Ở Việt Nam, diện tích trồng dừa (Cocos nucifera L.) khoảng 155.800 ha tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh ven biển miền Trung; sản lượng dừa đạt khoảng 892.000 tấnnăm (Nguyễn Sinh Cúc, 2003). Cây dừa và các nghề có liên quan đến dừa mang lại giá trị kinh tế rất cao (Wales and Sanger, 2001), bên cạnh nguồn thu trực tiếp từ sản lượng dừa tươi, sản phẩm từ dừa rất đa dạng: dầu dừa, thủ công mỹ nghệ từ thân và gáo dừa, xơ dừa, than hoạt tính, kẹo dừa, thạch và nước dừa đóng hộp… (Panwar, 1990) góp phần lớn cải thiện thu nhập cho người dân, đặc biệt cho các lao động ở nông thôn. Nhiều năm gần đây, bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro (Coleoptera: Chrysomelidae) là một trong những dịch hại quan trọng nhất trên cây dừa và một số loài họ cau dừa (Palmae) (Howard et al., 2001; Liebregts and Champman, 2004; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Các biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả quản lý B. longissima chưa cao do dừa là cây trồng có chiều cao lớn và bọ cánh cứng Brontispa longissima tập trung trong các đọt non chưa bung ra hoặc gốc lá. Hiện nay, các nổ lực nghiên cứu và áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật ít độc, ít tác động đến sức khoẻ con người và môi trường sinh thái đang được phát triển mạnh mẽ. Từ năm 2003, tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations) hỗ trợ việc phòng trị lâu dài cho Việt Nam bằng cách du nhập loài ong ký sinh ấu trùng Asecodes hispinarum vào để nuôi thả, tái lập sự cân bằng mật số của bọ dừa Brontispa longissima với thiên địch. Kết quả bước đầu cho thấy có triển vọng tốt (Hồ Văn Chiến, 2009; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Đối với ong ký sinh, để định vị được ký chủ thành trùng cái phải vận dụng kết hợp nhiều cơ quan cảm giác (Wackers and Lewis, 1994), trong đó, sự tiếp nhận hoá học (chemoreception) bằng khứu giác đóng vai trò quan trọng nhất giúp loài ký sinh định vị ký chủ (Turling et al., 1993). Do đó, việc xác định các chất hấp dẫn giúp ong Asecodes hispinarum định vị ký chủ B. longissima là cần thiết để góp phần tăng cường hiệu quả quản lý bọ cánh cứng B. longissima bằng cách sử dụng ong ký sinh A. hispinarum. Đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của một số loại hóa chất tín hiệu đến khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh Asecodes hispinarum Boucek (Hymenoptera: Eulophidae) đối với bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro (Coleoptera: Chrysomelidae) trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện nhằm góp phần tìm ra những tiền đề sơ khởi để phát triển những chiến lược mới trong quản lý dịch hại tổng hợp loài B. longissima theo hướng thân thiện với môi trường.
Trang 1MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, diện tích trồng dừa (Cocos nucifera L.) khoảng 155.800 ha tập trung ở
đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh ven biển miền Trung; sản lượng dừa đạtkhoảng 892.000 tấn/năm (Nguyễn Sinh Cúc, 2003) Cây dừa và các nghề có liênquan đến dừa mang lại giá trị kinh tế rất cao (Wales and Sanger, 2001), bên cạnhnguồn thu trực tiếp từ sản lượng dừa tươi, sản phẩm từ dừa rất đa dạng: dầu dừa, thủcông mỹ nghệ từ thân và gáo dừa, xơ dừa, than hoạt tính, kẹo dừa, thạch và nướcdừa đóng hộp… (Panwar, 1990) góp phần lớn cải thiện thu nhập cho người dân, đặcbiệt cho các lao động ở nông thôn
Nhiều năm gần đây, bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro
(Coleoptera: Chrysomelidae) là một trong những dịch hại quan trọng nhất trên cây
dừa và một số loài họ cau dừa (Palmae) (Howard et al., 2001; Liebregts and
Champman, 2004; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Các biện pháp sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả quản lý B longissima chưa cao do dừa là cây trồng có chiều cao lớn và bọ cánh cứng Brontispa longissima tập trung trong các đọt non chưa bung ra hoặc gốc lá
Hiện nay, các nổ lực nghiên cứu và áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật ít độc, íttác động đến sức khoẻ con người và môi trường sinh thái đang được phát triểnmạnh mẽ Từ năm 2003, tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc(FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations) hỗ trợ việc phòng
trị lâu dài cho Việt Nam bằng cách du nhập loài ong ký sinh ấu trùng Asecodes hispinarum vào để nuôi thả, tái lập sự cân bằng mật số của bọ dừa Brontispa longissima với thiên địch Kết quả bước đầu cho thấy có triển vọng tốt (Hồ Văn
Chiến, 2009; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Đối với ong ký sinh, đểđịnh vị được ký chủ thành trùng cái phải vận dụng kết hợp nhiều cơ quan cảm giác(Wackers and Lewis, 1994), trong đó, sự tiếp nhận hoá học (chemoreception) bằng
khứu giác đóng vai trò quan trọng nhất giúp loài ký sinh định vị ký chủ (Turling et al., 1993) Do đó, việc xác định các chất hấp dẫn giúp ong Asecodes hispinarum định vị ký chủ B longissima là cần thiết để góp phần tăng cường hiệu quả quản lý
bọ cánh cứng B longissima bằng cách sử dụng ong ký sinh A hispinarum
Đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của một số loại hóa chất tín hiệu đến khả năng
định vị ký chủ của ong ký sinh Asecodes hispinarum Boucek (Hymenoptera: Eulophidae) đối với bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro
(Coleoptera: Chrysomelidae) trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện
nhằm góp phần tìm ra những tiền đề sơ khởi để phát triển những chiến lược mới
trong quản lý dịch hại tổng hợp loài B longissima theo hướng thân thiện với môi
trường
Trang 2CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Ong ký sinh Asecodes hispinarum Boucek
- Tên khoa học: Asecodes hispinarum Boucek.
- Ký chủ: Asecodes hispinarum Boucek là loài ong ký sinh chuyên tính, chỉ được
ghi nhận ký sinh trên ấu trùng của hai loài bọ cánh cứng thuộc phân họ Hispinae
(Coleoptera: Chrysomelidae) là Brontispa longissima (Trần Tấn Việt, 2003; Hồ Văn Chiến, 2009) và Plesispa reichei Chapuis (Thitraporn pundee, 2009).
1.1.1 Đặc điểm hình thái
Thành trùng A hispinarum rất nhỏ (chiều ngang khoảng 0,19-0,31 mm, chiều dài
khoảng 0,74-1,14 mm), màu đen Râu đầu ngắn, 7 đốt, đốt cuối nhọn, có lông baophủ Bàn chân có 5 đốt Cánh trước rộng, cánh sau hẹp, lông mép cánh tương đốidài, trên mặt cánh có lớp lông mịn không xếp thành hàng (Hồ Văn Chiến, 2009)
- Trứng: trứng có hình bầu dục, trong suốt, không màu (Hồ Văn Chiến, 2009),
ong cái có thể đẻ nhiều trứng/lần và đẻ hơn 100 trứng bên trong ấu trùng B longissima (Thitraporn Pundee, 2009)
- Ấu trùng: cơ thể ấu trùng của ong A hispinarum có hình bầu dục, trong suốt,
không chân, di chuyển nhờ sự co giãn của cơ giữa các đốt Ấu trùng phát triển bêntrong cơ thể ký chủ (Hồ Văn Chiến, 2009)
- Nhộng: nhộng của ong A hispinarum có dạng nhộng trần, không có lớp tơ hay
áo bao phủ Nhộng phát triển trong cơ thể ký chủ Màu sắc của nhộng biến đổi trongquá trình phát dục, từ vàng nhạt, nâu nhạt đến màu đen (Hồ Văn Chiến, 2009)
- Thành trùng: ong ký sinh cái có kích thước lớn hơn ong đực, bụng tròn hoặc
tù, phình to ở các đốt giữa, phía cuối đốt bụng có máng đẻ trứng; ong ký sinh đực
có bụng thon nhỏ, nhọn phía cuối đốt bụng (Hình 1.1) (Hồ Văn Chiến, 2009)
Trang 3Hình 1.1 Hình dạng ong A hispinarum đực (trái) và ong
cái (phải) (Thitraporn Pundee, 2009)
1.1.2 Đặc điểm sinh học
Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của ong A hispinarum (Thitraporn Pundee, 2009)
Vòng đời của ong A hispinarum biến động từ 17 - 22 ngày tùy vào điều kiện nhiệt
độ và ẩm độ (Liebregts et al., 2006; Hồ Văn Chiến, 2009) Ở điều kiện T0: 24 ± 20C;RH%: 72 ± 10%, thời gian phát triển của trứng là 2,5 ngày, ấu trùng là 6,7 ngày vàgiai đoạn nhộng 7,5 ngày Ở điều kiện T0: 28 - 300C và RH%: 74 - 82%, thời gian
phát triển từ trứng đến thành trùng của ong A hispinarum khoảng 15 - 18 ngày,
trong đó giai đoạn nhộng kéo dài 6 - 7 ngày Ở điều kiện T0: 30 - 340C và RH%: 62– 68%, giai đoạn nhộng kéo dài là 7 - 9 ngày (Hồ Văn Chiến, 2009) Ở điều kiện ẩm
độ cao, lớp biểu bì của các “mummies” bị khô nên ong A hispinarum sau khi vũ
hóa sẽ khó khoét lổ để chui ra ngoài (Hồ Văn Chiến, 2009), với số lượng từ 3-5 lổ/
mummy (Lu et al., 2008) Thời gian sống của thành trùng khoảng 5 - 7 ngày (Hồ
Văn Chiến, 2009; Thitraporn pundee, 2009) và trung bình 2,3 ngày khi không cungcấp thức ăn (Yueguan, 2007)
1.1.3 Đặc điểm ký sinh
Trang 4Khả năng ký sinh của ong A hispinarum cái biến động từ 1 đến 3 ký chủ Trưởng
thành cái có khả năng đẻ từ 37-148 trứng Số ong vũ hóa khoảng 26-137con/mummy (Hồ Văn Chiến, 2009) Khả năng sinh sản của ong chỉ tập trung trongnhững ngày đầu tiên sau khi vũ hóa, đặc biệt là ngày thứ nhất, và giảm dần về sau
(Liebregts et al., 2006) Ong ký sinh đẻ trứng theo dạng đơn phôi, trứng được đẻ rời nhau Ong A hispinarum có thể đẻ trứng ở bất cứ vị trí nào trên thân của ấu
trùng BCCHD (Hồ Văn Chiến, 2009)
Trong điều kiện tự nhiên, ong A hispinarum có khả năng ký sinh từ ấu trùng tuổi 1
đến nhộng, nhưng thích hợp nhất là ở ấu trùng tuổi 4 (Thitraporn Pundee, 2009),làm cho ấu trùng của bọ cánh cứng hại dừa khó chuyển qua giai đoạn trưởng thành
và nếu có thì với số lượng rất ít Ong thường vũ hóa tập trung vào buổi sáng và buổitrưa trong ngày (Hồ Văn Chiến, 2009)
1.2 Bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro
(2003) và Rethinum và Singh (2005), ký chủ của BCCHD bao gồm khoảng 18 loại
cây thuộc họ cau dừa và thiên tuế, trong đó ký chủ chính: dừa Cocos nucifera và các
ký chủ phụ: cau ăn trầu Areca catechu, cọ dầu Elaesis guineensis, thiên tuế Cycaspectinata…
1.2.2 Phân bố
Bọ cánh cứng B longissima có nguồn gốc từ đảo Aru (Indonesia) và sau đó được
phát hiện ở nhiều đảo của châu Đại Dương như Salomon (1929), Vanuatu (1937),Tahiti (1961) và Samoa (1974), ở Úc (1984), Đài Loan (1982), Trung Quốc (1988)
(Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Bọ cánh cứng B longissima được ghi
nhận ở Việt Nam vào năm 1999, và lan rộng nhanh chóng ở một số nước ĐôngNam Á như Thái Lan, Campuchia và Philippin (Liebregts and Chapman, 2004)
Trang 51.2.3 Đặc điểm hình thái
- Trứng: hình bầu dục, hơi dẹt, màu nâu, chiều dài trung bình 1,4 mm, chiều
rộng trung bình 0,5 mm (Froggatt and O’Connor, 1941; Lever, 1969; Hồ VănChiến, 2009) Vỏ trứng không trơn láng mà lỗ chổ như tổ ong (Nguyễn Thị ThuCúc, 2000), được bao phủ bằng lớp dịch giống như mùn cưa có màu trắng đục (HồVăn Chiến, 2009) Khi ấu trùng chui ra khỏi vỏ trứng, ấu trùng sử dụng phần đuôivẫy mạnh làm cho vỏ trứng rơi ra khỏi bề mặt của lá dừa (Hồ Văn Chiến, 2009).Khi đẻ trứng, thành trùng cái BCCHD di chuyển tới dọc theo phiến lá song song vớigân chính đẻ thành từng nhóm từ 1-5 trứng, trứng nằm nối liền nhau và được gắntrên rãnh nhỏ do chúng cạp theo mặt của lá Sau đó, chúng bò sang vị trí khác để đẻcác nhóm trứng khác (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Hồ Văn Chiến, 2009) Trứng của
bọ dừa có thể được đẻ ở vị trí bên trong hay bên ngoài hai mặt lá đơn của lá képchưa bung ra (đọt non) Khi ấu trùng chui ra khỏi vỏ trứng, ấu trùng sử dụng phầnđuôi vẫy mạnh làm cho vỏ trứng rơi ra khỏi bề mặt của lá dừa (Hồ Văn Chiến,2009)
- Ấu trùng: ấu trùng có thể có từ 4 – 6 tuổi (O’Connor, 1940; Froggatt and
O’Connor, 1941; Hồ Văn Chiến, 2009) Ấu trùng ở tuổi nhỏ có màu trắng nhạt vềsau chuyển sang màu vàng nhạt
+ Ấu trùng tuổi 1 có đầu hơi lớn hơn thân mình Bên ngoài cơ thể ấu trùng bọdừa có lớp cutin bao bọc dầy đặc, lông mọc từ giữa đến gần cuối dọc theo hai bênhông; dọc theo trên lưng mép rìa trên bụng có khoảng 5-6 lông (Nguyễn Thị ThuCúc, 2000) Chiều dài trung bình của ấu trùng tuổi 1 khoảng 1,8 mm và chiều rộngkhoảng 0,8 mm (Hồ Văn Chiến, 2009)
+ Ấu trùng tuổi 2 phát triển đầy đủ hơn ấu trùng tuổi 1 Phần cuối của bụngdài hơn, mỗi bên mang 4 lông dài và phát triển đầy đủ hơn ấu trùng tuổi 1, và cónhững điểm khác nhau ở phần da của lưng Có 8 lông trước ngực (4 lông ở mỗi bên)
và 3 lông ở giữa ngực và 3 lông phía sau ngực, phần bài tiết có 1 lông ở cuối Kíchthước trung bình của ấu trùng tuổi 2 là 2,8 mm chiều dài và 0,8 mm chiều rộng Ấutrùng tuổi 2 đến tuổi 5 có màu vàng nhạt (Hồ Văn Chiến, 2009)
+ Ấu trùng từ tuổi 3 đến tuổi 5 dường như không có thay đổi về hình dạng, chỉ
có thay đổi về kích thước Ấu trùng tuổi 5 đã phát triển đầy đủ có thân mình hơiphẳng, các cạnh thân mình song song nhau, dạng hình dẹp dần từ trước ngực kéodài đến đích Ấu trùng có 13 đốt: 1 đốt là phần đầu, 3 đốt ở phần ngực và 9 đốt ởphần bụng Đầu mang 2 râu, hàm dưới của miệng có một cặp răng ở chóp Phầnbụng từ đốt thứ 8 và thứ 9 có dạng giống nhau, cuối cùng là phần đuôi và hậu môn.Phần lưng của ngực trước có một mảnh đệm khá cứng Ấu trùng có 3 đôi chân pháttriển hoàn chỉnh ở phần ngực trước, cuối chân được giới hạn bởi một vuốt đơn và
Trang 6một mảnh đệm vuốt Toàn bộ bề mặt bên ngoài của da được che phủ bởi nhiều gainhỏ Ấu trùng ở tuổi 5 dài trung bình 9,6 mm và rộng 2,3 mm (Hồ Văn Chiến,2009).
- Nhộng: nhộng mới thành lập có màu vàng trắng, có chiều dài trung bình 9 - 10
mm, chiều rộng 2 mm (Waterhouse and Norris, 1987; O'Connor, 1940) Nhộng của
bọ cánh cứng hại dừa cũng nằm trong các lá dừa đơn Cơ thể nhộng gồm có 3 phần:đầu có 3 phần: phần giữa và 2 phần ở 2 bên, trước đầu có mang gai nhỏ không bén.Ngực mỗi bên có mang một đôi cánh Bụng có 9 đốt, đốt thứ 8 và đốt thứ 9 gần nhưdính chung vào Mỗi đốt bụng có mang những gai nhỏ không bén (Hồ Văn Chiến,2009)
- Thành trùng: bề mặt của cánh trước có nhiều chấm nhỏ phân bố đều khắp
cánh Thành trùng có ba đôi chân, chân có giác bám Đầu, cánh, râu có màu nâuđen, mảnh lưng ngực và phần tiếp giáp với mảnh lưng ngực màu vàng cam (Hồ VănChiến, 2009) Trưởng thành có chiều dài trung bình là 9,7 mm và chiều rộngkhoảng 2,2 mm Thành trùng đực thì hơi nhỏ hơn thành trùng cái Thành trùng cái
có thể đẻ hơn 430 trứng trong suốt quá trình sống (O'Connor, 1940; Waterhouse and
Norris, 1987; Liebregts et al., 2006).
1.2.4 Vòng đời
Hình 1.3 Vòng đời của B longissima (Thitraporn Pundee, 2009)
Chu kỳ sinh trưởng của BCCHD kéo dài từ 43 - 67 ngày, giai đoạn trứng 4 - 5 ngày,giai đoạn ấu trùng 20 - 30 ngày, giai đoạn nhộng 4 - 6 ngày, thành trùng bắt đầu đẻtrứng trong giai đoạn 17 đến 20 ngày sau khi vũ hóa ở điều kiện nhiệt độ 26 -27,50C (Chi cục Bảo vệ thực vật thành phố Hồ Chí Minh, 2000 trích dẫn bởi
Trang 7Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Ở điều kiện nhiệt độ 26 - 300C và ẩm độ 72-81%, ấutrùng có 5 tuổi, thời gian từng tuổi từ 3,68 - 6,84 ngày, tiền nhộng khoảng 2,39ngày, giai đoạn nhộng là 5,48 ngày, thành trùng sống từ 146-198 ngày (Hồ VănChiến, 2009).
1.2.5 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), bọ cánh cứng hại dừa tấn công trên cây dừa ởmọi lứa tuổi, thường tập trung và gây hại nặng trên những cây từ 2 - 5 năm tuổi Bộphận cây bị hại là phần lá dừa non, chưa mở ra (Hồ Văn Chiến, 2001; Ngô Công
Chúng và ctv., 2003) Sự tấn công của bọ dừa tạo thành các sọc của mô lá non làm
ức chế sự tăng trưởng của lá trong thời gian dài, lá bị yếu, dễ bị nhiễm bệnh và khô
đi, những cây bị nhiễm nặng cây sẽ chết (Waterhouse and Norris, 1987)
Theo Hồ Văn Chiến (2009) cả ấu trùng và thành trùng đều phá hại trên lá của đọtnon khi chưa bung ra, nó ăn lớp biểu bì trên của lá tạo thành những đường sọc tiêubiểu song song với gân chính Những đường sọc này có độ rộng khác nhau, có màunâu đỏ Chỗ lá bị ăn khi tàu lá bung ra có biểu hiện nhăn nheo và co dúm lại làmcho lá có hình thù đặc trưng bởi sự gây hại của bọ cánh cứng hại dừa
Trên những lá đơn nếu diện tích bị tấn công rộng và nhiều thì sẽ làm ảnh hưởng đếncác mô trong quá trình quang tổng hợp Khi mà tàu lá đọt mở bung ra thì thànhtrùng di chuyển xuống gốc lá (đêm tối bò lên kiếm ăn) hoặc di chuyển sang nhữngcây gần đó có lá non hơn để tấn công, thường thì mức độ ăn của ấu trùng nhiều hơnthành trùng (Tothill, 1929; Hồ Văn Chiến, 2009) Tuy nhiên, theo O’Connor (1940),thành trùng sẽ có sức ăn nhiều hơn vì chúng có thời gian sống rất dài
Ở những cây dừa trưởng thành, thường thì một đọt lá non mới được thành lậpkhoảng 4 - 5 tuần Do vậy, thời gian định kỳ để đọt lá non mở ra sẽ rất ngắn; và mộtkhi tàu lá nở bung ra thì bọ cánh cứng hại dừa thường không thích cư trú vì sợ ánhsáng Do vậy, sự gây hại thường ít hơn Tốc độ thành lập tàu lá đọt khá nhanh ởnhững cây dừa có hơn 5 năm tuổi và kéo dài đến 8 - 10 năm tuổi, điều này cho thấyrằng ở giai đoạn này cây rất khỏe, có đủ sức mạnh để vượt qua sự tấn công trầmtrọng của bọ cánh cứng hại dừa Trong khi ở những cây dừa còn nhỏ, sau khi mọcmầm một cách nhanh chóng, ở giai đoạn đầu chỉ một số lá được thành lập Trongkhi lá đọt thỉnh thoảng mới hình thành trong 4 - 5 năm đầu và thường thì một lá đọtđược thành lập trung bình khoảng 6 - 7 tuần, có khi lên đến 8 tuần Chính vì lý dotrên, ở những cây dừa còn nhỏ, ít có nhiều đọt bị bọ cánh cứng hại dừa tấn công
trong cùng một thời gian mà thường thì tập trung chỉ một tàu đọt nên mật số của B longissima càng nhiều hơn, lá đọt lại có kích thước nhỏ, sự thiệt hại càng nặng (Hồ
Văn Chiến, 2009)
Trang 8Khi B longissima tấn công lên cây dừa một thời gian ngắn thì đọt dừa có các biểu
hiện lá bị khô héo và chết, dừa cho trái ít dần, càng ngày có thêm nhiều lá bị hạitrên cây Khi sự gây hại kéo dài trong nhiều năm thì dừa có các biểu hiện rụng trái,
lá còn trơ lại bộ khung, cả đọt có nhiều lá chết đen, cây sẽ yếu và chết (Hình 1.4)(Hồ Văn Chiến, 2009)
Hình 1.4 Triệu chứng gây hại của bọ cánh cứng hại dừa
1.3 Kairomone
1.3.1 Định nghĩa
Kairomone là những hóa chất tín hiệu được phóng thích ra môi trường từ một sinhvật sẽ tạo nên những đáp ứng tập tính hoặc sinh lý đối với một sinh vật của loàikhác và những đáp ứng này chỉ có lợi cho sinh vật nhận được tín hiệu mà không có
lợi cho sinh vật tạo ra tín hiệu (Nordlund et al., 1976; Dicke et al., 1988b).
1.3.2 Phân loại
Dựa vào tính chất tác động đối với sinh vật hưởng lợi, kairomone được chia làmnhiều loại khác nhau như sau: kairomone tìm kiếm (foraging kairomone),kairomone tránh né kẻ thù (enemy avoidance), kairomone sinh dục (sexual
kairomone) và kairomone tập hợp (aggregation kairomone) (Ruther et al., 2002).
- Kairomone tìm kiếm (foraging kairomone) được sử dụng bởi sinh vật được lợinhằm tìm kiếm thức ăn cho bản thân hoặc con cái của chúng (Cork, 2004)
- Kairomone tránh né kẻ thù (enemy avoidance) được sinh vật được lợi sử dụng
để giảm sự va chạm với các loài thiên địch của chúng trong tự nhiên (Cork, 2004)
- Kairomone sinh dục (sexual kairomone) là những hóa chất tín hiệu do một sinhvật tạo ra và được sinh vật của loài khác sử dụng để định vị bạn tình của chúng(Cork, 2004)
Trang 9- Kairomone tập hợp (aggregation kairomone) được giới thiệu bởi Loughrin et
al (1995) nhằm miêu tả ảnh hưởng của những chất bay hơi từ cây trồng (plant
volatiles) có khả năng thu hút cả con đực lẫn con cái của một loài bọ cánh cứng ở
Nhật Bản, Popillia japonica Newman Loại kairomone này được sinh vật hưởng lợi
sử dụng nhằm khai thác nguồn thức ăn, tìm kiếm bạn tình hoặc bảo vệ lãnh thổ hiệuquả hơn (Cork, 2004)
1.4 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng kairomone trong phòng thí nghiệm
Côn trùng ký sinh rất phổ biến trong tự nhiên: khoảng 100.000 loài được miêu tả và
ước lượng khoảng 1 triệu loài đã xuất hiện (Kaeslin et al., 2005) Côn trùng ký sinh
sử dụng những côn trùng chân khớp khác như nguồn thức ăn cho con cháu củachúng Một số loài ký sinh chuyên biệt trên một hoặc một vài loài ký chủ, trong khi
số khác ký sinh rộng rãi và có thể phát triển trên nhiều loài ký chủ khác nhau Cácgiai đoạn của côn trùng gây hại có thể bị ký sinh tấn công bao gồm: trứng, ấu trùng,nhộng và thành trùng (Turlings and Benrey, 1998)
Để định vị được ký chủ, thành trùng cái của loài ký sinh phải vận dụng kết hợpnhiều cơ quan cảm giác (Wackers and Lewis, 1994) Nhờ vào cơ quan thị giác, côntrùng ký sinh có thể nhận diện được các đặc điểm hình dạng và màu sắc hoặc môitrường sống của ký chủ (Wackers and Lewis,1994) Tuy nhiên, sự tiếp nhận hóa học(chemo reception) bằng khứu giác và vị giác đóng vai trò quan trọng nhất trong việc
giúp những loài ký sinh bộ cánh màng xác định vị trí ký chủ của chúng (Turlings et al., 1993) Trong những trường hợp này, côn trùng ký sinh phụ thuộc vào những tín
hiệu phát ra từ ký chủ (Vet and Dicke, 1992)
Những hợp chất hóa học cần thiết cho khả năng định vị của thành trùng ký sinh thayđổi tùy theo loài ký chủ mà chúng tấn công Trong một số trường hợp, côn trùnggây hại truyền đi những tín hiệu nhằm tập hợp những cá thể khác trong cùng mộtloài và nhờ đó mà những loài ký sinh hoặc ăn thịt có thể nhận ra con mồi của mình
Ví dụ, loài ong ký sinh trên trứng của một số loài côn trùng thuộc bộ cánh vảy dựavào pheromone giới tính do bướm cái tiết ra để xác định vị trí ổ trứng do bướm này
đẻ ra (Noldus and Vanlenteren, 1985) Thậm chí, một số loài ong ký sinh trứng còndựa vào pheromone giới tính do bướm cái tiết ra để tìm đến và đẻ trứng thẳng vào
cơ thể của ký chủ đó (Arakaki et al., 1996)
Zaiki (2010) đã ghi nhận, thành trùng cái của Apanteles ruficrus bị hấp dẫn đối với kairomone trích từ ấu trùng ký chủ, Agrotis ipsilon Bên cạnh đó, pheromone giới tính tổng hợp từ A ipsilon cũng có vai trò như một kairomone ảnh hưởng đến thành trùng cái của loài ong ký sinh này Tương tự, kairomone được trích từ Spodoptera littoralis cũng đã được thử nghiệm trong điều kiện ngoài đồng Kết quả cho thấy, Kairomone trích từ A ipsilon và S littoralis cho tỉ lệ kí sinh bởi A ruficrus và M.
Trang 10demolitor tương ứng từ 5,6% đến 11,8% ở lô đối chứng, 19,5% đến 26% ở lô có xử
lý kairomone Trong khi đó, kairomone trích từ ấu trùng của Autographa nigrisigna
và Spodoptera exigua cho hiệu quả hấp dẫn thấp hơn đối với cả hai loài ký sinh Ramachandran et al (1991) cho biết, thành trùng cái của loài ong ký sinh Microplitis demolitor (Hymenoptera: Braconidae) bị hấp dẫn đối với những chất bay hơi có trong phân ấu trùng sâu đo, Psedoplusia includens (Walker)
(Lepidoptera: Noctuidae) nuôi bằng giống đậu nành Davis nhiễm với loài sâu này,
giống PI 227687 kháng đối với sâu đo và giống đậu Henderson lima Linalool
(3,7-dimethyl-1,6-octadien-3-ol), guaiacol (2-methoxyphenol) và 3-octanone được xácđịnh là thành phần chính trong hỗn hợp của các hợp chất bay hơi có trong phân sâu
đo bằng kỹ thuật phân tích GC – MS Những hợp chất này không được tìm thấy ởtrong phân sâu được nuôi bằng thức ăn nhân tạo Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy
phân của P includens được nuôi bằng thức ăn nhân tạo thì không có khả năng hấp
dẫn được ong ký sinh Kết quả khảo sát bằng dụng cụ olfactometer đã chứng minhrằng, hợp chất 3 – octanone và guaicol có khả năng hấp dẫn đối với thành trùng cái
của ong ký sinh M demolitor Hai hợp chất này cũng cho phản ứng EAG trong đáp
ứng đối với loài ong ký sinh này cao hơn so với cis-3-hexen-1-ol Hàm lượngguaiacol trong phân sâu đo được nuôi bằng giống đậu nành PI 227687 cao hơn (gấp
5 lần) so với giống Davis hoặc lá đậu lima 3-octanone thì được tìm thấy trong hợpchất bay hơi của lá đậu nành Davis bị sâu tấn công và trên giống PI 227687 không
bị gây hại Trong khi đó, guaicol và linalool không tìm thấy trong hỗn hợp nhữngchất bay hơi từ lá đậu nành
Allyl ispthiocyanate là một hóa chất hiện diện trong rễ, thân và lá của Wasabi thuộc
họ Cải (Brassicaceae) có tác dụng chống lại sự phát triển của vi khuẩn Helicobacter pylori gây loét dạ dày Hợp chất này có khả năng hấp dẫn được cả thành trùng đực
lẫn thành trùng cái bọ nhảy ở điều kiện ngoài đồng tuy nhiên hiệu quả hấp dẫn rấtthấp khi bố trí thí nghiệm ra đồng ruộng (Trần Thị Như Ngọc, 2009)
Hóa chất (Z)-3-hexen-1-ol là một loại hóa chất tín hiệu được ong kén vàng
Microplitis manilae sử dụng để định vị ký chủ của chúng Hợp chất này còn có khả năng hấp dẫn bọ rùa đỏ Micraspis sp ở nồng độ 15mg trong điều kiện ngoài đồng
(Nguyễn Ngọc Thiều, 2010)
1.5 Sự tự vệ của cây trồng (Plant defense) dưới tác động của côn trùng gây hại
Thực vật là nguồn dinh dưỡng dồi dào cho vô số sinh vật: nấm, vi khuẩn, động vật
có và không có xương sống, và thậm chí là cả những loài thực vật khác trong nhiều
hệ sinh thái trên trái đất Một điều đáng ngạc nhiên là thực vật vẫn phát triển, tồn tại
và thích nghi với môi trường có rất nhiều “kẻ thù” (hostile environment)
Trang 11Hình 1.5 Thiệt hại của cây trồng và HIPVs Cây trồng bị gây hại bởi côn trùng và
phóng thích các hợp chất bay hơi trong hệ sinh thái, cả trên bề mặt và dưới mặt đất HIPVs có thể chọn lựa các ảnh hưởng khác nhau đến các thành
phần trong hệ sinh thái gây ra áp lực cho cây trồng lân cận (Dicke et al.,
2010)
Cây trồng có rất nhiều cơ chế để chống lại kẻ thù tấn công, trong đó, chúng có mạnglưới tín hiệu nội bộ phối hợp phòng thủ để phản ứng bên trong cây và khả năng
cảnh báo các cây trồng lân cận (Schoonhoven et al., 2005), một trong số đó được
phóng thích ra không khí sau khi bị côn trùng gây hại tấn công hoặc đẻ trứng
(Mumm et al., 2006; Fatouros et al., 2008; Dicke et al., 2009; Unsicker et al.,
2009) Những hợp chất dễ bay hơi của cây trồng được tạo ra khi bị côn trùng gâyhại (HIPVs: Herbivore-induced plant volatiles) chủ yếu bao gồm terpenoids, dẫnxuất của acid béo, phenyl propanoids và benzenoids (Mumm et al., 2006; Dudareva
et al., 2004) và có thể được phóng thích tại những nơi bị gây hại hoặc từ các phần không bị gây hại hoặc tổn thương của cây (Heli et al., 2008) Một vài hợp chất
không được sản sinh bởi cây trồng còn nguyên vẹn hoặc bị tổn thương cơ học vànhững chất khác được sinh tổng hợp để phản ứng với sự tấn công của côn trùng gây
hại (Dicke et al., 2000) HIPVs có thể kích thích (gợi lên) những sự thay đổi về
hành vi của một loạt các sinh vật trong hệ sinh thái, từ động vật ăn thịt, tuyến trùng
ký sinh đến chim hoặc những cây trồng cùng loài lân cận đến các loài cây trồng kýsinh (Mantyla et al., 2004; Rasmann et al., 2005; Baldwin et al., 2006; Soler et al.,
2007; Briunsma et al., 2009) Từ đó cho thấy, HIPVs có thể ảnh hưởng đến nhiều cá
thể khác nhau trong hệ sinh thái (Hình 1.5)
Các loài ăn thịt, như nhện nhỏ và côn trùng thuộc 5 bộ (Hymenoptera, Neuroptera,
Diptera, Coleoptera và Heteroptera), bị hấp dẫn bởi HIPVs (Mumm et al., 2006)
Trong một vài nghiên cứu, sự tương tác giữa mức độ hấp dẫn và hàm lượng HIPVs
Trang 12được biểu hiện (Turling et al., 1999; Gols et al., 2003) Tuy vậy, không phải tất cả
thành phần HIPVs phóng thích đều gợi lên phản ứng của loài ăn thịt Các kết quảnghiên cứu cho thấy, hợp chất chiếm lượng lớn trong hỗn hợp HIPVs không hẳn là
thành phần quan trọng nhất đối với loài thiên địch (Smid et al., 2002; De Bruyne et al., 1991; Gouinguene et al., 2005) Điều này không đáng ngạc nhiên, loài ăn thịt và
ký sinh phải đánh giá độ tin cậy của chất mà chúng phán đoán có hiện diện của
động vật gây hại (Vet et al., 1992).
Những chất HIPVs được phóng thích thường thấp hơn so với các chất khác được
cây trồng tiết ra để thu hút côn trùng, như mật được tiết ra từ hoa (Dicke et al.,
1989) và không rõ ràng là hàm lượng HIPVs là bao nhiêu Mặc dù một vài nghiêncứu cho thấy sự tăng cường riêng lẻ các thành phần của hỗn hợp HIPVs làm tăng sự
hấp dẫn loài ăn thịt ở điều kiện tự nhiên (Kessler et al., 2001)
Ví dụ, nhện ăn thịt Phytoseiulus persimilis không bị hấp dẫn bởi homoterpene
(3E,7E)-4,8,12-trimethyl-1,3,7,11-tridecatetraene khi chúng được cung cấp như là
một hỗn hợp thuần túy (Dicke et al., 1990) Tuy vậy, khi hỗn hợp này được loài cây đậu (lima bean) phóng thích khi cây trồng bị con mồi của loài nhện Phytoseiulus pesimilis tấn công, hỗn hợp được thêm vào hỗn hợp được thải ra từ 1 loài cây bị
nhiễm bởi con mồi (không thuộc bộ cánh vảy), nó trở nên hấp dẫn loài nhện thiên
địch (De Boer et al., 2004) Vì thế, hiểu được áp lực chọn lọc của loài ăn thịt trên
HIPV phóng thích, người ta cần phải biết kết hợp các hợp chất thành phần được sử
dụng bởi loài ăn thịt (Dicke et al., 2010)
Một vài HIPVs không hấp dẫn loài ăn thịt thậm chí có thể xua đuổi hoặc che dấu
các thành phần hấp dẫn (Turlings et al.,1999; D’Alessandro et al., 2006) Khi kết
hợp với các báo cáo gần đây sự kích thích (gợi lên) của loài gây hại không chỉ giatăng sự phóng thích các chất nhất định, nhưng cũng có thể ngăn chặn sự thải ra các
thành phần chủ yếu khi cây trồng bị khơi gợi do vết thương (Gaquerel et al., 2009)
1.6 Phương pháp đánh giá khả năng định vị của ong ký sinh
Nhiều loài côn trùng ký sinh bộ cánh màng sử dụng khứu giác để định vị ký chủ(Vinson, 1981) Các phản ứng hấp dẫn của các loài ký sinh bởi mùi từ bất kỳ nguồnnào (ký chủ, cây trồng…) có thể được nghiên cứu bằng việc sử dụng các hệ thống
đo khứu giác (olfactometer) và các hệ thống đường ống thông gió (wind tunnel).Hai dạng hệ thống sử dụng luồng khí để đo khứu giác (airflow olfactometer) được
sử dụng phổ biến là hệ thống hình chữ Y và chữ T (Y-, T-tube olfactometer) Ngoài
ra, một số hệ thống airflow olfactometer được thiết kế bao gồm 4 ống hoặc 8 ốngnhỏ
Hệ thống Y-tube airflow olfactometer được Hori và ctv (2006) phát triển như sau:
hệ thống bao gồm một máy bơm không khí, một đầu của máy bơm không khí (700
Trang 13ml/phút) sẽ được gắn vào mỗi nhánh của hệ thống và được lọc bởi một ống chứathan hoạt tính và được gắn vào một máy đo tốc độ gió, một đầu của máy đo tốc gióđược nối với một máy tạo ẩm độ, mỗi nhánh của hệ thống sẽ nối với máy tạo ẩm độ(Hình 1.6) Bằng cách này hai luồng không khí sẽ tách thành 2 mùi từ mỗi nhánhcủa ống hình chữ Y.
Hình 1.6 Hệ thống ống hình chữ Y (trái) (Hori và ctv., 2006) và Pettersson
olfactometer (phải) (Vet et al., 1983)
Trang 14CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
- Nguồn ong ký sinh Asecodes hispinarum Boucek (Hymenoptera: Eulophidae)
được thu thập từ các vườn dừa tại quận Ninh Kiều, Cái Răng và Bình Thủy củathành phố Cần Thơ, và được cung cấp từ các chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh SócTrăng và tỉnh Bến Tre
- Nguồn ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro (Coleoptera: Chrysomelidae), lá dừa non bị ấu trùng B longissima gây hại và phân của bọ dừa
được thu thập từ các vườn dừa bị hại hoặc từ quá trình nhân nuôi ấu trùng của bọcánh cứng hại dừa trong phòng thí nghiệm; lá dừa non được thu thập từ các vườndừa ở quận Ninh Kiều, Cái Răng và Bình Thủy của thành phố Cần Thơ
Hình 2.1 Hệ thống Airflow Olfactormeter chữ T
- Hệ thống Olfactormeter hình chữ T (T-tube airflow olfactometer) được thiết kếbao gồm một ống thuỷ tinh hình chữ “T” có 5 nhánh, trong đó có 4 nhánh được kếtnối các cột chứa than hoạt tính (2 cột/ống), nhánh còn lại kết nối với buồng thả ong,máy đo tốc độ gió và máy hút không khí Máy hút chân không sẽ hút với tốc độ 20ml/giây, hút 4 luồng không khí “sạch” đi vào hệ thống, trong đó có 2 luồng khí điqua các mẫu thí nghiệm (Hình 2.1)
Trang 15- Dụng cụ nhân nuôi ấu trùng B longissima và ong ký sinh A hispinarum: máy
điều hoà không khí, ẩm độ kế, nhiệt độ kế, than hoạt tính Kanto, hộp nhựa (22 x 22
x 8 cm), ống thuỷ tinh, giấy thấm, đĩa petri, gòn thấm nước, mật ong 10%…
- Vật tư quan sát: kính lúp phóng đại (Nikon no: 4507339), máy chụp hình, cânđiện tử (Shimadzu UX620H), thước đo…
- Các hoá chất cần thiết cho thí nghiệm: cồn 700, 960…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian: từ tháng 09/2011 đến tháng 03/2012
- Địa điểm: Phòng thí nghiệm Phòng trừ sinh học bộ môn Bảo vệ Thực vật, khoaNông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
2.2.2 Phương pháp thực hiện
a) Phương pháp nuôi ấu trùng bọ dừa B longissima
- Ấu trùng B longissima ở các độ tuổi 1, 2, 3, 4 được thu thập tại các địa điểm
trồng dừa ở thành phố Cần Thơ Sau đó, ấu trùng được nuôi trong các hộp nhựa ởđiều kiện phòng thí nghiệm (T0: 24 - 260C; RH%: 60 – 83%) Thức ăn là nhữngđoạn lá dừa non (chiều dài khoảng 20 cm) được thay mỗi 2 – 3 ngày/lần Sử dụng
ấu trùng bọ dừa tuổi 4 (chiều rộng 1,75-2,25 mm, chiều dài 6,2-8,75 mm (Hồ VănChiến, 2009)) để tiến hành các thí nghiệm (Hình 2.2)
Hình 2.2 Ấu trùng B longissima tuổi 4
- Nguồn lá dừa non được thu thập tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Sau
đó, lá dừa non được rửa bằng nước sạch và lau khô để tránh sự xâm nhiễm của nấm
Trang 16Cái Răng và Bình Thủy của thành phố Cần Thơ và được cung cấp từ các chi cụcBảo vệ Thực vật tỉnh Sóc Trăng và Bến Tre Các mummies được giữ trong các ống
nghiệm (Hình 2.3) cho đến khi có thành trùng ong A hispinarum vũ hoá trong điều
kiện phòng thí nghiệm (T0: 240C - 260C; RH%: 60 - 83%) Sau đó, tiến hành cho
ong A hispinarum tiếp xúc với ấu trùng B longissima tuổi 4 để tạo nguồn ong sử dụng trong các thí nghiệm Theo dõi, nuôi và bảo quản ấu trùng B longissima bị ký sinh Sử dụng ong A hispinarum ở ngày đầu sau khi vũ hoá để tiến hành thí
nghiệm
Hình 2.3 Mummy được nuôi riêng trong ống nghiệm
2.2.3 Thí nghiệm 1: khảo sát ảnh hưởng của kairomone ấu trùng BCCHD tuổi 4
lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 30-33 0 C; RH%: 46-68%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của kairomone ấu trùng bọ dừa tuổi 4
lên khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
- Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.1) với 6 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.1 Nghiệm thức của thí nghiệm 1
1 Nước cất (đối chứng) 1 ml nước cất
2 Ấu trùng tuổi 4 + nước 10 con ấu trùng tuổi 4 + 1ml nước cất
- Cách tiến hành
+ Mẫu đối chứng là giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất được đặt ngẫu nhiên vàomột bên nhánh của hệ thống nhánh còn lại chứa ấu trùng tuổi 4 và giấy thấm có tẩm
1 ml nước cất
Trang 17+ Sau khi hệ thống đã được bố trí, thiết bị hút chân không sẽ hút không khítrong 5 phút trước khi thả ong để làm sạch không khí trong các ống của
olfactometer Ong A hispinarum ngày đầu tiên vũ hóa được thả vào buồng thả ong
(Hình 2.1)
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.4 Thí nghiệm 2: khảo sát ảnh hưởng của kairomone lá dừa non lên khả năng
định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 30-34 0 C; RH%: 46 - 62%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của kairomone lá dừa non lên khả năng
định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.2) với 5 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.2 Nghiệm thức của thí nghiệm 2
1 Nước cất (đối chứng) 1 ml nước cất
2 Lá dừa non + nước 1 gram lá dừa non + 1ml nước cất
- Cách tiến hành: thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm 1 nhưng
thay thế nghiệm thức chứa 10 ấu trùng B longissima tuổi 4 bằng 1 gram lá dừa non
và giấy thấm có tẩm 1ml nước cất
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.5 Thí nghiệm 3: khảo sát ảnh hưởng của kairomone lá dừa non và ấu trùng bọ
dừa tuổi 4 lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 31 - 32 0 C; RH%: 52 - 62%)
Trang 18a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của kairomone lá dừa non và ấu trùng bọ
dừa tuổi 4 lên khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.3) với 7 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.3 Nghiệm thức của thí nghiệm 3
1 Nước cất (đối chứng) 1 ml nước cất
2 Lá dừa non + ấu trùng
BCCHD tuổi 4 + nước
1 gram lá dừa non + 10 con ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa + 1ml nước cất
- Cách tiến hành: thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm 1 nhưng
thay thế nghiệm thức chứa 10 ấu trùng B longissima tuổi 4 bằng 1 gram lá dừa non kết hợp với 10 ấu trùng B longissima tuổi 4 và giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất.
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.6 Thí nghiệm 4: khảo sát ảnh hưởng của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại lên
khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 31 - 33 0 C; RH%: 52 - 56%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại lên
khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.4) với 7 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.4 Nghiệm thức của thí nghiệm 4
1 Nước cất (đối chứng) 1 ml nước cất
2 Lá dừa bị hại + nước 1 gram lá dừa bị hại + 1ml nước cất
Trang 19- Cách tiến hành: thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm 1 nhưng
thay thế nghiệm thức chứa 10 ấu trùng B longissima tuổi 4 bằng 1 gram lá dừa bị
hại và giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.7 Thí nghiệm 5: khảo sát ảnh hưởng hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại so với
kairomone lá dừa non lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 30-32 0 C; RH%: 58-60%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của hợp chất bay hơi lá dừa bị hại so với
kairomone lá dừa non lên khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.5) với 6 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.5 Nghiệm thức của thí nghiệm 5
1 Lá dừa bị hại + nước cất 1 gram lá dừa bị hại + 1 ml nước cất
2 Lá dừa non + nước cất 1 gram lá dừa non + 1ml nước cất
- Cách tiến hành
+ Mẫu đối chứng gồm lá dừa bị hại và giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất đượcđặt ngẫu nhiên vào một bên nhánh của hệ thống nhánh còn lại chứa 1 gram lá dừanon và giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất
+ Sau khi hệ thống đã được bố trí, thiết bị hút chân không sẽ hút không khítrong 5 phút trước khi thả ong để làm sạch không khí trong các ống của
olfactometer Ong A hispinarum ngày đầu tiên vũ hóa được thả vào buồng thả ong
(Hình 2.1)
- Chỉ tiêu ghi nhận :
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
Trang 202.2.8 Thí nghiệm 6: khảo sát ảnh hưởng của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại so
với kairomone ấu trùng BCCHD tuổi 4 lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 31- 33 0 C; RH%: 52-62%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại so
với kairomone ấu trùng bọ dừa lên khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.6) với 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.6 Nghiệm thức của thí nghiệm 6
1 Lá dừa bị hại + nước cất 1 gram lá dừa bị hại + 1 ml nước cất
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.9 Thí nghiệm 7: khảo sát ảnh hưởng của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại so
với kairomone lá dừa non và ấu trùng BCCHD tuổi 4 lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 30 - 33 0 C; RH%: 58-60%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại so
với kairomone lá dừa non và ấu trùng BCCHD tuổi 4 lên khả năng định vị ký chủ
của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.7) với 7 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Trang 21Bảng 2.7 Nghiệm thức của thí nghiệm 7
1 Lá dừa bị hại + nước cất 1 gram lá dừa bị hại + 1 ml nước cất
2 Lá dừa non + ấu trùng
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.10 Thí nghiệm 8: khảo sát ảnh hưởng kairomone phân của BCCHD so với hợp
chất bay hơi từ lá dừa bị hại (không có phân ấu trùng) lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T0: 30-32 0 C; RH%:
46-62%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực của kairomone phân của BCCHD so với
hợp chất bay hơi từ lá dừa bị hại (không có phân ấu trùng) lên khả năng định vị ký
chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.8) với 7 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.8 Nghiệm thức của thí nghiệm 8
1 Phân BCCHD + nước cất 0,1 gram phân BCCHD + 1 ml nước cất
2 Lá dừa bị hại + nước cất 1 gram lá dừa bị hại + 1ml nước cất
- Cách tiến hành
+ Mẫu đối chứng gồm 0,1 gram phân của bọ dừa và giấy thấm có tẩm 1 mlnước cất được đặt ngẫu nhiên vào một bên nhánh của hệ thống nhánh còn lại chứa 1gram lá dừa bị hại (đã được loại bỏ sạch phân) và giấy thấm có tẩm 1 ml nước cất
Trang 22+ Sau khi hệ thống đã được bố trí, thiết bị hút chân không sẽ hút không khítrong 5 phút trước khi thả ong để làm sạch không khí trong các ống của
olfactometer Ong A hispinarum ngày đầu tiên vũ hóa được thả vào buồng thả ong
(Hình 2.1)
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.11 Thí nghiệm 9: khảo sát ảnh hưởng kairomone phân của BCCHD so với
kairomone ấu trùng tuổi 4 lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 31-33 0 C; RH%: 48-54%)
a Mục tiêu thí nghiệm: đánh giá hiệu lực kairomone phân của BCCHD so với
kairomone ấu trùng tuổi 4 lên khả năng định vị ký chủ của ong ký sinh A hispinarum.
b Phương pháp tiến hành:
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nghiệm thức
(Bảng 2.9) với 4 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 mummy đã vũ hóa của ong A hispinarum.
Bảng 2.9 Nghiệm thức của thí nghiệm 9
1 Phân BCCHD + nước cất 0,1 gram phân BCCHD + 1 ml nước cất
2 Ấu trùng BCCHD tuổi 4 + nước cất 10 con ấu trùng BCCHD tuổi 4 + 1ml nước cất
- Cách tiến hành: thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm 8 chỉ thaythế nghiệm thức chứa 1 gram lá dừa bị hại bằng 10 con ấu trùng BCCHD tuổi 4 vàgiấy thấm có tẩm 1ml nước cất
- Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Tổng số ong sử dụng trong thí nghiệm
+ Số lượng ong tiếp xúc ở các thời điểm 10, 20, 30, 40, 50, 60 phút
+ Tỉ lệ đực: cái của số ong tiếp xúc ở thời điểm 60 phút
2.2.12 Thí nghiệm 10: khảo sát ảnh hưởng kairomone phân của BCCHD so với
kairomone lá dừa non lên khả năng định hướng của ong ký sinh A hispinarum
trong điều kiện phòng thí nghiệm (T 0 : 30-33 0 C; RH%: 46-60%)