- Một yếu tố rất quan trọng tác động đến việc học sinh không thích môn học là tinh thần thái độ của người thầy và phương pháp giảng dạy thiếu sáng tạo, gò ép học sinh… MODULE 9: HƯỚNG DẪ
Trang 1BÀI THU HOẠCH 4 MODULE CỦA BDTX NỘI DUNG 3, NĂM 2015
Họ và tên: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
Giáo viên môn: VÂT LÝ
Đơn vị công tác: TỐ LÝ – Trường THPT VÕ MINH ĐỨC
MODULE 6
Câu 1: Từ những mục tiêu dạy học của môn học, anh, chị hãy hướng dẫn học sinh của mình tự xây dựng mục tiêu học tập của bản thân đối với môn học đó.
Theo tôi hoạt động của giáo viên nhằm giúp học sinh tự xây dựng mục tiêu học tập bao gồm:
Giáo viên hướng dẫn:
- HS lập sổ ghi nhận mục tiêu kiến thức cơ bản cần đạt được trong mỗi bài học và mỗi chương
- Phương pháp học tập bộ môn trong ngắn hạn và dài hạn, ghi nhật ký học tập
Những việc giáo viên cần phải thưc hiện trong quá trình dạy học để giúp
học sinh có niềm tin về mục tiêu của bản thân:
- Tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho học sinh nhận thức được
mục tiêu, lợi ích của bài học
- Tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học thông
qua phong cách dạy học của người thầy
- Tạo hứng thú học tập bằng cách phối hợp các phương pháp và các
hình thức dạy học linh hoạt:
+ Tổ chức trò chơi học tập.
+ Tổ chức hoạt động học theo nhóm.
Trang 2+ Tổ chức dạy học ngoại khóa
Câu 2: Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ của hoạt động 3 (tài liệu module 6 – trang 110) và hoạt động 4 (tài liệu
module 6 - trang116), Anh/Chị hãy viết một bản báo cáo tổng kết những lý do mà học sinh thích và không thích môn học của mình Giải thích các lý do đó từ góc độ của bản
thân.
Sau khi làm các nhiệm vụ của hoạt động 3 và hoạt động 4, dưới góc
độ cá nhân, tôi xin trình bày các lí do học sinh thích và không thích môn vật lý như sau:
* Thích:
- Phong cách dạy học của thầy,cô (bao gồm: Thái độ vui vẽ, ngữ điệu truyền cảm, chậm rãi trong diễn đạt, khích lệ đúng lúc và có một chút hài hước khi tiếp xúc với học sinh…) có tác động rất mạnh tới việc yêu thích môn học của học sinh
- Môn vật lý có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh về nguyên lý của mọi vật Đồng thời, cũng có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, giáo dục học sinh trở thành một con người toàn diện và góp phần hình thành nhân cách Đây cũng là một trong những lí do học sinh thích học môn này
- Mỗi bài học vật lý giúp cho các em hiểu biết vè các hiện tượng trong tự nhiên, trong khoa học kỷ thuật, trong đời sống thường ngày
- Bên cạnh những thí nghiệm minh họa, những thí nghệm thực hành giúp các em yêu thích khoa học từ đó hình thành cho các em nghề
nghiệp vững bền về sau
* Không thích:
- Môn vật lý nhiều nguyên lý, nhiều định luật nên khó nhớ
- Vận dụng nguyên lý, định luật để giải thích các hiện tượng thì rất khó
- Từ lý thuyết vận dụng giải bài tập phải cần nhiều kiến thức toán bổ
sung
Trang 3- Một yếu tố rất quan trọng tác động đến việc học sinh không thích môn học là tinh thần thái độ của người thầy và phương pháp giảng dạy thiếu sáng tạo, gò ép học sinh…
MODULE 9: HƯỚNG DẪN ĐỒNG NGHỆP TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ
NGHỆP GIÁO VIÊN
Câu 1: Chức năng, đặc điểm và vai trò phát triển NNGV
Khái niệm của phát triển nghề nghiệp giáo viên
Phát triển nghề nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng, có liên quan đến việc phát triển con người trong vai trò nghề nghiệp của người đó, Do vậy, khi nói đến phát triển nghề nghiệp giáo viên là nói đến sự phát triển của người giáo viên trong vai trò người lao động nghề ngiệp Giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy trong các cơ sở giáo dục từ mần non cho đến giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp Khi nói đến giáo viên người ta thường hình dung đó là những người làm công việc giảng dạy và giáo dục học sinh hay những người làm công việc dạy học trong xã hội Sự phân công lao động của xã hội hiện đại đòi hỏi xác định ranh giới tương đối tường minmh giữa công việc và nghề nghiệp
Năm 1966, UNESCO đã chính thức khẳng định lần đầu tiên trên phạm vi toàn thế giới về tính chuyên nghiệp của giáo viên, rằng dạy học là một nghề, Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của giáo viên, vì học sẽ được đào tạo và hỗ trợ theo định hướng phát triển chuyên nghiệp hóa Mặt khác, vị thế xã hội của người giáo viên sẽ được nâng cao bởi họ là những người lao động nghề nghiệp, chứ không thuần túy là nghững người làm những công việc theo sự phân công lao động xã hội Một công việc có thể được coi là nghể nhưng cũng có những công việc không được coi là nghề nghiệp Một công việc được coi là nghề nghiệp khi đã qua những điểm mốc sau:
- Công việc đó phải toàn thời gian.
- Công việc đó phải được đào tạo qua trường phổ thông.
- Công việc đó được đào tạo qua trường đại học.
- Hiệp hội địa phương của những người làm công việc đó được thành lập.
- Hiệp hội quốc gia được thành lập.
- Các qui tắc ứng xử đạo đức trong công việc được thiết lập.
Trang 4- Các qui định của nhà nước về chứng chỉ hành nghề được ban hành.
Nghề dạy học được công nhận khi nó có vai trò quan trọng trong xã hội và giá trị sống còn đối với sự phát triển của cộng đồng và xã hội, Theo đó, những người làm nghề đó sẽ được nâng cao về vị thế xã hội, được xã hội tin tưởng và tôn trọng
Giáo viên là người lao động nghề nghiệp bằng việc thực hiện công việc giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp Vì đối tượng lao động của người giáo viên là những con người, cho nên mỗi người giáo viên cần phải phát triển nghề nghiệp của mình liên tục, để cho phù hợp với nhiệm vụ và tình hình mới của sự nghiệp giáo dục Mỗi cơ sở giáo dục cũng phải coi việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên là nhiệm vụ chủ yếu trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên của mình Phát triển nghề nghiệp giáo viên là sự phát triển nghề mà một giáo viên đạt được do có các kỹ năng nâng cao qua quá trình học tập, nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp, đáp ứng các yêu cầu sát hạch việc giảng dạy, giáo dục một cách có hệ thống Đây
là quá trình tạo sự thay đổi trong nghề nghiệp của mỗi giáo viên nhằm gia tăng sự thích ứng của bản thân với yêu cầu của nghề dạy học
Phát triển ghề nghiệp của giáo viên bao hàm phát triển năng lực của giáo viên về chuyên môn và năng lục nghiệp vụ của nghề nghiệp Năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên lại được xác định bởi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trong quá trình lao động nghề nghiệp của mình
Nhà trường hiện đại đã và đang những yên cầu mới đối với giáo viên, theo đó, người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới Vai trò người hướng dẫn, tư vấn và chăm sóc tâm lí mà người giáo viên trong nhà trường hiện đại phải đảm nhận là một minh họâ
Phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên rất phong phú, bao gồm cả việc mở rộng, đổi mới tri thức khoa học có liên quan đến giảng dạy môn học do giáo viên giảng dạy đến mở rộng, phát triển, đổi mới tri thức , kỹ năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường
Bản chất của phát triển nghề nghiệp dạy học đó là quá trình gia tăng sự thích ứng trong lao động nghề nghiệp của người giáo viên Mức độ thích ứng nghề nghiệp của cá nhân diễn ra với sự tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên, những yếu tố liên quan đến cá nhân và
Trang 5nghề nghiệp có vai trò quan trọng hơn cả Đây cũng là lí do khiến cho mỗi giáo viên phải phát triển nghề nghiệp của mình một cách liên tục, mỗi trường học phải coi việc phát triển nghề nghiệp liên tục cho đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ quan trọng
Chức năng, đặc điểm và vai trò của phát triển nghề nghiệp giáo viên
- Các chức năng của phát triển nghề nghiệp giáo viên:
+ Chức năng mở rộng: chức năng mở rộng của phát triển nghề nghiệp giáo viên là làm cho phạm vị sử dụng các năng lực nghề nghiệp vốn có của giáo viên ngày càng mở rộng Người giáo viên có thể thực hiện thành công nhiệm vụ dạy học và giáo dục ở nhiều lĩnh vực mới dựa trên cơ sở các năng lực đã có
+ Chức năng phát triển: chức năng phát triển của phát triển nghề nghiệp giáo viên là làm phong phú, nâng cao chất lượng của các năng lực nghề nghiệp vốn có của giáo viên Nói cách khác, chức năng phát triển của giáo viên là quá trình làm cho các năng lực nghề nghiệp của giáo viên ngày càng được nâng cao, giúp cho giáo viên có thể thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình ở những tình huống khác nhau, mà vẫn bảo đảm kết quả
+ Chức năng đổi mới: chức năng đổi mới là quá trình tạo ra nhũng thay đổi theo chiều hướng tích cực trong năng lực nghề nghiệp của giáo viên Đổi mới năng lực nghề nghiệp của giáo viên là quá trình phức tạp, là kết quả của sự thay đổi trong nhận thức, hành động và khắc phục những rào cản của hành vi, thói quen trong dạy học, giáo dục của giáo viên Kinh nghiệm nghề nghiệp là tài sản của mỗi giáo viên, tuy nhiên đôi khi kinh nghiệm này lại trở thành rào cản đối với những đổi mới mang tính hệ thống hoặc đổi mới đối với từng phương diện năng lực nghề nghiệp của người giáo viên
- Các đặc điểm của phát triển nghề nghiệp giáo viên
+ Phát triển nghề nghiệp giáo viên dựa trên xu hướng tạo dựng thay vì dựa trên mô
hình chuyển giao: giáo viên là những người học chủ động, tham gia các nhiêm vụ giảng dạy, tham gia quan sát, đánh giá và tự điều chỉnh bản thân trong quá trình giảng dạy của mình
+ Phát triển nghề nghiệp của giáo viên là một quá trình lâu dài: đó là sự tiếp nối những
thành tựu học tập trong giai đoạn học nghề của người giáo viên trước đây với những
Trang 6kinh nghiệm mới mà học có được trong quá trình lao động nnghề nghiệp và đào tạo nghề
+ Phát triển nghề nghiệp của giáo viên được phát triển với những nội dung cụ thể: các nội dung có liên quan đến phát triển nghề nghiệp giáo viên được hoạch định trong chính môi trường lao động nghề nghiệp, đặc biệt là nội dung hoạt động của giáo viên trong từng lớp học
+ Phát triển nghề nghiệp của giáo viên liên quan mật thiết với những thay đổi, cải cách trường học: do phát triển nghề nghiệp giáo viên liên quan đến quá trình xây dựng môi trường và không thuần túy là đào tạo kỹ năng nên nó bị ảnh hưởng bởi sự nhất quán của các chương trình trường học Một chương trình phát triển nghề nghiệp giáo viên
mà không được cở sở giáo dục hay những người cải cách chương trình ủng hộ thì không thể là một chương trình hiệu quả
+ Phát triển nghề nghiệp giáo viên có vai trò giúp đỡ, hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng những lí thuyết và thực tiễn sư phạm và giúp đỡ họ sự thành thạo trong nghề + Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình công tác: các hoạt động nghề
nghiệp giáo viên được coi là hiệu quả đều diễn ra khi có sự tương tác giữa giáo viên với các nhà quản lí, phụ huynh, học sinh và các thành viên khác trong cộng đồng
+ Phát triển nghề nghiệp giáo viên được thực hiện và thể hiện rất đa dạng: tính đa dạng trong phát triển nghề nghiệp giáo viên tạo ra những khác biệt khi thực hiện phát triển nghề nghiệp giáo viên ở những bối cảnh khác nhau Không có một dạng hay khuôn mẫu duy nhất cho sự phát triển nghề nghiệp giáo viên để áp dụng cho bất kì cơ sở giáo dục nào
- Vai trò của phát triển nghề nghiệp giáo viên
+ Phát triển nghề nghiệp giáo viên có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ,hỗ trợ giáo viên xây dựng những lí thuyết và thực tiễn sư phạm để phát triển sự thành thạo trong nghề Theo đó, mục đích phát triển nghề ngiệp giáo viên là để trở thành người có ảnh hưởng tích cực, hiệu quả đến việc hình thành, phát triển hoạt động tự học và tự giáo dục của học sinh Sự phát triển nghề nghiệp giáo viên mang lại những thay đổi cho cá nhân mỗi giáo viên và cho cả hệ thống giáo dục
Trang 7Câu 2: Hiện tồn tại quan điểm: chỉ những người được đào tạo, huấn luyện chuyên nghiệp về hướng dẫn mới có thể hướng dẫn cho đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp giáo viên, bạn có đồng quan điểm này không? Tại sao?
Nếu một người hướng dẫn đồng nghiệp mà chỉ được đào tạo và huấn luyện chuyên nghiệp về hướng dẫn thì tôi không đồng quan điểm với quan điểm trên, vì:
- Người hướng dẫn đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp giáo viên
phải là người tôn trọng sở thích và tin tưởng vào khả năng của đồng nghiệp; có uy tín trong nghề nghiệp và khả năng tạo được sự tin tưởng của đồng nghiệp.Hiểu được nguyện vọng của đồng nghiệp, mức độ thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của đồng nghiệp (biết được đồng nghiệp làm gì, làm như thế nào trong dạy học và giáo dục học sinh); thực hiện hướng dẫn đồng nghiệp dựa trên cái đồng
nghiệp cần Có thái độ thông cảm, có kỹ năng động viên, thúc đẩy đồng nghiệp ; biết đưa ra nhiều lựa chọn để đồng nghiệp quyết định
và làm cho đồng nghiệp biết họ phải làm gì để hoạt động nghề
nghiệp của họ tốt hơn so với hiện tại
- Mặc dù là người có nhiều kinh nghiệp nghề nghiệp, tuy nhiên,
người hướng dẫn đồng nghiệp không phải là một nhà thông thái Vì vậy, bạn cần biết giới hạn của mình trong hướng dẫn đồng nghiệp Nếu giới hạn của bạn là hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho đồng nghiệp thì hãy dừng lại ở phạm vi đó, đừng hướng dẫn lệch lạc sang lĩnh vực khác mà bạn không quen
MODULE 14
Trang 8Câu 1: Những tiêu chí cần nắm để lựa chọn phương thức dạy học theo hướng tích hợp là gì?
Theo tôi, một giờ dạy được gọi là “tích cực” khi mà các tiêu chí sau được thỏa mãn:
- Tiêu chí 1: MỌI HỌC SINH ĐỀU ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG
Dạy học sao cho tất cả HS đều được hoạt động, đều được làm việc (hay dạy học bằng cách tổ chức làm việc) là một trong những định hướng quan trọng của việc đổi mới PPDH
- Tiêu chí 2: TỰ HỌC SINH LĨNH HỘI RA TRI THỨC
Các hoạt động dạy học trong một tiết dạy học phải được thiết kế sao cho phải khơi gợi được nơi HS sự tìm tòi khám phá nhằm dẫn dắt các em tiến dần đến tri thức cần chiếm lĩnh
- Tiêu chí 3: BẦU KHÔNG KHÍ LỚP HỌC VUI VẺ, THOẢI MÁI:
Một trong ba tiêu chí quan trọng của một giờ dạy tích cực chính là bầu không khí lớp học Để có thể tự do hoạt động, khám phá tri thức, HS cần một môi trường dạy học đầy sự vui vẻ và thoải mái Bởi lẽ, với một bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt thì khó có thể đạt được 2 tiêu chí đã nêu ở trên
Câu 2: Anh (chị) hãy thiết kế một kế hoạch bài học (hoặc kế hoạch năm học) theo hướng tích hợp phù hợp với môn học
mà Anh (chị) đang dạy ứng với cấu trúc đã nêu của module này?
Tiết:8 §7.VẬT DẪN VÀ ĐIỆN MÔI TRONG
ĐIỆN TRƯỜNG
Tuần: 4
Trang 9I MỤC TIÊU
Kiến thức:
- Với vật dẫn cân bằng, Hs nắm được :
- Bên trong vật dẫn điện trường bằng 0, trên mặt vật dẫn E
vuông góc với mặt ngoài của vật
- Toàn bộ vật là một khối đẳng thế.
- Nếu vật tích điện thì điện tích ở mặt ngoài của vật
- Hiểu được hiện tượng phân cực trong điện môi khi điện môi được đặt trong
điện trường và do có sự phân cực nên lực điện giảm so với trong chân không
Kỹ năng:
- Giải thích được một số hiện tượng liên quan đến vật dẫn và điện môi trong
điện trường
II CHUẨN BỊ
GV:
- Thí nghiệm vật dẫn trong điện trường.
- Một số hình ảnh trong sách giáo khoa.
HS:
- Ôn lại các kiến thức về lực Cu-lông ; Điện trường.
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
Hoạt động 1: Ổn định Kiểm tra bài cũ.
- Kiểm tra tình học sinh.
- Nêu câu hỏi về công của
lực điện trường, hiệu điện
thế
- Nhận xét câu trả lời và
- Báo cáo tình hình lớp
- Trả lời câu hỏi.
- Nhận xét câu trả lời của
bạn
Trang 10cho điểm.
Hoạt động 2: Tìm hiểu về vật dẫn trong điện trường
- Mời Hs nhắc lại định
nghĩa dòng điện
- GV đưa ra khái niệm vật
dẫn cân bằng điện giới
hạn phạm vi khảo sát, cụ
thể là ta chỉ khảo sát
trường hợp vật dẫn không
có dòng điện
- Bên trong vật dẫn tích
điện thì điện trường như
thế nào? Hãy giải thích ?
- Mời Hs trả lời C1.
- Mô tả thí nghiệm về điện
thế mặt ngoài vật dẫn
- Nhắc lại định nghĩa dòng
điện: Khi có hạt mang điện chuyển động có hướng
- Bên trong vật dẫn điện
trường bằng không Vì trong vật dẫn đã có sẵn điện tích tự do nên nếu điện trường khác không thì nó sẽ tác dụng lực lên các điện tích tự do và gây
ra dòng điện
- Trả lời C1: điện trường sẽ
khác không
- Rút ra kết luận về điện thế
mặt ngoài vật dẫn
- Rút ra kết luận về điện thế
bên trong vật dẫn từ mối
1 Vật dẫn trong điện trường
a) Trạng thái cân bằng điện
- Trạng thái cân bằng
điện trong vật dẫn là trạng thái mà bên trong vật không
có dòng điện đi qua
b) Điện trường trong vật dẫn tích điện:
- Bên trong vật dẫn điện trường bằng khong
điện trường tại một điểm trên mặt ngoài vật dẫn vuông góc với mặt vật
c) Điện thế của vật dẫn tích điện:
- Điện thế trên mặt ngoài
vật dẫn: Điện thế tại mọi điểm trên mặt ngoài vật dẫn
có giá trị bằng nhau