Việc nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức của người dân đồng thời giúp họ điều chỉnh hành vi an toàn thực phẩm để trở thành những người tiêu dùng thông
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
DƢ LUẬN XÃ HỘI VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TẠI HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TẠI HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Quỳnh Nam
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực Những tài liệu tham khảo được lựa chọn và nghiên cứu cẩn thận hay chưa được công bố bởi bất cứ tác giả nào hay ở bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 13
1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam 23
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 29
2.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận án 29
2.2 Các lý thuyết sử dụng trong luận án 33
CHƯƠNG 3 DƯ LUẬN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ TÌNH TRẠNG AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI HÀ NỘI 40
3.1 Một vài nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn khảo sát 40
3.2 Thực trạng an toàn thực phẩm tại Hà Nội 46
3.3 Nhận thức của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm 51
3.4 Đánh giá của người tiêu dùng về tình trạng an toàn thực phẩm tại Hà Nội 66
CHƯƠNG 4 DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ KIỂM SOÁT XÃ HỘI VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI HÀ NỘI 100
4.1 Kiểm soát về an toàn thực phẩm thông qua các cơ quan thực thi pháp luật 100
4.2 Kiểm soát về an toàn thực phẩm thông qua dư luận xã hội về an toàn thực phẩm 112
CHƯƠNG 5 TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÖNG VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 126
5.1 Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội về an toàn thực phẩm 126
5.2 Ảnh hưởng của thông điệp về an toàn thực phẩm trên truyền thông đại chúng đến quyết định hành vi mua hàng của người tiêu dùng 137
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 144
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn thực phẩm cho gia đình 51
Bảng 3.2: Đánh giá về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm 53
Bảng 3.3: Phân tích mối tương quan giữa thu nhập với các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn thực phẩm 54
Bảng 3.4: Nhận thức của người tiêu dùng về khu vực chế biến thực phẩm 56
Bảng 3.5: Nhận thức của người tiêu dùngvề bảo quản thực phẩm an toàn 57
Bảng 3.6: Thực hiện các 10 nguyên tắc vàng khi chế biến thực phẩm an toàn của BYT, Cục an toàn thực phẩm 58
Bảng 3.7: Quan niệm của người tiêu dùng về thực phẩm an toàn 59
Bảng 3.8: Những khó khăn lựa chọn được thực phẩm an toàn cho gia đình 60
Bảng 3.9: Hoạt động để đảm bảo an toàn thực phẩm cho gia đình 61
Bảng 3.10: Đánh giá tầm quan trọng của việc đảm bảo ATTP đối với sức khỏe 62
Bảng 3.11: Đánh giá lợi ích của việc đảm bảo an toàn thực phẩm 62
Bảng 3.12: Nguyên nhân dẫn đến thực phẩm trên thị trường không an toàn 63
Bảng 3.13: Tương quan giữa giới tính, trình độ học vấn và những yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến ô nhiễm thực phẩm và các quy trình công nghiệp 65
thực phẩm 65
Bảng 3.14: Mức độ quan tâm về nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm 66
Bảng 3.15: DLXH về các loại thực phẩm có nguồn gốc, xuất xứ từ Việt Nam 67
Bảng 3.16: Dư luận xã hội về các loại thực phẩm có nguồn gốc nhập khẩu 70
Bảng 3.17: Đánh giá về chất lượng an toàn thực phẩm nhập khẩu 71
Bảng 3.18 : Dư luận xã hội về chất lượng an toàn thực phẩm 72
Bảng 3.19: Đánh giá mức độ ATTP tại thành phố Hà Nội 73
Bảng 3.20: Địa điểm mua, bán thực phẩm tại Hà Nội 74
Bảng 3.21: Đánh giá về mức độ an toàn thực phẩm tại các địa điểm bán 77
Bảng 3.22: Đánh giá của người tiêu dùng về các loại thực phẩm mua,bán ở siêu thị tại Hà Nội 80
Bảng 3.23: Đánh giá của người tiêu dùng về các loại thực phẩm mua, bán ở chợ tự phát (chợ dân sinh) tại Hà Nội 81
Trang 6Bảng 3.24: Đánh giá của người tiêu dùng về các loại thực phẩm mua, bán ở cửa hàng có uy tín tại Hà Nội 82 Bảng 3.25: Đánh giá của người tiêu dùng về loại thực phẩm mua, bán ở gánh hàng rong tại Hà Nội 82 Bảng 3.26: Đánh giá của người tiêu dùng về các loại thực phẩm mua, chợ có ban quản lý 83 Bảng 3.27: Đánh giá về các loại thực phẩm mua, bán ở trên mạng tại Hà Nội 84 Bảng 3.28: Đánh giá về mức độ an toàn thực phẩm của quá trình chế biến, bảo quản các loại thực phẩm 86 Bảng 3.29: Đánh giá về quá trình xử lý các chất độc hại khi sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm 88 Bảng 3 30: Mối liên hệ giữa mức sống và đánh giá về mức độ an toàn của thực phẩm biến đổi gen 90 Bảng 3 31: Mối liên hệ giữa mức sống và đánh giá về mức độ ATTP của thức ăn đường phố 91 Bảng 3 32: Mối liên hệ giữa mức sống và đánh giá về mức độ an toàn của 92 thực phẩm bán tại siêu thị 92 Bảng 3 33: Mối liên hệ giữa thu nhập hộ gia đình và đánh giá về chất lượng thực phẩm 94 Bảng 3.34: Mối liên hệ giữa thu nhập và đánh giá về thực phẩm an toàn nhiều chất dinh dưỡng 94 Bảng 3 35: Tương quan mức sống và sự lựa chọn nguồn gốc thực phẩm từ các nước 95 Bảng 3.36: Mô hình hồi qui các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của người tiêu dung
về an toàn thực phẩm 97 Bảng 4.1: Đánh giá về sự cần thiết của Luật thực phẩm và qui định ATTP 100 Bảng 4.2: Đánh giá về quá trình thực hiện Luật thực phẩm và qui định an toàn thực phẩm 101 Bảng 4 3: Đánh giá sự cần thiết về dịch vụ giám định an toàn thực phẩm 103 Bảng 4.4: Đánh giá dịch vụ giám định an toàn thực phẩm 104 Bảng 4 5: Mức độ cần thiết về dịch vụ phòng thí nghiệm giám sát thực phẩm 107 Bảng 4 6: Đánh giá chất lượng dịch vụ phòng thí nghiệm 108
Trang 7Bảng 4 7: Đánh giá về sự cần thiết kiểm soát về an toàn thực phẩm 109
Bảng 4 8: Dư luận xã hội về quá trình thực hiện quản lý về an toàn thực phẩm 110
Bảng 4 9: Đánh giá về quá trình kiểm soát ATTP của các cơ quan chức năng 111
Bảng 4.10: Thái độ của người tiêu dùng về các vụ thực phẩm bẩn 113
Bảng 4.11: Hành động cụ thế đối với các hành vi, vi phạm an toàn thực phẩm 115
Bảng 4.12: Lý do người tiêu dùng không phản ánh, đấu tranh với các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm 116
Bảng 4 13: Mô hình hồi qui các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá về việc kiểm soát an toàn thực phẩm của các cơ quan chức năng 118
Bảng 4.14: Hành vi của người tiêu dùng dưới tác động của dư luận xã hội về an toàn thực phẩm 120
Bảng 4.15:Tương quan giữa nơi ở, trình độ học vấn, lứa tuổi đến hành vi của người tiêu dùng dưới tác động của dư luận xã hội (Thủ tục kiểm định Correlations) 121
Bảng 4.16: Nội dung trao đổi thông tin về an toàn thực phẩm trong gia đình 122
Bảng 4.17: Định hướng mua thực phẩm khi có thông tin về thực phẩm không an toàn 124
Bảng 5.1: Các phương tiện truyền thông đại chúng cung cấp các thông tin về an toàn thực phẩm 127
Bảng 5.2: Các chuyên mục về ATTP phát sóng trên truyền hình Hà Nội 128
Bảng 5 3: Các chuyên mục về an toàn thực phẩm phát sóng trên truyền hình 129
Bảng 5.4: Thường xuyên chia sẻ thông tin an toàn thực phẩm với ai nhất 135
Bảng 5.5: Nội dung, hình thức truyền thông về an toàn thực phẩm 137
Bảng 5.6: Đánh giá về ATTP trên: Báo, Truyền hình, Internet 138
Bảng 5.7 Đánh giá về nội dung, thông tin an toàn thực phẩm trên các phương tiện truyền thông đại chúng 139
Bảng 5.8: Nội dung trao đổi thông tin về ATTP trong gia đình 141
Bảng 5.9: Ảnh hưởng của các kênh thông tin đến quyết định mua thực phẩm 142
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 Khung phân tích luận án 11
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa nhà sản xuất, người buôn bán, người tiêu dùng 114
Sơ đồ 3 : Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng 132
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 Khung phân tích luận án 11
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa nhà sản xuất, người buôn bán, người tiêu dùng 114
Sơ đồ 3 : Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng 132
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội nó không chỉ diễn
ra ở các nước đang phát triển, kém phát triển mà còn cả ở các nước phát triển có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến
Tại Việt Nam theo báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về
an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016 của Quốc hội cho biết mỗi năm có khoảng 70.000 người chết vì bệnh ung thư Tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm được phản ánh là diễn ra khá nghiêm trọng ở một số địa phương.Trung bình có 167,8 vụ/năm với hơn 5.000 người mắc/năm và khoảng 27 người chết do ngộ độc thực phẩm/năm.Tỷ lệ tồn dư hóa chất vượt ngưỡng cho phép
là 8,47% đối với rau; Kiểm tra đối với 54.750 lượt hộ nông dân sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật đã phát hiện 9.056 hộ vi phạm (chiếm 16,54%); Kiểm tra 2.064 đợt với 63.230 lượt cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực phẩm, phát hiện và xử lý trên 7.434 có sở vi phạm (chiếm 11,7%) Báo cáo của Quốc hội thông tin mỗi năm
có khoảng 70.000 người chết vì bệnh ung thư và hơn 200.000 ca phát hiện mới, trong đó có một phần nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm không an toàn [4]
Theo báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, trong giai đoạn 2011
-2016 hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm của Việt Nam đã có 158 văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước trung ương ban hành Các địa phương đã ban hành hơn 1250 văn bản quy phạm pháp luật nhằm chỉ đạo, điều hành công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn Cùng với Luật an toàn thực phẩm, nhiều văn bản pháp luật khác cũng được sửa đổi, bổ sung ban hành mới như Hiến pháp, Luật thú y, Luật bảo vệ thực vật, Luật bảo vệ môi trường, Luật ngân sách nhà nước, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo nên một hành lang pháp lý tương đối thuận lợi cho công tác quản lý an toàn thực phẩm
Qua khảo sát thực tế, Đoàn giám sát đánh giá, công tác thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm về an toàn thực phẩm bộc lộ không ít nhưng tồn tại
và yếu kém; tình trạng vi phạm quy định an toàn thực phẩm khá phổ biến, an toàn
Trang 12thực phẩm có nơi đã đến giới báo động giới hạn đỏ Số vụ vi phạm quy định về an toàn thực phẩm trong 5 năm qua là 678.755 cơ sở vi phạm chiếm 20.5% số cơ sở tiến hành điều tra Đây là tỉ lệ rất cao, song cũng chưa phản ánh hết được tất cả các
vi phạm về an toàn thực phẩm trong thực tế Ở một số địa phương, tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng Từ năm 2011 đến tháng 10 năm 2016 cả nước đã ghi nhận 1007 vụ ngộ độc thực phẩm với 30.395 người mắc, 25.617 người đi viện và 164 người chết Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm chủ yếu do vi sinh vật, do độc tố tự nhiên, do hóa chất và có đến
268 vụ không xác nhận được nguyên nhân gây ngộ độc [4]
An toàn thực phẩm tại Việt Nam là một vấn đề đang nóng lên từng ngày và đang trở thành vấn đề nhức nhối gây xôn xao dư luận xã hội Trong những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện truyền thông đại chúng khiến người tiêu dùng hoang mang, lo ngại Xie Yu ngeng chuyên gia về ý kiến công chúng và phương tiện truyền thông mới ở Thượng Hải Đại học
Jiao Tong nhận xét về an toàn thực phẩm tại Việt Nam ông cho rằng: "Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng khác nhau của dư luận Đồng thời, sự xuất hiện các công cụ truyền thông mới được đẩy dư luận thường xuyên hơn so với trước đây, đặc biệt là những liên quan đến an toàn thực phẩm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe” Các vụ bê bối thực phẩm những năm gần đây (thịt bò điên, cúm gia
cầm, vv), các chất hóa học được sử dụng trong nông nghiệp, và việc sử dụng rộng rãi các chất phụ gia thực phẩm tổng hợp trong thực phẩm sản xuất đã làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của người tiêu dùng trong thực phẩm
Để hướng tới mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” việc mở rộng dân chủ là điều kiện hết sức quan trọng dể người dân phát huy tính tích cực chính trị, năng lực sáng tạo của họ trong đời sống xã hội Thông qua nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm thực phẩm cho biết thái độ và niềm tin về
an toàn thực phẩm đồng thời kết quả nghiên cứu sẽ giúp cơ quan quản lý trong việc soạn thảo, ban hành, tổ chức thực hiện; thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận
Trang 13tránh những thông tin vô căn cứ gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng và tình hình kinh tế - xã hội nói chung
Trong thời gian gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về an toàn thực phẩm nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm tại Hà Nội Việc nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức của người dân đồng thời giúp họ điều chỉnh hành vi an toàn thực phẩm để trở thành những người tiêu dùng thông thái Từ nhận thức về lý luận cũng như thực tiễn, NCS thấy vấn đề dư luận xã hội về an toàn thực phẩm hiện nay là rất cần thiết Đây là mảng đề tài mới cần xã hội học quan tâm nghiên cứu
Với những lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Dư luận xã hội về
an toàn thực phẩm hiện nay" (Nghiên cứu tại Hà Nội), cho luận án của mình
Những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ là những tài liệu cần thiết để đánh giá vai trò của người tiêu dùng trong bối cảnh vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích dư luận xã hội (DLXH) về an toàn thực phẩm (ATTP) tại Hà Nội
và các yếu tố tác động đến tình trạng đánh giá của người tiêu dùng về ATTP
Phân tích DLXH và kiểm soát xã hội (KSXH) về ATTP tại Hà Nội
Phân tích mối quan hệ giữa truyền thông và DLXH đối với vấn đề về ATTP tại Hà Nội
Trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất nâng cao công tác quản lý, kiểm soát về ATTP tại Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích DLXH về ATTP trên địa bàn Hà Nội hiện nay Nhận thức của người TDTP về ATTP Đánh giá của người tiêu dùng về: Mức độ ATTP về nguồn gốc xuất xứ của thực phẩm; Mức độ ATTP tại các địa điểm mua/bán thực phẩm; Mức độ ATTP trong các khâu chế biến, bảo quản, xử lý trong quá trình sản xuất Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến DLXH về ATTP: Nhận thức, trình độ học vấn, thu nhập/kinh tế, nơi cư trú, sự ảnh hưởng của truyền thông
Trang 14Phân tích DLXH và KSXH về ATTP: Kiểm soát thông qua hệ thống pháp luật và các cơ quan quản lý về ATTP; KSXH về ATTP thông qua DLXH
Mối quan hệ giữa truyền thông và DLXH: Phân tích ảnh hưởng của TTĐC đến DLXH về ATTP; Ảnh hưởng của DLXH đến TTĐC về ATTP
Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý, kiểm soát về ATTP tại
Hà Nội: Nhóm giải pháp liên quan đến người sản xuất, cung cấp, kinh doanh thực phẩm; Nhóm giải pháp liên quan đến người TDTP; Nhóm giải pháp liên quan đến
cơ chế chính sách pháp luật về ATTP; Nhóm giải pháp liên quan đến đội ngũ cán bộ thực thi công vụ về ATTP; Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách pháp luật về ATTP; Nhóm giải pháp liên quan đến TTĐC
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dư luận xã hội về an toàn thực phẩm tại Hà Nội
Về thời gian nghiên cứu: Vào tháng 11, 12 năm 2015
Nghiên cứu DLXH về ATTP là một vấn đề rộng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá của người tiêu dùng ở một số vấn đề liên quan đến ATTP đó là:
- Dư luận xã hội về mức độ ATTP tại Hà Nội
- Kiểm soát xã hội ATTP tại Hà Nội
- Mối quan hệ giữa truyền thông và DLXH về ATTP : Ảnh hưởng của TTĐC đến DLXH về ATTP; Ảnh hưởng của DLXH đến TTĐC về ATTP
Trang 153.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Dư luận xã hội về ATTP tại Hà Nội hiện nay như thế nào?
- Kiểm soát xã hội về ATTP tại Hà Nội hiện nay như thế nào?
- Truyền thông đại chúng về ATTP có ảnh hưởng như thế nào đến DLXH về ATTP tại Hà Nội?
3.4 Các giả thuyết nghiên cứu
- Dư luận xã hội cho rằng mức độ ATTP tại Hà Nội tương đối thấp
- Kiểm soát xã hội có tác động tích cực trong việc đảm bảo ATTP tại Hà Nội -Truyền thông đại chúng về ATTP có ảnh hưởng mạnh trong việc hình thành DLXH, hơn việc DLXH có ảnh hưởng đến TTĐC về ATTP tại Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra xã hội học, được tiến hành tại 01 quận, 02 huyện trên địa bàn Hà Nội để đo lường các sự kiện xã hội một cách khoa học và sau đó phân tích chúng dựa trên các lý thuyết về DLXH về TTĐC
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp phân tích thông tin, tư liệu
Phân tích thông tin, tư liệu thứ cấp nhằm có một cách nhìn khái quát tổng quan về tình trạng ATTP tại Hà Nội Quá trình tổng hợp phân tích tài liệu cho phép hình dung về câu chuyện liên quan đến vấn đề ATTP hiện nay Tài liệu tổng quan chủ yếu bao gồm: Các nghiên cứu trong và ngoài nước có sẵn trong chủ đề này; các bài viết tham luận, báo cáo; hội thảo khoa học; văn bản, luật ATTP; tư liệu sách; tạp chí có liên quan; thông tin từ mạng Intenet Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng một
số tư liệu báo cáo về điều kiện kinh tế - xã hội, về công tác ATTP tại các địa bàn khảo sát
4.2 Phương pháp sử dụng bảng hỏi tự ghi
Trang 16- (ii) Kiểm soát xã hội về ATTP
- (iii)Truyền thông về ATTP
Trong bảng hỏi tác giả đã xây dựng 168 quan sát về nhận thức và đánh giá của người tiêu dùng về ATTP, những mối quan hệ của TTĐC và DLXH
4.2.2 Chọn mẫu khảo sát
Trong điều kiện về khả năng và nguồn lực và thời gian nghiên cứu tác giả chọn mẫu tại 03 khu vực đại diện cho sự phát triển kinh tế của khu vực Hà Nội Tác giả có cân nhắc lựa chọn ở nơi có mức độ phát trung của khu vực nông thôn, ven
đô, nội đô Cụ thể khu vực Đống Đa đại diện cho khu vực nội đô với mức độ phát triển tương đối của khu vực nội đô Huyện Đông Anh là một huyện ngoại thành Hà Nội với mức độ phát triển tương đối khá, có thể đại diện cho các huyện khu vực ven
đô của Hà Nội Huyện Thạch Thất đại diện cho các huyện khu vực nông thôn của
Hà Nội Như vậy với sự lựa chọn các quận, huyện có thể đại diện cho Hà Nội để tác giả nghiên cứu DLXH Dân số mỗi khu vực theo cục thống kê Hà Nội dân số các khu vực điều tra như sau: Đống Đa: 401700 người, Đông Anh: 374900 người, Thạch Thất: 194100 người Tổng dân số của 3 khu vực điều tra là 970700 người.Trên cơ sở đó tác giả sử dụng công thức để tính mẫu nghiên cứu như sau:
Mẫu điều tra đƣợc chọn ngẫu nhiên phân tầng với công thức tổng quát nhƣ sau: Công thức tổng quát được áp dụng cho nghiên cứu là
Nt2 x pq
n =
N ɛ2 + t2 x pq
Trong luận án tác giả chọn mẫu với các yêu cầu sau :
- Yêu cầu độ tin cậy là 95.0% (hệ số tin cậy t = 95%) [tra trong Bảng giá trị của hệ số tin cậy t được tính sẵn theo hàm t, của Lia pu nốp thì giá trị t=1.96
- Phạm vi sai số chọn mẫu không vượt 5% (ɛ = 0,05)
- Với giả định tỷ lệ người dân chuyển đổi lao động việc làm là 50% có chuyển đổi và không chuyển đổi và là 50% Do p+q=1, do đó tích p.q sẽ
Trang 17lớn nhất khi p=q=0,5 => p.q =0,25 => thay vào công thức trên để xác định cỡ mẫu điều tra (n)
Như vậy luận án sẽ lấy cỡ mẫu tối thiểu cần có là 385 người để khảo sát cho toàn bộ 3 khu vực được lựa chọn Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tổ chức khảo sát 450 mẫu nghiên cứu để có thể thu thập được thông tin chính xác
Trong quá trình khảo sát tác giả đã lấy danh sách hộ dân từ các xã của các địa bàn nghiên cứu Sau đó lọc ra các hộ gia đình phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra
Đặc trưng của mẫu khảo sát như sau:
Bảng 1 : Cơ cấu mẫu điều tra
Trang 18- 05 phỏng vấn sâu người tiêu dùng ở quận Đống Đa
- 03 phỏng vấn sâu người tiêu dùng ở quận Thạch Thất
- 03 phỏng vấn sâu người tiêu dùng ở quận Đông Anh
- 03 phỏng vấn sâu cán bộ chính quyền địa phương (Đống Đa, Thạch Thất, Đông Anh)
- 01 phỏng vấn sâu cán bộ cục quản lý thị trường
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu chi tiết các khía cạnh liên quan đến đánh giá của người tiêu dùng về ATTP hiện nay Từ đó phân
Trang 19tích một cách sâu sắc những thể hiện của DLXH cùng những yếu tố tác động đến DLXH Đồng thời phân tích mối quan hệ giữa TTĐC - DLXH - hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng thực phẩm
4.4 Thu thập, xử lý và phân tích số liệu
Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Đặc biệt đối với các phiếu hỏi được thu thập từ người tiêu dùng tại các khu vực nghiên cứu
Các số liệu thu thập được từ phiếu hỏi được xử lý trên phần mềm SPSS 19.0 Các thông số và phép thống kê được dùng trong nghiên cứu là phương pháp phân tích thống kê mô tả, tương quan 2 biến, thống kê suy luận, hồi qui tuyến tính để đánh giá của người tiêu dùng về ATTP Các thống kê suy luận với mức ý nghĩa Alpha được sử dụng để tiến hành kiểm định giả thuyết thống kê là 0.05 (p-value=0.05) Theo đó, các giả thuyết được kết luận các biến có mối liên hệ với nhau với mức ý nghĩa p<=0.05 Với các giả thuyết đưa ra sẽ có những kiểm định phù hợp như sau:
Giả thuyết 1: DLXH cho rằng mức độ
ATTP tại Hà Nội là tương đối thấp
- Thống kê mô tả về mức độ an toàn thực phẩm của người tiêu dùng hiện nay
- Kiểm định t (One sample T-test) về mức
độ đánh giá ATTP của người tiêu dùng hiện nay với một mức độ được đưa ra
- Kiểm định Anova để xem xét sự khác biệt giữa các địa bàn, giữa các nhóm Nam-nữ…
Giả thuyết 2: Kiểm soát xã hội về
ATTP có vai trò tích cực đối với xã hội
trong vấn đề ATTP
Kiểm định t (One sample T-test) về mức
độ đánh giá ATTP của người tiêu dùng hiện nay với một mức độ được đưa ra -Mô hình hồi qui các yếu tố của truyền thông, DLXH đến nhận thức thái độ và
Trang 20Giả thuyết Kiểm định thống kê
hành vi người tiêu dùng
Giả thuyết 3: Truyền thông đại chúng
về ATTP có ảnh hưởng mạnh trong
việc hình thành DLXH, hơn việc DLXH
có ảnh hưởng đến TTĐC
- Kiểm định mối liên hệ tương quan giữa
2 biến thông qua các kiểm định Chi-sque, Kiểm định Correlate
- Mô hình hồi qui các yếu tố của truyền thông tác động đến DLXH
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với tốc độ nhanh và mạnh
mẽ như hiện nay thì việc nghiên cứu vấn đề ATTP là rất cần thiết, từ đó cung cấp
cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những giải pháp phù hợp Trong công trình nghiên cứu DLXH về ATTP là đề tài luận án đầu tiên lượng hóa và đo lường đánh giá của người tiêu dùng thực phẩm (TDTP) về tình trạng ATTP tại Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
- Luận án góp phần phong phú thêm sự vận dụng lý thuyết về DLXH, lý
thuyết truyền thông vào thực tiễn
- Luận án góp phần hoàn thiện hiểu biết về DLXH và các quy trình ATTP, các khái niệm thực phẩm, an toàn thực phẩm
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu về
“Dư luận xã hội về an toàn thực phẩm”, “Truyền thông về an toàn thực phẩm” tại Việt Nam Đồng thời căn cứ vào ý kiến đánh giá của người TDTP giúp cho các cơ quan chức năng quản lý, KSXH về ATTP có những giải pháp phù hợp
Trang 217 Khung phân tích của luận án
Sơ đồ 1 Khung phân tích luận án
Nhận thức
về ATTP
nguồn gốc xuất xứ TP
Địa điểm mua/bán thực phẩm
Chế biến, bảo quản,
xử lý
DLXH về ATTPTTĐC về ATTP
Nhận thức, trình độ học vấn, thu nhập/kinh tế của người dânĐiều kiện - kinh tế - xã hội
Đảm bảo ATTP
KSXH về ATTP
Trang 228 Cơ cấu luận của luận án
Phần mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết của nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu, đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và thực tiễn của luận án, cơ cấu luận án
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu: Điểm qua và phân tích một số
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Một số khái niệm công cụ,
các lý thuyết sử dụng trong luận án
Chương 3: Dư luận xã hội người tiêu dùng về tình trạng ATTP tại Hà Nội Chương 4: Dư luận xã hội và KSXH về ATTP tại Hà Nội
Chương 5: Mối quan hệ giữa TTĐC và DLXH đối với vấn đề ATTP tại Hà Nội Phần kết luận: Trình bày kết luận và một số giải pháp để nâng cao công tác
quản lý, kiểm soát về ATTP
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới
Dư luận xã hội và an toàn thực phẩm là vấn đề quan trọng được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm Qua tìm hiểu đã cho thấy các tài liệu nghiên cứu trên thế giới đề cập đến các khía cạnh khác nhau về DLXH và ATTP Tuy nhiên, trong luận án này, chỉ xin trình bày một số công trình nghiên cứu trong phạm
vi tác giả tiếp cận được
1.1.1 Các nghiên cứu về dư luận xã hội
Thuật ngữ “Dư luận xã hội” (public opinion) được Johnson Beri nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Anh đề cập đến vào năm 1195 Nhưng phải đến thế kỷ XVIII, các nhà nghiên cứu người Mỹ, Đức, Thụy Điển quan tâm và coi là một khoa học mới Năm 1935 các nghiên cứu DLXH được thực hiện ở Mỹ, sau đó phát triển
ra các nước Anh, Pháp, Thụy Điển… Các nghiên cứu này được thực hiện bởi các doanh nghiệp với mục đích thăm dò thị trường Bên cạnh đó các cơ quan nhà nước cũng tiến hành các nghiên cứu về DLXH Cùng với nhu cầu về mặt nhận thức và mặt lý luận dẫn đến sự ra đời của các cơ quan nghiên cứu chuyên nghiệp về DLXH
Có nhiều quan niệm về DLXH nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở những điểm cơ bản như sau: cơ sở DLXH quan tâm là lợi ích: DLXH là sự đánh giá về các sự kiện, các vấn đề xã hội được nhiều người quan tâm
Lý thuyết về DLXH xuất phát từ nền tảng tư tưởng của các nhà triết học cổ điển Đức như I Kan, G.W.F Hegel, và triết học khai sáng Pháp J.J.Roausseau
Hegel là người đề xuất đầy đủ lý thuyết về DLXH Trong cuốn “triết học pháp quyền” ông đi sâu vào giải thích bản chất của DLXH, định nghĩa DLXH và những điều kiện và yếu tố hình thành và thể hiện DLXH Theo quan điểm của Hegel cho rằng, DLXH phản ánh “các khuynh hướng đúng đắn của thực tế” đồng thời ông còn đưa ra các nguyên tắc của DLXH Bên cạnh đó Hegel còn chỉ ra bản chất mâu thuẫn của DLXH Ông đã chỉ ra trong ý kiến của quần chúng nhân dân không chỉ có “những suy luận” và “những sai lầm vô tận” mà còn có cả chân lý Bên cạnh đó ông cũng phản bác chính thể chuyên chế đã không cho phép người dân
Trang 24tranh luận công khai và bảo vệ quan điểm của mình về các vấn đề liên quan đến lợi ích mà họ quan tâm [23]
Các công trình nghiên cứu của K.Max và F Engels “Hệ tư tương Đức”, “Dư luận xã hội ở Anh”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,
đã khẳng định vai trò và vị trí của DLXH Trong tác phẩm của Engels “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” cho rằng “Chế độ thị tộc lớn lên
từ xã hội không biết đến những mâu thuẫn bên trong và chỉ thích nghi với xã hội đó Chế độ này không có một phương tiện cưỡng bức nào khác ngoài dư luận xã hội” [19,tr.161] K Max khi đề cập đến DLXH cho rằng “Các đại biểu thường xuyên kêu gọi sự ủng hộ của dư luận nhân dân và đem đến cho dư luận nguồn phát ngôn ý kiến thực sự của mình” [19, tr.161] F Engels khẳng định DLXH là tiền đề của biến đổi xã hội
Những luận đề tư tưởng về DLXH trên là cơ sở để các học giả nghiên cứu xây dựng hệ thống lý thuyết về đối tượng, chức năng và vai trò của DLXH
Walter Lippmann (1921) trong cuốn “Dư luận xã hội”, đã đi sâu vào phân tích vai trò của lợi ích trong sự hình thành ý kiến của cộng đồng trong việc phản ánh thế giới bên ngoài trong hoạt động nhận thức theo cấu trúc tinh thần - thực tế như là một đặc điểm cơ bản của DLXH Lippmann cho rằng, DLXH là điều kiện không thể thiếu được đối với một xã hội dân chủ đồng thời DLXH tạo nên sự liên kết giữa quần chúng nhân dân với các lãnh tụ [109]
Nghiên cứu của Gallup G.H về “Dư luận xã hội” cho thấy quá trình nghiên cứu DLXH diễn ra theo con đường tự phát đến khoa học và không phải là một lĩnh vực mới Gallup G.H chỉ ra nhiệm vụ nghiên cứu của DLXH là ý kiến đánh giá đại diện của số đông người sống trong một cộng đồng xã hội, dân tộc, giai cấp, với tỷ
lệ đáp ứng được tình hình dân số trong thực tế Đặc biệt ông nhấn mạnh đến việc sử dụng kỹ thuật nghiên cứu là nhóm đại diện để cung cấp quan điểm phục vụ cho nghiên cứu DLXH Trong phương pháp nghiên cứu tác giả đề cập đến cường độ của DLXH để nghiên cứu chiều sâu của quan điểm, thái độ, chiều hướng của DLXH Tác giả cho rằng, nghiên cứu DLXH không chỉ đơn giản thỏa mãn câu hỏi có hoặc không hay đồng tình hay phản đối trước một vấn đề, sự kiện nào đó mà cần phải
Trang 25phân tích sự hình thành và xu hướng phát triển của DLXH từ đó chỉ ra nguyên nhân
và mục đích của những ý kiến đánh giá [88]
Cuốn sách “Kết tinh dư luận xã hội” của tác giả Edward Bernays phân tích
về các điều kiện hình thành nên DLXH để tạo nên tính chất cứng rắn, mềm dẻo của DLXH, chỉ ra sự tương tác trong các mối quan hệ Nhà nước, những người cầm quyền, những lãnh tự đối với các tập đoàn người Cũng trong công trình này tác giả lưu ý trong quá trình nghiên cứu DLXH cần chú ý đến sự cố kết và sự biến đổi của nhóm, giai cấp… trong các quan hệ công cộng [86]
Đề cập đến vai trò của DLXH trong nền dân chủ không thể không nhắc đến công trình nghiên cứu của tác giả Austin Ranney về “Sự thống trị của con người” Ông cho rằng, trong cả nền chuyên chế và dân chủ cần phải thăm dò DLXH để đưa
ra những chính sách và các quyết định hành chính phù hợp với xu thế chung của DLXH Theo ông DLXH có tính ổn định và tính dễ thay đổi, cho nên cần xác định DLXH là một phương tiện cơ bản trong tham vấn chính sách Austin Ranney cũng lưu ý đối với các chính trị học khi nghiên cứu DLXH nên xem xét từ hai quy mô: đính hướng và cường độ Quy mô định hướng là đo tỷ lệ số người ủng hộ hay phản đối của một đảng phái đối với một ứng viên hay một chính sách nào đó… còn quy
mô cường độ là xem xét mức độ thể hiện định hướng ưu thích và sự mạnh mẽ của một cá nhân hoặc một nhóm người đối với vấn đề họ quan tâm [79]
Tác giả B.A Grushin với công trình nghiên cứu “Ý kiến về thế giới và thế giới ý kiến - các vấn đề phương pháp luận trong nghiên cứu dư luận xã hội” đã tập trung phân tích vấn đề chủ thể và khách thể của DLXH Ông đưa ra 3 tiêu chuẩn để nghiên cứu khách thể DLXH: Tiêu chuẩn thứ nhất tác giả chỉ ra khách thể DLXH là lợi ích xã hội; tiêu chuẩn thứ hai thông qua quá trình tranh luận tương tác ý kiến cá nhân tạo nên chất của DLXH; tiêu chuẩn thứ 3, trình độ học vấn tác động mạnh đến đánh giá của DLXH Về chủ thể DLXH của DLXH, tác giả chủ yếu phân tích mối quan hệ của các cá nhân và nhóm, quy mô và cường độ dư luận [90]
Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến cơ chế hình thành cũng như các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu DLXH Những thành tựu nghiên cứu trên có vai trò rất quan trọng đối với việc nghiên cứu
Trang 26DLXH trên cả bình diện nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
1.1.2 Nghiên cứu về nhận thức, hành vi của người tiêu dùng đối với an toàn thực phẩm
Nhận thức của công chúng về mối nguy hiểm tiềm năng kết hợp với sản xuất lương thực và thực phẩm tiêu thụ, tác giả Paul sparks và Richard shepherd (1994) Nghiên cứu điều tra trên 216 người, hỏi nhận thức về "đặc điểm nguy cơ" các mối nguy hiểm tiềm năng liên quan đến các khía cạnh khác nhau của sản xuất lương thực và tiêu thụ sản phẩm Câu trả lời được kiểm tra thông qua phân tích các thành phần chính để có được một đại diện một cấu trúc của nhận thức nguy cơ của các loại được cung cho cấp bởi Fischhoff, Slovic và các đồng nghiệp Với 87% người được hỏi trả lời "mức độ nghiêm trọng”, "không rõ" và "số người bị phơi nhiễm" cho thấy sự quan tâm của họ đối với vấn đề này Những phát hiện này mang lại thông tin lạc quan về nhận thức thực phẩm trong thực tế Nghiên cứu kết luận rằng những phát hiện cung cấp cơ sở hữu ích khi mà nghiên cứu sâu hơn tích hợp các quan điểm khác về nhận thức nguy cơ liên quan đến các mối nguy hiểm liên quan đến thực phẩm với có thể được phát triển [95]
Năm (2005), K Laus.G.Grunert nghiên cứu nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng thực phẩm Mô hình như là một thiết bị được cấu trúc mối quan hệ giữa
an toàn và chất lượng thực phẩm là giải quyết và được thảo luận trong bối cảnh nghiên cứu về nhận thức rủi ro của người TDTP Chất lượng và nhận thức ATTP được liên kết với sự lựa chọn thực phẩm và nhu cầu của người tiêu dùng, giải quyết các vấn đề về nhận thức giá cả và khả năng chi trả cho thực phẩm Có thể kết luận rằng chất lượng và (ATTP) là vấn đề trung tâm trong kinh tế học thực phẩm hiện nay, mặc dù nhiều câu hỏi nghiên cứu còn phải giải quyết [92]
Liên quan đến nhận thức và thực hành ATTP trong các hộ gia đình, tác giả Deryck Damian Pattron (2005), đã tiến hành nghiên cứu 350 hộ gia đình sống tại Trinidad - phía Đông Ấn Độ Kết quả khảo sát cho thấy có tới 95% hộ gia đình chưa biết cách chế biến, vận chuyển, dự trữ và bảo quản thực phẩm Số hộ không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và trước khi ăn chiếm tỷ lệ 98% Trong quá trình bảo quản cho thấy có 335 hộ gia đình có bao gói các loại thực phẩm như thịt
Trang 27tươi, cá, gia súc và đặt chúng phía trên các loại thực phẩm khác nhau làm cho quá trình nhiễm khuẩn chéo dễ sảy ra Tác giả đưa ra kết luận là việc thực hiện ATTP của các hộ gia đình chưa đạt theo các tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo an toàn sức khỏe cho con người Để đảm bảo sức khỏe gia đình, hạn chế ngộ độc thực phẩm (NĐTP) thì cần phải mở các lớp giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức ATTP cho người dân là rất cấp thiết Trong nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc khảo sát thực hành VSATTP tại các hộ gia đình Nhà nghiên cứu chưa chỉ ra được các yếu tố tác động đến hành vi, nhận thức của các hộ gia đình trong việc thực hành và chế biến thực phẩm [84]
Nhận thức của người TDTP về ATTP tại các nhà hàng nhóm các nhà nghiên cứu Andrew J, Hiệp sĩ, Nichelle R, Worosz, ECD todd năm 2007 đăng trên tạp chí Quốc tế về ngành Quản trị đương đại Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu nhận thức của người tiêu dùng về ATTP tại các nhà hàng và so sánh với các kết quả của hệ thống thực phẩm Các dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập từ cuộc phỏng vấn qua điện thoại được tiến hành với 1.014 người Mỹ trưởng thành được lựa chọn ngẫu nhiên Những phát hiện chính của nghiên cứu là một số lượng đáng kể của người tiêu dùng suy nghĩ về ATTP nói chung và đặc biệt là khi ăn tại các cơ sở nhà hàng và trong khi đa số người tiêu dùng cho rằng các nhà hàng đang làm một công việc tốt có khả năng và cam kết ATTP so với các diễn viên khác, nhà hàng được xếp hạng thấp hơn so với nông dân, nhà chế biến thực phẩm và nhà sản xuất và các cửa hàng tạp hóa và siêu thị Một hạn chế của nghiên cứu này là phân biệt không được thực hiện giữa thức ăn nhanh và nhà hàng hoặc các loại nhà hàng Những kết quả nổi bật cần thiết phải nghiên cứu toàn diện hơn về các vấn đề ATTP ảnh hưởng đến nhận thức của người tiêu dùng của các nhà hàng và làm thế nào những nhận thức này ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Những phát hiện này cũng có tầm quan trọng của các hành vi ATTP tại các nhà hàng đặc biệt là trong lĩnh vực vệ sinh cá nhân và vệ sinh nơi làm việc, xử lý thực phẩm và chuẩn bị thức ăn Nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà quản lý nhà hàng hiểu rõ hơn về nhận thức của người tiêu dùng về ATTP và nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết lập chức và giám sát thực hành ATTP [77]
Trang 28Báo cáo điều tra năm 2010 Eurobarometer của Cơ quan ATTP Châu Âu khảo sát về nhận thức của người TDTP về rủi ro liên quan đến thực phẩm được ủy quyền bởi EFSA Cuộc khảo sát được thực hiện trên một mẫu đại diện 26.691 người, tuổi 15 trở lên trên tất cả 27 nước thành viên Kết quả khảo sát cho thấy; Khi được hỏi về nhận thức của họ về thực phẩm, phần lớn số người được hỏi có liên quan đến một mức độ lớn thực phẩm ăn và uống với hưởng thụ, chẳng hạn như việc lựa chọn thực phẩm tươi và ngon (58%) hoặc những niềm vui của những bữa ăn với gia đình và bạn bè (54%) Ít hơn một nửa số người được hỏi (44%) tập trung vào các vấn đề như tìm kiếm giá cả phải chăng và đáp ứng đói Hỏi ít lo ngại về sự an toàn của thực phẩm (37%) hoặc các vấn đề dinh dưỡng như kiểm tra lượng calo và chất dinh dưỡng (23%) Khi được đặt trong bối cảnh rủi ro khác mà cá nhân có thể ảnh hưởng đến họ, nhiều công nhân EU xếp các cuộc khủng hoảng kinh tế (20%) và ô nhiễm môi trường (18%) là rất có khả năng ảnh hưởng đến cuộc sống của họ so với các nguy cơ có thể gây tổn hại sức khỏe của thực phẩm của
họ (11%) [99, tr.55]
Mối quan tâm của công chúng về các rủi ro liên quan đến thực phẩm Không
có mối quan tâm rộng rãi nhất về các rủi ro liên quan đến thực phẩm đã được đề cập một cách tự nhiên bởi đa số trả lời (-19%) được trích dẫn hóa chất, thuốc trừ sâu và thuốc trừ sâu và các chất khác như là mối quan tâm lớn, trong khi 1 trong 10 trả lời rằng không có vấn đề gì cả với thực phẩm Khi đó thúc đẩy bởi một danh sách các vấn đề có thể liên quan đến thực phẩm, người trả lời đề cập như là rủi ro là “rất lo lắng’’về: dư lượng hóa chất thuốc trừ sâu trong trái cây, rau và ngũ cốc 31% (tăng 3
% so với năm 2005); thuốc kháng sinh hoặc kích thích tố trong thịt 30% (tăng 3% vào 2005); nhân bản động vật trong các sản phẩm thực phẩm 30% và các chất ô nhiễm như thủy ngân trong cá và dioxin trong thịt lợn tăng 29% (tăng 3% vào 2005) Ngày càng ít người đã "rất lo lắng" về ô nhiễm vi khuẩn trong thực phẩm (23%) và thậm chí ít rủi ro về dinh dưỡng có thể như tăng cân (15%) hoặc không có một chế độ ăn uống lành mạnh tăng cân (15%) [99, tr.57]
Niềm tin của công chúng trong các nguồn tin về các rủi ro liên quan đến thực phẩm Các khảo sát cho thấy rằng các công dân EU bày tỏ mức độ cao nhất của sự
Trang 29tự tin trong các thông tin thu được từ các bác sĩ và chuyên gia y tế khác (84%), tiếp theo là gia đình và bạn bè (82%), các tổ chức người tiêu dùng (76%), các nhà khoa học (73%) và môi trường các nhóm tổ chức EU đã thu hút một mức độ tương đối cao của sự tự tin ở mức (64%) và (57%) tương ứng, với các chính phủ quốc gia 47% [99,tr.87]
Khi được hỏi làm thế nào họ đáp ứng thông tin về các vấn đề thực phẩm liên quan đến trao đổi trong các phương tiện truyền thông hoặc Internet, khoảng một nửa nói rằng họ bỏ qua những câu chuyện trong các phương tiện truyền thông hoặc lo lắng về chúng, nhưng không thay đổi thói quen ăn uống của họ Có vẻ như là một
xu hướng lớn hơn để bỏ qua thông tin liên quan đến chế độ ăn uống và sức khỏe các vấn đề (29%) so với rủi ro an toàn liên quan đến thực phẩm (24%) [99, tr.92]
Hệ thống ATTP của EU - người TDTP cảm thấy được bảo vệ và có đồng thuận cho rằng cơ quan công quyền làm rất nhiều việc để đảm bảo ATTP ở Châu
Âu, mà cơ quan công quyền đang nhanh chóng hành động, quyết định dựa trên các bằng chứng khoa học và làm một việc tốt trong thông báo cho mọi người về những rủi ro liên quan đến thực phẩm Mức độ thỏa thuận là cao hơn so với năm 2005 Ý kiến được nhiều chia vào việc tư vấn khoa học và cơ quan công quyền là độc lập với quyền lợi khác Trong khi 46% số người được hỏi đồng ý rằng cơ quan công quyền trong EU xem sức khỏe của người dân là quan trọng hơn lợi nhuận của nhà sản xuất tăng (7%) vào năm 2005, 42% không đồng ý với tuyên bố này và 12% nói rằng họ không biết Hơn 81% số người được hỏi tin rằng cơ quan công quyền nên làm nhiều hơn để đảm bảo thực phẩm lành mạnh Khảo sát này thực sự mang lại cho chúng ta một sự thấu hiểu những gì người Châu Âu đang nghĩ về những nguy
cơ thực phẩm và có thể liên quan đến thực phẩm Những phát hiện của nghiên cứu
sẽ cung cấp một nguồn lực quan trọng để thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa niềm tin trong các nguồn thông tin, sự tự tin trong cơ quan công quyền
và nhận thức về rủi ro liên quan đến thực phẩm [99, tr.105]
1.1.3 Nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm
Đánh giá của người tiêu dùng về ATTP, Wilcock, A; Pun, M; Khanona (2004), nghiên cứu đã nhấn mạnh đến thái độ của người tiêu dùng rất đa dạng đối
Trang 30với ATTP Sự đa dạng của người tiêu dùng dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm cả nhân khẩu học và tình trạng kinh tế xã hội Mối quan hệ giữa thái độ của người tiêu dùng, kiến thức và hành vi liên quan đến ATTP cũng được kiểm tra trong bài báo này Nó cho thấy đánh giá khác nhau không nhất thiết dẫn đến hành vi làm tăng sự ATTP Kết luận cho rằng có sự tồn tại cần thiết phải hỗ trợ chuyên nghiệp cho người tiêu dùng về các vấn đề ATTP [76 ]
Liên quan đến đánh giá với chuyên nghiệp và tiêu dùng phụ gia thực phẩm, của Gabor Tar Navolgyi (2009), là một công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về thái độ của người tiêu dùng được thực hiện ở Hungary đối với phụ gia thực phẩm Nghiên cứu tập trung phân tích thái độ chuyên nghiệp đối với phụ gia thực phẩm, thái độ của người tiêu dùng đối với phụ gia thực phẩm Kết quả đối với chất phụ gia
là khá bất ngờ vì cả hai chuyên ngành công nghiệp thực phẩm và các bác sĩ phỏng vấn ở tập trung khảo sát nhóm nghĩ rằng nó là vô ích để cung cấp cho người tiêu dùng với nhiều thông tin về phụ gia thực phẩm Sự khác biệt có thể nằm trong thực
tế là những người tham gia cuộc khảo sát của các nhóm tập trung không biết được cuộc phỏng vấn đề cập đến phụ gia thực phẩm Các nhóm chuyên môn khác nhau
có nhận thức khá rõ rệt về cách người tiêu dùng quan tâm về phụ gia thực phẩm Tất
cả người trả lời từ tổ chức tiêu dùng từ ngành công nghiệp thực phẩm và thậm chí ít hơn của chính quyền và ngành y tế cảm nhận nỗi sợ hãi của người tiêu dùng, và chỉ
có một đơn, một bác sĩ cho rằng Hungary đang rất quan tâm đến thực phẩm [89]
Kết quả khi phỏng vấn và khảo sát về đánh giá của người tiêu dùng về các chất phụ gia thực phẩm Đa số người tiêu dùng được hỏi trong trong nhóm tập trung
cơ bản có cảm xúc tiêu cực về sử dụng các chất phụ gia thực phẩm Tuy nhiên ý kiến về phụ gia thực phẩm là không thống nhất: chất có nguồn gốc tự nhiên là ít có hại hơn những chất phụ gia tổng hợp Nghiên cứu đã chỉ ra truyền thông có vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành ý kiến người tiêu dùng về chất phụ gia thực phẩm Tuy nhiên, vai trò này được đánh giá bằng người tiêu dùng tiêu cực, họ nghĩ rằng mục đích của số tiền lớn như vậy là thuyết phục và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Những người trả lời có được hầu hết tiêu cực của họ gây ấn tượng về phụ gia thực phẩm từ báo chí, các phương tiện thông tin điện tử Trong khi đó người
Trang 31được hỏi nói rằng, các nhà sản xuất thực phẩm không quan tâm đến việc cung cấp thông tin đầy đủ cho công chúng; nó nên là trách nhiệm của cơ quan y tế Tuy nhiên, do thiếu năng lực, nó có thể không đạt được, do đó sự thống trị của các phương tiện truyền thông và thông tin liên lạc cá nhân sẽ vẫn còn Có rất ít sự khác biệt về trong các tác động sức khỏe của phụ nữ giữa phân đoạn nhân khẩu; người có trình độ học vấn cao hơn, tuy nhiên, thể hiện kiến thức một chút sâu hơn và ít rõ ràng ý kiến Phụ nữ có xu hướng đặt câu hỏi về sự biện minh việc sử phụ gia nhất trong khi những người đàn ông và người tiêu dùng trung niên bày ý kiến ít rõ ràng Người có trình độ học vấn cao hơn trình bày ý kiến sâu hơn một chút kiến thức trong các chủ đề phụ gia Nguồn thông tin tác động mạnh mẽ đến thái độ, niềm tin,
ý kiến của người tiêu dùng về các chất phụ gia thực phẩm Theo sự tín nhiệm thì người tiêu dùng Hungary xem xét các tổ chức người tiêu dùng (4.05 trên thang điểm 5) bác sĩ (4.02) và cơ quan công quyền (3.77) đáng tin cậy nhất Trong số các TTTTĐC, Internet có độ tin cậy cao nhất nhận thức (4.41) trong khi phương tiện truyền thông thông thường là ít đáng tin cậy Đàn ông và những người có trình độ học vấn cao hơn là hoài nghi nhiều hơn đối với hầu hết các nguồn thông tin khi độ tin cậy nhận thức của hầu hết các nguồn khá đa dạng trong cao tuổi khác nhau [89, tr.58]
Nhận thức và đánh giá về ATTP trong tiêu dùng, nhóm các nhà nghiên cứu Safdar Muhammad, Sherin Sherif, và Mohamed Gheblawi (2010), đưa ra giả thuyết rằng các nhóm dân tộc khác nhau cảm nhận ATTP khác nhau với một số lí do Nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình Aprobit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức thái độ đối với các mối quan tâm và thực hành ATTP chính của người tiêu dùng [98]
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết các thực hành ATTP phổ biến được đọc hết ngày hết hạn, ngộ độc thực phẩm là mối quan tâm ATTP thường xuyên nhất, Bác sĩ gia đình là nguồn đáng tin cậy nhất của thông tin và các hộ mình
là trách nhiệm nhất thực thể liên quan đến ATTP Mức trả lời sự giáo dục và dân tộc của họ là yếu tố quyết định chính của họ thái độ đối với các mối quan tâm ATTP lớn Dựa trên các dữ liệu điều tra dân số cho thấy công dân dưới 14 tuổi chiếm
Trang 3238,1% và 51,1% là dưới 20 tuổi Tuy nhiên 48,8% của công dân thuộc độ tuổi 25-40 nhóm Nhìn chung 52,9% tổng dân chính là giữa 20 và 39 tuổi Việc giới thiệu dân
số trên là khá quan trọng cho nghiên cứu này khi nghiên cứu xoay xung quanh con người Các nước Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất nhập khẩu hơn 95% thực phẩm của nước và các nguồn khác nhau trên thế giới Nhu cầu đối với hầu hết hàng hóa tiêu dùng và đặc biệt là thực phẩm có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố không được coi là quan trọng trong số các nước trong khu vực [98, tr.59]
Stewart Lockie và Juliet Pietsch (2012), đề cập ý kiến của công chúng qua
một nghiên cứu về: "Ý kiến công chúng về an ninh lương thực”, nghiên cứu tập
trung vào các hướng nghiên cứu: thói quen ăn ở ngoài; sức khỏe và ATTP; thực phẩm biến đổi gen; hộ gia đình an ninh lương thực Kết quả khảo sát cho thấy bất chấp cảnh báo của một cuộc suy thoái trong nền kinh tế và tăng chi phí hộ gia đình, 37% số người được hỏi ăn tại các nhà hàng nhiều hơn một lần một tuần Tại đầu kia 17% phần trăm số người được hỏi không bao giờ ăn tại các nhà hàng và 46% ăn tại các nhà hàng thường xuyên hoặc ít hơn một lần một tuần Trong khi 81% người được hỏi cho rằng các sản phẩm thực thấy tự tin với sự an toàn của các sản phẩm nhập khẩu từ châu Á Đối với thực phẩm biến đổi gen có tới 44% số người được hỏi cảm thấy rằng thực phẩm chuyển gen là an toàn để ăn và 36% người trả lời cảm thấy rằng thực phẩm chuyển gen là không an toàn để ăn Về vấn đề an ninh lương thực của các hộ gia đình có 16% số người được hỏi nói rằng họ thường xuyên hoặc đôi khi lo lắng rằng thực phẩm của họ sẽ chạy ra trước khi họ có đủ khả năng để mua thêm Khác 13% nói rằng họ thường hoặc đôi khi không thể đủ khả năng để ăn bữa ăn cân bằng và 8% nói rằng thực phẩm có thường xuyên hoặc đôi khi chạy ra ngoài và họ không có đủ tiền để mua thêm thức ăn Một thiểu số nhỏ trả lời 4% cho rằng họ cần hỗ trợ lương thực khẩn cấp từ một tổ chức từ thiện, ngân hàng thực phẩm, cạnh nhà bếp, hoặc một số nguồn khác Để giữ cho chi phí thức ăn, 33% số người được hỏi có phát triển thức ăn riêng tại nhà hoặc trong một khu vườn cộng đồng để giảm chi tiêu thực phẩm Cuộc khảo sát cho thấy người tiêu dùng đánh giá cao chất lượng thực phẩm có nguồn gốc từ Châu Á, tỉ lệ lo lắng về ATTP chiếm tỉ
lệ thấp và rất ít cần sự hỗ trợ về vấn đề lương thực, thực phẩm [101]
Trang 331.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về dư luận xã hội
Ở Việt Nam tài liệu nghiên cứu về DLXH một cách có hệ thống, bài bản cho đến nay vẫn còn hết sức hiếm hoi so với các lĩnh vực khoa học khác Những nghiên cứu về thực nghiệm vẫn chưa phân biệt được giữa các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học thông thường với khảo sát DLXH Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả cho thấy các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đi sâu phân tích về các lý thuyết cơ bản của XHH, tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Nguyễn Quý Thanh trong công trình nghiên cứu: “Xã hội học về DLXH”, đã tiếp cận tổng hợp và hệ thống về DLXH dưới góc nhìn của xã hội học
cơ bản Trong công trình tác giả đã chỉ ra hệ vấn đề của xã hội học về DLXH và các cách tiếp cận nghiên cứu DLXH; phân tích bản chất của DLXH, phân tích các yếu
tố cấu thành DLXH như chủ thể, khách thể của DLXH, đưa ra những chỉ báo làm rõ những khác biệt của DLXH với “tin đồn’’, “chuẩn mực xã hội” Sự phân biệt này có
ý nghĩa về lý luận và ứng dụng thực tiễn; chỉ ra mối liên hệ giữa quy luật của DLXH và hành vi biểu hiện Trong khi các quy luật mô tả nhiều hơn về những biểu hiện bên ngoài của DLXH thì những hành vi được đề cập liên quan đến hành vi của những người mang DLXH; phân tích những cơ chế và yếu tố tác động của DLXH đến hành vi như trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua những khuân mẫu tư duy, thông qua tự tương đồng về tình cảm và niềm tin, và sự nội tâm hóa DLXH Đồng thời chỉ
ra chức năng của DLXH ở cấp độ vĩ mô và vi mô như chức năng: Liên kết xã hội,
tư vấn, giải tỏa căng thẳng xã hội, đánh giá hành vi điều chỉnh quan hệ xã hội và hành vi, kiểm soát xã hội với hành vi; giải thích về sự hình thành và biến đổi của thái độ, phân tích về các giai đoạn trong quá trình hình thành và biến đổi của DLXH cũng như vấn đề DLXH trưởng thành; phân tích mối quan hệ hai chiều giữa truyền thông TTĐC và DLXH Ảnh hưởng theo chiều thứ nhất truyền thông và TTĐC được coi là yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và biến đổi của DLXH Theo chiều quan hệ thứ hai, tác giả xem xét DLXH với tư cách DLXH như một nguồn sự kiện của TTĐC và DLXH với tư cách động lực làm thay đổi DLXH; trình bày quy trình
tổ chức một cuộc điều tra DLXH gồm ba giai đoạn chính (i) chuẩn bị; (ii) thu thập
Trang 34thông tin, xử lí; (iii) và trình bày kết quả; phân tích ưu, nhược điểm của từng phương pháp thu thập thông tin DLXH Bên cạnh đó tác giả cũng giới thiệu một số phương pháp mới có hỗ trợ của công nghệ hiện đại; giới thiệu phương pháp lấy mẫu một cách khoa học trong những cuộc điều tra DLXH; cung cấp một bức tranh tổng quan về các tổ chức nghiên cứu về DLXH trên thế giới và ở Việt Nam [42]
Cuốn sách chuyên khảo “Dư luận xã hội – Lý luận và thực tiễn”, của tác giả
Phan Tân (chủ biên) và các cộng sự nghiên cứu về lý thuyết cơ bản, có hệ thống, bài bản nghiên cứu về DLXH ở Việt Nam Tác giả đi sâu vào việc phân tích dư luận - nhận thức và hệ các khái niệm liên quan; phân tích các lý thuyết khoa học xã hội tiếp cận bàn về dư luận; phân tích mô hình 3D của Irving Crespi; đưa ra một số gợi
ý về phương pháp luận nghiên cứu dư luận đầy đủ, khoa học; chỉ ra thực tiễn và vấn
đề đặt ra đối với nghiên cứu DLXH ở Việt Nam; phân tích vai trò của TTĐC ngày nay trong việc hướng tới DLXH lành mạnh; trình bày hệ phương pháp cụ thể và một số gợi ý trong nghiên cứu DLXH ở Việt Nam hiện nay Đây là một cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu về DLXH hết sức hiếm hoi [52]
Tập hợp các nghiên cứu của Mai Quỳnh Nam cho thấy tác giả tập trung nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về DLXH như: DLXH - mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu (Tạp chí Xã hội học số 1, năm 1996); TTĐC và DLXH (Tạp chí Xã hội học số 1, năm 1996); Mấy vấn đề về DLXH trong công cuộc đổi mới (Tạp chí Xã hội học số 2, năm 1996); Vai trò của DLXH trong cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra (Tạp chí Tâm lý học số 2, năm 2000); Vai trò của DLXH trong hoạt động quốc hội (Tạp chí Xã hội học, số 3 năm 2005) Trong phần nghiên cứu về lý luận tác giả trình bày các giai đoạn cơ bản trong lịch sử tư tưởng trong quá trình hình thành DLXH và chỉ rõ quá trình hình thành và thể hiện DLXH
ở Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường việc mở rộng nền dân chủ trở thành nhân
tố kích thích tính tích cực chính trị - xã hội của người dân Bên cạnh đó lợi ích kinh
tế và lợi ích cá nhân được đề cao, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên Quá trình ấy tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có DLXH
Đề cập đến vai trò của DLXH trong sự nghiệp đổi mới tác giả Lương Khắc Hiếu và các cộng sự, đã phân tích vai trò của DLXH trong đời sống trong xã hội, từ
Trang 35đó đề ra một số giải pháp phát huy vai trò của DLXH ở nước ta hiện nay Các tác giả tập trung vào việc phân tích thực trạng dân chủ và vai trò của DLXH ở nước ta Đồng thời để ra phương hướng phát huy dân chủ trong đời sống xã hội thông qua DLXH Trong công trình này, các tác giả cũng cho rằng, việc tạo bầu không khí tâm
lí xã hội lành mạnh là điều kiện quan trọng làm cho DLXH phát huy vai trò tích cực mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, giữa cá nhân trong tập thể với nhau, khi lợi ích của các thành viên trong tập thể được quan tâm, đời sống vật chất tình thần được cải thiện sẽ tác động trực tiếp đến sự hình thành DLXH, tham gia vào việc định hướng DLXH lành mạnh [34]
Trong cuốn sách: “Tác động của DLXH với ý thức pháp luật của đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở” của tác giả Ngọ Văn Nhân trình bày những phân tích về và đồng thời chỉ ra thực trạng, nguyên nhân tác động của DLXH đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở nước ta Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp phát huy tính tích cực của DLXH đồng thời chỉ ra cách thức tác động của DLXH Đặc biệt trong công trình này, tác giả đã chỉ ra hai nguyên nhân sức ép dẫn đến những tác động tiêu cực của DLXH đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cơ sở: Thứ nhất, một số cán bộ cấp cơ sở nhận định rằng họ chịu sức ép DLXH là do chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; Thứ hai là do họ chưa nắm vững các nguyên tắc, quy định pháp luật Ngoài hai nguyên nhân chính trên thì tác giả cũng cho thấy còn những nguyên nhân khác như: thiếu sự tự tin, quyết đoán trong việc giải quyết công việc chuyên môn theo thẩm quyền, thiếu kinh nghiệm xử lý các tình huống phức tạp đang thu hút sự quan tâm của DLXH [44]
1.2.2 Các nghiên cứu về và vệ sinh an toàn thực phẩm
Cho đến nay tại Việt Nam các nghiên cứu về thực phẩm chủ yếu tập trung vào kiến thức và thực hành, nhận thức và hành động đối với các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) Bên cạnh đó thì các tác giả đi nghiên cứu các hoạt động truyền thông trong việc tuyên truyền, giáo dục ATTP và VSATTP
Nghiên cứu về thực trạng công tác đảm bảo ATTP, tác giả Nguyễn Hữu Huyên, (1998 - 2002) Nghiên cứu tập trung phân tích kiến thức, đánh giá thực hành
về VSATTP Kết quả nghiên cứu cho thấy, kênh truyền hình là kênh truyền tải
Trang 36thông tin về VSATTP được nhiều người xem nhất, qua kênh truyền hình thì có 91,3% người tiêu dùng biết được kiến thức về vệ sinh ATTP và 90.5% biết thế nào
là NĐTP [46]
Liên quan về kiến thức, thái độ, thực hành của người TDTP tác giả Trương Văn Dũng, (2012) nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về (VSATTP) của người tiêu dùng tại huyện Châu Thành năm 2012” Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ người được hỏi có kiến thức đúng về ATTP chiếm 90,14%; tỷ lệ người có thái độ đúng 84,14%; tỷ lệ người thực hành đúng chiếm 89,14% Nghiên cứu còn chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức đúng với các yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinh tế; mối liên quan giữa độ tuổi và thực hành các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, thời gian nội trợ, thu nhập kinh tế và nhà ở Tác giả đưa ra khuyến nghị: cần tăng cường công tác tuyên truyền tập trung vào nhóm người tiêu dùng lứa tuổi 30, những người có học vấn thấp, thu nhập không ổn định, hộ nghèo
và cận nghèo [69]
Nghiên cứu đánh giá kiến thức và thực hành về các quy định vệ sinh ATTP của chủ cửa hàng ăn và quán ăn tại Hà Nội, Lê Anh Tuấn (2008) Sau khi khảo sát
và kiểm tra tại 4.029 cửa hàng và quán ăn trên địa bàn 14 quận huyện, thuộc Hà Nội
cũ cho thấy chủ các cơ sở nữ chiếm (72,1%), mỗi cơ sở chủ yếu dưới 2 nhân viên phục vụ chiếm (89,7) Số cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh ATTP chỉ có (49,3%) Tỷ lệ các chủ cơ sở đạt kiến thức quy định về vệ sinh ATTP
là (61,8%), tỷ lệ thực hành đạt yêu cầu về vệ sinh ATTP chiếm (52,2%.) [ 34]
Trong nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành về vệ sinh ATTP của người nội trợ chính trong gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội”, (2006) của tác giả Cao Thị Hoa và các cộng sự khảo sát 132/132 hộ gia đình cho thấy: Mức
độ thực hành vệ sinh ATTP của người nội trợ chưa đi đôi với kiến thức đã đạt; mức
độ kiến thức tốt đạt 76,5%, trong khi đó thực hành đạt yêu cầu chỉ có 65,1% Một số vấn đề thiếu sót và không được người nội trợ không chú ý khi lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm là: 26,5% không thường xuyên mua thực phẩm tại nơi có địa chỉ tin cậy; 25% không thường xuyên rửa tay trước khi chế biến thực phẩm; 29,5% không thường xuyên che đậy thực phẩm khi nấu chín; 12,2% không sử dụng 2 thớt
Trang 37chế biến thực phẩm riêng biệt Qua kết quả khảo sát thì nghiên cứu cũng đưa ra một
số khuyến nghị chú ý xây dựng các chiến lược truyền thông nâng cao kiến thức và thực hành đúng vệ sinh ATTP cho cộng đồng và những người nội trợ [21]
Năm (2013) Hà Thị Oanh với nghiên cứu về: "Nhận thức và hành vi của phụ
nữ về an toàn thực phẩm” tiến hành nghiên cứu với 301 mẫu được thu thập tại xã
hĐông Kết và xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Kết quả phân tích mẫu điều tra cho thấy hầu hết phụ nữ được hỏi đều có nhận thức tốt về các quy định thực phẩm an toàn, trung bình có đến hơn 90% số người được hỏi hiểu biết đúng về thực phẩm an toàn Thông qua các kênh truyền thông cung cấp về thông tin, kiến thức về thực phẩm an toàn thì phụ nữ có nhận thức tốt hơn Hơn 90% phụ nữ được hỏi hiểu rõ về các hành vi vi phạm ATTP Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng
kể giữa các nhóm tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn về nhận thức và hành vi ATTP Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 91% số phụ nữ được hỏi cho biết họ được tập huấn về ATTP và cách lựa chọn thực phẩm an toàn Kết quả cho thấy nhận thức của người tiêu dùng về ATTP chiếm tỉ lệ rất cao, tuy nhiên sự nhận thức này chủ yếu thông qua các cuộc tập huấn tại địa phương [29]
Tiểu kết
Chương này đã khái quát một số vấn đề về tình hình nghiên cứu trên thế giới
và trong nước về DLXH và ATTP Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đã đưa
ra khái niệm DLXH, quá trình hình thành của tư tưởng về DLXH, lý thuyết và phương pháp điều tra DLXH Về vấn đề ATTP các nghiên cứu đi sâu phân tích ý kiến của người TDTP về thực phẩm, an ninh lương thực, nhận thức, thực hành về VSATTP… Tại Việt Nam các công trình nghiên cứu về DLXH chủ yếu tập trung vào nghiên cứu lý thuyết về DLXH như đi sâu vào phân tích đối tượng nghiên cứu, bản chất của DLXH, lịch sử những lý thuyết chính về DLXH, hành vi và quy luật của DLXH, các chức năng của DLXH, mối quan hệ giữa TTĐC và DLXH, các phương pháp điều tra DLXH.Vấn đề ATTP đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành VSATTP và thực trạng công tác quản lý ATTP
Trang 38Còn những nghiên cứu được tiếp cận về thực trạng ATTP còn hạn chế và đặc biệt là DLXH về ATTP hiện nay vẫn chưa thật sự được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tổng quan nghiên cứu DLXH nghiên cứu luận án của mình Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, chương này đã chỉ ra những đóng góp của các công trình nghiên cứu đi trước và những kết quả luận án có thể tham khảo, kế thừa, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, những khoảng trống của các nghiên cứu để từ đó làm căn cứ xây dựng định hướng của luận án
Trang 39CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận án
2.1.1 Khái niệm dư luận xã hội
Dư luận xã hội có gốc dịch tiếng Anh là Public Opinion, được ghép từ hai từ Public (công khai, công chúng, công cộng) và Opinion (ý kiến, quan điểm) Trong tiếng Việt thuật ngữ DLXH còn được gọi theo những cách khác bằng những thuật ngữ tương đương là công luận, dư luận công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần chúng
Theo từ điển Xã hội học OXFORD, do nhóm dịch giả Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hóa cho rằng: “Dư luận xã hội là một khái niệm thiếu chặt chẽ được dùng theo nhiều cách nhưng có lẽ theo thông thường nhất, nó đề cập đến sự chấp thuận hay không chấp thuận một bộ phận xác định trong xã hội trước những vị trí hay ứng xử có thể quan sát công khai và “thường” được đo lường thông qua các cuộc thăm dò DLXH Do đó DLXH thường được đánh đồng với những gì
mà các cuộc thăm dò DLXH đưa ra” [12]
Mai Quỳnh Nam định nghĩa: "DLXH là thể hiện tâm trạng xã hội phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại." [39, tr.2]
Nguyễn Quý Thanh định nghĩa như sau: "DLXH ý kiến có tính chất đánh giá
về các vấn đề xã hội mà nhóm công chúng cảm thấy có ý nghĩa với họ hoặc vấn đề
đó động chạm đến lợi ích chung, các giá trị chung” [42, tr.48] Theo ông, DLXH là
ý kiến thảo luận trao đổi của quá trình thảo luận xã hội DLXH được coi là trạng thái của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội DLXH được hình thành trên cơ sở các ý kiến cá nhân, nhưng nó không phải là một tập hợp cơ học các ý kiến cá nhân nó là kết quả trưng cầu ý kiến thể hiện kết quả thảo luận, đối thoại của người được hỏi với các cá nhân và nhóm xã hội khác thông qua những chuẩn mực và giá trị xã hội được họ công nhận
Trong đề tài này khái niệm DLXH được hiểu là nhận thức, thái độ, quan điểm, được phản ánh qua ý kiến đánh giá của người dân đối với các vấn đề liên quan đến lợi ích của họ
Trang 402.1.2 Khái niệm truyền thông
Khái niệm TTĐC được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau và theo nghĩa rộng nhất nó là tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có mang bản chất của sự sống hay không Như vậy, khái niệm này không chỉ được sử dụng trong quá trình hóa học, các trường lực vật lý, các quá trình tâm lý mà cho cả phương thức hành vi trong phạm vi xã hội động vật hay thực vật cũng như các hệ thống máy móc hay hệ thống người
Theo nhà xã hội học Luhmann, truyền thông là một "thao tác xã hội đặc biệt” Nguồn phát thông tin - Các phương tiện truyền thông - người nhận - nhiễu
Tóm lại, truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, thông điệp, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng
Ở đây truyền thông được người ta phân biệt ra thành các loại truyền thông trực tiếp hay truyền thông gián tiếp Truyền thông trực tiếp là truyền thông không trung chuyển qua người khác bằng phương tiện kĩ thuật Truyền thông gián tiếp là truyền thông qua người khác hay phương tiện kĩ thuật Mặc dù có sự phân biệt như vậy nhưng khi phân tích về truyền thông, người ta đều thống nhất ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa là nó không phải là một việc làm nhất thời hay sảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà diễn ra trong một khoảng thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục vì nó không thể kết thúc ngay khi ta chuyển tải một nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn sau đó Đây là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là hai bên cho và nhận
Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kì quan trong đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông
Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự hay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở lên vô nghĩa
Truyền thông đại chúng là một trường hợp đặc biệt của truyền thông thứ cấp, đồng thời nó cũng là truyền thông phương tiện Với khái niệm truyền thông phân bậc, nguời ta hiểu đó là sự tiếp nối các mức độ truyền thông khác nhau qua các trung gian đan xen, do đó chúng ta có thể ghi nhận nhiều quan niệm khác nhau của