1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên tiểu học module 1, 2, 4, 12

56 2,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Nội dung bồi dưỡng: Ghi rõ các nội dung bồi dưỡngNỘI DUNG BỒI DƯỠNG I: * Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở Tiểu học TH12: Tự học 13 tiết; học tập trung 18 tiết - C

Trang 1

TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BDTX

NĂM HỌC 2015-2016

1

Trang 2

1) Nội dung bồi dưỡng: (Ghi rõ các nội dung bồi dưỡng)

NỘI DUNG BỒI DƯỠNG I:

* Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở Tiểu học (TH12):

Tự học 13 tiết; học tập trung 18 tiết

- Các nội dung cần tích hợp giáo dục trong các môn học và hoạt động giáo dục

- Thực hành lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục

2 Thời gian bồi dưỡng:

Từ ngày 15 tháng 8 năm 2015 đến ngày 31 tháng 10 năm 2015

3 Hình thức bồi dưỡng: (ghi rõ BD bằng hình thức tự học hay tập trung Nếu BD bằng

hình thức tập trung thì nêu rõ địa điểm và họ tên báo cáo viên).

Tự học: 13 tiết; học tập trung theo tổ khối:18 tiết

4 Kết quả đạt được: (Ghi rõ đã tiếp thu, nắm bắt được những kiến thức nào)

Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết dạy họctích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới thựchiện

Cùng với xu thế đổi mới về giáo dục tại Việt Nam, thì chương trình dạy nghề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp được thiết kế theo quan điểm kết hợp môn học

và module kỹ năng hành nghề Các module được xây dựng theo quan điểm hướng đến năng lực thực hiện Module là một đơn vị học tập có tính trọn vẹn, tích hợp giữa

lý thuyết và thực hành để học sinh sau khi học xong có năng lực thực hiện được công việc cụ thể của nghề nghiệp Như vậy dạy học các module thực chất là dạy học tích hợp nội dung để nhằm hướng đến mục đích sau:

A Mục đích

- Gắn kết đào tạo với lao động

- Học đi đôi với hành, chú trong năng lực hoạt động

- Dạy học hướng đến hình thành các năng lực nghề nghiệp, đặc biệt năng lựchoạt động nghề

- Khuyến kích học sinh học một cách toàn diện hơn (Không chỉ là kiến thứcchuyên môn mà còn học năng lực từ ứng dụng các kiến thức đó)

- Nội dung dạy học có tính động hơn là dự trữ

- Học sinh tích cực, chủ động, độc lập hơn

B Đặc điểm của dạy học tích hợp:

Dạy học tích hợp có các đặc điểm sau:

Trang 3

1 Lấy người học làm trung tâm:

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu

cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có khả năng địnhhướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóahọc sinh Dạy học lấy học sinh là trung tâm đòi hỏi học sinh là chủ thể của hoạt độnghọc, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chínhmình, học sinh không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảngcủa giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể vàsinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám pháhọc để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân

Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi học sinh tự thể hiện mình,phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhómnày sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trongnhóm hăng hái tham gia vào gỉai quyết vấn đề

Sự hợp tác giữa học sinh với học sinh là hết sức quan trọng nhưng vẫn chỉ làngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy nội lực là tính tự chủ, chủ động

nổ lực tìm kiếm kiến thức của học sinh Còn giáo viên chỉ là người tổ chức và hướngdẫn quá trình học tập, đạo diễn cho học sinh tự tìm kiếm kiến thức và phương thứctìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình Giáo viên phải dạy cái mà họcsinh cần, các doanh nghiệp đang đòi hỏi để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chấtlượng cao cho nền kinh tế- xã hội chứ không phải dạy cái mà giáo viên có Quan hệgiữa giáo viên và học sinh được thực hiện dựa trên cơ sở tin cậy và hợp tác với nhau.Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh có thể chưa chính xác, chưa khoahọc, học sinh có thể căn cứ vào kết luận của giáo viên để tự kiểm tra, đánh giá rútkinh nghiệm về cách học của mình Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đóchính là biết cách học

Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy học sinh là trung tâm, đây là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống

Trang 4

Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của học sinh để vận dụng vào côngviệc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng

và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ Từ những kết quả đầu ra đi đến xác định vai tròcủa người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai trò tập hợp các hành viđược mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà người đó sẽ thực hiện thật sự Do đó,đòi hỏi giáo viên phải dạy được cả lý thuyết chuyên môn nghề nghiệp vừa phảihướng dẫn quy trình công nghệ, thao tác nghề nghiệp chuẩn xác, phổ biến được kinhnghiệm, nêu được các dạng sai lầm, hư hỏng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục,biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập

3 Dạy và học các năng lực thực hiện

Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được cácnăng lực mà học sinh cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở các công việcnghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong việc phân tích nghề khixây dựng chương trình Xu thế hiện nay của các chương trình dạy nghề đều được xâydựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần có của người lao động trong thực tiễn sảnxuất, kinh doanh Phương pháp được dùng phổ biến để xây dựng chương trình làphương pháp phân tích nghề hoặc phân tích chức năng của từng nghề cụ thể Theocác phương pháp này, các chương trình đào tạo nghề thường được kết cấu theo cácmodule năng lực thực hiện Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nội dung giảngdạy trong module phải được xây dựng theo hướng “tiếp cận theo kỹ năng”

Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lýthuyết và dạy thực hành, qua đó ở học sinh hình thành một năng lực nào đó hay kỹnăng hành nghề nhằm đáp ứng được mục tiêu của module Dạy học phải làm cho họcsinh có các năng lực tương ứng với chương trình Do đó, việc dạy kiến thức lý thuyếtkhông phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự pháttriển các năng lực thực hành ở mỗi học sinh Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệthống tri thức khoa học chuyên ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luậtchung của lĩnh vực chuyên ngành đó Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫnđến tình trạng lý thuyết suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn Do

đó, cần gắn lý thuyết với thực hành trong quá trình dạy học Thực hành là hình thứcluyện tập để trau dồi kỹ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho học sinh hiểu rõ và nắmvững kiến thức lý thuyết Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học điđôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch,quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lý thuyết vừa học Để hình thành cho họcsinh một kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý cácnguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì

có thể huy động được nằm ngoài cá nhân) Như vậy, giáo viên phải định hướng, giúp

đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động của học sinh Sự định hướng của giáoviên góp phần tạo ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát

Trang 5

triển của học sinh mà mục tiêu bài học đặt và cách giải quyết chúng Giáo viên vừa

có sự trợ giúp vừa có sự định hướng để giảm bớt những sai lầm cho học sinh ở phầnthực hành; đồng thời kích thích, động viên học sinh nẩy sinh nhu cầu, động cơ hứngthú để tạo ra kết quả mới, tức là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành sản phẩmcủa bản thân

Trong dạy học tích hợp, học sinh được đặt vào những tình huống của đời sốngthực tế, do đó phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt

ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa

rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Họcsinh cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đốitượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật,hiện tượng Từ đó, học sinh vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương phápthực hành Như vậy, giáo viên không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà cònhướng dẫn các thao tác thực hành

Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, giáo viên cũngcần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưađúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh Việc đánhgiá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là học sinh phải thực hành đượccác công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế Việc đánh giáriêng từng người khi họ hoàn thành công việc, đánh giá không phải là đem so sánhhọc sinh này với học sinh khác mà đánh giá dựa trên Chuẩn kiến thức kỹ năng

Khi xây dựng bài dạy theo quan điểm tích hợp, người GV không chỉ chú trọngnội dung kiến thức tích hợp mà còn phải xây dựng một hệ thống hoạt động, thao táctương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt người học từng bước thực hiện để hình thành nănglực Bài dạy theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi

sự tích hợp các kiến thức, kỹ năng chuyên môn để giải quyết tình huống nghề nghiệp

Bài dạy tích hợp liên quan đến các thành phần sau:

- Chương trình đào tạo nghề

- Module giảng dạy

- Giáo án tích hợp

- Đề cương bài giảng theo giáo án

- Đề kiểm tra

Trang 6

- Các mô phỏng, bản vẽ, biểu mẫu sử dụng trong bài giảng.

Trong đó, giáo án tích hợp là thành phần quan trọng nhất Vì vậy, để tổ chức

dạy học tích hợp thành công đó là GV phải biên soạn được giáo án tích hợp phù hợpvới trình độ của người học, với điều kiện thực tiễn của cơ sở đào tạo, nhưng vẫn đảmbảo thời gian và nội dung theo chương trình khung đã quy định

b Giáo án tích hợp

Giáo án tích hợp không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lênlớp truyền thụ áp đặt cho người học, mà là một bản thiết kế các hoạt động, tình huốngnhằm tổ chức cho người học thực hiện trong giờ lên lớp để giải quyết các nhiệm vụhọc tập Việc xây dựng giáo án tích hợp phải đảm bảo các nội dung và cấu trúc đặcthù Việc lựa chọn hoạt động của giáo viên và học sinh đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt

để người học thông qua hoạt động mà tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và thái độ đốivới lao động nghề nghiệp và cuộc sống

Cấu trúc giáo án tích hợp

GIÁO ÁN SỐ: … ……

Thời gian thực hiện: ………… ……… …… Tên bài cũ: ………… ……… ……… Thực hiện từ ngày … …… đến ngày … ……

TÊN BÀI: ………

MỤC TIÊU, YÊU CẦU CẦN ĐẠT:

- Sau lhi học xong bài này học sinh có khả năng:

II THỰC HIỆN BÀI HỌC:

I Phần mở đầu: Dẫn nhập:

Giới thiệu tổng quan về bài học Ví dụ: lịch

sử, vị trí, vai trò, câu chuyện, hình ảnh…liên

quan đến bài học.

Lựa chọn các hoạt động phù hợp.

Lựa chọn thời gian phù hợp.

Lựa chọn các phương pháp  phù hợp.

Trang 7

Giới thiêu chủ đề:

- Tên bài học:

- Mục tiêu:

- Nội dung bài học: (Giới thiệu tổng quan về

quy trình công nghệ hoặc trình tự thực hiện

kỹ năng cần đạt được theo mục tiêu của bài

học)

+ Tiểu kỹ năng 1 (công việc 1)

+ Tiểu kỹ năng 2 (công việc 2)

………

+ Tiểu kỹ năng n (công việc n)

Lựa chọn thời gian phù hợp.

Lựa chọn các phương pháp  phù hợp.

Giải quyết vấn đề:

1 Tiểu kỹ năng 1 (công việc 1)

a Lý thuyết liên quan: (chỉ dạy những kiến

thức lý thuyết liên quan đến tiểu kỹ năng 1).

b Trình tự thực hiện: (hướng dẫn ban đầu

thực hiện tiểu kỹ năng 1).

c Thực hành: (hướng dẫn thường xuyên thực

hiện tiểu kỹ năng 1).

n Tiểu kỹ năng n (công việc n)

(Các phần tương tự như thực hiện tiểu kỹ

năng 1).

Lựa chọn thời gian phù hợp.

Lựa chọn các phương pháp  phù hợp.

Lựa chọn các phương pháp  phù hợp.

Hướng dẫn tự học:

- Hướng dẫn các tài liệu liên quan đến nội

dung của bài học để học sinh tham khảo.

- Hướng dẫn tự rèn luyện.

Lựa chọn thời gian phù hợp.

Lựa chọn các phương pháp  phù hợp.

5 Những nội dung bản thân sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục tại đơn

vị: (nêu rõ các nội dung vận dung vào thực tế và cách thức vận dụng)

Trang 8

Sau thời giam học tập và nghiêm cứu, trao đổi cùng đồng chí đồng nghiệp, Bản thân tôi đã vận dụng Module TH 12 vào thực tế như sau:

- Nghiên cứu chương trình giáo dục Tiểu học, xác định các hình thức mức độtích hợp nội dung dạy học trong các môn học và giữa các môn học

- Tập hợp các tài liệu dạy học tích hợp để tìm ra những nội dung được tích hợptrong các môn học ở tiểu học

1 Các nội dung cần tích hợp giáo dục trong các môn học và hoạt động giáo

dục ở tiểu học: Nội dung tích hợp được thể hiện qua việc gắn nội dung môn học vớiđời sống thực tiễn, lồng ghép nội dung về dân số, môi trường trong những nội dungphù hợp; hướng vào sự hình thành và phát triển năng lực hành động, năng lực giảiquyết vấn đề Học sinh tìm tòi, xây dựng kiến thức mới từ kiến thức đã biết và vốnsống thực tế cuộc sống

2 Phương pháp lựa chọn địa chỉ tích hợp và xác định mức độ tích hợp trong

các bài học của từng môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học

* Có nhiều hình thức tích hợp chương trình khác nhau:

+ Kết hợp lồng ghép: Đây là mức đầu tiên của tích hợp; theo đó những nộidung nào đó sẽ được kết hợp vào chương trình môn học độc lập có sẵn

+ Đa môn: Các môn học riêng lẻ nhưng có những chủ đề, vấn đề được tích hợpvào các môn

+ Liên môn: Chương tình tạo ra các chủ đề, vấn đề chung nhưng các khái niệmhoặc các kỹ năng liên môn được chú trọng giữa các môn mà không phải là từng mônriêng biệt Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thànhmột môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học

(VD: môn Tiếng Việt – Môn Tự nhiên và xã hội – môn Đạo đức – Kĩ năng sống )

* Xác định mức độ tích hợp:

+ Tích hợp theo chiều ngang: là tích hợp theo nguyên tắc đồng quy giữa cácphân môn với nhau, giữa kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, vănhóa, thiên nhiên, con người và xã hội; giữa kiến thức với kỹ năng, thái độ; giữa các

kỹ năng nghe, nói, đọc, viết

+ Tích hợp theo chiều dọc: là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng mớinhững kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm cụ thể là: kiếnthức và kỹ năng của lớp trên, cấp học trên bao hàm kiến thức và kỹ năng của lớpdưới, cấp học dưới nhưng cao hơn và sâu hơn

3 Kĩ năng lựa chọn phương pháp – kĩ thuật dạy học phù hợp với việc dạy họctích hợp

- Dạy học trong đó kết hợp các phương pháp, các quá trình và hình thức hoạtđộng nhằm phát triển năng lực nhận thức, bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinhmột cách tích cực, chủ động, sáng tạo Trong thực hiện dạy học tích hợp, chú trọngdạy học qua tình huống, học qua các hoạt động, học qua các trải nghiệm, học theo dự

Trang 9

án Một số phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp kiến tạo, phương phápnhóm, phương pháp sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông cần được thể hiện trong các môn học một cách linh hoạt

- Bảo vệ các loài vật có ích, quý hiếm sống trên biển, hải đảo

là giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển , đảo

Mức độ tích hợp Địa Phương

có biển

Địa phưng không có biển

Bài 14: Bảo vệ loài vật

có ích - Bảo vệ các loài vật có ích, quý hiếm trên các vùng biển, đảo

Việt Nam(Cáy Bà, Cô tô, Côn Đảo…) là giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đảo

- Thực hiện bảo vệ các loài vật

có ích, quý hiếm trên các vùng biển, đảo

Toàn phần Liên hệ

MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI.

Mức độ tích hợp

HS đại trà

HS vùng

có biển đảo

2 Bài 21-22: Cuộc

sống xung quanh

Kể tên về nghề nghiệp vànói về những hoạt động

Liên hệ Toàn phần

Trang 10

sinh sống của người dân địa phương; HS có ý thức gắn bó với quê hương

Bài 26:Một số loài cây sống dưới nước

Liên hệ với một số loài thực vật biển (các loài rong biển, tảo biển, rừng ngập mặn) đối với HS vùng biển

Liên hệ Liên hệ

Bài 27: Loài vật sống ở đâu?

Liên hệ một số loài vạt biển đối với HS vùng biển

Liên hệ Liên hệ

Bài 29: Một số loài vật sống nước

HS biết một số loài vật biển: Cá mập, cá ngừ, tôm, sò một số tài nguyên biển

Giáo dục cho HS thấy được muốn cho các loài vật (sinh vật biển) tồn tại

và phát triển chúng ta cần giữ sạch nguồn nước

Bộ phận Bộ phận

Bài 30: Nhận biết cây cối các con vật

HS biết một số loài sinh vật biển: Cá mập, cá ngừ, tôm, sò một nguồntài nguyên biển

Liên hệ Liên hệ

MÔN TIẾNG VIỆT

Lớp Chủ điểm/ tuần Bài dạy Nội dung tích hợp

Mức độ tích hợp

HS đại trà

HS vùng

có biển đảo

thoại (Giảm tải) Sông biển Tập đọc: Bé

nhìn biển HS hiểu thêm về phong cảnh biển Bộ phận Bộ phận

Sông biển Tập làm văn: Qua bài tập làm văn Toàn Toàn phần

Trang 11

Quan sát tranh và trả lời câu hỏi

học sinh hiểu thêm về biển, yêu quý biển

phần

Sông biển Tập đọc: Cá

sấu sợ cá mập (Giảm tải)

Một số kế hoạch bài dạy:

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CUỘC SỐNG XUNG QUANH I) Mục tiêu

- Nêu được một số nghề nghiệp chính và hoạt động sinh sống của người dânnơi em sống

- HS khá giỏi mô tả một số nghề nghiệp, cách sinh hoạt của người dân vùngnông thôn hay thành thị

- HS có ý thức gắn bó với quê hương

II) Đồ dùng dạy học

- Tranh minh họa trong SGK

III) Hoạt động dạy học

1) Ổn định lớp

2) Kiểm tra bài cũ

- HS nhắc lại tựa bài

+ Để đảm bảo an toàn khi đi xe đạp, xe máy cần

a) Giới thiệu bài: Hôm nay các em học TNXH

bài: Cuộc sống xung quanh

- Ghi tựa bài

* Hoạt động 1: Làm việc với SGK

- Chia lớp thành 3 nhóm

- HS quan sát tranh SGK và nói về những gì các

em đã nhìn thấy trong tranh

+ Tranh trang 44, 45 trong SGK điễn tả cuộc

- Không đi lại, nô đùa khi đi trên

ô tô, tàu hỏa, thuyền bè

- Nhắc lại

- Quan sát

Trang 12

+ Kể tên các nghề của người dân được vẽ trong

các hình 2 đến hình 8 SGK trang 44, 45

- HS trình bày

=>Kết luận: Nhũ

=>Kết luận: Những bức tranh trang 44, 45 thể

hiện nghề nghiệp và sinh hoạt của người dân ở

nông thôn và các vùng miền khác nhau của đất

nước

* Hoạt động 2: Nói về cuộc sống ở địa phương

- Chia lớp thành 3 nhóm

- Thảo luận về cuộc sống và nghề nghiệp của

người dân ở địa phương em

- HS thảo luận

- HS trình bày

- Nhận xét tuyên dương

4) Củng cố

+ Hãy kể các nghề ở địa phương em?

- GDHS: Yêu nghề nghiệp của bố mẹ và tôn

trọng bố mẹ, yêu quê hương của mình

Học xong bài này, HS có khả năng:

- Bước đầu biết đọc rành mạch, thể hiện giọng vui tươi hồn nhiên

- Hiểu bài thơ: Bé rất yêu biển, bé thấy biển to, rộng và ngộ nghĩnh như trẻ con (trả lời được các CH trong SGK; thuộc 3 khổ thơ đầu )

- HS khá – giỏi biết đọc diễn cảm và trả lới ND câu chuyện theo cách hiểu củamình

- Giáo dục HS yêu vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước

II.Đồ dùng dạy- học

- GV: Tranh minh hoạ bài trong SGK (nếu có)

Bảng phụ ghi ND cần luyện đọc

- HS: SGK

*PP/KT: Đọc mẫu, hỏi đáp, thảo luận cặp đôi, trình bày ý kiến cá nhân,

III.Các hoạt động dạy – học chủ yếu:

Trang 13

Dự báo thời tiết

- Gọi 3 HS lên bảng đọc bài Dự báo thời tiết và trả lời câu hỏi về

nội dung của bài

- Nhận xét, cho điểm HS

- Hỏi: Trong lớp chúng ta, con

nào đã được đi tắm biển? Khiđược đi biển, các con có suy nghĩ,tình cảm gì? Hãy kể lại nhữngđiều đó với cả lớp

- Giới thiệu: Trong bài tập đọchôm nay, chúng ta sẽ được nhìnbiển qua con mắt của một bạnnhỏ

Lần đầu được bố cho ra biển, bạnnhỏ có những tình cảm, suy nghĩgì? Chúng ta cùng học bài hômnay để biết được điều này nhé

- Viết tên bài lên bảng

- Luyện đọc a) Đọc mẫu

- GV đọc mẫu toàn bài lần 1 Chúý: Giọng vui tươi, thích thú

b) Luyện phát âm

- Yêu cầu HS tìm các từ cần chú ýphát âm:

- Tìm các tiếng trong bài có thanh hỏi/ ngã, âm cuối là n, c, t?

(HS trả lời, GV ghi các từ này lênbảng)

- Đọc mẫu, sau đó gọi HS đọc các

từ này (Tập trung vào các HSmắc lỗi phát âm)

- Yêu cầu HS nối tiếp nhau đọctừng câu trong bài

c) Luyện đọc đoạn

- Yêu cầu HS tiếp nối nhau đọc

3 HS lên bảng đọc bài và trả lờicâu hỏi theo yêu cầu của GV

- Một số HS trả lời

- HS đọc lại tên bài

- Nghe GV đọc, theo dõi và đọcthầm theo

- Biển, nghỉ hè, tưởng rằng, nhỏ, bãi giằng, bễ, vẫn, trẻ,…

- 3 đến 5 HS đọc cá nhân, HS đọctheo tổ, đồng thanh

- Đọc bài nối tiếp Mỗi HS chỉ đọc 1câu Đọc từ đầu cho đến hết bài

- Tiếp nối nhau đọc hết bài

- Lần lượt từng HS đọc trong nhóm.Mỗi HS đọc 1 khổ thơ cho đến hết

Trang 14

d) Thi đọc giữa các nhóm

- Tổ chức cho HS thi đọc từngkhổ thơ, đọc cả bài

- Học thuộc lòng bài thơ

- GV treo bảng phụ đã chép sẵn

bài

- Mỗi nhóm cử 2 HS thi đọc

- 1 HS đọc thành tiếng, cả lớp theodõi trang SGK

- HS thảo luận cặp đôi và phát biểu ýkiến:

Những câu thơ cho thấy biển rấtrộng là:

Tưởng rằng biển nhỏ

Mà to bằng trời Như con sông lớn Chỉ có một bờ Biển to lớn thế

- Những câu thơ cho thấy biển giốngnhư trẻ con đó là:

Bãi giằng với sóng

Chơi trò kéo co Lon ta lon ton

- HS cả lớp đọc lại bài và trả lời:+ Em thích khổ thơ 1, vì khổ thơ cho

em thấy biển rất rộng

+ Em thích khổ thơ thứ 2, vì biểncũng như em, rất trẻ con và rất thíchchơi kéo co

+ Em thích khổ thơ thứ 3, vì khổ thơnày tả biển rất thật và sinh động.+ Em thích khổ thơ 4, vì em thíchnhững con sóng đang chạy lon tonvui đùa trên biển

- Học thuộc lòng bài thơ

Trang 15

- Tổ chức cho HS thi đọc thuộclòng bài thơ.

6 Những nội dung khó và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi dưỡng nhằm giải quyết những nội dung khó này

1 Nội dung bồi dưỡng

* Một số vấn đề về tâm lí học dạy học ở tiểu học (TH1) 15 tiết: Tự học 8

tiết; học tập trung 7 tiết

- Tâm lí học về sự phát triển trí tuệ học sinh tiểu học

- Tâm lí học về sự hình thành kĩ năng học tập của học sinh tiểu học

- Tâm lí học về giáo dục đạo đức học sinh tiểu học

2 Thời gian bồi dưỡng:

a Tại sao trẻ cần vận động mỗi ngày?

- Đối với người lớn, thể dục thể thao có lẽ là một vấn đề khá nghiêm túc vì cần

có nơi chốn, giờ giấc rõ ràng, nhưng với, thể dục đơn giản là vui chơi và vận động

Trang 16

Các trò chơi như đuổi bắt, trốn tìm, rồng rắn lên mây…chính là những hoạt động thểdục yêu thích của trẻ, thế nên, dù bận bịu thế nào, bạn hãy động viên và sắp xếp đểcùng trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời Còn gì hạnh phúc bằng cả gia đình vuichơi cùng nhau, vừa tạo điều kiện tốt cho trẻ vận động cải thiện sức khỏe, vừa gắnkết tình cảm gia đình.

- Bạn chắc hẳn đã quan sát thấy gương mặt tươi tắn, nụ cười rạng rỡ của trẻ khiđược thỏa sức vận động cùng bạn bè, gia đình Vì khi được tập thể dục, trẻ sẽ đượcgiải phóng năng lượng trong cơ thể, sản sinh cảm giác sảng khoái, thoải mái và hăngsay

- Thêm vào đó, khi trẻ vận động thường xuyên sẽ khiến cho mạch máu lưuthông tốt, tăng cường chuyển hóa và tạo thuận lợi cho hoạt động của các cơquan trong cơ thể

Tham gia các hoạt động thể thao từ bé, trẻ sẽ giảm được nguy cơ nứt gãy xương khilớn lên do thể dục thể thao giúp làm tăng mật độ xương tối đa

- Các nhà khoa học Thụy Điển đã tiến hành nghiên cứu việc phát triển xươngcủa các trẻ mỗi ngày đều dành 40 phút tập thể thao so với một nhóm các trẻ khác chỉdành 60 phút tập trong 1 tuần Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng xương cột sốngcủa các bé tập thể thao 40 phút mỗi ngày cao hơn các bé có thời gian tập ngắn Điều

đó cho thấy sự vận động của trẻ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, đặc biệt là lượngcanxi khiến cho hệ cơ xương vững chắc hơn, phát triển tốt hơn Tập thể dục còn giúpcho trẻ phát triển chiều cao tối ưu và giữ được dáng vóc đẹp, giảm thiểu nguy cơ bịbéo phì #3: Con k

- Chỉ cần để ý một chút, bạn sẽ phát hiện ra tập thể dục giúp trẻ ngủ sâu và ngủngon hơn Bên cạnh đó, vận động thể dục còn tăng cường khả năng miễn dịch chotrẻ Những căn bệnh thường hay xảy ra vào thời điểm giao mùa như cúm, sởi, phátban… sẽ khó có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ hay tập thể dục

b Trẻ vào lớp một:

- Hiểu, nắm vững được những nét đặc trưng về tâm lý của trẻ em lứa tuổi họcsinh tiểu học; biết rõ được đặc điểm của hoạt động học cũa học sinh và hoạt động dạycủa giáo viên Đồng thời biết rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy,hoạt động học và sự phát triển tâm lý của học sinh

- Hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tìm hiểu (nghiêncứu) về học sinh, kỹ năng chuẩn bị và thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp

sư phạm phù hợp với đối tượng học sinh

- Nâng cao trách nhiệm, có đạo đức nghề nghiệp, yêu quý, tôn trong trẻ em.(“Yêu nghề mến trẻ”)

- Lớp một được xem là bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ Nếu như ở mẫugiáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì khi lên tiểu học, việc học là hoạt động chủyếu

Trang 17

- Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn,nhất là về mặt tâm lý Nếu như việc học tập diễn ra tốt đẹp thì kéo theo sự phát triểntâm lý của trẻ cũng đúng hướng, thuận lợi và ngược lại Vì vậy, hiểu được sự chuyểnbiến tâm lý của trẻ ở giai đoạn này là rất quan trọng, sẽ giúp trẻ dễ thích nghi với môitrường mới, tiếp thu sự giáo dục dễ dàng. 

c Những rào cản tâm lý với trẻ:

- Khi vào lớp 1, các em sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện nội quy học tập,khả năng điều khiển tâm lý của bản thân còn kém Các em chưa ý thức được rõ giớihạn giữa chơi và học nên gặp nhiều khó khăn trong khi chuyển trạng thái từ hoạtđộng chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời gian giữa các môn sao cho phù hợp

- Đặc biệt, trẻ ở lứa tuổi này phải làm quen với phương pháp học tập mới, họcnhiều môn khác nhau, kể cả những môn các em không thích Thậm chí, nếu ngườilớn không có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối lượng lớnkiến thức vừa mới, vừa trừu tượng Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao, trong khi

đó việc học lại đòi hỏi các em phải làm những công việc khéo léo và tập trung

- Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô, bạn bè Mặt khác, khi đihọc lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải có vai trò và trách nhiệm mới đối vớigia đình Đây là những rào cản lớn với trẻ

- Phụ huynh quan tâm đến con sẽ nhận thấy những biểu hiện nổi bật ở các emnhư: không thích đi học hay đi học muộn (kể cả bố mẹ chở đến trường, các em cũng

cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp); nói chuyên riêng khi cô đang giảngbài; học không đồng đều các môn, thường thì các em thích môn nào thì học tốt mônđó; quên không làm bài tập cô giáo yêu cầu, không tự giác học (chỉ học khi nào ngườilớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em không dám nói với bố mẹ về điểmkém và việc phạm khuyết điểm của mình ở trường

- Trẻ gặp khó khăn tâm lý phần nhiều do gia đình thờ ơ, không quan tâm hoặcquá quan tâm đến trẻ, làm cho các em bối rối khi bước vào và làm quen với môitrường học mới

- Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ Nếu ở mẫugiáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì lứa tuổi học sinh tiểu học là hoạt động họctập Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, nhất

là tâm lý Họat động về mặt chủ đạo sẽ quyết định những nét tâm lý đặc trưng nhấtcủa lứa tuổi học sinh tiểu học

- Hoạt động học tập diễn ra tốt đẹp sẽ kéo theo sự phát triển tâm lý của trẻđúng hướng, thuận lợi và ngược lại Vì vậy, nếu các bậc phụ huynh cũng như nhữngnhà giáo dục nắm được những khó khăn tâm lý của trẻ và có biện pháp giúp trẻ khắcphục, trẻ sẽ thích ứng với  họat động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục được dễdàng hơn Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập và phát triển tốt tâm lý cũngnhư nhân cách của trẻ

Trang 18

- Trong quá trình học, các em đã gặp những khó khăn trong việc thực hiện nộiquy học tập, khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân còn kém Các emchưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và việc học nên gặp nhiều khó khăn trong khichuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời gian học tậpgiữa các môn sao cho phù hợp Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô,bạn bè.

- Đặc biệt, trẻ ở lứa tuổi này phải làm quen với phương pháp học tập mới, phảihọc nhiều môn khác nhau, kể cả những môn các em không thích học Thậm chí, nếungười lớn không có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khốilượng lớn kiến thức vừa mới, vừa trừu tượng Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao,trong khi đó hoạt động học tập lại đòi hỏi các em phải làm những công việc khéo léo

và đòi hỏi sự tập trung Mặt khác, khi đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải

có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình Đó là những yếu tố tâm lý cản trở họatđộng học tập, làm cho học sinh lớp 1 khó thích ứng, kết quả học tập đạt được khôngnhư mong muốn

Nếu phụ huynh có thời gian quan tâm đến con của mình sẽ nhận thấy nhữngbiểu hiện nổi bật ở các em như không thích đi học hay đi học muộn ( kể cả bố mẹ chởđến trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp), nói chuyênriêng khi cô đang giảng bài; học không đồng đều các môn, thường thì các em thíchmôn nào thì học tốt môn đó; quên không làm bài tập cô giáo yêu cầu, không tự giáchọc (chỉ học khi nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em khôngdám nói với bố mẹ về điểm kém và vi phạm khuyết điểm của mình ở trường

Cha mẹ cần tìm cách khắc phục dần dần nếu trẻ đạt kết quả không tốt ở nămđầu bậc tiểu học

- Không ít phụ huynh khó hình dung được rằng bước sang một môi trường họctập mới, trẻ hoàn toàn lạ lẫm, các em chưa được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học,chưa tìm thấy hứng thú trong học tập, những điều mới lạ trong những bài học còntrừu tượng chưa kích thích được tính tự giác, tích cực của trẻ Vì thế, trẻ chưa hìnhthành được cách thức học tập khoa học và hiệu quả

- Có những bậc phụ huynh cứ nghĩ rằng cho con ăn uống, may sắm áo quần vàsách vở là đủ Trong khi đó, điều trẻ cần là cha mẹ chỉ dẫn các em hiểu rõ nội quyhọc tập cần phải làm gì? Làm như thế nào? Làm để được cái gì?

- Ở thời điểm này, điểm số còn quá chung chung đối với trẻ Tuy nhiên, nhiềugia đình lại yêu cầu trẻ hàng tuần, hàng tháng phải có một số điểm 10 nhất định, làmcho trẻ chỉ biết “chạy” theo điểm, để được cha mẹ khen thưởng

- Một nguyên nhân khác là cách dạy của giáo viên chưa phù hợp, khiến các emngỡ ngàng, khó làm quen trước việc dạy của giáo viên mới (không giống như ở mẫugiáo) Giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá mọi công việc của trẻ, nhưng chưa

Trang 19

động viên, khuyến khích kịp thời, làm cho mối quan hệ giữa giáo viên và học sinhluôn có khoảng cách, các em khó gần gũi với giáo viên.

d Cách giúp trẻ vượt qua bước ngoặt lớp một:

- Chia sẻ cùng trẻ Trong thời điểm này, các bậc phụ huynh nên chuẩn bịnhững điều kiện tốt nhất cho trẻ, ngoài quần áo, đồ dùng học tập thì việc tạo cho trẻmột tâm lý sẵn sàng là rất quan trọng

- Hãy nói với trẻ biết trước về môi trường mới, thầy cô mới, nội dung học tậpmới, những khó khăn cũng như thuận lợi nhất định để trẻ tập làm quen ngay ở nhà.Đồng thời nếu có điều kiện cha mẹ cũng nên cho trẻ làm quen với môi trường học tậpmới trong dịp hè, như cho trẻ đến trường để thăm quan, làm quen với anh chị lớn tuổihơn, tập thói quen chấp hành nội quy

- Cha mẹ tạo điều kiện thuận lợi cho con học tập, xây dựng bầu không khí giađình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm

lý thoải mái trong khi học tập

- Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ,động viên các em trong suốt quá trình học tập là con đường ngắn nhất để cùng trẻkhắc phục những khó khăn tâm lý ở những ngày đầu khi bước vào lớp 1

- Theo các chuyên gia tâm lý, học sinh lớp 1 khi tiến hành hoạt động học tậpluôn gặp phải những khó khăn tâm lý nhất định, diễn ra trên nhiều mặt: hiểu biết, thái

độ và thói quen hành vi đạo đức Rào cản tâm lý trong hoạt động học tập của các em

do nhiều nguyên nhân khác nhau. 

- Trong nhà trường, cần nâng cao hơn nữa quan hệ giao lưu giữa giáo viên vàhọc sinh, khắc phục cản trở trong quan hệ thầy trò

- Trong gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, cha mẹ tạo điều kiện thuận lợicho con học tập, xây dựng bầu không khí gia đình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quánhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong khi học tập Tăng cường

sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ, động viên các emtrong suốt quá trình học tập là con đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục nhữngkhó khăn tâm lý trong học tập ở năm đầu bậc tiểu học

5 Những nội dung bản thân sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục tại đơn vị:

Sau khi nghiên cứu và học tập module TH1 tôi đã vận dụng những kiến thức, kĩ năng

đã học tập được vào quá trình thực hiện tại cơ quan như sau:

- Chia sẻ cùng trẻ Trong thời điểm này, các bậc phụ huynh nên chuẩn bịnhững điều kiện tốt nhất cho trẻ, ngoài quần áo, đồ dùng học tập thì việc tạo cho trẻmột tâm lý sẵn sàng là rất quan trọng

- Hãy nói với trẻ biết trước về môi trường mới, thầy cô mới, nội dung học tậpmới, những khó khăn cũng như thuận lợi nhất định để trẻ tập làm quen ngay ở nhà.Đồng thời nếu có điều kiện cha mẹ cũng nên cho trẻ làm quen với môi trường học tập

Trang 20

mới trong dịp hè, như cho trẻ đến trường để thăm quan, làm quen với anh chị lớn tuổihơn, tập thói quen chấp hành nội quy

- Cha mẹ tạo điều kiện thuận lợi cho con học tập, xây dựng bầu không khí giađình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm

lý thoải mái trong khi học tập

- Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ,động viên các em trong suốt quá trình học tập là con đường ngắn nhất để cùng trẻkhắc phục những khó khăn tâm lý ở những ngày đầu khi bước vào lớp 1

- Theo các chuyên gia tâm lý, học sinh lớp 1 khi tiến hành hoạt động học tậpluôn gặp phải những khó khăn tâm lý nhất định, diễn ra trên nhiều mặt: hiểu biết, thái

độ và thói quen hành vi đạo đức Rào cản tâm lý trong hoạt động học tập của các em

do nhiều nguyên nhân khác nhau. 

- Trong nhà trường, cần nâng cao hơn nữa quan hệ giao lưu giữa giáo viên vàhọc sinh, khắc phục cản trở trong quan hệ thầy trò

- Trong gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, cha mẹ tạo điều kiện thuận lợicho con học tập, xây dựng bầu không khí gia đình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quánhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong khi học tập Tăng cường

sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ, động viên các emtrong suốt quá trình học tập là con đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục nhữngkhó khăn tâm lý trong học tập ở năm đầu bậc tiểu học

6 Những nội dung khó và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi dưỡng nhằm giải quyết những nội dung khó này

Cấp trên nên tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên giao lưu, học hỏi trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh tìm hiểu tâm lý của học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1,2.

1 Nội dung bồi dưỡng

* Đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc ít người, học sinh khuyết tật hoặc

chậm phát triển trí tuệ, học sinh có hoàn cảnh khó khăn (TH2) 15 tiết:; học tập

trung 7 tiết

- Tâm lí của học sinh dân tộc ít người ở địa phương

- Tâm lí của học sinh khuyết tật và chậm phát triển trí tuệ

- Tâm lí của học sinh có hoàn cảnh khó khăn

2 Thời gian bồi dưỡng:

- Từ ngày 01 tháng 12 đến 31 tháng 12 năm 2015.

Trang 21

- Trong tâm lí học lứa tuổi, học sinh lứa tuổi thiếu niên luôn ngự trị quy luật vềtính mất cân đối tạm thời, tính mâu thuẫn và quy luật về tính không đồng đều của sựphát triển thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của nhân cách và thể chất Nhưng thực tế làmcông tác giáo dục tại các xã vùng đặc biệt khó khăn, học sinh là con em đồng bào dântộc thiểu thì mỗi người cán bộ GV phải biết những “tâm lí riêng” mà không sách vỡ líthuyết nào có thể nhắc tới Hằng ngày, ngoài việc soạn bài lên lớp là việc vận động duytrì số lượng, tìm các biện pháp nâng cao chất lượng, người GV còn phải là “Vừa làthầy giáo, vừa là bạn bè” Với kinh nghiệm thực tiễn sau đây sẽ giúp những GV mớichập chững vào nghề đến nhận công tác ở miền núi có những biện pháp giáo dục hợp

lí, đặc biệt là GV chủ nhiệm lớp

B Nội dung:

1 Học sinh Tiểu học người dân tộc trước khi đến trường:

- Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dântộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt Thực tế cũng có số ít các em được trải qua

sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như nhữngmẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói màtrường Mầm Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đãkhông còn theo các em bước vào lớp1 Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng,người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giớibên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứhai của các em Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng cókhi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằngtiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em Đến trường, đến lớp là các em bướcđến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trựctrong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường

2 Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số học tiếng Việt là học ngôn ngữ thứ hai:

- Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối vớicác em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là mộtngôn ngữ hoàn toàn xa lạ Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là dođiều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng

Trang 22

ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lầnhội họp, người địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ Họ ngại sử dụng tiếng Việt,

có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ

mẹ đẻ thường trực trong họ Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì mộtcuộc họp nào đó ở làng, bản, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn Thói quennày trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cánhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp Dần dà các em khôngthể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ

đó, đã khiến cho các em thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn,vượt khỏi môi trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp

3 Mặc cảm của học sinh dân tộc thiểu số khi đến trường học tiếng Việt:

- Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên, tôi nhậnthấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình Cái nghèoluôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc,

về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân Nghèo đã giúp con người ta vươn lênnhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sốnghiện tại Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốnvật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại Những học sinh tiểu họcngười dân tộc thiểu số không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày haibuổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô, locho cuộc sống vật chất của gia đình đang chật vật, thiếu thốn Chúng tôi thật thươngtâm khi nghe nhưng đồng nghiệp đang giảng dạy ở những vùng miền núi Tây Nguyêntâm sự, rằng "chúng em phải vào tận làng lùng sục các em, đưa các em đến trường.";cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, "Em phải dùng tiền lương của mình để mua quà ăn,

đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các em trở lại trường Nhưng có lúc cũngkhông thành công!", Theo tôi, cái gốc rễ của vấn đề là ở chỗ, cái nghèo truyền kiếp

đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình Cái ăn từng bữa còn chưa có,chưa đủ thì học chữ để làm gì, suy nghĩ của các em và gia đình của các em là vậy! Họkhông hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi cuộc sống nghèo khóhiện tại, giúp con người hoạch định tương lai Cho nên vào thời điểm mùa màng, sốlượng học sinh trên lớp học rất ít Cũng có những hôm thầy giáo cắp cặp tới lớp, rồiquay về, tìm cách xuống bản, tới từng gia đình học sinh, giảng giải cho các em,thuyết phục gia đình các em rằng, cần phải dành thời gian cho các em học tập, bởicác em còn trong độ tuổi đến trường Thế nhưng, hiệu quả của công việc "tuyêntruyền" này không phải lúc nào cũng như ý, lắm lúc, giáo viên còn phải nhận nhữngcâu trả lời cay nghiệt của phụ huynh khiến cho họ có những giây phút nản lòng

Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủnhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi

Trang 23

mùa gặt kết thúc Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận bản, vận động các em đếntrường.

- Con người là chủ thể nhận thức Nhận biết về bản thân, về mọi vật xungquanh là sự sống bản năng của con người Người dân tộc thiểu số luôn ý thức vềnguồn gốc, về điều kiện sống, hoàn cảnh sống của mình Chính điều này đã khiến chohọc sinh Tiểu học dân tộc thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt khó khăn,tạo rào cản ngăn cách hoạt động sống của các em với môi trường xã hội rộng lớn, làmcho các em khó tiếp xúc, hòa nhập cộng đồng

- Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân là con người đã phát triển

ở một mức nào đó về nhận thức Nghĩa là con người đã biết đặt mình trong nhiều mốiquan hệ trong xã hội Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi hoàncảnh thực tại nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty thân thế, sốphận, làm thui chột hao mòn năng lực, tri thức bản thân Học sinh Tiểu học dân tộcthiểu số đến trường trong tâm thế "hèn mọn" đó Các em cũng đã biết nhìn ngắmnhững trang phục của các bạn học sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình Ỏnhững trường Nội trú, tình trạng trên ít xảy ra, nhưng đối với các trường có cả hai đốitượng học sinh, người Kinh và người dân tộc thiểu số, tình trạng trên luôn ngầm diễn

ra trong các em Nếu số lượng học sinh thiểu số nhiều hơn học sinh Kinh thì tìnhtrạng trên ít xảy ra, còn nếu số lượng học sinh thiểu số ít hơn số lượng học sinh ngườiKinh thì tình trạng trên càng diễn ra nặng nề Trong lớp chắc chắn sẽ có sự phân biệt,

kỳ thị ở hai đối tượng học sinh trên Một bộ quần áo, một đôi dép hay những phụ kiệnđơn giản khác của các bạn khi đến trường cũng làm cho các em băn khoăn, suy nghĩ

về nhau, so sánh lẫn nhau Nhiều em học sinh người dân tộc thiểu số chân đất đếntrường, hoặc trong trang phục cũ kỹ, hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát màcác em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngaysau khi rời lớp Tâm tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các emhọc sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm

Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các emmột môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trongcác em ý thức học tập, rèn luyện Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi

là điều hiển nhiên Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợphải phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoàigiờ học, đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác Điều này đồngnghĩa với việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trườnggiáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đếntrường Học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em

- Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân tronggia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đônđốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú

Trang 24

trọng tới việc học của con, em mình Điều này cho thấy đa số các em không đượcnằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình Việc học tập của các emphải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên, nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường.Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần được chúng ta xây dựng cho các em.

Nắm vững những đặc điểm tâm lí của học sinh gái Trong học sinh miền núi,học sinh gái thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ, những em gái lớn trong một lớp thườngthiếu những hoài bão ước mơ cần thiết; cho nên những tác động ngoại cảnh dễ làmcho các em này bỏ học Khi một em có ý định bỏ học thường rủ thêm một số em khác

bỏ theo Từ những đặc điểm trên, trong khi giao tiếp, gặp gỡ riêng với các em họcsinh gái, GV phải thường nói chuyện tâm tình với các em về các vấn đề như vai tròcủa người phụ nữ trong xã hội ta hiện nay, những công việc mà người phụ nữ miềnnúi phải có trách nhiệm vươn lên để gánh vác, sự cần thiết phải có trình độ văn hóatối thiểu trong thời đại ngày nay, đồng thời phân tích cho các em những hạn chế củangười con gái vùng cao nếu đi lấy chồng sớm,…

Học sinh con em đồng bào các dân tộc miền núi đến trường với lòng ham họchỏi, niềm tin sâu sắc về tương lai phía trước Đa số các em đều là con em các gia đình

có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế vô vùng thiếu thốn Ngoài việc học, các emcòn phải đi rừng, đi rẫy để phụ giúp việc với gia đình Điều này đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng giáo dục và việc duy trì số lượng học sinh trên lớp Tuy nhiên,mỗi người GV nếu nắm vững một số đặc điểm tâm lí của học sinh miền núi, con emđồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa thì việc giáo dục sẽ phát huy hiệu quả cao hơn

5 Bản thân đã vận dụng kiến thức được bồi dưỡng vào thực tiễn dạy học

và giáo dục như thế nào? Kết quả ra sao?

Qua học tập, bồi dưỡng module TH2 bản thân tôi đã vận dụng được nhữngkiến thức vào trong thực tiễn dạy học, giáo dục như sau:

Khắc phục cho học sinh những lỗi nổi trội đặc biệt trong giao tiếp:

- Rụt rè trong các cuộc giao tiếp, thiếu tự nhiên

- Sử dụng ngôn từ nhiều khi chưa chuẩn mực trong xưng hô và giao tiếp vớithầy cô, bạn bè và mọi người trong cộng đồng như nói trống không, thiếu chủ ngữ, vịngữ, thiếu từ miêu tả, … Sai lỗi phát âm

Trang 25

- Bộc trực thẳng thắn trong giao tiếp, e ngại khi chưa quen vì vậy tọa cho các

em được hoạt động bề nổi như: Hoat động Đội – Hoạt động ngoài giờ lên lớp…

Hướng dẫn cho các em sử dụng và trình bày bằng ngôn ngữ tiếng Việt, Hiểubằng tiếng Việt trong các hoạt động giáo tiếp nhằm nâng cao chất lượng học tập củacác em như: đọc sai, viết sai, sử dụng từ ngữ bị đảo lộn cấu trúc…

6 Các đề xuất (ghi rõ từng nội dung, đơn vị kiến thức khó, ý kiến đề xuất để tổ

chức bồi dưỡng đối với những nội dung khó nêu trên):

Qua học tập, bồi dưỡng tôi xin đề xuất cần tổ chức cho giáo viên được giaolưu, học hỉ giữa các trường bạn trong cụm, huyện

7 Tự đánh giá (nêu rõ bản thân sau khi bồi dưỡng đã tiếp thu và vận dụng vào

thực tiễn công tác được bao nhiêu % so với kế hoạch BDTX của bản thân đã được nhà trường phê duyệt)

Qua một thời gian vận dụng những kiến thức kĩ năng đã học tập ở module TH1 vào thực tế đơn vị Bản thân tôi đã tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn công tác được 90%

so với kế hoạch BDTX của bản thân đã được nhà trường phê duyệt

MODULE TH4

1 Nội dung bồi dưỡng

* Môi trường dạy học lớp ghép (TH4) 15 tiết: Tự học 8 tiết; học tập trung 7.

- Môi trường học tập lớp ghép

- Không gian hoạt động của giáo viên và học sinh

- Tổ chức sắp xếp thiết bị, đồ dùng trong phòng học ở lớp ghép

- Môi trường dạy học lớp ghép ở một số giờ học

- Vai trò của giáo viên trong việc xây dựng môi trường dạy học lớp ghép cóhiệu quả

2 Thời gian bồi dưỡng:

Trang 26

nghĩa trên cũng nhấn mạnh rằng người GV cùng một lúc phải tổ chức cho HS cácNTĐ học tập Hơn nữa, khái niệm này cũng làm rõ đặc điểm của LG về sự đa dạngcủa mục tiêu giáo dục của HS ở các NTĐ khác nhau Do vậy, có rất nhiều yêu cầu đặt

ra cho người GV dạy LG trong công tác tổ chức dạy học Dạy học LG ở nước ta đã cólịch sử khá lâu dài Ngày nay, các LG chủ yếu được thấy ở những vùng xa xôi hẻolánh, dân cư thưa thớt với đa số HS là người dân tộc thiểu số Các LG được thành lập

ở những thôn xóm, bản làng để thu hút trẻ em trong độ tuổi đi học trong cộng đồngđến trường học mà không phải đi xa nên tránh được những rủi ro trên quãng đường đihọc cho các em Trong hoàn cảnh thiếu GV, thiếu phòng học, tổ chức cho các trẻ em

ở một vài NTĐ cùng học với nhau trong một lớp do một GV quản lí được coi là hìnhthức tổ chức dạy học tiết kiệm và phù hợp nhất Trong những năm qua, LG đã gópphần thực hiện mục tiêu Giáo dục cho mọi người cũng như mục tiêu Phổ cập giáodục tiểu học cho trẻ em những vùng khó khăn Lớp ghép có thể gồm 2, 3, 4 hay thậmchí 5 NTĐ cùng học với nhau, nhưng phổ biến là các lớp ghép có 2 NTĐ Các LG cóthể gồm các NTĐ sát nhau như LG 1+2, 1+2+3, 2+3 hoặc 3+4+5; cũng có LG gồmcác NTĐ không liền nhau, ví dụ: 1+4, 2+5 hoặc 1+2+4 Trong thực tế, các LG gồmcác NTĐ liền nhau đầu tiểu học chiếm tỉ lệ cao nhất.lớp học gồm học sinh có hai haynhiều trình độ khác nhau do một giáo viên giảng dạy Được hình thành chủ yếu ở cấptiểu học LG ở Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời Trong nền giáo dục phong kiến,

đã tồn tại hình thức LG sơ khai, một thầy đồ chịu trách nhiệm giảng dạy cho nhiềuhọc trò có các trình độ khác nhau Ngày nay, LG vẫn tồn tại ở các nước phát triểnnhư Nga, Hoa Kì, Ôxtrâylia Đã đóng góp quan trọng trong việc thực hiện phổ cậpgiáo dục tiểu học ở những

*Môi trường dạy học tích cực ở lớp ghép

Trong LG, HS ở các NTĐ khác nhau nên có độ tuổi khác nhau và khả năng khácnhau Vì thế, môi trường LG có những đặc điểm của một xã hội hay một gia đình: cóngười lớn tuổi hơn, có người ít tuổi hơn, có người có khả năng hơn và có người kémhơn cùng hoạt động và sinh hoạt chung Chính những đặc điểm này sẽ tạo điều kiện

để khuyến khích các em quan tâm, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau trong học tập và trongcuộc sống Trong LG ở nước ta, các nhóm HS ở những TĐ khác nhau nên các emtheo học những chương trình và mục tiêu riêng, do vậy nhiệm vụ học tập và các hoạtđộng của HS trong cùng một LG cũng khác nhau Chính sự đa dạng này đòi hỏi LGphải được trang bị những nguồn tài liệu và đồ dùng dạy học hết sức phong phú đểđáp ứng được các nhu cầu đa dạng của HS Trong LG một GV có trách nhiệm chuyênmôn đối với một vài NTĐ khác nhau nên người GV không thể cùng một lúc giảngdạy trực tiếp cho tất cả các nhóm mà phải phối hợp tổ chức đan xen các hoạt độngdạy của thầy với các hoạt động độc lập của trò Môi trường LG là nơi những kĩ nănghọc tập tự lập của HS phải được hình thành và rèn luyện từ rất sớm

Trang 27

- Môi trường học tập thân thiện ở LG có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố,bao gồm môi trường vật chất và môi trường tinh thần.

- Môi trường vật chất là toàn bộ không gian diễn ra quá trình dạy-học mà ở đó

có bảng, bàn, ghế, ánh sáng, âm thanh, không khí )

- Môi trường tinh thần gồm các mối quan hệ: GV, HS, nhà trường, cộng đồng

- Các yếu tố trong môi trường vật chất và môi trường tinh thần liên hệ chặt chẽvới nhau trong môi trường học tập thân thiện ở LG

- Môi trường tập huấn của chúng ta cũng như vậy, cần đảm bảo cả về yêu cầuvạt chất lẫn tinh thần

* Một số cách sắp xếp chỗ ngồi của HS và GV tạo nên môi trường học tập thânthiện ở lớp ghép

- HS ngồi quay về một hướng theo hình chữ U

- HS ngồi hướngvào nhau theo nhóm nhỏ

- HS ngồi quay về một hướng đối diện với GV

Lĩnh vực vật chất:

Đảm bảo cơ sở vật chất phòng học theo quy định Sử dụng không gian phònghọc hợp lí, cụ thể:

+ Bàn ghế phù hợp, ngay ngắn;

+ Đồ dùng được sắp xếp gọn gàng, đủ tài liệu, sách vở;

+ Lớp học sáng sủa, đường ra vào dễ dàng và thông thoáng;

Làm thế nào để có môi trường sạch sẽ, ngăn nắp? 

Để có môi trường lớp học sạch sẽ, ngăn nắp GV cần chú ý:

- Nâng cao ý thức trách nhiệm của tất cả các thành viên liên quan: GV, HS, cha

mẹ HS;

- Phân công cụ thể các việc hằng ngày; nêu rõ nhiệm vụ của HS trong việc giữgìn lớp học sạch sẽ, ngăn nắp;

- Tận dụng sự giúp đỡ hiệu quả của cộng đồng

B Không gian hoạt động của giáo viên và học sinh:

Không gian  phòng học

- Tận dụng không gian phòng học (trang trí ảnh, đồ dùng dạy-học, bài làm tốtcủa HS; bố trí các góc bộ môn hợp lý; sắp xếp bàn ghế theo cách tổ chức các hoạt

Trang 28

động) là một yếu tố quan trọng để kích thích, lôi cuốn trẻ đến trường và học có hiệuquả.

- Không gian phòng học cần thường xuyên thay đổi (trừ những quy định treoảnh lãnh tụ, 5 điều Bác Hồ dạy, ) để tạo nên nét tươi mới, sức hấp dẫn đối với HS

và đảm bảo phù hợp với từng môn học và từng thời gian sử dụng

- Sự an toàn cho HS cũng rất cần được chú ý (vật treo phải chắc chắn, khôngrơi; vật bày phải gọn gàng, không cản trở hoạt động của HS )

+ Đồ dùng được sắp xếp gọn gàng, đủ tài liệu, sách vở;

+ Lớp học sáng sủa, đường ra vào dễ dàng và thông thoáng;

- Các mảng tường: dùng để trang trí các góc bộ môn Tùy từng hoạt động, từngchủ điểm, từng môn học và điều kiện có thể trang trí lên tường:

+ Các loại tranh ảnh in

+ Những bảng biểu, sơ đồ, mô hình do HS, GV, cha mẹ HS sưu tầm hoặc tựlàm

+ Vị trí, màu sắc treo các đồ dùng: Đồ dùng nào sử dụng lâu dài treo lên cao,

đồ dùng theo chủ đề treo ở nơi thích hợp để dễ tháo gỡ, thay đổi Màu sắc cần đảmbảo tính mĩ thuật và vệ sinh học đường

Các góc bộ môn+ Góc Toán+ Góc Tiếng Việt

+ Góc Tự nhiên và Xã hội+ Góc các bộ môn 

Bảng: Trong phòng học bảng đen được đặt ở vị trí sao cho:

+ HS dễ quan sát

+ GV và HS sử dụng tối đa diện tích của bảng

+ Mỗi NTĐ cần có một bảng

Ngày đăng: 21/12/2017, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w