 2008 giảm một chút so với các năm trước do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu nhưng vẫn giữ được ở mức cao Từ những số liệu trên chứng tỏ TP HCM

là địa phương có mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, xứng đáng là đầu tàu kinh

tế, thương mại của cả nước

Trang 19

người dân thành phố ngày càng được nâng cao và ổn định, thu nhập bình quân trên đầu người không ngừng tăng lên dẫn tới nhu cầu vật chất của người dân cũng tăng lên, nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân TP HCM theo đó cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn

Bảng 2.2: GDP bình quân/người /năm của người dân TP HCM

Hình 2.1: Dân số TP HCM từ năm 2001 đến 2008 (Cục thống kê TP HCM, 2010)

Dân số của TP HCM tính đến năm 2008 là 6,84 triệu người, so với năm 2007 tăng 0,19 triệu người, nếu so với năm 2001 tăng 1,55 triệu người (hình 2.1) Trung bình từ 2001 – 2008 dân số TP HCM tăng thêm 0,22 triệu người/năm Dân số khu vực thành thị năm 2008 chiếm 83,19 %, nông thôn chiếm 16,81 % (bảng 2.3) nếu so

5,29 5,45 5,63

6,12 6,24 6,42

6,65 6,84

0 1 2 3 4 5 6 7

Triệu người

Trang 20

với năm 2000 thì cơ cấu dân số thành thị và nông thôn có sự thay đổi, tỉ lệ dân số sống ở thành thị tăng lên nhanh chóng ngược lại dân số sống ở nông thôn giảm xuống

Dân số và thu nhập của người dân TP HCM ở mức cao và liên tục tăng chứng tỏ TP HCM là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn đồng thời cũng là thị trường lớn cho ngành kinh doanh cá cảnh nói chung và cá cảnh biển nói riêng Khu vực nội thành là nơi hoạt động kinh tế diễn ra nhộn nhịp và mạnh mẽ nên thu hút một lượng lớn dân cư sinh sống, đồng thời là nơi có mức sống, thu nhập của người dân cao hơn khu vực ngoại thành Điều này sẽ thúc đẩy nghề sản xuất và kinh doanh cá cảnh ngày càng phát triển và nó cũng giải thích vì sao hầu hết các cửa hàng kinh doanh

cá cảnh chủ yếu ở khu vực nội thành

Bảng 2.3: Cơ cấu dân số sống ở khu vực thành thị và nông thôn

của TP HCM từ năm 2000 đến năm 2008

Trang 21

2.2 Một số vùng biển phong phú cá cảnh biển tại Việt Nam

Việt Nam có khoảng 100 loài cá cảnh biển có ý nghĩa kinh tế, trong đó khoảng 50 – 60 loài thường gặp Nguồn lợi cá cảnh biển nước ta đa dạng, phong phú nhưng số lượng loài có ý nghĩa khai thác chỉ tập trung vào một số họ như Pomacentridae, Chaetodontidae, Caesionidae, Acathuridae (Nguyễn Văn Quân và Nguyễn Nhật Thi, 2007)

Khu vực biển vịnh Bắc Bộ, khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng có số lượng loài lớn nhưng số cá trong cùng loài ít nên không có giá trị khai thác làm cảnh Ngược lại, khu vực đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) tuy chỉ có 51 loài nhưng số lượng cá thể trong cùng loài thuộc một số họ Pomacentridae, Apogonidae, Holocentridae lại lớn nên giá trị khai thác làm cảnh lớn

Vùng biển miền Trung có khoảng 110 loài, số lượng cá trong cùng loài lớn Đặc biệt vùng Nha Trang nhóm cá nhỏ kích thước nhỏ hơn 10 cm chiếm tỉ trọng lớn (78,3%) đa phần thuộc các họ Pomacentridae, Apogonidae, Labridae, Chaetodontidae Mật độ cá trong rạn san hô 131 con/500 m2 trong đó có 16 loài thường gặp

Cá cảnh trong vùng biển Côn Đảo chủ yếu thuộc các họ Chaetodontidae, Pomacentridae, Scorpaennidae, Zancnidae, Labridae, Tetraodonidae, Balistidae Các loài cá thuộc họ cá Thia có mật độ rất cao (2481 con/500 m2)

Nguồn lợi cá cảnh vùng biển An Thới (Kiên Giang) nghèo hơn các vùng khác trong cả nước Mật độ trung bình 176 – 854 con/500 m2 Họ cá Thia chiếm 70 – 80 % số lượng loài

Vùng biển Trường Sa có thành phần cá rạn San hô phong phú, có khoảng

525 loài Mật độ các loài cao, cá Thia 850 con/500 m2, cá Đuôi gai 417 con/500 m2

2.3 Hiện trạng cá cảnh biển tại TP HCM

2.3.1 Các loài cá cảnh biển được kinh doanh

Bùi Thế Bình (2008) khảo sát 16 cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển tại TP HCM thấy có khoảng 70 loài cá cảnh biển với đầy đủ màu sắc, hình dạng và kích thước khác nhau được bày bán Nhiều nhất là là các loại cá thuộc họ cá Khoang cổ,

Trang 22

Nàng đào, Thia, Đuôi gai, Bò, Bống và họ cá Thiên thần Các loài thuộc họ cá Mó, Nóc, Thìa vôi ít gặp hơn nếu gặp số lượng rất ít

Số lượng mỗi loài cá trong cùng một họ cũng rất khác nhau Các loài cá Khoang cổ sọc trắng, Khoang cổ hồng, Khoang cổ đỏ chiếm ưu thế so với các loại

cá Khoang cổ khác

Họ cá Đuôi gai gồm có cá Đuôi gai, Mặt khỉ môi son, Mặt khỉ xanh, Bắp nẻ xanh, Bá tước đuôi gai, Chim dù sọc và Chim dù vàng Trong đó các loại cá Bắp nẻ xanh, Đuôi gai, Chim dù sọc được kinh doanh nhiều hơn các loài khác trong cùng

Các loài cá Thiên thần chia thành hai loại có kích thước khác nhau Những loài kích thước lớn gồm cá Hoàng đế, Chim xanh, Thái tử, Hoàng hậu Những loài kích thước nhỏ bao gồm cá Mỹ nhân, Hoàng yến, Sim tím, Sim vàng, Sim bạc Các loài cá thuộc họ cá Thiên thần có giá trị nhất trong các loài cá cảnh biển vì chúng có màu sắc đẹp

Các loài cá thuộc họ cá Nàng đào chỉ thích hợp nuôi trong bể cá có San hô nên ít cửa hàng bán các loài cá này Họ cá Nàng đào bày bán trong các cửa hàng bao gồm Nàng đào học trò, Nàng đào sọc chéo, Nàng đào chim sâu

Các loại cá Chuồn chuồn, Sơn đá, Phèn vàng, cá Nóc màu sắc không đẹp nên

ít được cửa hàng kinh doanh Cá Ngựa được nuôi làm cảnh từ lâu nhưng không thu hút người chơi nên ít cửa hàng Cá Bò bông bi và cá Bò Picasso mỗi cửa hàng chỉ

có từ một đến hai con được bày bán

Vũ Thị Thúy (2009) khảo sát 13 cửa hàng và 3 trại cá trên địa bàn TP HCM được 155 loài cá cảnh biển khác nhau Trong đó số lượng mỗi loài xuất hiện tại các cửa hàng khác nhau do quy mô của mỗi cửa hàng khác nhau (bảng 2.4)

Trang 23

Bảng 2.4 : Mức độ phổ biến các loài cá cảnh biển khảo sát

Những loài cá xuất hiện nhiều gồm có các loài thuộc họ cá Khoang cổ, Thia

lá mạ, Mó bác sĩ, Rô đá, các loài này xuất hiện quanh năm và số lượng lớn Những loài xuất hiện theo mùa với số lượng trung bình gồm có họ cá Thiên thần, Nàng đào, Bắp nẻ Những loài xuất hiện ít với số lượng hạn chế gồm có cá Mó, Chuột, Phèn và một số loại trong họ Nàng đào

2.3.2 Thông tin các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển

Trên địa bàn TP HCM có khoảng 100 cửa hàng bán cá cảnh nước ngọt, tập trung chủ yếu trên đường Nguyễn Thông và đường Lưu Xuân Tín (Luong và ctv, 2002) Cá cảnh biển có khoảng 16 cửa hàng và phân bố tập trung ở các quận nội thành cụ thể: quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp, quận Thủ Đức, quận 3, quận 7, quận

8, quận 11 mỗi quận có một cửa hàng, quận 10 có hai cửa hàng, quận 5 có ba cửa hàng và quận Tân Bình có bốn cửa hàng (Bùi Thế Bình, 2008)

Diện tích các cửa hàng kinh doanh thường 10 – 20 m2, trung bình 13,6 m2 Những cửa hàng trên 20 m2 chiếm tỉ lệ thấp và thường kinh doanh chung với các mặt hàng khác Một số cửa hàng có diện tích nhỏ hơn 10 m2 (bảng 2.5)

Bảng 2.5: Diện tích mặt bằng kinh doanh cá cảnh biển

Trang 24

Trung bình mỗi cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển có hai người tham gia vào công việc kinh doanh Trong đó, số cửa hàng có hai lao động trở lên chiếm 18,75

%, đây là những cửa hàng có diện tích lớn hơn 20 m2 Đa số các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển chỉ có một người vừa quản lý vừa bán hàng, khi cần thêm lao động các cửa hàng này sẽ huy động lao động trong gia đình (Bùi Thế Bình, 2008)

Các mặt hàng kinh doanh tại các cửa hàng (bảng 2.6) đa dạng, nhiều chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu của người chơi cá cảnh biển Ngoài mặt hàng chính là cá cảnh biển thì các loại sinh vật biển người chơi thường nuôi ghép cũng được bán phổ biến San hô ngoài làm cảnh còn có tác dụng lọc sinh học và duy trì hệ sinh thái bền vững nên là đối tượng kinh doanh của hầu hết các cửa hàng Việc kinh doanh dịch

vụ tạo điều kiện thuận lợi cho người nuôi cá đồng thời cũng làm gia tăng thêm thu nhập cho người kinh doanh

Bảng 2.6: Mặt hàng kinh doanh tại các cửa hàng cá cảnh biển

Trang 25

Kinh nghiệm kinh doanh được người kinh doanh đúc kết trong quá trình lâu dài đặc biệt là các yếu tố giúp họ thành công Từ kết quả điều tra của Bùi Thế Bình (2008) thấy rằng nghề kinh doanh cá cảnh biển tại TP HCM mới chỉ phát triển vài năm trở lại đây nên kinh nghiệm kinh doanh của các chủ cửa hàng còn hạn chế vì vậy sẽ gây khó khăn cho các chủ cửa hàng kinh doanh mặt hàng này (bảng 2.7)

Bảng 2.7: Kinh nghiệm kinh doanh của các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển

Thời gian kinh doanh (năm) Số cửa hàng Tỉ lệ (%)

Nguồn: Bùi Thế Bình (2008)

2.3.3 Thị hiếu người chơi cá cảnh biển

Các loài cá thuộc họ cá Thia có số lượng phong phú, kích thước nhỏ và thích hợp nuôi với cả hai loại bể San hô, bể đá tự nhiên nên là đối tượng nuôi chính của người chơi Bên cạnh cá Thia thì cá Nàng đào cũng là đối tượng nuôi chính nhưng chỉ thích hợp nuôi trong bể có San hô Các loại cá Chuồn chuồn, Sơn đá, Phèn vàng, cá Nóc và cá Ngựa màu sắc không đẹp nên không thu hút người chơi Cá Mao tiên có giá cả phù hợp nên nhiều người chơi Tôm biển và San hô khói dễ nuôi, giá rẻ và phù hợp nuôi ghép nên đa số người chơi cá cảnh biển chọn mua (Bùi Thế Bình, 2008)

Bảng 2.8: Tính ưa chuộng các loài cá cảnh biển

Tính ưa chuộng Số loài Tỉ lệ (%)

Trung bình 115 74,19

Nguồn: Vũ Thị Thúy (2009)

Trang 26

Những loài cá đẹp và lạ thường được ưa chuộng nhiều hơn so với những loài khác (Vũ Thị Thúy, 2009) Các loại cá cảnh trên thị trường TP HCM đa dạng chủng loại và kích thước, hình dáng và màu sắc đẹp, giá cả phù hợp nên đáp ứng được nhu cầu của người chơi Các loài cá thuộc họ cá Thiên thần như Hoàng hậu, Hoàng đế, Thái tử, Hoàng gia được ưa chuộng nhất vì đẹp và hiếm, giá bán cao Theo cách chia nhóm tính ưa chuộng của Vũ Thị Thúy (2009) thì tính ưa chuộng các loài cá cảnh biển được chia theo bảng 2.8 Theo đó, nhóm cá có mức độ ưa chuộng trung bình có số lượng lớn nhất so với nhóm có tính ưa chuộng cao và nhóm ít được người nuôi ưa chuộng

2.3.4 Tình hình xuất nhập khẩu cá cảnh biển

Việt Nam thuộc nhóm 45 nước xuất khẩu cá cảnh biển cho 3 thị trường tiêu thụ chính là Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản (Bruckner, 2005) Tuy nhiên, trong khi sản lượng và giá trị xuất khẩu cá cảnh biển của thế giới ngày càng tăng thì Chi Cục QLCL và BVNL Thủy Sản TP HCM cho biết sản lượng cá cảnh xuất khẩu liên tục tăng trong những năm gần đây nhưng chủ yếu là cá cảnh nước ngọt, sản lượng cá cảnh biển xuất khẩu lại có xu thế giảm, sản lượng giảm mạnh nhất vào năm 2008 (bảng 2.9) Kim ngạch xuất khẩu cá cảnh biển giảm mạnh trong 3 năm trở lại đây, điều này có thể do phải cạnh tranh thị trường với các nước xuất khẩu khác hoặc do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Khủng hoảng kinh tế làm thu nhập người dân các nước nhập khẩu giảm đi dẫn tới chi phí dành cho giải trí giảm xuống, trong đó có chi phí chơi cá cảnh biển Trước khi mua cá cảnh thì người chơi phải cân nhắc nhiều vấn đề trong đó có giá mua cá Qua số liệu bảng 2.9 thấy rằng chiến lược tiếp thị của các nhà xuất khẩu cá cảnh biển nước ta còn yếu, chưa xây dựng được thương hiệu cá cảnh biển của Việt Nam đồng thời chưa tận dụng được ưu thế của nước ta là nước nhiệt đới có nguồn lợi cá cảnh biển phong phú, đa dạng chủng loại Số lượng và kim ngạch xuất khẩu

cá cảnh biển giảm mạnh qua từng năm cũng có thể do nguồn lợi cá cảnh biển bị suy giảm do đánh bắt nhiều năm liền dẫn tới cạn kiệt

Trang 27

Bảng 2.9: Sản lượng và kim nghạch xuất khẩu cá cảnh của TP HCM

Năm lượng (con)Tổng sản cảnh biển (con)Sản lượng cá cảnh biển (USD) Kim ngạch cá

Nguồn: Chi Cục QLCL và BVNL Thủy Sản TP HCM, 2010

2.4 Kỹ thuật nuôi và chăm sóc cá cảnh biển

Có hai nguồn nước nuôi cá cảnh biển là nước biển tự nhiên và nước biển nhân tạo (Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997) Theo Watson và Hill (2006) độ mặn, nhiệt độ thích hợp cho cá cảnh biển là 33 – 35 ppt và 22 – 28 oC Tác giả cũng cho rằng hàm lượng Oxy hòa tan không thể thấp hơn 5 mg/L Dùng nước biển nhân tạo nuôi cá cảnh biển là tốt nhất (Nguyễn Phúc Cẩm Tú và Nguyễn Tiến Phúc, 1996) Tuy nhiên, nước biển nhân tạo giá thành cao gấp 3 – 4 lần so với nước biển tự nhiên Mặt khác, gần như không thể pha chế nước biển giống với nước biển tự nhiên vì trong nó có 45 loại khoáng chất (Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997)

Một số tiêu chí khi chọn cá cảnh biển nuôi là cá phải khỏe mạnh, cơ thể lành lặn, mắt sáng trong và màu sắc đậm nét với những khoang màu rõ ràng (Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997) Đối với các loại cá nuôi ghép thì phải dựa vào tập tính sống của từng loài để lựa chọn, các loài cá đánh nhau thì không nên nuôi

chung, tránh nuôi những loài có tính ăn giống nhau (Ngọc Lan, 2001)

Chọn bể nuôi có kích thước lớn sẽ dễ trang trí và đẹp, bể nuôi có kính thước càng lớn càng tốt (Ngọc Lan, 2003; Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997) Loại vật liệu làm bể bằng kính là tốt nhất vì loại vật liệu này không thấm nước, không độc cho cá nuôi và không bị nước biển ăn mòn (Nguyễn Phúc Cẩm Tú và Nguyễn Tiến Phúc, 1996) Máy sưởi là thiết bị quan trọng đối với bể nuôi cá cảnh biển vì đa số các loài cá cảnh biển thích hợp với nhiệt độ trong khoảng 22 – 28 OC

và chúng rất nhạy cảm với biến đổi môi trường sống nên việc lắp đặt máy sưởi sẽ duy trì nhiệt độ nước thích hợp cho sinh sống của cá (Watson và Hill, 2006)

Trang 28

Có ba loại hệ thống lọc cho bể cá là lọc cơ học, lọc hóa học và lọc sinh học (Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997) Hệ thống lọc các cửa hàng áp dụng tại TP HCM là hệ thống lọc đặt dưới bể kính, hệ thống này đảm bảo hiệu quả sử dụng và tính thẩm mỹ cho bể nuôi (Bùi Thế Bình, 2008) Máy sục khí vừa trang trí cho bể cá vừa cung cấp O2, loại bỏ CO2 nên lắp đặt máy sục khí là cần thiết Máy tạo bọt không thể thiếu cho bể cá cảnh do có tác dụng tách lượng protein thừa ra khỏi bể nuôi giúp duy trì chất lượng nước trong bể

Có hai hình thức nuôi cá cảnh biển phổ biến là nuôi đơn và nuôi ghép, ngoài

ra còn nuôi tuần hoàn (Ajithkumar và ctv, 2008; Holt, 2000) Calado và ctv (2008)

đã xây dựng hệ thống công nghệ nuôi một số loài giáp xác rạn San hô làm cảnh, điều này góp phần giảm áp lực khai thác ngoài tự nhiên và đa dạng hóa đối tượng nuôi làm cảnh

Không cho cá ăn quá no, nên cho cá ăn 2 lần/ngày (Ngọc Lan, 2001; Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997) Thức ăn phải đảm bảo các nhu cầu Vitamin, Khoáng chất, Protein và Gluxit trong khẩu phần ăn của cá (Sales và Janssens, 2003) Tảo tươi, luân trùng và copepoda giúp cá Khoang cổ đỏ

(Amphiprion frenatus) dưới 30 ngày tuổi tăng trưởng nhanh hơn và có màu sắc gần

giống với tự nhiên (Trần Văn Phước và ctv, 2009)

Có nhiều loại bệnh trên cá cảnh biển như bệnh do virus (Bernoth và ctv, 1995), bệnh do vi khuẩn (Lewbart, 2001; Passantinoa và ctv, 2008) và bệnh do ký sinh trùng (Harms, 1996) Có ba loại bệnh thường gặp trên cá cảnh biển là bệnh do môi trường, hội chứng hồ mới và bệnh đốm trắng (Nguyễn Phúc Cẩm Tú và Nguyễn Tiến Phúc, 1996; Phan Ngọc Tuấn và Lương Thanh Tuấn, 1997)

2.5 Phương pháp hồi quy logistics và ứng dụng trong nghiên cứu thủy sản 2.5.1 Hồi quy logistics

Bản chất của phân tích hồi quy là nghiên cứu sự phụ thuộc của một biến vào

một hay nhiều biến khác Mối quan hệ này được thể hiện qua một phương trình hay

hệ phương trình Các biến độc lập và biến phụ thuộc có thể là biến định tính hay biến định lượng Hồi quy logistic diễn tả mối quan hệ giữa biến phụ thuộc nhị phân

Trang 29

và các biến giải thích, các biến giải thích có thể liên tục hay gián đoạn (Trịnh Công Thành, 2003) Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập trong mô hình hồi quy logistic là quan hệ phi tuyến theo hàm số mũ

Thông tin cần thu thập về biến phụ thuộc trong mô hình binary logistic là một sự kiện nào đó có xảy ra hay không Biến phụ thuộc có thể nhận một trong hai giá trị là 0 (không xảy ra sự kiện) hoặc 1 (xảy ra sự kiện) Xác suất xảy ra sự kiện phụ thuộc vào các biến độc lập (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

2.5.2 Ứng dụng mô hình hồi quy logistics trong nghiên cứu thủy sản

Kết quả phân tích bằng mô hình logistic của Alencastro (2004) cho thấy nam giới từ 22 – 44 tuổi ở các mức thu nhập và giáo dục khác nhau có vai trò quan trọng trong bảo vệ các rạn San hô và các loài sinh vật có trong rạn San hô đó Hơn thế tác giả còn cho rằng tuổi, giáo dục, vị trí địa lý và mức thu nhập ảnh hưởng tới sở thích nuôi cá cảnh biển

Duc (2008a) khi sử dụng mô hình logistic phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của các nông hộ có nuôi trồng thủy sản cho rằng mức độ yêu thích nghề nghiệp có ảnh hưởng tới sản lượng thủy sản Bên cạnh đó nghiên cứu chỉ ra, tuổi càng tăng nông dân càng thích nuôi thủy sản và diện tích nuôi trồng thủy sản càng lớn người dân kiếm nhiều tiền hơn Nuôi trồng thủy sản làm cho người cao tuổi hạnh phúc hơn, tăng sinh kế và cuộc sống của người dân tốt hơn (Duc, 2009) Không những vậy, nuôi trồng thủy sản còn góp phần phát triển nông thôn, là tiềm năng phát triển vùng (Duc, 2008b)

Mô hình logistic tích lũy có thể sử dụng khảo sát mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng cuộc sống trong khu bảo tồn biển Nha Trang (Nguyễn Minh Đức và Dương Thị Kim Lan, 2009) Qua mô hình này, tương tác giữa tuổi và thu nhập từ khai thác thủy sản, số lao động nam trong gia đình rất có ý nghĩa đối với hạnh phúc của họ Những ngư dân trẻ tuổi hay hộ gia đình có số lao động nam lớn hơn sẽ thu nhập từ khai thác thủy sản lớn hơn và hạnh phúc hơn

Mô hình binary logistic cũng được ứng dụng trong nghiên cứu thủy sản Bằng mô hình này, Baez và ctv (2009) cho rằng nồng độ chlorophyll trong rong bẹ

Trang 30

(Undiria pinnatifida) vào mùa hè ảnh hưởng lớn nhất và hoạt động bức xạ ánh sáng

vào mùa xuân là yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sự xâm lấn của loài rong này ở khu vực phía bắc Iberia Đào Công Thiên (2008) cho rằng việc làm, đất đai, vốn, quy

mô hộ và giới tính ảnh hưởng đến mức độ nghèo đói của ngư dân ven đầm Nha Phu (Khánh Hòa) Giáo dục, mối quan hệ với các đại lý phân phối và thị trường con giống ảnh hưởng tới quyết định nuôi cá Trê lai (Adeogun và ctv, 2008) Hơn thế, tác giả còn cho rằng khoa học công nghệ, chính phủ và các tổ chức khác có vai trò quan trọng đối với duy trì chất lượng và số lượng con giống

Trang 31

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.2.1 Thu thập số liệu sơ cấp

Tiến hành 3 đợt điều tra thu thập số liệu sơ cấp bằng bảng câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 1, 2, 3):

¾ Điều tra, phỏng vấn ngẫu nhiên 10 nhà cung cấp cá cảnh biển cho thị trường

từ sách, báo, tạp chí, luận văn tốt nghiệp các khóa trước, Internet

3.2.3 Phương pháp lập bảng câu hỏi điều tra

Dựa vào mục tiêu của đề tài lập phiếu điều tra sau đó tiến hành điều tra thử nghiệm rồi hoàn chỉnh bảng câu hỏi điều tra

3.2.4 Xây dựng mô hình thực nghiệm

3.2.4.1 Xây dựng mô hình binary logistic thực nghiệm

Trang 32

Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) xây dựng mô hình binary logistic cho trường hợp chỉ có một biến độc lập X như sau: Có mô hình binary

X) B (B

1 0

e1

e1/X)E(Y

++

e1)(YP

e -11)P(Y-10)(YP

e1

e -1

e1e0)

(Y

P

1)(Y

(*) Lấy log cơ số E hai vế của phương trình (*) rồi

e

0)(YP

1)(YP

1)(YPloge ⎥= 0 + 1

hàm hồi quy binary logistic với một biến độc lập X

Mở rộng mô hình binary logistic cho nhiều biến độc lập và biến đổi như Mahapatra (2001), Mahapatra và Kant (2005) và Duc (2008a, 2008b, 2009) thì mô

hình (1) trở thành mô hình (2)

logit [P(Y = 1)] = log P(Y = 1) = b0 + b X'i = f(X'i) (2)

1 - log P(Y = 1)

Trong đó X i : Các biến độc lập đại diện cho người được phỏng vấn

Y: Mức độ trả lời của người được phỏng vấn (Y = 0 hoặc Y = 1) P: Xác suất trả lời của người được phỏng vấn với Y = 1 i: Số thứ tự của mẫu phỏng vấn

b 0 : Hằng số của mô hình b: Vector các tham số tương ứng với các biến giải thích

Trang 33

Từ (2) ta suy ra

Với câu hỏi “Anh/Chị có hài lòng đối với việc nuôi cá cảnh biển hiện nay không ?”, người nuôi cá cảnh biển lựa chọn ý kiến trả lời là “hài lòng” hoặc “không hài lòng” Vì vậy, mô hình binary logistic được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nuôi cá cảnh biển đối với hoạt động nuôi cá

cảnh biển Mô hình (3) là mô hình binary logistic thực nghiệm cho nghiên cứu này

Logit[P(Y = 1)] = f(X1,X2,X3,X4,X5,X6,X7,X8,X9,X10,X11,X12) (3)

Trong đó Y: Mức độ hài lòng của người nuôi cá cảnh biển (Y = 0 hoặc Y = 1)

P: Xác suất trả lời của người nuôi cá cảnh biển với Y = 1

X 1 : Tổng chi phí nuôi cá cảnh biển (triệu đồng)

X 2 : Vai trò giảm căng thẳng của cá cảnh biển đối với người nuôi

X 3 : Tiêu chí chọn cá cảnh (hoạt động bơi lội)

X 4 : Khó khăn (không có nhiều thời gian để chăm sóc cá)

X 5 : Địa điểm nuôi

X 6 : Vai trò làm người nuôi có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc hơn

X 7 : Thời điểm cho cá ăn (buổi chiều)

X 8 : Hình thức nuôi

X 9 : Thời điểm cho cá ăn (buổi sáng)

X 10 : Khó khăn (kỹ thuật nuôi và chăm sóc cá cảnh biển)

X 11 : Yếu tố quyết định mua cá (giá cả hợp lý)

X 12 : Thời gian nuôi (năm)

Với câu hỏi “Nuôi cá cảnh biển có giúp Anh/Chị giảm stress (căng thẳng) không ?”, người nuôi cá cảnh biển lựa chọn ý kiến trả lời là “có” hoặc “không” Vì vậy, mô hình binary logistic được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vai

trò làm giảm stress đối với người nuôi cá cảnh biển Mô hình (4) là mô hình binary

logistic thực nghiệm cho nghiên cứu này

P(Y = 1) = e

logit[P(Y = 1)]

1 + elogit[P(Y = 1)]

Trang 34

Logit[P(Y = 1)] = f(X1,X2,X3,X4,X5) (4)

Trong đó P: Xác suất trả lời của người nuôi cá cảnh biển với Y = 1

Y: Vai trò làm giảm căng thẳng của bể cá cảnh biển (Y = 0 hoặc Y = 1)

X 1 : Địa điểm nuôi cá cảnh biển

X 2 : Tổng chi phí nuôi cá cảnh biển (ngàn đồng)

X 3 : Thời gian nuôi (năm)

X 4 : Mức thu nhập của người nuôi

X 5 : Chất lượng dịch vụ của cửa hàng bán cá cảnh biển

3.2.4.2 Xây dựng hàm chi phí thực nghiệm

Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến giả ngoài ảnh hưởng của các biến độc lập định lượng thì các biến độc lập định tính cũng ảnh hưởng tới biến phụ thuộc Sử dụng phương pháp xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến giả của Hoàng Ngọc Nhậm và ctv (2008), Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) để xây dựng mô hình ảnh hưởng của các yếu tố lên tổng chi phí nuôi

cá cảnh biển Mô hình (5) là mô hình thực nghiệm cho nghiên cứu này

Yi = β0+ β1Xi+ β2Di+ ui = f(Xi, Di) (5)

Trong đó Y i : Tổng chi phí nuôi cá cảnh biển (triệu đồng)

β 0 : Hằng số của mô hình

β 1 : Vector các tham số tương ứng với các biến giải thích định lượng

β 2 : Vector các tham số tương ứng với các biến giải thích định tính

u i : Sai số ngẫu nhiên

X i : Các biến định lượng đại diện cho người trả lời

D i : Các biến giả đại diện cho người trả lời (D = 0 hoặc D = 1) i: Số thứ tự của mẫu phỏng vấn

Trang 35

3.2.5 Mã hóa thông tin và xử lý số liệu

Mã hóa thông tin, nhập số liệu và vẽ đồ thị trên Microsoft Excel 2003, những thông tin người chơi cá cảnh biển chọn trong phiếu điều tra mã hóa thành số 1, những thông tin không được chọn mã hóa thành số 0

Tính tần số, tần suất, ước lượng trung bình các thông tin khảo sát bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows Kiểm định mối quan hệ giữa hai biến định tính định danh hay định tính định danh với định tính thứ bậc bằng kiểm định Chi - bình phương (χ2), dùng hệ số liên hợp C (Coefficient of contigency) để đo lường mức độ quan hệ của hai loại biến đó Phân tích số liệu bằng cách lập bảng, hình để so sánh

và đưa ra kết quả Số liệu trình bày dạng giá trị trung bình + SE (Sai số chuẩn) Các phân tích thống kê thực hiện ở mức ý nghĩa α = 0,05

Xây dựng mô hình binary logistic bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows Kiểm định Chi – bình phương (χ2) để kiểm định ý nghĩa giải thích của các biến độc lập đối biến phụ thuộc Dùng hệ số -LL (-2 log likelihood) để đo lường mức độ phù hợp tổng quát của mô hình Kiểm định Wald để kiểm định ý nghĩa các hệ số hồi quy của các biến độc lập

Xây dựng mô hình ảnh hưởng của các yếu tố lên tổng chi phí nuôi cá cảnh biển bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows Kiểm định F - test để kiểm định mức

độ phù hợp tổng quát của mô hình, t - test để kiểm định ý nghĩa các hệ số hồi quy

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Nhà cung cấp cá cảnh biển cho thị trường TP HCM

Kết quả thu được thông qua khảo sát 10 nhà cung cấp tại Nha Trang và Cà

Ná thuộc các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận Tại thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có cơ sở nào cung cấp cá cảnh biển cho thị trường

TP HCM

Thời gian kinh doanh 6,40 ± 0,92 năm, thấp nhất là 3 năm và cao nhất là 12

năm (bảng 4.1) Thời gian kinh doanh thấp và có sự chênh lệch rất lớn giữa những

nhà cung cấp vì phong trào chơi cá cảnh biển trong nước mới phát triển những năm gần đây Những cửa hàng có thời gian kinh doanh lâu năm thường là cửa hàng lớn, cung cấp số lượng lớn cá biển và sinh vật biển khác Tương tự như thời gian kinh doanh thì mặt bằng kinh doanh cũng có sự chênh lệch lớn giữa các nhà cung cấp Mặt bằng kinh doanh có khi chỉ là cửa hàng nhỏ được thuê để trưng bày giới thiệu với khách hàng cũng có khi vừa giới thiệu và lưu trữ ngay tại gia đình Tuy nhiên diện tích mặt bằng kinh doanh của các nhà cung cấp là 49,8 ± 13,3 m2 lớn hơn so với diện tích mặt bằng kinh doanh của các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển tại thành phố Hồ Chí Minh là 13,56 ± 1,24 m2 (Bùi Thế Bình, 2008)

Bảng 4.1: Thời gian kinh doanh và mặt bằng kinh doanh của nhà cung cấp

Thời gian kinh doanh (năm) 10 3 12 6,4 0,92 Mặt bằng kinh doanh (m2) 10 20 136 49,8 13,3

Có 51 loài cá cảnh biển được cung cấp chủ yếu cho thị trường TP HCM (phụ lục 7) Trong đó, giống Centropyge có 5 loài, giống Amphiprion và Pomacanthus có

Trang 37

4 loài, giống Dascyllus có 3 loài và các giống Chromis, Chaetodon, Pteriois có 2 loài, còn lại mỗi giống một loài

Ngoài cá cảnh biển các nhà cung cấp còn bán cho các cửa hàng tại TP HCM nước biển và các loại sinh vật biển khác (bảng 4.2) Tuy nhiên, chỉ có 30 % người được hỏi trả lời có bán nước biển cho các cửa hàng tại TP HCM, do nước biển chỉ

là mặt hàng phụ đối với các nhà cung cấp, mặt khác do khoảng cách địa lý dài nên kinh doanh nước biển hiệu quả kinh tế không cao Các loài sinh vật biển khác như cầu gai, sao biển, san hô, hải sâm, huệ biển cũng được 90 % cửa hàng cung cấp cùng với cá cảnh biển Theo các nhà cung cấp thì các cửa hàng tại TP HCM thường đặt nhiều mặt hàng cho mỗi lần mua

Bảng 4.2: Các mặt hàng cung cấp cho thị trường TP HCM

Chỉ tiêu Nước biển Cá biển Sinh vật biển khác

Nguồn gốc cá biển và sinh vật biển khác cung cấp cho thị trường TP HCM 100% được bắt từ tự nhiên tương tự như nghiên cứu của Chapman và ctv (2007), không có cá từ nguồn sinh sản nhân tạo hay nhập khẩu Các cửa hàng mua cá cảnh biển của ngư dân bắt cá từ rạn san hô Sau đó, họ thuần dưỡng cá cảnh biển trong các bể xi măng và bể kính cho cá quen với điều kiện nuôi nhốt rồi bán cho các cửa hàng tại TP HCM

Tương tự như Wabnitz và Taylor (2003) thì hình thức vận chuyển cá cảnh biển chủ yếu là ô tô (100 %) ngoài ra còn vận chuyển bằng máy bay (30 %) Các loài cá cảnh biển là sinh vật sống nên thời gian vận chuyển sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tỉ lệ sống của chúng, mặt khác chi phí vận chuyển cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới giá thành và lợi nhuận Vận chuyển cá cảnh biển bằng ô tô là phù hợp nhất vì chi phí không cao bằng máy bay, chủ động thời gian, thời gian ngắn

Vai trò của nhà cung cấp trung gian rất lớn vì tất cả các nhà cung cấp cá cảnh biển cho TP HCM đều gián tiếp qua trung gian, họ làm cầu nối giữa nhà cung cấp ở

Trang 38

các địa phương khác với các cửa hàng tiêu thụ tại TP HCM Tuy nhiên, cũng có 60

% nhà cung cấp cá cảnh biển vừa sử dụng trung gian vừa trực tiếp bán cho các cửa hàng tại TP HCM (bảng 4.3) Sự tham gia của nhà cung cấp trung gian một mặt góp phần thúc đẩy liên kết giữa nơi cung cấp và thị trường tiêu thụ, mặt khác cũng làm tăng giá thành và giá trị gia tăng của cá cảnh biển

Bảng 4.3: Hình thức cung cấp cho thị trường TP HCM

Chỉ tiêu Trực tiếp Gián tiếp

Có bán Tổng Có bán Tổng Tần số 6 10 10 10

Tỉ lệ (%) 60 100 100 100

Tất cả các nhà cung cấp hài lòng với tình hình kinh doanh của mình Thị trường tiêu thụ tại TP HCM đang phát triển nhanh, còn nhiều tiềm năng khi 80 % nhà cung cấp cho rằng số lượng khách hàng của họ tăng lên và không đổi Tuy nhiên, chỉ có 20 % nhà cung cấp muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sang các địa phương khác Điều đó cũng phù hợp với thực tế phong trào chơi cá cảnh biển chỉ mới phát triển tại TP HCM trong vài năm trở lại đây nên nhu cầu được dự đoán tiếp tục tăng lên trong thời gian tới tại TP này

Vì nhà cung cấp là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành lên thị trường nên tìm hiểu hiện trạng cung cấp cá cảnh biển giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về thị trường mặt hàng này tại TP HCM Quy mô mỗi nhà cung cấp không giống nhau, 51 loài cá cảnh biển có nguồn gốc từ tự nhiên được cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho thị trường TP HCM Ngoài cá cảnh biển các nhà cung cấp còn bán cho các cửa hàng tại TP HCM nhiều loại sinh vật biển làm cảnh khác, hình thức vận chuyển cá cảnh biển bằng ô tô là hợp lý nhất

Trang 39

4.2 Hiện trạng kinh doanh cá cảnh biển

4.2.1 Lao động

Lực lượng lao động trong các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển có sự biến động lớn tùy thuộc vào quy mô và hoạt động của mỗi cửa hàng Ngoài lao động từ gia đình thì các cửa hàng cũng thuê lao động để phục vụ cho hoạt động kinh doanh

Bảng 4.4: Lực lượng lao động trong các cửa hàng cá cảnh biển tại TP HCM

Lao động người nhà (người) 1 3 33 1,65 0,15

Chi phí lao động (triệu đồng) 2 16 150 7,52 0,89

Các cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển có nhu cầu thuê lượng lao động nhất định, trong số LĐTM thì nam nhiều hơn nữ (bảng 4.4) LĐTM nữ thường bán hàng tại cửa hàng, còn LĐTM nam thường lắp đặt bể nuôi cá cảnh cho khách hàng, vận chuyển trang thiết bị và làm công việc bên ngoài cửa hàng LĐNN chủ yếu cũng là nam, nữ ít hơn vì nữ chủ yếu bán hàng và quản lý kinh tế còn nam thường vừa bán hàng lại vừa điều phối hoạt động dịch vụ ngoài cửa hàng Phần lớn các chủ cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển trước kia là những người chơi cá cảnh biển sau đó họ phát triển lên thành kinh doanh Những người này chủ yếu là nam nên trong các cửa hàng kinh doanh mặt hàng này nam thường giữ vai trò chính

Nghiên cứu của Bùi Thế Bình (2008) cho kết quả lao động nam 77,42 %, lao động nữ 22,58 % và lao động nam cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh cá cảnh biển Tuy nhiên Bùi Thế Bình (2008) cho rằng lực lượng lao động chủ yếu là lao động từ gia đình, lao động thuê mướn ít hơn và số lao động

Trang 40

trung bình/cửa hàng ít hơn Vậy lực lượng lao động tăng lên có thể do hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển nên nhu cầu lao động tăng lên, các cửa hàng thuê thêm lao động để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình

Chi phí lao động trung bình/cửa hàng là 7,52 ± 0,89 triệu đồng và có sự biến đổi lớn tùy thuộc vào số lao động mà cửa hàng thuê, số tiền trả cho mỗi lao động Nhìn chung các các cửa hàng trong nội thành thường trả lương cho LĐTM cao hơn

do hoạt động kinh doanh tốt và chi phí cho sinh hoạt ở nội thành cao

4.2.2 Thời gian và mặt bằng kinh doanh, vồn đầu tư ban đầu

Thời gian kinh doanh và mặt bằng kinh doanh của cửa hàng cá cảnh biển cũng biến động lớn giữa các cửa hàng (bảng 4.5) Thời gian kinh doanh trung bình/cửa hàng là 5,65 ± 0,59 năm tương tự như nghiên cứu của Bùi Thế Bình (2008) tuy nhiên lại tương đối thấp so với thời gian kinh doanh của các cửa hàng kinh doanh cá cảnh nước ngọt khi 59,6 % cửa hàng có thời gian kinh doanh lớn hơn

10 năm (Huỳnh Thị Thu Trang, 2005)

Bảng 4.5: Thời gian kinh doanh và mặt bằng kinh doanh của các cửa hàng

Thời gian kinh doanh (năm) 20 3 13 113 5,65 0,59 Diện tích mặt bằng kinh

Chi phí mặt bằng kinh

doanh (triệu đồng/tháng) 17 3 8 87 5,12 0,35 Vốn đầu tư ban đầu

Ngày đăng: 21/12/2017, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w