Vì vậy, đòi hỏi cơ quan thuế và các cơ quan chức năng có liên quan cần phải nhận diện rõ bản chất, nguyên nhân, thủ thuật của hoạt động chuyển giá ở các doanh nghiệp này để tìm ra giải p
Trang 1i
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Quách Đức Pháp, chân thành cảm
ơn PGS.TS Trần Minh Tuấn, các Thầy giáo đã tận tình hướng dẫn khoa học,
đã định hướng và giúp đỡ em hoàn thành Luận án Tiến sỹ
Xin trân trọng cảm ơn ngành Thuế Việt Nam và các bạn đồng nghiệp
đã giúp đỡ tôi về tài liệu nghiên cứu
Tác giả Luận án
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả Luận án
Lê Quang Hùng
Trang 4iv
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về chuyển giá và chống chuyển giá 9
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước về chuyển giá và chống chuyển giá 13
1.3 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 17
1.4 Cơ sở lý thuyết 18
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ CHỐNG CHUYỂN GIÁ TRONG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 22
2.1 Lý luận chung về chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 22
2.2 Chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 45
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ CHỐNG CHUYỂN GIÁ TRONG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 66
3.1 Một số nét về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 66
Trang 5v
3.2 Thực trạng về hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn FDI ở
Việt Nam 71
3.3 Thực trạng về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam 81
3.4 Đánh giá chung về hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt NamError! Bookmark not defined.102 Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CHỐNG CHUYỂN GIÁ TRONG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 118
4.1 Thu hút nguồn vốn FDI và các hoạt động chuyển giá ở Việt Nam trong thời gian tới 118
4.2 Quan điểm về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI 121
4.3 Giải pháp tăng cường chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới 126
4.4 Một số khuyến nghị 144
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 163
Trang 6vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 APA Thỏa thuận trước về phương
pháp xác định giá tính thuế
Advance Pricing Ảgreement
Dự án chống xói mòn nguồn thu và chuyển lợi nhuận
Base Erosion and Profit Shifting
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct
Investment
6 GDLK Giao dịch liên kết Unite transaction
7 MNCs Công ty đa quốc gia
Multinational Corporations
11 TNDN Thu nhập doanh nghiệp Business income
12 TNHH Trách nhiệm hữu hạn Limited liability
13 TTĐB Thuế tiêu thụ đặc biệt Special Comsumption
Tax
15 TSVH Tài sản vô hình Intangible assets
17 VAT Thuế giá trị gia tăng Value Added Tax
Tổ chức thương mại thế giới World Trade
Trang 7vii
Organization
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình
Biểu 3.2 Cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam của các DN -
Biểu 3.5 Tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp FDI cho nền
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2014 71
Biểu 3.7
Tình hình các DN có vốn FDI ở TP Hồ Chí Minh
Biểu 3.8
Tình hình các DN có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương
Biểu 3.10 Hiệu quả phân tích tiêu chí rủi ro trong lập kế
hoạch thanh tra đối với các doanh nghiệp 99
Biểu 3.11 Hiệu quả áp dụng chấm điểm rủi ro trong lập kế
Biểu 3.12
Kết quả truy thu, truy hoàn thuế qua thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết giai đoạn 2010 – 2016
100
Trang 8viii
Biểu 3.13 Tình hình thu NSNN khối các doanh nghiệp có
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỔ
Hình 2.1 Mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tối ưu hóa số
Hình 2.2 Các phương pháp xác định lại giá chuyển
Biểu đồ Nội dung Số trang
Biểu đồ
3.1
Số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, các công ty
đa quốc gia (MNCs) và các tập đoàn kinh tế phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và
cơ cấu tổ chức Với sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và chế độ ưu đãi thuế giữa các nước thì vấn đề chuyển giá, tránh thuế không chỉ phát sinh tại Việt Nam mà còn diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới,
kể cả các nước phát triển Đây là vấn đề “nóng” của toàn cầu và được nhiều quốc gia đưa ra để bàn thảo tại nhiều hội nghị quốc tế trong suốt nhiều thập kỷ qua, như hội nghị các nước G8, G20, diễn đàn thuế quốc tế
Tại Việt Nam, đã hình thành nền kinh tế thị trường với những chính sách
mở cửa, thu hút đầu tư, các doanh nghiệp (DN) đặc biệt là các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang gia tăng nhanh cả về số lượng DN và vốn đầu tư vào Việt Nam Tính đến hết năm 2016 cả nước đã có trên 11.200 DN có vốn FDI của 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký hoạt động tại 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam, với 22.594 dự án còn hiệu lực và với tổng vốn đăng ký là 293,7 tỷ USD
Thời gian qua, các DN có vốn FDI hoạt động ở Việt Nam đạt được nhiều kết quả góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Nhưng bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động của các
DN có vốn FDI cũng phát sinh nhiều tiêu cực ảnh hưởng xấu đến công tác quản
lý kinh tế nói chung và quản lý thuế nói riêng Tình trạng kinh doanh lỗ giả, lãi thật trong các DN, đặc biệt là các DN có vốn FDI ngày càng gia tăng với những hình thức tinh vi, phức tạp Nhiều DN có vốn FDI đang hoạt động tại Việt Nam sau thời gian hết hạn ưu đãi, miễn, giảm thuế thường báo cáo kết quả kinh doanh
bị lỗ, quyết toán thuế TNDN không phát sinh số thuế phải nộp Tuy kết quả kinh doanh bị lỗ, nhưng các DN này vẫn tiến hành mở rộng hoạt động sản xuất kinh
Trang 102
doanh, đầu tư mới, doanh thu năm sau thường cao hơn năm trước, đây là một điều bất thường đối với các DN hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Theo Tổng cục Thống kê, năm 2011, thành phố Hồ Chi Minh có 104.299
DN đang kinh doanh, trong đó có 50.908 DN khai báo lỗ, chiếm 53,58%
Thực trạng nói trên được cơ quan thuế Việt Nam xác định là do các DN
đã thực hiện hành vi “lách thuế/tránh thuế” thông qua hoạt động chuyển giá (transfer pricing) dẫn đến làm thất thu ngân sách nhà nước (NSNN) và cạnh tranh không bình đẳng giữa DN có vốn FDI và DN trong nước DN có vốn FDI còn sử dụng việc chuyển giá để thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị trường trong nước, làm ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển nền kinh tế của nhà nước… Các hoạt động chuyển giá của các DN, đặc biệt ở các DN có vốn FDI đang ngày càng gia tăng cả về chiều rộng và chiều sâu, diễn ra liên tục, ở mọi nơi, mọi lúc cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế Việt Nam đã khó khăn càng khó khăn hơn Hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá đang là vấn
đề thu hút sự quan tâm của nhiều người dân, nhiều doanh nghiệp, nhiều cấp, nhiều ngành Tình hình này đòi hỏi công tác quản lý thuế phải được tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường chống chuyển giá trong các DN có vốn FDI nhằm tăng thu cho NSNN và thu hút đầu tư nước ngoài có kết quả cao hơn
Thời gian qua, ngành thuế đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp quản lý hoạt động chuyển giá, thường xuyên rút kinh nghiệm trong việc xây dựng, ban hành các chính sách về quản lý giá chuyển nhượng, tăng cường kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động chuyển giá Tuy nhiên công tác trên còn gặp phải nhiều khó khăn do ngành thuế Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm ứng phó với hoạt động chuyển giá, các biện pháp đề ra còn thiếu đồng bộ và hiệu lực thực thi thấp, còn thiếu các dữ liệu, thông tin cần thiết để chứng minh vấn đề gian lận giá mua, giá bán, thủ tục thanh toán, khó xác minh giá mua, giá bán thực tế tại nước ngoài… Qua các đợt tập trung lực lượng thanh tra thuế để thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với các DN báo cáo lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và các DN có hoạt động giao
Trang 113
dịch liên kết, cũng đã áp dụng các biện pháp quản lý như: Phân loại DN, phân tích rủi ro, yêu cầu DN giải trình và giám sát chặt mức chi phí tiêu hao vật tư và hợp đồng kinh tế… nhưng hiệu quả còn thấp, chưa đạt yêu cầu, thậm chí là bị thụ động trước các hành vi lách thuế của DN Cho đến nay, việc kiểm soát giá nội bộ của DN để phát hiện và chống gian lận qua chuyển giá là một thách thức lớn đối với các cơ quan quản lý ở Việt Nam Vì vậy, đòi hỏi cơ quan thuế và các
cơ quan chức năng có liên quan cần phải nhận diện rõ bản chất, nguyên nhân, thủ thuật của hoạt động chuyển giá ở các doanh nghiệp này để tìm ra giải pháp ngăn chặn hữu hiệu
Trước bối cảnh tình hình nói trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài:
“Chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam” để nghiên cứu luận án, với mong muốn
nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có luận cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu đề tài luận án là hết sức cấp thiết và có tính thời sự cao
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chủ yếu, cốt lõi của luận án là nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có luận cứ khoa học và phù hợp với thực tế Việt Nam nhằm góp phần tăng cường chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới
Theo mục đích nói trên, trong nghiên cứu luận án có các mục tiêu cụ thể sau:
i) Sưu tầm, thống kê, tổng hợp, hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm một số vấn đề cơ bản, có tính lý luận về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI, làm luận cứ cho việc đánh giá thực trạng tình hình trong thực tế
Trang 124
ii) Phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động chuyển giá trong các DN
có vốn FDI ở Việt Nam; Thực trạng về hoạt động chống chuyển giá trong công tác quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam, làm rõ những kết quả đạt được, những điểm còn hạn chế và nguyên nhân của những điểm còn hạn chế
đó iii) Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có luận cứ khoa học và phù hợp với thực tế Việt Nam nhằm góp phần tăng cường chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
i) Luận án đi sâu nghiên cứu, phân tích lý luận về chuyển giá và chống chuyển giá trong các DN có vốn FDI;
ii) Làm rõ các chính sách pháp luật của Việt Nam về hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI;
iii) Điều tra, khảo sát thực tế về thực trạng và những vấn đề đặt ra về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam;
iv) Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị về chống chuyển giá trong quản lý thuế, góp phần hạn chế các DN có vốn FDI thực hiện hoạt động chuyển giá ở
Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào hai vấn đề cơ bản là: (i) Hoạt động chuyển giá trong các DN có vốn FDI; (ii) Hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam (bao gồm cơ sở
pháp lý, tổ chức lực lượng, triển khai thực hiện)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
i) Về nội dung:
Hoạt động chuyển giá có phạm vi và mục tiêu rất rộng, cho nên hoạt động chống chuyển giá cũng có phạm vi và nội dung rất rộng Vì vậy, Đề tài này chỉ tập
Trang 135
trung nghiên cứu hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam; không nghiên cứu về chống chuyển giá trong các lĩnh vực khác; về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN cũng không nghiên cứu
về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN đầu tư gián tiếp
ii) Về thời gian:
Chỉ nghiên cứu hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các
DN có vốn FDI từ năm 2007 đến năm 2017, điều này liên quan đến các DN có vốn FDI bắt đầu tham gia đầu tư nhiều vào Việt Nam và là thời kỳ Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO Đề xuất kiến nghị giải pháp được áp dụng theo lộ trình trung hạn đến 2020 và tầm nhìn dài hạn đến 2035 phù hợp với định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thời gian tới
iii) Về không gian:
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI tại Việt Nam, những vấn đề nổi lên tại hai thành phố lớn
là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đây là hai địa phương có số lượng lớn các DN
có vốn FDI tập trung và phát sinh các hoạt động tiêu biểu về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế ở Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin Bằng các quan điểm lịch sử cụ thể, Luận án xem xét tác động của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay đối với hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành để lý giải các vấn đề lý luận, đánh giá và luận chứng các vấn đề về chuyển giá và chống chuyển giá
Trang 146
trong quản lý thuế nhằm nâng cao hiệu quả chống thất thu thuế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Thống
kê - tổng hợp- phân tích, so sánh - đối chiếu, nhận xét, đánh giá để rút ra vấn đề nghiên cứu Ngoài ra luận án còn áp dụng phương pháp điều tra thực tế để có thêm căn cứ thực tế xác đáng hơn về các vấn đề liên quan đến hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá Phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn thứ cấp như: Các văn bản chính sách gồm có Luật, Nghị định, Thông tư, các hội thảo, hội nghị, các cuộc điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích tư liệu thứ cấp và phân tích số liệu thống kê
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp điều tra qua bảng câu hỏi (anket) gửi tới 190 cán bộ công chức thuế trực tiếp làm công tác quản lý thuế các DN có vốn FDI, cán bộ làm công tác thanh tra giá chuyển nhượng tại các Cục Thuế lớn ở TP Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh và tỉnh Vĩnh Phúc Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS cho các kết quả thống kê mô tả được sử dụng trong Luận án Luận án phối kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu
để giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể trong từng chương, bao gồm:
Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích,
tổng hợp, hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản của chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI
Chương 3, phương pháp nghiên cứu tổng hợp, điều tra xã hội học, sử
dụng các số liệu thống kê được tác giả sử dụng là chủ yếu để đánh giá thực trạng
về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam
Chương 4, phương pháp phân tích, đánh giá, suy luận logic và dự báo
được sử dụng nhằm dự báo về mô hình chuyển giá và chống chuyển giá trong
Trang 157
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI cần được hoàn thiện trong thời gian tới, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp với thực tế trong thời gian tới
Nghiên cứu tiếp cận đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu từ góc
độ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI nói chung, quản lý thuế nhằm chống chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam nói riêng Các kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp phục vụ cho việc hoàn thiện quản lý thuế nhằm chống chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam trong thời gian tới
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
i) Tổng hợp, hệ thống hóa và luận giải rõ hơn một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI mà các nghiên cứu trước còn chưa làm rõ hoặc chưa thoả đáng, chưa sát với thực tế, từ khái niệm, đến các hình thức, dấu hiệu, những vấn đề đặt ra
ii) Phân tích, đánh giá khách quan về thực trạng chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian qua; chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian qua
iii) Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị sát thực, khả thi về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
i) Luận án nghiên cứu về chuyển giá và chống chuyển giá là một vấn đề
có tính thời sự và nổi cộm hiện nay ở Việt Nam, là hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn FDI và hoạt động chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI Đây là vấn đề còn nhiều hạn chế và nhiều
Trang 168
thua thiệt, có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện chủ trương của Nhà nước về tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian sắp tới Do đó việc nghiên cứu luận án là có tính thực tiễn, thời sự rất cao
ii) Kết quả nghiên cứu quan trọng nhất của luận án là đề xuất và cung cấp một số giải pháp thiết thực, khả thi, dựa trên những luận cứ khoa học, phù hợp với bối cảnh và tình hình của Việt Nam, nhằm góp phần tăng cường chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam trong thời gian tới Với mục tiêu như vậy, việc nghiên cứu luận án có ý nghĩa về lý luận rất
rõ ràng và sâu sắc
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến
đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 3: Thực trạng về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp tăng cường chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 179
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuyển giá và chống chuyển giá dưới các hình thức như: Sách chuyên khảo,
đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều bài báo, tham luận trong các hội thảo nghiên cứu đến hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá với nhiều cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau cả về lý luận và thực tiễn Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng cung cấp thêm các luận cứ làm căn cứ cho việc tiếp tục nghiên cứu về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam
Vấn đề chuyển giá không còn là vấn đề mới mẻ trong hoạt động thương mại của Việt Nam, nhưng gần đây các giao dịch có yếu tố nước ngoài ngày càng xuất hiện nhiều dấu hiệu của hoạt động chuyển giá, do các quy luật của thị trường tự do đặc biệt là quy luật cung cầu không hoạt động trong các MNCs, các DN có vốn FDI, các giao dịch liên kết
Chính vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các công trình trên thế giới, các tài liệu liên quan đến đề tài ở trong nước để tiếp tục nghiên cứu, định hướng nhiệm vụ nghiên cứu để giảm thiểu hành vi chuyển giá của các DN
và có những giải pháp căn bản hơn trong quản lý thuế để chống chuyển giá đạt hiệu quả cao hơn
1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về chuyển giá và chống chuyển giá
Các tư liệu, tài liệu liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài bao gồm các sách chuyên khảo, các bài đăng tạp chí, các bài kỷ yếu hội thảo, các luận án, luận văn mà tác giả đã sưu tầm, tổng hợp được như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu cơ bản về hoạt động chuyển giá, giá
chuyển nhượng đối với các MNCs:
Trang 1810
Tiêu biểu là: Nicole Bastian Johnson (2006), “Đo lường hiệu suất bộ phận và
chuyển giá đối với loại tài sản vô hình” [116]; Romana L Autrey (2009) công trình:
“Nghiên cứu về thị trường chợ đen và chuyển giá và chuyển nhượng đa quốc
gia”[122]; Xiling Dai (2009) công trình: “Nghiên cứu về thị trường chợ đen và Chuyển giá/chuyển nhượng đa quốc gia” [126]; Guttorm Schjel Derup (2010),
“Nghiên cứu vấn đề chuyển giá của các tập đoàn đa quốc gia”[113]
Các tác giả của các công trình trên đã nghiên cứu phân tích cơ bản về chuyển giá đối với các MNCs trên thế giới, đưa ra những dự báo về biến đổi vô cùng to lớn của thế giới hôm nay và ngày mai, trong đó đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương thức chuyển giá đối với một tài sản vô hình; các tác giả cũng đã nhận định chuyển giá dựa trên bản quyền có thể đàm phán để nhận được ưu đãi đầu tư tốt hơn
so với một chuyển giá không dựa trên bản quyền, và trong một vài trường hợp, chuyển giá dựa trên bản quyền cũng là sự đầu tư tốt nhất; các tác giả cũng nghiên cứu cách làm thế nào để các Luật thuế thực hiện quản lý chuyển giá nội bộ tối ưu nhất khi các công ty thực hiện chuyển giá cả bên trong và bên ngoài; các tác giả nghiên cứu đã xem xét cách các MNCs chuyển giá để nộp thuế ở mức thấp nhất, từ
đó đánh giá việc chuyển giá trong bối cảnh chênh lệch thuế suất ở các quốc gia
Ngoài ra, các tác giả nghiên cứu kỹ phương pháp chuyển giá đa quốc gia được sử dụng để chống lại việc phát sinh chợ đen là tăng giá chuyển nhượng đối với các công ty con ở nước ngoài nhằm tăng chi phí cơ bản của chợ đen Các tác giả đãđặt ra giả thiết khi tồn tại một đối thủ cạnh tranh của dạng thị trường chợ đen, giá chuyển nhượng tối ưu đối với một công ty con tại nước ngoài vượt quá chi phí cận biên và đang có xu hướng giảm dần sức cạnh tranh với các sản phẩm hàng hóa ở thị trường trong nước, tác giả chứng minh rằng sự tồn tại của thị trường chợ đen có thể dẫn đến việc tăng nguồn thu thuế trong nước, thậm chí ngay cả khi các công ty làm việc theo dạng chợ đen không nộp thuế nội địa
Các tác giả còn nghiên cứu và đưa ra định nghĩa, phân loại các loại hình và vai trò của các MNCs, phân tích động cơ chuyển giá của các hoạt động chuyển giá giữa các MNCs; các tác giả đề xuất những gợi ý về cơ chế tạo lập cách quản lý
Trang 1911
chuyển giá, dựa trên phân tích những tác hại của việc lợi dụng chuyển giá của các MNCs
Thứ hai, các công trình, luận án, luận văn nghiên cứu sâu về chống chuyển
giá trong quản lý thuế
Có: Richard Sansing (1999), “Nghiên cứu về đầu tư các mối quan hệ cụ thể
và nghịch lý chuyển giá” [120]; Peter C.Dawson (2000), “Nghiên cứu về chuyển giá trong các công ty cổ phần đa quốc gia phân cấp” [119]; Nahum D.Melumad Đại
học Columbia (2004), “Quản lý tích hợp và mục tiêu thuế trong chuyển giá” [115]; Masha Shunko (2005), “Chuyển giá và thuê gia công trong cung ứng toàn cầu”
[114]…
Các công trình của các tác giả trên đã đi sâu nghiên cứu về mục tiêu thuế trong chuyển giá trên thế giới thời hiện đại, trong đó nhấn mạnh: Nghiên cứu chuyển giá ở các MNCs khi các công ty ở mỗi quốc gia phải đối mặt với những mức thuế suất thuế TNDN khác nhau; các tác giả cũng đưa ra các tranh luận rằng chuyển giá nội địa tối ưu nên bằng trung bình trọng lượng của chi phí cận biên và là giá thị trường ưu đãi nhất Khi nguồn cung bán các sản phẩm trung gian theo yêu cầu của đối tác bên ngoài, giá bán ngoại địa trở nên hợp lý và logic đối với thị trường Tác giả cũng tranh luận rằng: Nhằm mục tiêu đánh giá sự vận hành nội địa, các công ty thông thường không nên đánh giá các giao dịch nội địa theo giá thị trường hiện hành nếu nguồn cung là độc quyền tại các thị trường bên ngoài Bằng việc áp giá giảm trong nội bộ, các công ty có thể giảm bớt các vấn đề hiện thời bên ngoài và đồng thời khoản tiết kiệm về đóng thuế phụ thuộc vào sự khác biệt giữa các mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Richard Sansing (1999), Công trình “Nghiên cứu về đầu tư các mối quan hệ
cụ thể và nghịch lý chuyển giá” [120], tác giả đã so sánh hiệu quả giữa hai phương
pháp “chuyển giá dựa trên lợi nhuận” và “chuyển giá dựa trên giá” về việc phân bổ
thu nhập chịu thuế trong một mô hình mà ở đó cơ cấu tổ chức ảnh hưởng đến mức
độ đầu tư các mối quan hệ cụ thể được thực hiện bởi các nhóm tích hợp theo chiều dọc và các công ty độc lập tương đương Phân tích của mô hình này chỉ ra rằng, so
Trang 2012
với phương pháp chuyển giá dựa trên lợi nhuận, phương pháp chuyển giá dựa trên giá một cách hệ thống sẽ phân bổ thu nhập chịu thuế nhiều hơn đối với các chi nhánh nước ngoài và ít hơn đối với các công ty mẹ trong nước; tác giả cũng chỉ ra việc các MNCs thực hiện chuyển giá thông qua việc lợi dụng mức thuế suất nước ngoài thấp hơn và chi phí sản xuất gia công thấp hơn; các công ty mẹ quan tâm nhiều đến lợi nhuận sau thuế hơn là các chi nhánh địa phương, mặt khác, các chi nhánh địa phương có tầm nhìn về cơ cấu giá thành sản phẩm tốt hơn, và do đó họ cũng có tầm nhìn tốt hơn về những chiến lược tìm nguồn cung ứng thích hợp; tác giả chỉ ra rằng khi chi phí thuê ngoài tăng lên, một công ty phân cấp sẽ có nhiều lựa chọn linh hoạt hơn trong việc chuyển giá và do đó có thể đạt được lợi nhuận cao hơn, khi sự khác biệt về thuế quá lớn thì một chiến lược hoàn toàn tập trung sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất
Thứ ba, Michacl Smith (2002), văn bản: “Ex Ante and Ex Post Discretion
over Arm’s Length Transfer Prices” (của Mỹ) [125], văn bản này nghiên cứu về
Quy chế Tài chính yêu cầu một công ty phải coi chi phí sản xuất là đầu vào khi tính chuyển giá sử dụng cho mục đích thuế, văn bản mang tính định hưởng chỉ đạo, giải
thích, hướng dẫn và giải quyết đối với các doanh nghiệp có xu hướng làm sai lệch
các lựa chọn đầu tư nhằm nhận một khoản thuế chuyển giá chênh lệch tốt hơn và các doanh nghiệp không tuân thủ đúng việc chuyển giá theo giá thị trường, mà thay
vào đó sẽ chọn cách chuyển giá nào có lợi hơn cho việc đóng thuế
Quy chế Tài chínhcủa Mỹsửa đổi giải thích Luật thuế nội bộ (ban hành năm
1968) điều 482 cho phép sử dụng phương pháp chuyển giá dựa trên lợi nhuận, Quy
chế Tài chính này cũng so sánh hiệu quả giữa hai phương pháp chuyển giá dựa trên lợi nhuận và chuyển giá dựa trên giá về việc phân bổ thu nhập chịu thuế trong một
mô hình mà ở đó cơ cấu tổ chức ảnh hưởng đến mức độ đầu tư các mối quan hệ cụ thể được thực hiện bởi các nhóm tích hợp theo chiều dọc và các công ty độc lập tương đương
Ngoài ra, Quy chế Tài chính yêu cầu một công ty phải coi chi phí sản xuất là đầu vào khi tính chuyển giá sử dụng cho mục đích thuế, vì những đặc điểm của tài
Trang 21Thời gian qua, có nhiều công trình, đề tài khoa học, luận văn đã nghiên cứu,
đề cập trực tiếp những vấn đề liên quan đến đề tài như sau:
GS.TS Nguyễn Văn Tiến (năm 2007): “Giáo trình Tài chính quốc tế”, Nxb
Tài chính [93]; PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào (đồng chủ biên)
(năm 2008): Giáo trình “Quản trị Tài chính doanh nghiệp”, Nxb Tài chính [50];
TS Lê Thị Thanh Hà (năm 2001): “Giáo trình thuế”, Nxb Tài chính [40]; TS Ngô Thị Ngọc Huyền (năm 2000): “Giáo trình Quản trị Tài chính quốc tế”, Nxb Tài chính [49]; PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (năm 2011): “Giáo trình Quản trị Tài chính
công ty đa quốc gia”, Nxb Tài chính [88]; PGS.TS Nguyễn Văn Dần, PGS.TS
Trần Xuân Hải (đồng chủ biên) (năm 2012): “Giáo trình Cơ sở hình thành giá cả”, Nxb Tài chính [31]; A Mashall (năm 1997): “Lý thuyết giá cả và sự vận dụng”,
Nxb Tài chính [108]; Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Hoàng Dũng (đồng chủ
biên) (2001): “Định giá chuyển giao và thủ thuật chuyển giá tại các MNCs ở Việt
Nam”, Nxb Tài chính, Hà Nội [84]; Nguyễn Ngọc Thanh (2002): “Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở TP Hồ Chi Minh”, Nxb Tài chính, Hà Nội [85]
Các tác giả của các cuốn sách trên đã lý giải, phân tích đưa ra được các lý luận và thực tiễn về giá cả, định giá chuyển giao, các thủ thuật về chuyển giá tại các MNCs ở Việt Nam
Ngoài ra một số công trình đề tài khoa học cũng nghiên cứu vấn đề chuyển giá tại các DN có vốn FDI ở Việt Nam như sau:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh,
“Những diễn biến của hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
Trang 2214
(2009) [37], tác giả đã tìm hiểu nghiên cứu phân tích hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp chống chuyển giá cho các
cơ quan quản lý của nhà nước quản lý tốt hơn đối với các DN có vốn FDI Đề tài:
“Chuyển giá tại các công ty đa quốc gia” (2013) của TS Nguyễn Văn Hùng [48],
tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm chuyển giá, chuyển giá tài chính và các trường hợp chuyển giá trong thực tế, làm rõ thực trạng và tác hại của việc chuyển giá đối với nền kinh tế Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp xử lý cho vấn đề chuyển giá tại Việt Nam
Ngoài ra, một số luận án, luận văn cũng đề cập đến vấn đề thất thu thuế về hoạt động chuyển giá của các DN như: Luận văn Ths Phan Hiển Minh, (2002)“
Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách thuế của Việt Nam”
[64]; Luận văn Ths Ngô Trần Kim Ngân, (2005) “Một số giải pháp kiểm soát hoạt
động chuyển giá tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài” [66]; Luận văn Ths
Nguyễn Trí Thành (2004), “Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt
Nam trong giai đoạn hội nhập” [87]; NCS Nguyễn Thị Lan, luận án Tiến sỹ Kinh
tế (2008), “Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa
quốc gia hoạt động trên lãnh thổ việt Nam” [53]; Luận văn THs Nguyễn Thị
Quỳnh Giang, (2010), “Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt nam” [39]; NCS Dương Văn An (2016), Luận án Tiến sỹ kinh tế “Chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI – Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” [1]
Các tác giả đã phân tích hoạt động chuyển giá của các DN có vốn FDI tại Việt Nam, cho thấy được hậu quả tiêu cực của hành vi chuyển giá và vận dụng các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam và những vấn đề tồn tại, cuối cùng tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng ứng phó với chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
Trong những công trình trên, các tác giả đã phân tích hoạt động chuyển giá của các DN có vốn FDI tại Việt Nam, đã nêu và phân tích khá sâu sắc, có tính thuyết phục các nội dung chính như: Chuyển giá là gì? các hình thức chuyển giá thường gặp ở Việt Nam; vấn đề chuyển giá của các MNCs; ngăn ngừa hành vi
Trang 2315
chuyển giá trong các doanh nghiệp ở Việt Nam; các biện pháp hạn chế ngăn chặn việc thất thu thuế do hoạt động chuyển giá Ngoài ra các tác giả còn phân tích về một số nội dung liên quan đến lý thuyết chuyển giá và tác động của chuyển giá, cuối cùng các tác giả đưa ra khuyến nghị đối với Việt Nam trong việc nghiên cứu và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách thuế về chống chuyển giá và một số khuyến nghị khác liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra, xây dựng cơ sở dữ liệu, đầu tư nguồn lực
Một số bài viết về vấn đề chuyển giá của các MNCs được đăng tải trên các
Tạp chí khoa học như: Nguyễn Thị Liên Hoa (1999), “Đề xuất một số phương pháp
chống chuyển giá trong các DN có vốn FDI tại Việt Nam [42]; Nguyễn Ngọc Thanh
(1999), “Hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia: Tác động tiêu cực và
giải pháp khắc phục” [83]; TS Phan Đức Dũng (2008), “Chính sách chuyển giá và chiến lược bán phá giá tại các Công ty có quan hệ liên kết”[33]; TS Phạm Hùng
Tiến (2012), “Bàn về chống chuyển giá trong giai đoạn hiện nay”[95]; TS.Vũ Đình Ánh (2012), “Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan đến FDI” [3]; PGS.TS.Trần Xuân Hải (2012), “Một số vấn đề lý thuyết về chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI” [41]; TS Nguyễn Minh Phong (2012), “Chống chuyển giá-Cần nhận thức đúng và giải pháp đồng bộ”[68]
Tác giả của các bài viết trên đã phân tích sâu sắc hiện tượng chuyển giá của các MNCs, ngoài ra còn đề xuất một số phương pháp chống chuyển giá trong các
DN có vốn FDI
TS Nguyễn Xuân Sơn (2013), “Đừng quá sợ hại về chuyển giá”[82]; TS Phạm Duy Khương (2012), “Đau đầu bài toán chuyển giá của FDI” [51];TS Phan
Đức Dũng, PGS.TS Nguyễn Văn Trình (2005), “Chi phí nghiên cứu phát triển của
các công ty đa quốc gia trong chính sách định giá chuyển giao” [32]; Ths Phan Thị
Thành Dương (2006), “Chống chuyển giá tại Việt nam”, [34].
Các tác giả đã đưa ra các phương thức về các hình thức chuyến giá, các chính sách định giá chuyển giao và cách thức chống chuyển giá tại Việt Nam, ngoài
ra còn đề xuất một số phương pháp chống chuyển giá trong các DN có vốn FDI
Trang 24giá ở các nước và bài học cho Việt Nam” (2012) của Ths Nguyễn Thị Thùy Minh,
NCS Lê Thị Thanh Huyền (Học viện Tài chính) [65], đã phân tích, mô tả được một số kinh nghiệm của các nước châu Âu và các nước ASEAN, kinh nghiệm của Hoa Kỳ đã đưa ra được các quy định về giá chuyển giao và trở thành một phần trong Luật thuế của
Mỹ từ thời điểm chiến tranh thế giới lần thứ nhất; kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia đã áp dụng phương pháp so sánh giá cả thị trường và quy định hình thức xử phạt vi phạm về thuế chung trong luật…
Ngoài ra còn có các tài liệu Hội thảo chuyên đề quản lý thuế đối với hoạt động
chuyển giá; Kỷ yếu hội thảo khoa học (2012), “Hoạt động chuyển giá - Những vấn đề
lý luận, thực tiễn và biện pháp hạn chế” [52]; Các hội thảo đều đề cập đến đấu tranh
chống thất thu thuế qua thủ thuật chuyển giá của các doanh nghiệp, từ đó cần nghiêm túc xem xét, đánh giá đúng tính chất của vấn đề để từ đó đề ra các giải pháp thích hợp, với quan điểm và lộ trình phù hợp, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút vốn FDI cũng như môi trường đầu tư nói chung tại
Việt Nam Bài: “Hoạt động chuyển giá và 4 cách xác định giá chuyển giao” của
PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh [62] Tác giả cung cấp một bức tranh tổng quát về khái niệm, vai trò và mục tiêu của chuyển giá, từ đó đưa ra bốn phương pháp để xác định giá, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo bằng những số liệu cụ thể, giúp Việt Nam có thể có những căn cứ để ban hành các chính sách trong tương lai
Nhìn chung, có thể nhận xét một cách tổng quát là các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định việc chuyển giá là việc ấn định giá chuyển nhượng hàng hoá, dịch
vụ giữa các DN thành viên có quan hệ liên kết với nhau theo giá nội bộ, không theo giá thị trường, nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp, tối đa hoá lợi nhuận của DN Trong những năm gần đây nhiều DN có vốn FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm, hoạt động chuyển giá của một số DN có vốn FDI ở Việt Nam đã để lại các hậu quả xấu trong hoạt
Trang 2517
động của khu vực DN có vốn FDI, như chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, làm thất thu thuế, cạnh tranh không lành mạnh, tạo sức ép lên các DN tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, Các công trình nghiên cứu nói trên, trực tiếp hoặc gián tiếp, ở từng khía cạnh và mức
độ xem xét khác nhau, đã làm rõ được những ảnh hưởng và tác hại đến việc thất thu thuế về hoạt động chuyển giá của các DN trong và ngoài nước tại Việt Nam
1.3 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1 Những vấn đề đã đƣợc nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về hoạt động chuyển giá nói chung, cơ bản đã làm
rõ về khái niệm chuyển giá; các hình thức chuyển giá, dấu hiệu chuyển giá; ngăn ngừa hành vi chuyển giá; tác động của chuyển giá đối với kinh tế trong nước trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế Đây là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm khái niệm “chuyển giá”, “chống chuyển giá” tác động đến việc quản lý thuế sát thực hơn trong bối cảnh của Việt Nam
Vấn đề thực trạng hoạt động chuyển giá, được các công trình trong và ngoài nước làm rõ chủ yếu từ những mô hình, các hình thức chuyển giá, dấu hiệu chuyển giá, ảnh hưởng đến việc quản lý thuế Đây là tư liệu thực tế có giá trị để tác giả khai thác và khái quát mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Vấn đề thực trạng chống chuyển giá trong quản lý thuế trong những năm gần đây, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ ngành liên quan và các cấp chính quyền địa phương, ngành thuế đã và đang triển khai mạnh mẽ, có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế và đã đạt được những kết quả bước đầu, có tác dụng cảnh báo đến doanh nghiệp, xử lý giảm
lỗ và truy thu tiền thuế cho NSNN Đây là tư liệu thực tế có giá trị để tác giả khai thác và khái quát đề ra các giải pháp, kiến nghị về chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam thời gian tới
1.3.2 Những vấn đề còn chƣa đƣợc giải quyết thấu đáo cần phải tiếp tục nghiên cứu
Các công trình còn chưa đưa ra được những nét mới và khác nhau về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế sát thực hơn với thực tế Việt Nam hiện
Trang 2618
nay Từ khái niệm, đến các hình thức, dấu hiệu, những vấn đề đặt ra và chưa có những phân tích sâu và những giải pháp, kiến nghị sát thực, khả thi về chuyển giá
và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam
Về thực trạng hoạt động chuyển giá tại các DN có vốn FDI ở Việt Nam khá
đa chiều, đa dạng, tình hình các DN có vốn FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm làm thất thu thuế, ảnh hưởng trực tiếp đến NSNN, song các công trình mới chỉ nêu ra một số hình thức, dấu hiệu chuyển giá và một số số liệu về tình hình, dưới dạng rất chung hoặc dừng lại ở những thông tin của chính cơ quan quản lý thuế, thiếu những khái quát có tầm lý luận; ít rút ra được nguyên nhân, bài học sát thực, cũng như chưa đánh giá toàn diện và khách quan về vai trò, thực trạng, hiệu quả của hoạt động chuyển giá
Các công trình nghiên cứu có đề cập nhiều đến vấn đề chống chuyển giá nhưng chưa đánh giá toàn diện và khách quan về vai trò, thực trạng, hiệu quả của công tác quản lý thuế, các công trình còn chưa đưa ra và đề xuất được các giải pháp, khuyến nghị sát thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chống chuyển giá trong công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước ở Việt Nam
Chống chuyển giá là một hình thức chống chuyển quyền lợi ích thu thuế của Việt Nam đối với DN trong nước sang công ty mẹ đóng ở nước ngoài, vậy để áp dụng thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) bằng các hình thức song phương, đa phương, sẽ tiến hành đàm phán và đi đến thỏa thuận về việc phân chia quyền đánh thuế giữa các nước Đây là vấn đề có liên quan đến lợi ích của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, nên việc chống chuyển giá cần phải nghiên cứu cụ thể và thấu đáo hơn, đây cũng là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam
1.4 Cơ sở lý thuyết
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 2719
i) Cần bổ sung những vấn đề lý luận nào về chuyển giá và chống chuyển giá đối với DN có vốn FDI để góp phần phát triển hệ thống lý luận về chuyển giá và chống chuyển giá tại Việt Nam và trên thế giới?
ii) Thực trạng chuyển giá của các DN có vốn FDI tại Việt Nam diễn ra như thế nào và nguyên nhân của thực trạng đó là gì?
iii) Thực trạng chống chuyển giá của DN có vốn FDI nói chung, chống chuyển giá trong quản lý thuế tại Việt Nam nói riêng như thế nào và nguyên nhân của những hạn chế bất cập là gì?
iv) Dự báo về thu hút vốn FDI, tình trạng chuyển giá của các DN có vốn FDI
và quan điểm chủ trương về chống chuyển giá đối với các DN có vốn FDI trong thời gian tới sẽ đặt ra những yêu cầu gì đối với chống chuyển giá trong quản lý thuế
ở Việt Nam?
v) Những giải pháp nào là quan trọng và cần thiết nhất để chống chuyển giá đối với các DN có vốn FDI trong quản lý thuế một cách hợp lý, hiệu quả, khả thi, phù hợp với hoàn cảnh thực tế nhất và điều kiện để thực hiện các giải pháp đó là gì?
1.4.2 Thao tác hóa khái niệm
Tác giả luận án nghiên cứu chủ yếu tiếp cận những thuật ngữ được sử dụng
trong luận án về khái niệm “Định giá chuyển giao”; khái niệm “Chuyển giá”; khái niệm về “Chống chuyển giá” cũng như các khái niệm có liên quan đến chuyển giá
và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI ở Việt Nam
1.4.3 Lý thuyết nghiên cứu
Vận dụng các lý thuyết nghiên cứu về khoa học quản lý kinh tế, trên cơ sở những hiểu biết về quy luật, nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật quản lý kinh tế để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp một cách có luận cứ khoa học và sát với thực tế Việt Nam Các lý thuyết kinh tế chủ đạo được sử dụng trong nội dung nghiên cứu của Luận án là: Lý thuyết về thị trường và giá thị trường; lý thuyết về quản lý Tài chính doanh nghiệp; lý thuyết về quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế, đối với doanh nghiệp nói chung và lý thuyết về quản lý thuế đối với DN, đặc biệt là
DN có vốn FDI nói riêng; lý thuyết về hành vi của chủ doanh nghiệp; lý thuyết về
Trang 2820
thông tin bất đối xứng; lý thuyết về hội nhập Tài chính quốc tế, hội nhập quốc tế về thuế; lý thuyết về thanh toán quốc tế; v.v
1.4.4 Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên những giả thuyết nghiên cứu cơ bản sau:
- Chuyển giá là hoạt động phổ biến trên thế giới gắn với các tập đoàn xuyên quốc gia, tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp có giao dịch liên kết xuyên biên giới Biểu hiện rõ nhất của chuyển giá là xác định giá giao dịch khác với giá thị trường, từ đó ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của DN thực hiện chuyển giá và nghĩa vụ thu nộp NSNN của DN đó
- Có thể xác định được giá thị trường, tuy không đơn giản và dễ dàng, để làm
cơ sở đấu tranh chống chuyển giá
- Thu hút vốn FDI, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế tiếp tục là chủ trương lớn và nhất quán của Việt Nam Vấn đề quan trọng là nâng cao hơn nữa hiệu quả và đóng góp của khu vực DN có vốn FDI vào phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam thông qua chiến lược thu hút và sử dụng vốn FDI hiệu quả, đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chuyển giá
- Chống chuyển giá hiệu quả và khả thi rất cần những thông tin và có sự tham gia của nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan, trong đó cơ quan quản lý thuế đóng vai trò tiên phong, nòng cốt với năng lực không ngừng được quan tâm đào tạo, hoàn thiện và nâng cao, phù hợp với cam kết quốc tế và mục tiêu quản lý thuế của Việt Nam
- Chống chuyển giá đối với DN có vốn FDI tại Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả, nhất quán giữa các cơ quan chức năng, giữa Nhà nước với xã hội, giữa trong nước với ngoài nước, song nỗ lực và năng lực chống chuyển giá trong nước là quan trọng nhất, đặc biệt là nỗ lực và năng lực chống chuyển giá của
cơ quan quản lý thuế Việt Nam
Trang 2921
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, về tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh đã sưu tầm tổng hợp được một số công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế Trên cơ sở phân tích, nhận xét về kết quả đạt được trong từng công trình nghiên cứu, NCS đã xác định được khoảng trống nghiên cứu cho đề tài của mình NCS cũng đã đặt ra các giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu để xác định những nội dung cơ bản về hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các DN có vốn FDI mà NCS sẽ tập trung nghiên cứu luận giải trong luận án này
Trang 302.1.1 Khái niệm chuyển giá và các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm “Định giá chuyển giao”
Trong công tác quản trị tài chính ở các công ty đa quốc gia (Multinations Company - MNCs), việc định giá chuyển giao được xem là một phương pháp quản trị ứng dụng và được các nhà quản trị áp dụng một cách thuần thục nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Về nguyên tắc, giá chuyển giao giữa các thành viên, các công ty có vị thế kinh tế độc lập sẽ hướng đến giá giao dịch độc lập, nghĩa là hai bên độc lập thỏa thuận chuyển giao cho nhau dựa trên nguyên tắc giá thị trường Trong thực tế việc định giá chuyển giao trong các MNCs là không theo căn bản giá thị trường mà có thể được tính toán theo một mức giá cao hơn hoặc thấp hơn nhằm đạt được mục đích nào đó của MNCs, chứ không chỉ nhằm một mục tiêu về thuế
Giá chuyển giao trong “chuyển giá” có thể được định ở mức thấp hoặc cao hơn giá thị trường tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của nhóm liên kết nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là gia tăng lợi ích tổng thể Do đó bằng cách sử dụng các phương pháp để xác định giá chuyển giao trong các giao dịch nội bộ giữa các công
ty có quan hệ liên kết của các MNCs sai lệch với giá thị trường, từ đó các MNCs đã chuyển lợi nhuận trước thuế từ một quốc gia này sang một quốc gia khác để tối đa hóa tổng lợi nhuận sau thuế Các MNCs điều phối thu nhập, làm cho lợi nhuận của các Doanh nghiệp thành viên tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao xuống mức thấp nhất và làm tăng tương ứng lợi nhuận tại các doanh nghiệp của MNCs ở các quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp hơn
Trang 3123
Theo thuật ngữ tài chính, “định giá chuyển giao” là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt động Với mức giá xác định cao hơn hay thấp hơn giá thị trường trong từng giao dịch lại tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nộp thuế cho các quốc gia
và sự di chuyển ngoại tệ giữa các nước
Để làm rõ vấn đề định giá chuyển giao, tại thông tư số 66/2010/TT-BTC
ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính [8] đã giải thích từ ngữ để áp dụng trong việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết, cụ thể:
- "Giá thị trường" là cụm từ để chỉ giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan
trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có quan hệ liên kết (các bên độc lập)
- "Giao dịch liên kết" (GDLK) là giao dịch kinh doanh giữa các bên liên kết
- "Giao dịch độc lập" (GDĐL) là giao dịch kinh doanh giữa các bên không
có quan hệ liên kết
- “Khác biệt trọng yếu” là khác biệt về thông tin hoặc dữ liệu làm tăng hoặc
giảm ít nhất 1% đơn giá sản phẩm giao dịch hoặc khác biệt về thông tin hoặc dữ
liệu làm tăng hoặc giảm ít nhất 0.5% tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời
- “Biên độ giá thị trường” là tập hợp các giá trị về mức giá hoặc là tập hợp
các giá trị về tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc là tập hợp các giá trị về tỷ suất sinh lời của sản phẩm được xác định từ các GDĐL được chọn để so sánh
- “Cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế” là các thông tin, dữ liệu liên quan đến
việc xác định nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp do cơ quan thuế thu thập, phân tích, lưu giữ, cập nhật và quản lý từ các nguồn khác nhau
2.1.1.2 Khái niệm “Chuyển giá” (Tranfer pricing)
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động chuyển giá, chuyển nhượng đối với các MNCs với nhiều cách tiếp cận, mục
Trang 3224
tiêu, phương pháp nghiên cứu khác nhau để làm rõ khái niệm về chuyển giá Tiêu
biểu là nghiên cứu của các tác giả:
Theo Baistrocchi R.Roxan I (2012), “Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ
quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua bán sản phẩm, nguyên vật liệu…giữa các công ty trong cùng một tập đoàn, không theo giá thị trường nhằm thu được lợi nhuận cao nhất [109]
Theo Andrew Lymer & Jonh Hasseldine, The Internatinal Taxation System, Kluwer Academic Pblishers “Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá
đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu” [107].
Theo BorKowski Susan C (1997), “Chuyển giá là một chiến lược về giá cả
hàng hóa hữu hình và dịch vụ vô hình chuyển giao giữa công ty mẹ và các công ty con, hoặc giữa các công ty con với nhau, để tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu thuế, duy trì mục tiêu đồng dư, và/hoặc đánh giá kết quả quản lý Các chuyển đổi đó có thể xảy ra đối với các công ty cùng ở trong nước hoặc các công ty giao dịch xuyên biên giới Đây chỉ là hoạt động chuyển đổi giá quốc tế, tức là cho mượn tiềm năng chuyển đổi thu nhập và tái phân bổ thuế xuyên quốc gia để mang lợi cho các MNCs” [110, tr 322]
Theo OECD (2010): “Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá
đối với sản phẩm (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, dịch vụ, lãi tiền vay) được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường, nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết trên toàn cầu” [67]
Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý của Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã tiếp cận khái niệm về chuyển giá ở nhiều góc độ khác nhau, song cơ bản thống nhất với các nhà nghiên cứu quốc tế và OECD về khái niệm chuyển giá
Theo PGS.TS Trần Xuân Hải (2012), “Chuyển giá là một hành vi do các
chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong
Trang 3325
quan hệ với các bên liên kết hay đơn giản hơn là không theo giá thị trường, đối tượng chính của hành vi ấy là giá cả” [41, tr.30]
Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ (2012), “Chuyển giá được hiểu là một hoạt
động được sắp đặt trước bởi các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ liên kết làm thay đổi mức giá trong quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, tài sản (hoặc bất kỳ đối tượng nào của giao dịch) có sự khác biệt so với giá thị trường Mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hóa lợi nhuận của cả một nhóm có quan hệ liên kết kinh tế (tập đoàn, công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có mối quan hệ liên kết) trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ về thuế [15, tr.13].
Theo TS Nguyễn Minh Phong (2012), “Chuyển giá là hành vi xuất phát từ
quyền tự do định đoạt trong kinh doanh và mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết để thực hiện chính sách chuyển giao sản phẩm (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, dịch vụ; vay, mượn vật tư, tiền vốn) giữa các thành viên của cùng một tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường, nhằm tối thiểu hóa nghĩa vụ tính thuế, nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong tập đoàn dựa vào chính sách ưu đãi thuế hoặc sự khác biệt về thuế suất giữa các vùng, miền hay quốc gia”[68, tr.136]
Theo TS Phạm Hùng Tiến (2012), “Chuyển giá là việc xác định bằng tiền
đối với một loại hàng hóa hay sản phẩm nào đó, tuy nhiên chỉ bao hàm những mặt hàng mà các bên giao dịch không phải mua từ bên ngoài (hay bên thứ ba), tức là những mặt hàng được trao đổi giữa các đơn vị thành viên trong phạm vi của một doanh nghiệp với nhau - còn gọi là các chủ thể có mối quan hệ liên kết Khái niệm chuyển giá chỉ áp dụng cho những tập đoàn gồm tập hợp nhiều doanh nghiệp (đơn vị) liên kết có tư cách pháp nhân độc lập, hoặc các chủ thể kinh tế cơ cấu theo mô hình công ty mẹ, công ty con và có hoạt động kinh doanh quốc tế” [95, tr.36]
Từ các khái niệm trên cho thấy hầu hết các nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam thời gian qua đều có cùng quan điểm, (i) Chủ thể thực hiện hoạt động chuyển giá là các tập đoàn, công ty đa quốc gia, hay nhóm các công ty có mối quan
hệ liên kết; (ii) Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch
Trang 3426
vụ và tài sản không theo giá thị trường (giá giao dịch giữa các bên độc lập); (iii)
Chuyển giá chủ yếu được thực hiện thông qua các giao dịch qua biên giới; (iv)
Chuyển giá nhằm mục đích chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao (hoặc nơi
không được ưu đãi thuế) về nơi có thuế suất thấp (hoặc nơi được ưu đãi thuế) nhằm
tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các (MNCs) trên toàn cầu
Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng ngoài các MNCs thực hiện chuyển giá còn có các DN trong nước, các DN sân sau của các DN nhà nước, chủ sở hữu các DN có quan hệ thân nhân với nhau cũng có thể thực hiện hành vi chuyển giá thông qua lợi dụng những chính sách ưu đãi thuế, ngoài ra các MNCs chuyến giá còn nhằm nhiều mục đích khác như để thu hồi vốn nhanh, chiếm lĩnh thị trường, thôn tính đối tác…
Các nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam đều cho rằng, giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch có quan hệ liên kết, xuất phát từ: (i) Quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá của một giao dịch, do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn; (ii) Do mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục; (iii) Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ
Chắt lọc những hạt nhân hợp lý từ những khái niệm nói trên, có thể khái quát chung về khái niệm “chuyển giá” như sau:
“Chuyển giá là một thuật ngữ quốc tế phản ánh cách tính giá có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường trong các giao dịch kinh tế thuộc nội bộ giữa các bên trong cùng một tập đoàn, công ty đa quốc gia nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, trong đó mục tiêu chủ yếu là tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế phải nộp và tối đa hóa lợi nhuận của tập đoàn, công ty đa quốc gia” Trong luận án này chỉ tập trung nghiên
cứu về hoạt động chuyển giá với mục tiêu trốn thuế ở nước nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 3527
Hiểu đúng và nắm chắc khái niệm chuyển giá đóng vai trò quan trọng trong
tổ chức chống chuyển giá Khảo sát 190 cán bộ công chức thuế trực tiếp làm công tác thuế đối với DN có vốn FDI cho thấy chỉ có 34,2% hiểu rõ khái niệm này và 40% hiểu một cách đại khái, thậm chí có 3 cán bộ trả lời là không hiểu gì về khái niệm chuyển giá
Với nội dung như đã nêu trên, trong khái niệm về chuyển giá có một số khái niệm cụ thể được hiểu như sau:
2.1.1.3 Khái niệm: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”
Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3, Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày
29/11/2005 của Việt Nam, định nghĩa: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [75]
Theo quy định tại Khoản 14, Điều 3, Luật Đầu tư số: 67/2014/QH13 ngày
26/11/2014 của Việt Nam, định nghĩa: “ Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc
tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” [78]
Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thành lập DN có vốn FDI theo các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật doanh nghiệp Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các cam kết quốc tế, pháp luật về
DN và về đầu tư áp dụng riêng đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư có điều kiện, quy định trong việc thành lập công ty cổ phần, DN tư nhân, thủ tục đầu
tư, đầu mục hồ sơ dự án và địa điểm thực hiện đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định trên có thể hiểu khái niệm DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam là hình thức
đầu tư mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập
Trang 36hoạt động ở các quốc gia khác nhau
Công ty đa quốc gia khác với công ty quốc tế, vốn là tên gọi chung chung của một công ty nước ngoài tại một quốc gia nào đó Nó thể hiện quyền sở hữu tập trung, khi mà các chi nhánh, công ty con trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằng ngày không hoàn toàn giống nhau Các MNCs hoạt động thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa
Dựa vào mô hình tổ chức của các MNCs, cho thấy hiện nay trên thế giới có
ba loại mô hình của các MNCs:
(i) Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang”, các công ty, chi nhánh có mô hình quản lý gần giống nhau, sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau Mô hình tổ chức này phổ biến trong các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, thương mai (ví dụ: McDonalds)
(ii) Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc”, mô hình tổ chức của các công ty đảm nhận những công đoạn sản xuất khác nhau, tạo ra sản phẩm không hoàn toàn giống nhau, có các cơ sở sản xuất ở một số nước khác nhau (ví dụ: ADidas)
(iii) Công ty đa quốc gia “nhiều chiều”, có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau, song mô hình tổ chức của các MNCs theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)
2.1.1.5 Khái niệm “Các bên có quan hệ liên kết”
Trang 3729
Theo hướng dẫn của OECD (2010) xác định doanh nghiệp có quan hệ liên kết khi: (i) Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trung gian; (ii) Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua trung gian [67]
Theo quy định của Chính phủ Việt Nam tại Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày
22/4/2010: “Các bên có quan hệ liên kết” là cụm từ được sử dụng để chỉ các bên có
mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp: (i) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia; (ii) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác; (iii) Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác [8, tr 2]
Trong thực tế, các doanh nghiệp tự do cạnh tranh, mua, bán hàng hóa theo giá thị trường, nhưng khi bên mua và bên bán có chung lợi ích thì thường họ thỏa thuận với nhau về giá cả hàng hóa, dịch vụ… nhằm đạt được mục tiêu chung của các bên có quan hệ liên kết
Như vậy, chuyển giá cũng được hiểu là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng việc định giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ cao hơn hoặc thấp
hơn giá thị trường trong quan hệ với các bên liên kết; “Quan hệ liên kết” là một
trong những điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện chuyển giá
2.1.1.6 Khái niệm “Chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”
Từ các khái niệm trên đây, có thể thấy hầu hết các DN có vốn FDI đều có quan hệ liên kết trong kinh doanh Chuyển giá trong các DN có vốn FDI là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường, nhằm tối thiểu hóa số thuế của các MNCs
Trang 3830
Từ việc khái quát các nhận thức trên về chuyển giá và trên cơ sở đặc điểm của khái niệm, là luôn vận động và phát triển theo tính quy định của thực tiễn, cũng như tuân thủ nguyên tắc của logic hình thức, đi tới tổng hợp một cách hiểu về khái niệm “chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài” như
sau:
Chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực
chất là việc ấn định giá chuyển nhượng hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp thành viên có quan hệ liên kết với nhau theo giá nội bộ, không theo giá thị trường, nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp để tối đa hóa lợi nhuận của toàn doanh nghiệp
Vậy, chuyển giá là một hoạt động mang tính chủ quan, là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn nhưng không theo giá thị trường, không theo quy luật cung cầu giữa công ty mẹ và công ty con, nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp của các MNCs trên toàn cầu
2.1.2 Các yếu tố thúc đẩy việc chuyển giá
Các MNCs không thể tự mình chủ quan trong việc tiến hành hoạt động chuyển giá mà hoạt động chuyển giá chỉ có thể diễn ra khi hội đủ một trong các yếu
tố thúc đẩy bên trong hoặc bên ngoài
2.1.2.1 Các yếu tố bên ngoài
- Sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia là nguồn gốc trực tiếp nảy sinh hoạt động chuyển giá, bởi để thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu số thuế phải nộp thì chuyển giá là một trong những công cụ hữu hiệu và đơn giản nhất đối với các MNCs
- Trên cơ sở dự báo về tình hình biến động của tỷ giá hối đoái, các MNCs thực hiện chuyển giá để thanh toán nội bộ sớm hơn hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro
về tỷ giá Các khoản nợ có thể được thanh toán sớm hơn nhưng nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng giá thì các MNCs có thể trì hoãn việc thanh toán các khoản nợ, việc chủ động trả nợ sớm hay trả nợ chậm sẽ giúp các MNCs
Trang 39để chuyển bớt lợi nhuận ra nước ngoài nhằm bảo toàn lợi nhuận và vốn đầu tư ban đầu [41, tr.31-33], [ 81, tr.129-130]
2.1.2.2 Các yếu tố bên trong
- Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của các MNCs hoặc các công ty thành viên trên các quốc gia khác bị thua lỗ, lúc này chuyển giá sẽ giúp cho các MNCs san sẻ khoản lỗ giữa các thành viên với nhau, từ đó làm giảm số thuế phải nộp và giảm bớt khó khăn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Các MNCs hình thành các công ty con và tìm kiếm những thị trường đầu tư mới để thỏa mãn mục đích là phân tán rủi ro, tránh những bất ổn do ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh sản xuất tại một quốc gia đơn nhất
- Xuất phát từ chiến lược kinh doanh, Các MNCs trong giai đoạn thâm nhập thị trường mới sẽ tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới, giảm giá hàng bán nhằm mở rộng hoặc chiếm lĩnh thị trường, do đó các MNCs chấp nhận chịu thua lỗ, dựa vào tiềm lực tài chính mạnh mẽ của mình, các MNCs sẽ thực hiện hoạt động chuyển giá để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗ càng kéo dài, sau đó đẩy các bên liên kết kinh doanh ra khỏi liên doanh và thôn tính quyền quản
lý doanh nghiệp
- Xuất phát từ nhu cầu đổi mới công nghệ, khi tham gia liên doanh, các MNCs góp vốn bằng tài sản, vật tư, hoặc khi bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp các công ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, có thể tránh được các rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm vì các hoạt động này thường tốn nhiều chi phí và khả năng thành công cũng
Trang 4032
không cao, mặt khác đã giúp các MNCs thu hồi vốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư [41, tr.31-33], [ 81, tr.129-130]
2.1.3 Mục đích của chuyển giá
Thương mại quốc tế giúp các công ty không chỉ khai thác tối đa các nguồn lực trong nước mà còn có thể khai thác những nguồn lực từ các quốc gia khác Khi các MNCs phát triển và mở rộng thị trường, thành lập các chi nhánh, công ty con ngoài biên giới, các công ty con này hoạt động chuyến giá với nhiều mục đích khác nhau
Thứ nhất, tối ưu hóa số thuế phải nộp:
Hình 2.1 - Mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tối ƣu hóa số thuế phải nộp
Hiện nay, luật pháp của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới không quy định cụ thể hành vi “lách thuế/tránh thuế” của các doanh nghiệp là hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp và điều này đã tác động không nhỏ đến hoạt động chuyển giá tại các MNCs trên phạm vi toàn cầu và diễn ra ở hầu hết các MNCs có cấu trúc phức tạp, với nhiều công ty con ở các nước khác nhau
Một công ty con trong số đó có thể cung cấp nguyên liệu thô, sau đó nguyên liệu này sẽ được tiếp tục chế biến ở một quốc gia và bằng sáng chế lại được cấp ở một nơi khác…các công ty đa quốc gia tìm kiếm những cơ hội cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận từ việc tận dụng lợi thế so sánh của các nước sở tại thông qua việc lợi dụng các thị trường có mức thuế suất thấp và tìm kiếm ưu đãi về đầu tư Theo đó, thay vì trả đủ thuế TNDN tại một quốc gia (nơi hoạt động sản xuất kinh