1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Người đọc nhìn từ thực tiễn tiếp nhận văn học việt nam đầu thế kỷ XXI

175 250 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, nghiên cứu về người đọc trong hoạt động tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI để chỉ ra các đặc điểm, lý giải và đề xuất các vấn đề dưới ánh sáng của tư duy lý luận

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ HOÀNG HÀ

NGƯỜI ĐỌC – NHÌN TỪ THỰC TIỄN TIẾP NHẬN VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, những kết luận, nhận định trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 05 tháng 7 năm 2017

Tác giả luận án

Hà Hoàng Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 11

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ NGƯỜI ĐỌC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN LÝ THUYẾT 29

2.1 Khái niệm Người đọc 29

2.2 Các quan niệm về người đọc 31

2.3 Phân biệt một số kiểu người đọc 54

Tiểu kết chương 2 58

CHƯƠNG 3: NGƯỜI ĐỌC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỰC TIỄN 59

3.1 Khái quát về diện mạo văn học 59

3.2 Các vấn đề xung quanh thị hiếu thẩm mĩ của người đọc 73

3.3 Hoạt động tiếp nhận nhìn từ các phương diện của thực tiễn tiếp nhận văn học 86 Tiểu kết chương 3 108

CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ CHỈ SỐ NHẬN DIỆN NGƯỜI ĐỌC 109

4.1 Các yếu tố tác động đến người đọc 109

4.2 Các chỉ số nhận diện đặc điểm của người đọc 120

4.3 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn tiếp nhận 140

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Người đọc luôn là một bộ phận quan trọng gắn bó hữu cơ với quá

trình sáng tạo, và rộng hơn là quá trình lịch sử văn học Tùy theo ảnh hưởng của những hệ thống quan niệm, người ta đưa ra những lý thuyết khác nhau về người đọc ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn Trong lịch sử nghiên cứu có lúc vai trò người đọc bị xem nhẹ so với nhà văn và tác phẩm, nhưng cũng có lúc được đánh giá cao đến mức cực đoan bất chấp thực tại lịch sử và logic nghệ thuật Quan tâm đến vấn đề người đọc, do vậy không chỉ có các nhà nghiên cứu lý thuyết mà còn

có các nhà nghiên cứu thực tiễn lịch sử văn học

1.2 Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay có thể xem như một

giai đoạn khởi đầu cho một tiến trình văn học mới với rất nhiều đặc điểm, đặc trưng mới, trong đó người đọc đang nổi lên như một vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu và lý giải Ở đây không chỉ nảy sinh vấn đề giữa lý thuyết với thực tiễn mà còn nảy sinh hàng loạt vấn đề về người đọc với tư cách là chủ thể tiếp nhận với quá trình sáng tạo, đánh giá và thưởng thức nghệ thuật Thực tế cho thấy, người đọc đã tác động, chi phối không nhỏ đến quá trình sáng tác, tới thị hiếu thẩm mĩ và hệ giá trị nghệ thuật Do vậy, nghiên cứu về người đọc trong hoạt động tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI để chỉ ra các đặc điểm, lý giải và đề xuất các vấn đề dưới ánh sáng của tư duy lý luận nhằm rút ra các kết luận khoa học được đặt ra như một yêu cầu khách quan Kết quả nghiên cứu này không chỉ mang lại những nhận thức mới về lịch sử văn học mà còn góp phần làm sáng tỏ một trong những vấn đề lý luận khá cơ bản đang được giới nghiên cứu quan tâm hiện nay: vấn đề người đọc

1.3 Ngoài ra, đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần tích cực vào

việc làm phong phú thêm nguồn tư liệu về lý thuyết và thực tiễn tiếp nhận văn học ở nước ta hiện nay Đặc biệt là quá trình vận dụng vào thực tiễn giáo dục các bậc học như phổ thông, cao đẳng, đại học

Trang 5

Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu vấn đề:

Người đọc – nhìn từ thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tập trung tìm hiểu những vấn đề lý luận về tiếp nhận và người đọc, từ đó soi chiếu vào thực tiễn tiếp nhận văn học nước ta trong 15 năm đầu thế kỷ XXI để thấy được nhận thức, thị hiếu thẩm mĩ của người đọc đương đại, đặc biệt từ đó nhận diện người đọc đương đại với những đặc điểm cơ bản và đưa

ra đánh giá về thực trạng độc giả văn học đương đại

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đặt ra nhiệm vụ giới thiệu tổng quan về lý thuyết tiếp nhận văn học

ở phương Tây, phương Đông và ảnh hưởng của lý thuyết tiếp nhận vào Việt Nam; Phác thảo diện mạo văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI; Tìm hiểu nhận thức, thị hiếu thẩm mĩ của người đọc văn học đương đại Từ đó chỉ ra các đặc điểm cơ bản của người đọc văn học hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là người đọc nhìn từ thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

3.2 Phạm vi nghiên cứu, khảo sát

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực tiễn văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào khâu người đọc

Phạm vi khảo sát của đề tài kết hợp điều tra, khảo sát tình hình tiếp nhận văn học của người đọc văn học Việt Nam hiện nay bằng phiếu hỏi trực tiếp, cũng như khảo sát, nghiên cứu, tổng hợp các nguồn thông tin tư liệu liên quan đến đề tài đã được công bố

Phạm vi điều tra xã hội học của đề tài là người đọc văn học trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể chúng tôi đã phát ra 507 phiếu điều tra cho sinh viên Khoa Quan hệ công chúng & Truyền thông - trường Đại học Hòa Bình; học viên

Trang 6

Khoa Điều dưỡng (hệ liên thông) - trường Đại học Thành Tây, và sinh viên Khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương cơ sở tại Viện Công nghệ thông tin & Truyền thông, Mỹ Đình, Hà Nội Chúng tôi lựa chọn các đối tượng khảo sát trong độ tuổi từ 18 đến 40, trên địa bàn Hà Nội, là những sinh viên, hoặc những người đã đi làm nhưng vẫn muốn hoàn thiện bằng cấp của mình đang theo học các chuyên ngành khác nhau (có hoặc không liên quan tới Văn học) với mong muốn bằng sự năng động và khát khao của tuổi trẻ, trong một môi trường là trung tâm văn hóa chính trị, kinh tế của cả nước, các đối tượng trong khảo sát nói trên sẽ cho ra những kết quả khảo sát khách quan nhất phục vụ đề tài nghiên cứu

Trong phạm vi luận án và nỗ lực cá nhân, những điều tra nói trên chỉ phần nào phục vụ được mục tiêu luận án, chúng tôi cũng xin phép được tham khảo và sử dụng kết quả điều tra của một số công trình nghiên cứu đi trước đã được công bố

rộng rãi như Công chúng, giao lưu và quảng bá văn học trong thời kỳ đổi mới, cơ

quan chủ trì: Viện Văn học, do PGS Tôn Thảo Miên làm chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu năm 2012 và in thành sách năm 2014 tại Nhà xuất bản Khoa học xã hội; Luận

án Sự phân hóa thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học Việt Nam đương đại của

tác giả Vũ Thị Thu Hà, bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội;

Báo cáo tổng hợp đề án Lý luận văn nghệ ở Việt Nam – Thực tiễn và định hướng phát triển, cơ quan chủ trì: Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung

ương do PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh làm chủ nhiệm đề tài, Bộ Khoa học và Công nghệ nghiệm thu năm 2016 và một số công trình, nguồn tài liệu đã được công bố rộng rãi khác

4 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Để nghiên cứu người đọc từ thực tiễn tiếp nhận, bên cạnh việc kết hợp

giữa hai hệ thống mỹ học macxit và mỹ học phương Tây về tiếp nhận văn học làm sơ sở lý thuyết, chúng tôi kết hợp với lý thuyết xã hội học văn học khi

nghiên cứu người đọc từ thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu

Trang 7

thế kỷ XXI Do vậy, cơ sở lý luận của luận án có thể xem là sự kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, bằng cách nghiên cứu người đọc dưới ánh sáng của lý thuyết tiếp nhận trên cơ sở khảo sát, phân tích thực tế theo phương pháp xã hội học

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

4.2.1 Phương pháp hệ thống

Người đọc là một vấn đề không mới nhưng chưa được hệ thống hóa một cách khoa học và hợp lý Phương pháp nghiên cứu này giúp chúng tôi nhận diện những biểu hiện thành hệ thống trong các đối tượng riêng lẻ, để xác định những biểu hiện ấy thành quy luật chung, thành đặc điểm chung phổ biến của toàn bộ đối tượng nghiên cứu

4.2.2 Phương pháp thống kê

Phương pháp nghiên cứu này không tách rời với phương pháp trên Sử dụng phương pháp thống kê giúp cho việc nghiên cứu đề tài không chỉ là định tính mà còn mang tính định lượng tạo khả năng triển khai đề tài mạch lạc, logic

và hợp lý

4.2.3 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện

đề tài nhằm tìm ra sự khu biệt giữa đối tượng nghiên cứu của luận án với các đối tượng văn học khác nhằm thấy được những nét đặc trưng riêng biệt của đề tài

nghiên cứu

4.2.4 Phương pháp xã hội học

Nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận đòi hỏi phải nghiên cứu ở cả bình diện lý thuyết lẫn thực tiễn, bởi thế, phương pháp xã hội học là một phương pháp hữu hiệu để chúng tôi có thể đưa ra những nhận xét chính xác về tình hình tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 8

4.2.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng tri thức của nhiều ngành khác nhau như tâm lí học, văn hóa học, diễn ngôn giới để làm sáng tỏ đời sống tiếp nhận văn học sôi động và phức tạp những năm đầu thế kỷ XXI

Cụ thể, để đạt được các kết quả nghiên cứu đã đề ra trong luận án, ngoài các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, chúng tôi vận dụng phương pháp điều tra liên ngành xã hội học văn học khi phân tích, để phần nào làm rõ những đặc trưng của đối tượng người đọc, phục vụ mục tiêu nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học được chúng tôi triển khai bao gồm:

+ 12 câu hỏi phỏng vấn dành cho đối tượng nghiên cứu;

+ 507 phiếu điều tra;

+ Mẫu chọn: 507 mẫu chọn ngẫu nhiên là người đọc văn học thuộc các ngành liên quan hoặc không liên quan đến Văn học ở độ tuổi từ 18-40, đến từ nhiều vùng miền khác nhau, là sinh viên, học viên trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Luận án là một trong những công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu

một cách hệ thống về người đọc văn học Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ XXI với

tư cách là một đối tượng đang vận động, đang diễn ra Bằng việc chỉ ra các đặc điểm cơ bản của người đọc đương đại, luận án góp phần nhận diện gương mặt người đọc văn hôm nay Trên cơ sở đó lý giải một số hiện tượng, vấn đề của lịch

sử văn học đương đại

5.2 Từ việc tìm hiểu những đặc điểm của người đọc văn học đương đại

luận án góp phần chỉ ra những vấn đề trong thực tiễn đời sống văn học nhằm phát triển hoạt động đọc sách của công chúng, góp phần hình thành thị hiếu lành mạnh, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ và cảm xúc cho con người, đặc biệt là những

người Việt trẻ

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần chứng

minh tính khả dụng của lý thuyết, cung cấp luận cứ khoa học cho việc nhận thức,

Trang 9

lý giải các hiện tượng, các vấn đề nảy sinh trong hoạt động đọc và tiếp nhận của người đọc

6.2 Về mặt thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu, chỉ ra thực trạng người đọc

văn học những năm đầu thế kỷ XXI, luận án góp phần định hướng tiếp nhận, định hướng thẩm mỹ, nâng cao vai trò của người đọc và hoạt động đọc trong sự

phát triển của văn học , từ đó góp phần định hướng cho hoạt động phê bình

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận án gồm

4 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Vấn đề người đọc nhìn từ phương diện lý thuyết

Chương 3 Người đọc nhìn từ phương diện thực tiễn

Chương 4 Các yếu tố tác động và chỉ số nhận diện người đọc

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Người đọc là vấn đề được nghiên cứu trong nhiều công trình của các học giả nước ngoài Điểm diện những công trình đã được công bố trên sách, báo, tạp chí về vấn đề người đọc có thể thấy, đây là một trong số những vấn đề trọng tâm của lý luận văn học

Từ năm 1931, trong công trình Tác phẩm văn học [134,tr.155-188],

Roman Ingarden đã vận dụng Hiện tượng học để lí giải về tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc Ông cho rằng, tác phẩm văn học là một khách thể mang tính chủ ý nên nó chịu sự tác động có ý thức của người đọc Tác giả xem việc đọc của người đọc là sự ―cụ thể hóa‖ văn bản văn học thông qua những hoạt động phê bình, phân tích, giải thích và biểu diễn sân khấu Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn tác phẩm văn học có được sự đón nhận khác nhau của công chúng R.Ingarden quan niệm: ―Khi người ta đón nhận tác phẩm một cách đơn giản qua

sự cụ thể hóa nào đó, thì sự thay đổi như thế có thể xảy ra, nếu người đọc - như vẫn thường xảy ra - không ý thức được cho bản thân những khả năng của sự cụ thể hóa đó, đồng nhất nó với tác phẩm văn học và ngây thơ để ý tới tác phẩm được nghĩ ra này một cách có chủ ý Lúc này người đọc cho rằng những gì liên quan đến nội dung của sự cụ thể hóa đều là nội dung của tác phẩm‖ [134,tr.l86] Theo ông, tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định mà là một quá trình và luôn trong trạng thái động mặc dù ông vẫn chú ý đến vai trò của văn bản trong sự tồn tại khách quan với tác phẩm và đề cao vai trò của người đọc thuần túy, người đọc lý tưởng

Năm 1960 trong công trình Chân lí và phương pháp [dẫn theo 37,tr.84],

Hans Georg Gadamer - nhà triết học người Đức, đã chú ý nghiên cứu, khám phá mối quan hệ giữa văn bản và người đọc từ quan điểm Tường giải học Ông nhấn mạnh phương thức tồn tại của tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc thông qua quá trình ―tạo nghĩa‖ văn bản Ông đi tìm câu trả lời cho các câu

Trang 11

hỏi: Nghĩa của văn bản văn học thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chủ ý của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có sự hiểu khách quan hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào những tình thế lịch sử cụ thể? Có thể hiểu được những tác phẩm mà về mặt lịch sử và văn hóa là xa lạ đối với người đọc hay không? Cho nên, tác phẩm văn học được ông đặt trong ―tính đối thoại‖, như một cấu trúc tiếp diễn mà ở đó có

sự hiện diện của người đọc, nhờ có hoạt động đọc và hiểu tác phẩm của người đọc mà văn bản trở thành tác phẩm văn học [dẫn theo 37,tr.84] Gadamer đã khẳng định và đề cao vai trò, vị trí quan trọng của người đọc trong phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, đồng thời tạo tiền đề cho sự ra đời của Mỹ học tiếp nhận những năm 1960

Trong một công trình được xuất bản ở Đức lần đầu tiên vào năm 1970 trên cơ sở những bài giảng của Hans Robert Jauss, sau đó được nhà nghiên cứu

Trương Đăng Dung giới thiệu và dịch ở Việt Nam với tên gọi Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học [84,tr.71-l12] đăng lần đầu trên

Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1/2002, mà nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung xem là ―tuyên ngôn của mỹ học tiếp nhận‖ [37,tr.106], H.R.Jauss cho rằng: không thể hình dung được sự tồn tại của tác phẩm văn học nếu thiếu sự tham dự tích cực của người đọc [84,tr.71-112] Trong quá trình nghiên cứu về mối quan

hệ giữa tác phẩm và người đọc, H.R.Jauss đã đưa ra khái niệm ―tầm đón đợi‖,

―khoảng cách thẩm mĩ, ―kinh nghiệm thẩm mĩ‖ để có thể ―nắm bắt được về mặt lịch sử trên phạm vi của những phản ứng của công chúng và sự phán xét phê bình‖ [84,tr.71-112] Nếu như H.R.Jauss quan tâm về ―người đọc lịch sử‖ thì W.Iser, người học trò xuất sắc của ông lại lưu ý đến vai trò của ―người đọc tiềm ẩn‖ – loại người đọc có trong chủ ý của tác giả, là ý hướng của tác giả khi sáng

tạo tác phẩm Trong công trình Hoạt động đọc [dẫn theo 37,tr.112], W.Iser

―nhấn mạnh đến khả năng hợp tác lớn hơn của người đọc với văn bản văn học‖ [dẫn theo 37,tr.112] Theo ông, sự có mặt của người đọc tiềm ẩn xuất hiện trước khi có văn bản văn học Còn đối với người đọc cụ thể, ông cho rằng văn bản văn học luôn tồn tại một ―kết cấu vẫy gọi‖ còn người đọc luôn sẵn có một ―tầm đón đợi‖ để thưởng thức tác phẩm văn học Những khám phá và tìm tòi mới mẻ của

Trang 12

hai thầy trò H.R.Jauss và W.Iser đã mở ra tư duy mới cho lý luận văn học, trong

đó, người đọc được coi là trung tâm của tác phẩm văn học, có vai trò quyết định

sự tồn tại, và xác lập các giá trị cho tác phẩm

Trong công trình Văn bản là gì [135,tr.113-156], nhà tường giải học

người Pháp Paul Ricoeur nhấn mạnh đến vai trò của người đọc trong sự đối sánh với hành vi giao tiếp cụ thể Theo ông, ―văn bản như là cái được viết ra, nó chờ đợi được đọc và mời gọi đọc Có được sự đọc là nhờ văn bản không khép kín mà luôn mở ra sự việc khác‖ [135,tr.136] Tuy thế, Paul Ricoeur mới chỉ đặt văn bản văn học trong hoạt động tường giải chứ chưa đi vào khám phá mối quan hệ

tương tác giữa văn bản và người đọc Năm 1982, trong công trình Đi tìm sự thật biết cười phần Thi pháp tác phẩm Mở [59.tr.136], nhà ký hiệu học người Ý

Umberto Eco đã đưa ra hướng nghiên cứu mới về tác phẩm văn học và chỉ ra những giới hạn của sự tiếp nhận văn học Ông lưu ý rằng giới hạn là sự diễn giải

có từ văn bản ―khiến cho tính chất mở của tác phẩm trong sự tiếp nhận của người đọc là có giới hạn‖ khi nghiên cứu ―tính chất mở‖ của tác phẩm văn học Ông viết: ―Một tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc hoàn thành và đóng kín trong cái tính duy nhất của nó, Cho nên mỗi sự đón nhận một tác phẩm nghệ thuật thì vừa là một sự diễn giải nó lại vừa là một sự diễn tấu nó, vì rằng ở mỗi

sự đón nhận, tác phẩm đều mang lại một triển vọng mới mẻ cho chính nó‖ [59,tr.136] Có thể hiểu rằng, người đọc lý giải tác phẩm phù hợp với hệ thống những chuẩn mực mà cộng đồng đã thừa nhận Vì vậy mới có hiện tượng cùng nói về một văn bản nhưng mỗi người đọc, mỗi cộng đồng sẽ có những giải mã

và thụ cảm khác nhau Điều đó giải thích sự thăng trầm của số phận nhiều tác giả, tác phẩm trong lịch sử văn học

Nếu thời kỳ hiện đại, lý thuyết tiếp nhận chú ý nhiều đến văn bản - tác phẩm văn học thì bước sang thời kỳ hậu hiện đại, vai trò của người đọc được đề cao, và đưa lên vị trí trung tâm thông qua các nghiên cứu của các lý thuyết gia hậu hiện đại như: J.Derrida, R.Barthes, Foucault, Thế kỷ XIX, XX ở phương Tây đánh dấu sự ra đời của xã hội học và xã hội học văn học với các tên tuổi nổi tiếng như: Auguste Comte, Karl Marx, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Max

Trang 13

Weber, các nhà xã hội học văn học với các trường phái khác nhau: H.Taine, De Stael, G.Lanson, R.Escarpit (thuộc trường phái Bordeaux), H.Robert Jauss (thuộc trường phái Konstanz), trong đó vấn đề người đọc đã được bàn đến trong nghiên cứu của R.Escarpit, H.R.Jauss, hay các bài viết của John Hall, Luccien Goldmann

Nhà mỹ học người Đức Manfred Naumann (chủ biên) cho ra đời tập sách

Xã hội, Văn học, Sự đọc vào năm 1978 [dẫn theo 184,tr.3-23] đã nhìn vấn đề

tiếp nhận ở một khía cạnh khác Trên cơ sở xem xét mối quan hệ biện chứng giữa sáng tác và tiếp nhận, tác phẩm và người đọc, giữa viết văn và đọc văn dựa trên mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng theo lý thuyết của Marx, M.Naumann làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các phạm trù, trong đó ông chú ý phân tích vấn đề tiếp nhận thông qua sự đọc, phương thức đọc ―đọc văn

học chứ không phải đọc thứ gì khác‖ [184,tr.11] Về các khái niệm người đọc, người nhận, sự đọc, M.Naumann đề cập đến mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu

dùng Xuất phát điểm của ―Sản xuất văn học‖ là tác giả, tác phẩm còn kết thúc của ―tiêu dùng‖ giao tiếp văn học là ―tiếp nhận văn học, người đọc‖[184,tr.12]

Từ sự phân định đó, M.Naumann đã chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại của các phạm trù này ―Không chỉ sản xuất văn học làm cho tiếp nhận văn học vận động

mà tiếp nhận văn học cũng làm cho sản xuất văn học vận động, là tác giả không chỉ tạo ra công chúng của mình mà công chúng cũng tạo nên tác giả, là không chỉ tác phẩm tác động vào người đọc mà người đọc cũng tác động vào sản xuất các tác phẩm và như vậy tiếp nhận không chỉ là điểm kết thúc mà còn là điểm xuất phát của sự sản xuất văn học mới‖ [184,tr.l3] Để phân tích rõ hơn về mối quan hệ giữa ―sản xuất‖ và ―tiêu dùng‖ văn học, M.Naumann còn đề cập các

―khâu trung gian‖ tác động đến mối quan hệ này, đó là thiết chế xã hội, nhà xuất bản, nhà sách, quảng cáo sách, các nhà nghiên cứu phê bình Sự tiếp cận của M.Naumann dựa trên quan điểm xã hội học mácxít trên nền học thuyết của K.Marx đã mở ra hướng nghiên cứu và tìm tòi mới về vị trí và vai trò của người đọc trong việc hoàn kết các giá trị của văn học Nhưng hạn chế của M.Naumann

là ở chỗ đã đề cao một cách tuyệt đối vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn

Trang 14

học; trong tác động xã hội - người đọc; trong mối quan hệ biện chứng giữa nhà văn - người đọc, giữa văn bản - người đọc, giữa sản xuất văn học và tiêu thụ văn học mà chưa có những lý giải và phân tích cụ thể, sinh động về người đọc với đặc điểm chung và riêng trong tiếp nhận văn học

Như vậy, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều thể hiện quan điểm,

sự lí giải khác nhau về vấn đề người đọc và hoạt động tiếp nhận vă học qua từng thời kỳ, từng giai đoạn Việc đặt tác phẩm văn học trong mối hệ với người đọc là một hướng nghiên cứu có chủ đích liên quan đến vấn đề chủ thể tiếp nhận trong tiếp nhận văn học Quá trình từ hiện thực cuộc sống đến chủ thể sáng tạo, từ khách thể văn bản đến chủ thể tiếp nhận là quá trình vận động không ngừng Từ văn bản đến tác phẩm là một quá trình mà người đọc là sự hoàn kết hành trình quan trọng đó Tiếp nhận gián tiếp thông qua văn bản dịch, giới thiệu, các công trình nghiên cứu lý thuyết của các nhà nghiên cứu ngoài nước về người đọc và vai trò, vị trí của người đọc được chúng tôi đề cập ở trên là cơ sở lý thuyết, là tiền đề và là những lý giải quý giá cho quá trình nghiên cứu đề tài luận án Những thành tựu của các nhà nghiê cứu ngoài nước về lý thuyết tiếp nhận và người đọc chúng tôi xin được bàn đến sâu hơn trong chương 2 của luận án

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở nước ta, ứng dụng lý thuyết tiếp nhận vào nghiên cứu văn học đã trải qua một quá trình phát triển không thể nói là dài nhưng bước đầu đã có những thành tựu đáng kể Như nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện từng khẳng định trong bài

viết Vấn đề người đọc – tiếp nhận trong lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ đầu thế

kỷ XX đến nay vấn đề ―người đọc đã bắt đầu được quan tâm đề cập, nhưng lúc này

người đọc chỉ được xem như là đối tượng tiếp nhận thụ động văn bản tác phẩm do tác giả sáng tạo và đưa tới‖ [162] Theo đó, từ năm 1906, khi ban hành thể lệ cuộc

thi tiểu thuyết, Tòa soạn báo Nông cổ mín đàm đã lưu ý đến phải làm sao cho

người đọc cả thấy dường như là truyện có thật vậy [dẫn theo 162] Năm 1916,

Trần Thiên Trung trong Hoàng Tố Oanh hàm oan khẳng định truyện của ông

―nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng tầm thường cho mọi người dễ hiểu‖ Và đề cao vai trò tích cực của người đọc khi khẳng định người đọc không chỉ đọc thụ

Trang 15

động và bị chi phối bởi tác giả mà còn có ý kiến riêng của mình khi đọc tác phẩm [dẫn theo 162] Đến năm 1921, nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh cũng dành nhiều sự

quan tâm đến người đọc Trong chuyên luận Khảo về tiểu thuyết đăng trên Nam

Phong ông đã thể hiện quan niệm về ―người đọc‖ khi đặt ra vấn đề viết tiểu thuyết

là phải ―đủ làm cho người đọc có hứng thú‖ [dẫn theo 162] Năm 1939, trong bài

Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương: những khuynh hướng trong tiểu thuyết

(Tao Đàn), Hải Triều cho rằng khi ―viết một cuốn tiểu thuyết bao giờ nhà văn cũng có một chủ ý trình bày cùng độc giả một chủ nghĩa gì, một triết lý gì, hay không nữa thì cũng ghi lấy một ý nghĩ gì thoáng qua nhưng nó thiết tha, cảm động hay ngộ nghĩnh, khôi hài [dẫn theo 162]

Năm 1941-1942, Vũ Bằng trong chuyên luận cũng có tên Khảo về tiểu thuyết (đăng trên báo Trung Bắc Chủ nhật, đến năm 1955 xuất bản thành sách), đã

dành nhiều trang bàn về người đọc, trong đó nhà nghiên cứu khằng định ―Tiểu thuyết sở dĩ gây nên được những ảnh hưởng to lớn, tiểu thuyết đã tạo những bóng mây công đó không phải là toàn của những nhà tiểu thuyết đâu, nhưng còn là công của những người đọc tiểu thuyết‖ [dẫn theo 162]

Năm 1956, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Nghề viết văn, do tác giả tự xuất bản tại Sài Gòn, đã dành chương VI để khảo luận về Tâm lý độc giả và chương V về Lời phê bình của độc giả Theo Nguyễn Hiến Lê, ―Mỗi tác

phẩm khi đã bày ở trên sách là tìm những độc giả thích hợp với nó: chẳng hạn loại tiểu thuyết là loại tìm độc giả bình dân; khảo cứu tìm hạng trang lứa có học Nếu chính những độc giả đó phải chê là viết thiếu nghệ thuật hoặc khó hiểu quá thì nhà văn không còn tự bào chữa gì được nữa‖ [dẫn theo 162]

Năm 1960, trong Lời nói đầu cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, ―Nhất Linh xác

định mục đích viết cuốn sách này nhằm vào hai đối tượng: nhà văn viết tiểu thuyết

và độc giả đọc tiểu thuyết Theo ông, đọc sách có hai kiểu: đọc thầm lặng, vừa đọc vừa suy nghĩ và đọc thành tiếng, hay nghe người khác đọc Trong hai cách ấy, ông thiên về cách đọc lặng lẽ vì có như vậy mới có dịp bình tâm ―thưởng thức được hết những cái hay, ý nhị, sâu sắc và để hồn phiêu diêu vào một thế giới thanh tao, hoặc để tâm suy nghĩ về những điều đương đọc‖ [162] ―Với ông, độc giả là một

Trang 16

khối không thuần nhất, tức khả năng tiếp nhận của mỗi người đọc tuy khác nhau, nhưng cái chung là họ đều cần phải tìm đến những cái hay trong truyện để nâng mình lên, làm cho con người mình thanh cao hơn, sống có ý nghĩa, đẹp hơn Chính loại người đọc này là đối tượng lý tưởng nhất mà nhà văn tâm huyết cần hướng tới Đồng thời họ cũng thúc đẩy sự phát triển của văn học vì họ luôn luôn đòi hỏi nhà văn nâng cao trình độ nghệ thuật không ngừng‖ [162] Năm 1963, nhà

nghiên cứu Nguyễn Văn Trung trong cuốn Lược khảo văn học tập I, chương VI nhan đề Viết cho ai?, đã viết: ―Tác phẩm như con quay… Nó chỉ thực sự là tác

phẩm trong lúc nó được đọc, được xây dựng lại trong trí óc của độc giả, cũng như con quay chỉ là con quay thực sự trong lúc nó quay Tác phẩm văn chương thiết yếu đòi hỏi có sự tham dự của độc giả… Độc giả là một yếu tố cấu tạo của tác phẩm, vì nếu không có độc giả, thì không thể có tác phẩm được Tác giả, tác phẩm, độc giả là một, hay nói cách khác đó là những yếu tố cấu tạo vũ trụ văn chương‖ [dẫn theo 162] Vào những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề người đọc

đã được nhắc đến trong nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước Năm

1971, Tạp chí Văn học số 4 đăng bài của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống Bài viết đã đặt ra yêu

cầu nghiên cứu phản ứng của người đọc dựa trên quan điểm thực tiễn trong nhận thức lý luận của Lênin Trong đó nhấn mạnh ―Giá trị của một tác phẩm thực ra không phải chỉ đóng khung trong phạm vi sáng tác mà còn lan rộng đến phạm vi thưởng thức‖ [69, tr.91-99]

Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, vấn đề người đọc được nghiên cứu rộng rãi

và thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu qua nhiều bài viết, công trình Năm 1980, nhà nghiên cứu Hoàng Trinh đề cập đến vấn đề tiếp nhận văn học với tư cách là đối tượng của văn học so sánh Cùng thời điểm đó, nhà nghiên cứu Vương Anh

Tuấn với các bài viết: Vị trí vai trò tích cực của người đọc trong đời sống văn học (1982); Một vài tình hình tiếp nhận văn nghệ của công chúng những năm 80

(1983) đã khẳng định vai trò và vị trí tích cực của người đọc trong mối quan hệ với tác phẩm cũng như trong mối quan hệ sản xuất - tiêu thụ Nhà nghiên cứu Lê

Ngọc Trà trong bài viết Sự tồn tại của tác phẩm văn chương (1983) đã chỉ ra yếu

Trang 17

tố cá nhân và xã hội làm nên sự khác nhau của người đọc Trong đó, yếu tố chi phối mạnh đến người đọc là quan điểm chính trị - xã hội Trong mối quan hệ giữa tác phẩm - người đọc, thì người đọc được xem là yếu tố phụ, làm gia tăng nghĩa

cho tác phẩm Năm 1985, bài tổng thuật Tiếp nhận “mỹ học tiếp nhận” như thế nào của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân là bài giới thiệu, đánh giá khá đầy đủ về

mỹ học tiếp nhận và vai trò của độc giả trong sự tiếp nhận lý thuyết tiếp nhận ở

phương Tây vào Việt Nam Năm 1986, trong bài viết Giao tiếp trong văn học, nhà

nghiên cứu Hoàng Trinh cho rằng ―Trong đời sống văn học của chúng ta, đọc sách là một hành vi văn hóa - xã hội‖ [177, tr.9] Theo phân tích của tác giả, nhà sáng tác nào khi viết một tác phẩm cũng đều nhằm vào một số công chúng nhất định Vì vậy, ông chia công chúng ra các kiểu: công chúng theo ngành hoạt động; công chúng theo lứa tuổi; công chúng theo giới tính; công chúng theo vùng - miền, công chúng trước mắt - công chúng tương lai Từ đó, Hoàng Trinh đã coi thực tiễn việc đọc của độc giả là nơi thử thách và kiểm tra nghiêm ngặt các giá trị

và quan điểm Theo ông, giữa công chúng văn học và tác phẩm văn học; đời sống văn học và đời sống xã hội có ―sự giao tiếp‖ mật thiết với nhau, việc chỉ ra các yếu tố tác động đến công chúng trong bài viết của ông tạo nên hướng nghiên cứu chuyên biệt ở Việt Nam về người đọc vào thời điểm đó Trong đó, sáu yếu tố tác động đến việc hình thành công chúng văn học từ góc nhìn xã hội học văn học ông đưa ra bao gồm: nhu cầu; vốn sống; lập trường - quan điểm, trình độ tư tưởng -

chính trị; trình độ văn hóa; trình độ thẩm mĩ; cá tính của từng người đọc Giao tiếp trong văn học của nhà nghiên cứu Hoàng Trinh có thể xem là bài viết đầu tiên

nhìn nhận, đánh giá về công chúng và người đọc dưới góc độ xã hội học văn học Những nghiên cứu của ông từ góc độ liên ngành xã hôi học văn học là hướng nghiên cứu tích cực trong việc đánh giá vị trí quan trọng của người đọc trong đời sống văn học

Thập niên 90 của thế kỷ XX, vấn đề người đọc và công chúng văn học được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Trên tinh thần đổi mới, sau năm

1986, nhiều vấn đề của đời sống văn học được soi chiếu trên các bình diện trong

đó có tiếp nhận văn học Năm 1990, bài Tiếp nhận văn học một số vấn đề thời sự

Trang 18

đăng Tạp chí Văn Nghệ số 28 (7/1990) của nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng

đã nhấn mạnh đến quá trình biến đổi từ chủ thể tiếp nhận thành chủ thể của văn học và chỉ ra vấn đề tiếp nhận trong quan hệ văn học và hiện thực chính là mối quan hệ tác động qua lại giữa nhà văn và bạn đọc

Năm 1990, bài viết Quan hệ văn học – hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ của nhà nghiên cứu Huỳnh Vân in trong công trình Văn học và hiện thực của Viện Văn học đã nhấn mạnh đến chức năng giao

tiếp của văn học Nhà nghiên cứu cho rằng: ―cần thiết phải nghiên cứu trên cả hai mặt lý luận và lịch sử văn học vấn đề tác động và tiếp nhận văn học và nghệ thuật ‖ [184, tr.221] Ông đề cập đến vấn đề cần quan niệm mối quan hệ văn học – hiện thực ở cả hai chiều: phản ánh và tác động, tiếp nhận, tức là khâu tác động

và tiếp nhận là không thể không được quan tâm trong nghiên cứu văn học Cũng trong năm 1990, nhà nghiên cứu Huỳnh Vân tiếp tục cho công bố một công trình

khác trên Tạp chí Văn học, đó là bài viết Nhà văn, bạn đọc và hàng hóa sách hay văn học và sự dị trị Trong bài nghiên cứu này ông cho rằng sách, như một sự tất

yếu khó tránh khỏi trong cơ chế thị trường, là một hình thức hàng hóa, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt Hai giá trị dị biệt cùng tồn tại trong một thực thể là hàng hóa sách, và ở đó, trong khâu trung gian giữa sáng tác và tiếp nhận văn học, là nơi những yếu tố kinh tế tác động vào văn học như một yếu tố dị trị Đến năm 2009, nhà nghiên cứu Huỳnh Vân trở lại vấn đề mỹ học tiếp nhận trong

công trình Vấn đề Tầm đón nhận và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss Bài nghiên cứu đã đưa ra những phân tích sâu sắc

về một trong những khái niệm then chốt của mỹ học tiếp nhận là tầm đón đợi

trên cơ sở phân tích quan niệm của Jauss về việc xác định tính nghệ thuật của tác phẩm văn học, được coi như là một yếu tố để xác định tính lịch sử của văn học Theo đó nhà nghiên cứu lưu ý đến một thực tế trong quá trình vận dụng mỹ học tiếp nhận ở Việt Nam là ―các tác giả đã không đưa ra những định nghĩa rõ ràng

về các khái niệm trên, cho nên kết quả nghiên cứu không tránh khỏi chung chung, mơ hồ‖ [186, tr.69) Năm 2010, tác giả Huỳnh Vân tiếp tục công bố

bài Hans Robert Jauss: lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận trên tạp chí Nghiên

Trang 19

cứu Văn học Trong bài nghiên cứu này, Huỳnh Vân trình bày và lý giải sâu hơn những luận điểm tiếp theo của H.R Jauss khi đề xuất những vấn đề, những

phương thức cụ thể cho lịch sử văn học đổi mới của ông – lịch sử văn học của

người đọc Những kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu Huỳnh Vân có độ tin cậy và sức thuyết phục cao, cho thấy một mức độ nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận tư liệu tận nguồn và cũng là những tiền đề lý luận quan trọng có tính chất định hướng cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

Cũng trong khoảng thời gian từ những năm cuối thập niên 80 đến những năm đầu của thập niên 90 trở đi, nhiều công trình của nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử như Lý luận văn học (Tập 1, tập 2, NXB Giáo dục, 1986-1987), Chương XI Bạn đọc và tiếp nhận văn học trong Giáo trình Lý luận văn học (in chung, NXB Giáo dục, H.1986), Lý luận văn học (chủ biên) (Tập 1 năm 2001, Tập 2 năm

2002, Tập 1 năm 2003, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội), Lý luận và phê bình văn học (NXB Hội Nhà văn, H.1996; NXB Giáo dục, H.2001), Văn học và thời gian (NXB Văn học, H.2001,2002), Đọc văn học văn (NXB Giáo dục, H.2001,2002,2003), hay Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận (Thông tin Khoa học xã hội, H.1991), Mấy vấn đề lý luận tiếp nhận văn học (trong tập Văn học và

sự tiếp nhận, Viện Thông tin Khoa học xã hội, H.1991), Tiếp nhận văn học (Tạp

chí Sông Hương, số 6, H.1999), đã lý giải những vấn đề cơ bản nhất của lý

thuyết tiếp nhận Đặc biệt trong giáo trình Lý luận văn học [142], nhà nghiên

cứu đã đề cập đến hai phương diện cơ bản của Lý thuyết tiếp nhận, Một là: Về bản chất của tiếp nhận văn học, ông chỉ ra tính khách quan của tiếp nhận văn học, bản chất xã hội của tiếp nhận văn học, tính sáng tạo của tiếp nhận văn học, đời sống lịch sử và tính nhiều tầng nghĩa của tác phẩm văn học Hai là: Về vai trò người đọc trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học, ông chỉ ra vai trò của người đọc tiềm ẩn trong sáng tạo văn học và vai trò của người đọc thực tế đối với đời sống của lịch sử văn học Nhà nghiên cứu khẳng định: ―Tác phẩm văn học là một quá trình hay nói cách khác là một hiện tượng động, không nhất thành bất biến, có sự mở rộng ý nghĩa hầu như vô tận nhờ độc giả‖ [142,tr.159]

Trong công trình Lý luận văn học viết chung với Phương Lựu, Lê Ngọc Trà,

Trang 20

Thành Thế Thái Bình, ông cho rằng: ―Do được tiếp nhận mà tác phẩm văn học

có thể tham gia vào các môi trường xã hội khác nhau, thuộc các thời kỳ lịch sử khác nhau Từ đó tác phẩm văn học có một đời sống lịch sử và số phận lịch sử của nó Có những tác phẩm hiển hách một thời, rồi sau bị quên, trong số đó có tác phẩm sẽ được nhớ lại vào lúc khác, còn phần khác sẽ bị chìm đi mãi mãi Có tác phẩm lúc đầu được tiếp nhận khó khăn, nhưng sau đó lại có vị trí vững vàng Như vậy lịch sử văn học không chỉ là lịch sử ra đời của các tác phẩm, mà còn là lịch sử tiếp nhận tác phẩm nữa‖ [103, tr.229] Đây là một trong những gợi ý có tính chất định hướng giúp chúng tôi có cái nhìn lý luận vững chắc khi triển khai

đề tài này Với vai trò là người tạo những bước đột phá cho hướng nghiên cứu Thi

pháp ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong giáo trình Lý luận văn học (1986), đã dành riêng chương Bạn đọc và tiếp nhận văn học để lý giải về người đọc Năm 1990, loạt bài viết Tiếp nhận bình diện mới của lý luận văn học; Lý thuyết tiếp nhận và phê bình văn học (I và II, 1990 - 1999); cho đến Đối thoại hệ hình mới của phê bình văn học (1995) của ông đều hướng đến những vấn đề trọng

tâm của lý thuyết tiếp nhận hiện đại Nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của người đọc, các hình thái đọc, đón nhận, ngữ cảnh và coi đó là ―yếu tố nội tại của quá trình sáng tạo‖ Tác giả khẳng định có sự chuyển hóa từ ―người đọc thực tế‖ thành

―người đọc tiềm ẩn‖ nhưng lại phản đối vai trò ―đồng sáng tạo‖ của người đọc trong tiếp nhận Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử lưu ý đến vấn đề cần nhận thức rõ

sự khác nhau căn bản giữa sự sáng tạo của người đọc và sự sáng tạo của nhà văn Năm 1990, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân trong công trình Phương pháp luận nghiên cứu văn học đã giới thiệu khái quát bức tranh lý luận tiếp nhận

văn học sự tiếp nhận văn học nghệ thuật thế giới ở Việt Nam thời đó; đề cập lý thuyết Mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz (Đức) với gương mặt tiêu

biểu H.R.Jauss Năm 1991, công trình Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận của

nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân đã đặt người đọc trong tư duy lý luận tiếp nhận truyền thống và lý luận tiếp nhận hiện đại Trong đó, nhà nghiên cứu lưu ý vấn đề

tiếp nhận trong hai phạm vi: Tri âm và ký thác Coi tri âm là một nhiệm vụ của

tiếp nhận, là cảm và hiểu tác phẩm với cuộc sống phản ánh qua tác phẩm, theo

Trang 21

nhà nghiên cứu, tác phẩm chỉ được tiếp nhận hoàn toàn khi có người đọc Trong khát vọng giao tiếp và đồng cảm nghệ thuật, người đọc tìm tới ―dụng ý, tâm sự, tấm lòng‖ của tác giả‖ [21, tr.11] Qua các công trình nghiên cứu, Nguyễn Văn Dân đã khẳng định những đóng góp quan trọng của các nghiên cứu về người đọc văn học trong mỹ học tiếp nhận, đồng thời ông cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế của hệ thống này Bên cạnh đó, việc chú ý đến tầm văn hóa của người đọc và

cơ cấu xã hội cho thấy, chủ thể tiếp nhận là những người thuộc về nhóm có giai cấp, địa vị xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ văn hóa, kinh nghiệm thẩm mĩ

và vốn sống khác nhau Ngoài ra, họ còn chịu ảnh hưởng từ chế độ chính trị, điều kiện xã hội, không gian văn hóa

Năm 1995, tiểu luận nghiên cứu Từ văn bản đến tác phẩm văn học của

nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đăng trên Tạp chí Văn học đã trình bày quá trình từ mỹ học sáng tạo đến mỹ học tiếp nhận, sau đó là nhiều công trình nghiên cứu, bài dịch, bài giảng của ông về mĩ học tiếp nhận được công bố trong những năm tiếp theo cũng đã giới thiệu một cách hệ thống lý thuyết tiếp nhận vào nước

ta Năm 1998 trong công trình Từ văn bản đến tác phẩm văn học vấn đề về người

đọc - chủ thể tiếp nhận đã được nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung giới thiệu một cách toàn diện và hệ thống Ông đặt vấn đề ―Ấn tượng thẩm mĩ di động giữa hai cực (tác phẩm và người đọc) cho nên sự thay đổi của một trong hai cực đó đều làm hình thành giá trị thẩm mĩ khác nhau Đặc biệt ở cực chủ thể tiếp nhận nơi mà thế giới tâm linh luôn có những biến động bất thường, mang yếu tố chốc lát, vì thế khả năng biến thể của các giá trị thẩm mĩ liên quan đến một tác phẩm là rất lớn‖ [25, tr.40] Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học thông qua sự ―cụ thể hóa‖ của người đọc, rằng chỉ khi có người đọc thì văn bản - sự sáng tạo của nhà văn mới trở thành tác phẩm văn học thực thụ Người đọc trở thành ―sợi dây‖ gắn kết, thiết lập tầm quan trọng trong chu trình đời sống văn học bên cạnh yếu tố tác giả Theo nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung, từ văn bản đến tác phẩm là quá trình tác động tương hỗ với nhau thông qua

sự tiếp nhận của người đọc Văn bản văn học là sự giao tiếp với người đọc làm nên quan hệ đối thoại, người đọc ―đồng sáng tạo‖ cùng tác giả Trong quan niệm

Trang 22

về người đọc, lý thuyết tiếp nhận hậu hiện đại đánh giá mối quan hệ tác phẩm và độc giả khác với tư duy lý luận văn học trước đó, đề cao sự sáng tạo của người đọc, chứ không chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả - tác phẩm Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung cho đến nay vẫn là một trong những nhà khoa học nghiên cứu bền bỉ, chuyên sâu về lý luận tiếp nhận ở nước ta, những luận điểm khoa học của ông về lĩnh vực này được đánh giá là hàn lâm và có sức thuyết phục

Năm 1999, trong cuốn Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại, nhà nghiên cứu Phương Lựu đã dành chương IX để viết về Mỹ

học tiếp nhận Ông đã phân tích một cách hệ thống những tiền đề sinh thành, giới thiệu khái quát về chủ soái của Mỹ học tiếp nhận H.R.Jauss và W.Iser, từ đó đưa

ra những đánh giá sơ bộ về trường phái Konstanz từ những điểm khả thủ đến một

hệ thống cực đoan phiến diện Qua đó tác giả đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về những thành tựu và hạn chế của lý thuyết tiếp nhận, đồng thời tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa việc vận dụng lý thuyết tiếp nhận ở nước ta Khi phân tích

những điểm khả thủ, nhà nghiên cứu cho rằng: ―Hướng về tầm đón của người đọc

nhưng không phải mọi cái đều bày sẵn, mách bảo, lắm lời, mà Mỹ học tiếp nhận

khẳng định rằng văn bản tác phẩm vốn có và cần có những điểm chưa định, những chỗ trống để dành cho trí tưởng tượng của người đọc‖ [105, tr.228] Song Phương

Lựu cũng cho rằng ―Mỹ học tiếp nhận quả là mang tính chủ quan, phiến diện‖ [105, tr.229] Ngoài ra trong công trình này nhà nghiên cứu cũng có những nhận xét, đánh giá về lý thuyết tiếp nhận từ Hoa Kỳ và Liên Xô Trước đó, năm 1997,

trong chuyên luận Tiếp nhận văn học, nhà nghiên cứu Phương Lựu đã nhấn mạnh

vai trò của người đọc trong hoạt động tiếp nhận văn học và coi nó như một khâu tất yếu ―khi tác phẩm đã rời khỏi nhà văn đến với đời sống‖ Ông khẳng định

―việc tiêu thụ văn học diễn ra trong công chúng người đọc cùng nằm trong quy luật của sự tương tác giữa cung và cầu‖ [107] Có thể xem đây là những luận điểm khoa học quan trọng và rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong quá trình triển khai

đề tài nghiên cứu

Cũng trong năm 1999, nhà nghiên cứu Từ Sơn trong bài viết Nghĩ về công chúng văn học của chúng ta nhấn mạnh đến phạm trù công chúng trong tiếp nhận

Trang 23

văn học Tác giả đặt ba yếu tố: Công chúng – Nhà văn – Cơ quan lãnh đạo, quản

lý văn học làm nên ―khuôn mặt văn học‖ Khái niệm công chúng văn học được nhà nghiên cứu nhìn nhận theo nghĩa rộng ―vừa là đối tượng phục vụ của văn học, vừa là đối tượng để văn học phản ánh‖ [143] Tuy nhiên, bài viết vẫn chỉ dừng lại

ở sự lý giải chung chung về công chúng mà chưa chỉ ra những đặc điểm và vai trò

cụ thể của người đọc văn học

Thập niên đầu thế kỷ XXI mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho văn học nghệ thuật Đây là giai đoạn mà văn học Việt Nam đương đại chuyển sang thời kỳ mới với những chuẩn thẩm mĩ mới Quá trình hiện đại hóa, hội nhập và phát triển tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học đặc biệt là người đọc văn học Đã xuất hiện nhiều bài viết phê bình, nghiên cứu về người đọc văn học Năm 2002, nhà

nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng trong phần hai của chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương, đã bàn đến bản chất của hoạt động đọc văn chương Theo tác giả ―hoạt

động đọc văn chương‖ là thanh lọc con người; là lao động khoa học; là phát huy trực cảm; là hoạt động ngôn ngữ trong môi trường văn hóa thẩm mĩ; là quá trình sáng tạo Tuy những đánh giá của nhà nghiên cứu khá sâu sắc về động cơ tiếp nhận nhưng mới chỉ dừng lại ở bình diện tâm lý mà chưa bàn đến các bình diện khác như bình diện xã hội, thẩm mĩ Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương trong giáo trình

Lý luận văn học (nhập môn) đã bàn về vấn đề tiếp nhận văn học, người đọc và số

phận tác phẩm qua lăng kính của người tiếp nhận Theo ông, người đọc có tầm quan trọng trong đời sống văn học, ―văn học nào, người đọc ấy‖, ―người đọc nào, văn học ấy‖ [129, tr.l96] Sự đa dạng của công chúng văn học được hiện lên qua người đọc tích cực và người đọc tiêu cực Mỗi thời kỳ lịch sử văn học đều có đặc trưng riêng của mỗi nhóm người đọc với thành phần, thị hiếu khác Sự vận động và thay đổi của độc giả phụ thuộc nhiều vào ―chân trời chờ đợi‖ của chính họ như cách gọi của Mỹ học tiếp nhận Đây có thể coi là cơ sở khoa học quan trọng để chúng tôi tham khảo làm cơ sở lý thuyết của luận án

Năm 2011, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện trong bài Vấn đề người

đọc – tiếp nhận trong lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay (bài viết được công bố từng phần trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Văn nghệ

Trang 24

quân đội năm 2011, sau đó in trong sách Văn chương, nghệ thuật và thẩm mỹ tiếp nhận NXB Hội Nhà văn, 2015) cũng đã có những luận giải về người đọc Trong

quá trình điểm lại các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước về vấn đề người đọc và tiếp nhận tiểu thuyết ở nước ta trong suốt thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện đã cung cấp một cái nhìn bao quát và toàn diện cùng những đánh giá sâu sắc về một vấn đề trước đây vốn được xem là nhỏ bé, mờ nhạt, ít được để ý tới: vấn đề người đọc tiếp nhận tiểu thuyết ở Việt Nam ngay từ buổi bình minh của thể loại này ở nước ta những năm đầu thế kỷ

XX Nhà nghiên cứu khẳng định: ―Như thế, người đọc đóng vai trò là kẻ đồng sáng tạo, tiếp sau sự sáng tạo văn bản mang tiềm năng ý nghĩa của nhà văn, biến văn bản đó trở thành một tác phẩm sống động bởi các tầng vỉa ý nghĩa ẩn dụ nơi tác phẩm như những trầm tích, nay được khám phá, biểu lộ dưới nhiều góc độ tiếp cận với cái nhìn nghệ thuật tinh tường, đa chiều‖ [162]

Năm 2012, trong công trình Tổng quan chương trình văn học Việt Nam 25 năm đổi mới và phát triển 1986-2010, (Viện Văn học - nghiệm thu 2012) công

chúng văn học sau đổi mới từ 1986 đến nay được nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng bàn đến Ông đã đối sánh công chúng văn học giai đoạn tiền đổi mới (1980 - 1986) với giai đoạn đổi mới (sau 1986) Theo nhà nghiên cứu, ―đổi mới tạo ra những hấp dẫn khác khiến cho công chúng không còn tìm đến văn học như những năm tiền đổi mới‖ Lý giải điều này, tác giả đưa ra những yếu tố chi phối như cơ chế thị trường, hệ thống quan niệm giá trị văn học, quá trình hội nhập thế giới, hệ thống phương tiện truyền thông, chính sách xã hội hóa Tất cả những yếu

tố này tác động đến độc giả tạo nên sự phân hóa sâu sắc trên nhiều bình diện thị hiếu thẩm mĩ văn học và văn hóa xã hội dẫn đến thực trạng công chúng gần như quay lưng lại với văn học; các giá trị nhận thức, thẩm mĩ đang bị xem nhẹ Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng nhấn mạnh ―So với công chúng văn học thời kỳ trước năm 1986, công chúng văn học từ năm 1986 trở đi bắt đầu phân hóa theo hướng xô bồ hơn, hỗn tạp hơn Nhưng không thể khác khi đó là hiện tượng được xem là kết quả của cả quá trình gồm nhiều yếu tố tác động có tính quy luật lên đời sống văn học‖ [168, tr.30] Đây có thể xem là những gợi ý quý báu cho chúng tôi

Trang 25

trong quá trình tìm hiểu và đánh giá về thực trạng người đọc văn học hiện nay trên nhiều bình diện, đặc biệt trên phương diện phân hóa thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học những năm đầu thế kỷ XXI

Năm 2014, công trình Công chúng giao lưu và quảng bá văn học thời kỳ đổi mới (NXB Khoa học xã hội) mà trước đó là đề tài cấp Bộ do nhà nghiên cứu

Tôn Thảo Miên làm chủ nhiệm, Viện Văn học là cơ quan chủ quản, đã thể hiện những đánh giá cụ thể về sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng trên nhiều phương diện văn học Đặt công chúng văn học trong diễn tiến của lịch sử văn học cho thấy thị hiếu thẩm mĩ của công chúng luôn vận động và hướng đến những giá trị mới, chuẩn thẩm mĩ mới, ―Sự thay đổi này của công chúng là tín hiệu cho thấy văn học của chúng ta đang nỗ lực hướng ra thế giới, trong khát vọng hòa nhập với nhân loại Sự thay đổi tâm thế tiếp nhận, thị hiếu thẩm mĩ của công chúng là thông điệp cụ thể về hướng chuyển động của văn học Việt Nam‖ [110, tr.204] Từ thực trạng công chúng văn học Việt Nam sau 25 năm đổi mới với những thay đổi về thị hiếu thẩm mĩ kết hợp lý thuyết văn học và phương pháp xã hội học văn học, đề tài

đã mở ra hướng nghiên mới về người đọc và công chúng văn học gắn với đời sống xã hội và văn học hôm nay Mặc dù đề tài mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát việc đọc của công chúng trên các phương diện thể loại, dịch thuật và quảng bá văn học chứ chưa lý giải thật sự thấu đáo những yếu tố cốt lõi chi phối đến sự thay đổi thị hiếu thẩm của công chúng nhưng những kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần lấp đầy những ―khoảng trống‖ trong nghiên cứu thực tiễn công chúng văn học hiện nay

Năm 2014, trong cuốn Xã hội học văn học của nhóm nghiên cứu Lộc

Phương Thủy (chủ biên), Nguyễn Phương Ngọc, Phùng Ngọc Kiên lần đầu tiên

xã hội học văn học được giới thiệu một cách đầy đủ và hệ thống tại Việt Nam Cuốn sách đề cập đến phạm vi hẹp là xã hội học văn học ở Pháp và giới thiệu các công trình của Lucien Goldmann, Robert Escarpit, Pierre Bourdieu Đáng lưu ý, trong phần nghiên cứu khái quát về Xã hội học văn học, các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào vấn đề ―xã hội học văn học và quá trình đọc và độc giả‖ từ quan điểm của R.Escarpit (thuộc trường phái Bordeaux): ―Ta có thể phân biệt

Trang 26

được việc đọc theo nhiều cấp độ, từ việc giải mã văn bản viết một cách đơn giản (ví dụ như người mới tập đọc) đến việc đọc và hiểu nội dung của văn bản viết ở các mức độ khác nhau‖[156,tr.99] Nghiên cứu cũng chỉ ra các kiểu đọc với hai nhóm đọc khác nhau, bao gồm kiểu đọc chủ quan và kiểu đọc khách quan Trong

đó kiểu đọc chủ quan (hay còn gọi là kiểu đọc trí tuệ, kiểu đọc nam giới) với nhóm người đọc có xu hướng coi sách là một bộ máy thông tin Người đọc giữ khoảng cách với nội dung tác phẩm ―Độc giả nhóm này sẵn sàng tiếp nhận nội dung tác phẩm nhưng với con mắt phê bình Họ thường ít để ý đến thời gian và thường chọn sách theo nội dung hoặc tên sách‖ [156,tr.100] Ngược lại, kiểu đọc khách quan coi tác phẩm văn học là một trải nghiệm cá nhân của độc giả Khi đọc tác phẩm, người đọc bước vào thế giới tác phẩm và sống cùng với nhân vật, hành động một cách ―dấn thân‖ trong tác phẩm Với kiểu đọc này, người đọc thường có

xu hướng ―đọc truyện và tiểu thuyết ít khi đọc phóng sự, tiểu luận hoặc sách lịch sử‖ Như vậy, điều quan trọng đối với sự hình thành độc giả nhóm đọc chủ quan là trải nghiệm cuộc sống thông qua tác phẩm ―Đối với họ, cảm xúc quan trọng hơn kiến thức và trải nghiệm quan trọng hơn vật thể là sách‖ [156,tr.100] Vì các yếu tố ngoài tác phẩm như nguồn gốc xã hội, trình độ văn hóa, điều kiện xã hội, nghề nghiệp, tâm lý, hoàn cảnh ảnh hưởng rất lớn đến cách đọc của mỗi cá nhân và góp phần hình thành nên các người đọc khác nhau

Kế thừa những quan niệm về lý thuyết tiếp nhận trên thế giới, các nhà lý luận nghiên cứu văn học nước ta đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề tiếp

nhận và chủ thể tiếp nhận Từ những sách công cụ như: Từ điển văn học tập II

do Đỗ Đức Hiểu chủ biên; Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình

Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên; 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn; Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên; Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương; Lý luận văn học của

Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình đến các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vấn

đề lý thuyết tiếp nhận: Ký hiệu nghĩa và phê bình văn học của Hoàng Trinh, Lý luận văn học của Lê Ngọc Trà; Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ của Huỳnh

Trang 27

Như Phương; Đổi mới phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu ; Văn học- Tầm nhìn- Biến đổi; và Đọc- Hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường của Nguyễn Thanh Hùng; Tác phẩm văn học như là một quá trình; Từ văn bản đến tác phẩm văn học của Trương Đăng Dung… trong đó nổi bật là tên tuổi những nhà nghiên

cứu hàng đầu về tiếp nhận như Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Dân, Phương Lựu, Trương Đăng Dung Nhà nghiên cứu mỹ học tiếp nhận Trương Đăng Dung từ những nghiên cứu về bản chất của tư duy lý luận văn học

đã khẳng định cần phải tiếp cận lý thuyết tiếp nhận ở cả hai hướng: Một là vận dụng những thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại, của kí hiệu học và

lí thuyết thông tin, chúng ta nghiên cứu quá trình từ sự sáng tạo ra văn bản đến sự tiếp nhận nó như là quá trình thông báo kí hiệu ngôn ngữ, hay là mối quan hệ giao tiếp giữa nhà văn và người đọc Hướng nghiên cứu này chú ý trước hết đến ý đồ tác giả, điều mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc như là nghĩa và ý nghĩa của tác phẩm văn học Hai là, trên cơ sở triết học, tâm lý học và thi pháp, chúng ta nghiên cứu quá trình tiếp nhận như là quá trình ấn tượng hay tác động của văn bản đối với người đọc [32,tr.81] Nhưng như chính nhà nghiên cứu Trần Đình Sử từng nói: Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn là sáng tác và tiếp nhận thì bản thân sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lí luận văn học Tuy nhiên ―Tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lý luận văn học đang còn để ngỏ‖ [47,tr.300] Như thế, việc nghiên cứu người đọc và tiếp nhận ở nước ta hiện nay mặc

dù đã được các nhà nghiên cứu chú ý và đánh giá đúng mức nhưng chưa thể nói rằng những thành tựu đó đã làm thỏa mãn được chính giới nghiên cứu Điều này được thể hiện rất rõ khi chúng ta nhìn bao quát bức tranh toàn cảnh các công trình nghiên cứu

về lí luận tiếp nhận

Ngoài các sách chuyên luận và công trình nghiên cứu của các tác giả trên còn

có những hội thảo khoa học, các bài báo, tạp chí, đã phân tích nhìn nhận, đánh giá, bàn luận về người đọc và thực trạng đọc văn học ở nước ta hiện nay Năm 2010, hội

thảo về Người đọc và công chúng nghệ thuật đương đại tổ chức tại trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội ngày 11/12/2010 đã thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và dư luận xã hội Tham luận tại hội thảo,

Trang 28

nhiều nhà nghiên cứu và phê bình đã đưa ra những phân tích và lý giải khác nhau về vấn đề công chúng, người đọc trong nhiều hướng tiếp cận khác nhau, trong những bối cảnh lịch sử khác nhau đặc biệt trong xã hội hiện đại

Trong năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội đã tiến hành Dự

án điều tra về văn hóa đọc (số liệu đã nghiệm thu - tài liệu thuộc Sở Văn hóa Thể

thao và Du lịch Hà Nội) cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả Đây

có thể coi là bước tiên phong cho việc nghiên cứu tác động hai chiều giữa công chúng với văn học nghệ thuật và văn học nghệ thuật tác động đến công chúng Dự

án đã khẳng định tầm quan trọng của thị hiếu đọc, người đọc trong sự vận động và phát triển đa dạng của văn học nghệ thuật của nước ta hiện nay

Ngày 28 tháng 12 năm 2015, dự án cấp Bộ Điều tra thực trạng đọc văn học

ở Việt Nam hiện nay do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp làm chủ nhiệm, Viện

Văn học là cơ quan chủ trì thực hiện đã được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiệm thu tại Hà Nội Với ba mục tiêu cơ bản: Khảo sát, điều tra thực trạng đọc văn học tại một số vùng khác nhau, bao gồm nhiều loại độc giả để có cái nhìn bao quát về thực trạng văn hóa đọc văn học trong bối cảnh giao lưu văn hóa quốc

tế mở rộng trước sự lấn át của các phương tiện nghe nhìn khác; Trên cơ sở kết quả điều tra khảo sát, phân tích xây dựng các chuyên đề nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm, dự báo chiều hướng phát triển của văn hóa đọc văn học ở nước ta; Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển và mở rộng văn hóa đọc sách văn học hiện nay Với 5 chương nội dung nghiên cứu, dự án đã đánh giá văn hóa đọc và thực trạng đọc văn học theo hướng khảo sát, so sánh nhằm nhận diện văn hóa đọc và thực trạng đọc trên cả nước, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn

Ngày 29/8/2016 tại Hà Nội, Hội thảo khoa học Thị trường văn học và văn học thị trường - lý luận và thực tiễn do Viện Văn học (Viện Hàn lâm Khoa học xã

hội Việt Nam) tổ chức đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình thuộc lĩnh vực này Trước sự ―lên ngôi‖ của văn học thị trường, đối lập với

sự vắng bóng của những tác phẩm văn học hàn lâm trong thời gian qua, các nhà phê bình bày tỏ những lo ngại về xu hướng thương mại hóa văn chương, khi mà

Trang 29

số lượng các tác phẩm in ra nhiều nhưng vẫn thiếu những tác phẩm chất lượng Một số cây bút vì chạy theo thị hiếu đám đông mà quên tìm tòi, suy ngẫm, phát hiện, trải nghiệm cuộc sống đã ảnh hưởng không nhỏ đến bức tranh chung của đời sống văn học nước nhà Mục tiêu lợi nhuận đặt lên hàng đầu khiến những giá trị đích thực của văn chương phai nhạt, mặt khác còn kéo thấp văn hóa đọc, gây ảnh hưởng không tốt trong nhận thức, ứng xử, hủy hoại tâm hồn người đọc Tại Hội thảo, những đối thoại thẳng thắn và cởi mở về thực trạng thị trường văn học Việt Nam đã được phân tích, đánh giá Tham luận tại Hội thảo, nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên cho rằng: ―Chúng ta không thể thờ ơ với văn học thị trường Chưa biết

nó có trụ lại được hay không nhưng chắc chắn nó đáp ứng được nhu cầu của người đọc hiện tại‖ [119]

Từ góc độ truyền thông, vấn đề thay đổi tâm thế tiếp nhận của độc giả văn học nhận được sự chú ý quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nhà nghiên cứu trẻ

Nguyễn Thanh Tâm trên tạp chí Văn nghệ Quân đội ngày 26/7/2012 có bài Sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ công chúng văn học sau đổi mới đã khái quát sự thay

đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học sau đổi mới từ góc độ ―tâm thế tiếp nhận‖ Từ thực tiễn đời sống văn học sau đổi mới tác giả chỉ ra sự thay đổi thị hiếu trên phương diện thể loại và ―chú ý đến khả năng của hình thức nghệ thuật‖ [152] Trong khuôn khổ bài tạp chí, bài viết mặc dù đã có nhiều phân tích sắc sảo nhưng mới chỉ dừng ở mức độ khái quát vấn đề mà chưa nêu được yếu tố cụ thể làm nên sự chuyển động trong nhận thức và thị hiếu của công chúng văn học giai đoạn này

Ngoài ra, trong suốt thời gian qua, đã có một số luận văn, luận án tìm hiểu, nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận hoặc ứng dụng lý thuyết này vào thực tiễn

nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học, như: luận án Lịch sử tiếp

nhận Truyện Kiều của tác giả Phan Công Khanh hoàn thành năm 2001; luận

án Vấn đề tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam của tác giả Phạm Thị Phương hoàn thành năm 2002; luận án Việc tiếp nhận văn xuôi cổ điển Nga thế kỷ XIX ở Việt Nam của tác giả Trần Thị Quỳnh Nga hoàn thành năm 2005, sau đó in thành sách năm 2010 với tiêu đề Tiếp nhận văn xuôi Nga thế kỷ XIX ở Việt Nam; luận

Trang 30

án Tác phẩm văn học nhìn từ mối quan hệ giữa văn bản và người đọc của tác giả

Lê Thị Hồng Vân hoàn thành năm 2007 cùng một chùm bài nghiên cứu đáng chú

ý có liên quan trước và sau đó của tác giả bao gồm Ảnh hưởng của môi trường văn hóa xã hội đối với việc tiếp nhận văn học trong nhà trường hiện nay (2001), Quan niệm về tác phẩm văn học trong lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại (2004), Người đọc như là một nhân tố tất yếu của tác phẩm văn học (2004), Sự tương tác giữa mã của người gởi và mã của người nhận trong tiếp nhận văn học (2010), Sự tương tác giữa người đọc và văn bản trong hoạt động sáng tạo văn học (2010); luận án Vấn đề chủ thể tiếp nhận qua lịch sử tiếp nhận Thơ mới của tác giả Mai Thị Liên Giang hoàn thành năm 2008; luận án

Sự phân hóa thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học hiện nay của tác giả Vũ

Thị Thu Hà hoàn thành năm 2015…

Nhìn lại các công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học, bài báo và tạp chí liên quan đến đề tài luận án, có thể thấy, người đọc văn học được đánh giá cao trên nhiều phương diện: từ thực tiễn sáng tác đến thực tiễn tiếp nhận, từ tác phẩm đến người đọc, từ đời sống văn học đến đời sống xã hội Tuy nhiên, nhìn lại các công trình nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tiễn, chúng tôi nhận thấy: Các nghiên cứu còn nghiêng về giới thiệu lý thuyết, nhiều vấn đề của thực tiễn còn bỏ ngỏ, nghiên cứu thực trạng người đọc từ thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI để nhận diện ―khuôn mặt‖ độc giả văn học đương đại còn là một phương diện chưa được chú ý thích đáng, nghiên cứu bài bản, có hệ thống Chính vì vậy, việc đặt ra yêu cầu nghiên cứu về người đọc từ phương diện thực tiễn tiếp nhận văn học là một nghiên cứu mới, một yêu cầu khoa học mang ý nghĩa thực tiễn Như vậy, trải qua một tiến trình rất dài của lịch sử lý luận văn học, lý luận tiếp nhận thế giới và trong nước đã và đang có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của người đọc và tiếp nhận đối với đời sống văn học Từ những nhận định có tính khái quát của các công trình nghiên cứu trên,

là cơ sở để chúng tôi tiếp tục phát hiện, lựa chọn những phương diện cơ bản, nhìn

nhận có hệ thống, nghiên cứu tìm hiểu đề tài “Người đọc – Nhìn từ thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI”

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở làm rõ bản chất các khái niệm và cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan trực tiếp tới đề tài luận án; đặc biệt là việc hệ thống lịch sử vấn đề cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn, chúng tôi nhận thấy phạm trù người đọc văn học đương đại đang còn nhiều vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu đi trước phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc làm

rõ những nội dung cơ bản của lý thuyết, hệ thống thuật ngữ, khái niệm chuyên dùng cũng như vị trí, vai trò của người đọc mà chưa có những công trình vận dụng lý thuyết để nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận cũng như thực trạng người đọc trong quá trình vận động của lịch sử văn học Trên cơ sở nắm bắt, tổng hợp và hệ thống hóa lịch sử vấn đề, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, luận án đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu các đặc điểm của người đọc văn học đương đại nhằm tìm hiểu, lý giải thực trạng, chỉ ra các yếu tố tác động, các nguyên nhân xã hội, văn học và thẩm mĩ của thực trạng đọc, từ đó đưa ra những kết luận khoa học góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra của đời sống xã hội và văn học hiện nay

Trang 32

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ NGƯỜI ĐỌC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm Người đọc

Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm độc giả như sau:―chỉ người đọc sách,

báo nói chung, trong mối quan hệ với người làm sách như tác giả, nhà xuất

bản‖[203] Người đọc là một khái niệm quen thuộc trong đời sống xã hội và văn học, thường được thay thế bằng nhiều tên gọi khác nhau như độc giả, người thưởng thức, người tiếp nhận, công chúng… Trong đề tài luận án, chúng tôi quan niệm

người đọc là những đối tượng/những cá nhân đọc sách trực tiếp, là một khâu của quá trình sáng tạo văn học, là yếu tố lý giải sự tồn tại của tác phẩm văn học, là động lực và là đích tới trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Tư duy lý luận văn học hậu hiện đại xem tác phẩm như là hình thức đọc đặc trưng Bởi khi nhà văn viết xong văn bản, văn bản đó chưa trở thành tác phẩm

Để có thể trở thành tác phẩm văn bản đó cần được đọc Vậy thực chất ―đọc‖ là

gì: Roman Ingarden (Ba Lan) khi viết công trình triết học nghệ thuật Tác phẩm văn học cho rằng đọc là sự cụ thể hóa văn bản [83,tr155-188] Theo đó người ta

chỉ có thể cụ thể hóa một cái gì khi nó còn mơ hồ chưa cụ thể, vì thế tác phẩm văn học theo R Ingarden mang trong nó cái mơ hồ, chưa cụ thể và việc đọc là sự

cụ thể hóa cái mơ hồ chưa cụ thể đó Do đó mỗi người đọc hiểu văn bản một cách khác nhau Bản thân văn bản như một bộ xương được người đọc đắp thêm

da thịt, và văn bản chỉ được gọi là tác phẩm khi nó đã được ―đọc‖ R Ingarden cho rằng ―tác phẩm văn học là vật hai lần có ý thức‖ Lần một là ý thức của tác giả, lần hai là ý thức của người đọc trong quá trình cụ thể hóa văn bản tác phẩm

đó [83,tr.155-188]

Vậy cái gì chi phối ―sự cụ thể hóa‖ – ―sự đọc‖? Theo Hans Robert Jauss yếu tố chi phối quá trình đọc văn bản là tầm đón đợi Trên cơ sở tầm đón đợi Jauss chia ra làm hai loại người đọc: Người đọc lý tưởng và người đọc ngây thơ

Và sau này học trò của ông là Wolfgang Iser đưa ra thêm một khái niệm người

Trang 33

đọc nữa là khái niệm người đọc tiềm ẩn hay chính là bóng ma tác giả [32]

Còn Robert Escarpit - nhà xã hội học người Pháp trong công trình Xã hội học văn học (1958) tiếp cận văn học từ xã hội học, đã bày tỏ quan điểm của mình về người đọc trong Quá trình sản xuất, sáng tạo văn học — quá trình phân phối, truyền bá văn học - Quá trình tiêu thụ, tiếp nhận văn học Theo nhà

xã hội học này, người đọc tham gia vào ―quá trình tiêu thụ‖ văn học Thông qua phương thức đọc, hành động đọc, người đọc ―đối thoại‖ với nhà văn bằng ―phản ứng‖, bằng sự ―đồng cảnh‖, sự ―đồng tình‖ khi đọc tác phẩm, việc phân biệt

―tiêu thụ sách‖ và ―đọc tác phẩm‖ được đặt ra vì ―mua sách chưa chắc đã đọc, đọc chưa chắc vì mục đích văn học‖ [126,tr.47] Vì vậy việc đọc tác phẩm được

R Escarpit đặc biệt chú ý và ―coi việc đọc tác phẩm như một phương tiện để nghĩ, để cảm, để tự đối thoại với mình và đối thoại với tác giả, suy tư về cuộc

đời ‖ [126,tr.47] Người đọc theo quan điểm của R Escarpit là người ―đối

thoại‖ với nhà văn; là người ―tiêu dùng sản phẩm‖, là ―khâu trung gian‖ thúc đẩy sự sáng tạo của nhà văn ―người sản xuất‖, với quá trình quảng bá, ―sản xuất‖ văn học R Escarpit cũng quan tâm tới yếu tố: giới tính, kinh nghiệm thẩm

mĩ, trình độ văn hóa, độ tuổi của người đọc khi ―tiêu thụ sản phẩm‖ văn học

Ở Việt Nam, vấn đề người đọc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Phuơng Lựu cho rằng: ―Đó là người đọc có thực, cụ thể, lịch sử trong đời sống, hoặc đó là một quan niệm về một người đọc giả thiết mà nhà văn hướng tới và cuối cùng là nhân vật mang danh người đọc xuất hiện trong cấu trúc tác phẩm [106,tr.232] Đề cao vai trò của người đọc, Huỳnh Như Phương đã dẫn lời Yuri Borev: ―Người đọc không đơn thuần là người có nhu cầu về các sản phẩm nghệ thuật, không chỉ là đối tượng của sự tác động tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm Người đọc là người cùng tham gia vào tiến trình sáng tạo để xây dựng ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật, là người đồng sáng tạo, là chủ thực hiện quá trình đọc như một hành động sáng tạo có tính chất xây dựng‖ [130, tr.206] Như thế, nếu không

có sự tiếp nhận của người đọc thì văn bản văn học sẽ không thể trở thành tác phẩm văn học

Trang 34

Điểm khác biệt giữa người đọc và công chúng văn học đọc là ở phương thức và tâm thức đọc Nếu người đọc được xem là yếu tố hoàn kết nghĩa cho tác

phẩm thông qua hoạt động đọc, ―thông qua sự cụ thể hóa (đọc) mà những chỗ

trống trong tác phẩm được bù lấp, bộ xương được đắp thêm da thịt‖ [37,tr.8], nói cách khác nếu người đọc biến văn bản từ những con chữ cằn khô trên trang giấytrở thành một tác phẩm văn học sinh động, có hồn cốt bằng hành động đọc sách trực tiếp và cụ thể, thì công chúng văn học lại là những đối tượng tiếp xúc với tác phẩm văn học bằng những cách thức khác nhau thông qua nhiều loại hình và phương tiện khác nhau

2.2 Các quan niệm về người đọc

2.2.1 Quan niệm truyền thống về người đọc

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm Truyền thống

với hàm nghĩa chỉ những quan niệm văn học đã trở nên quen thuộc, lâu đời, ăn sâu vào ý thức văn học, từng thống trị, chi phối đời sống văn học nhân loại qua nhiều thế hệ, từ thời cổ đại đến hết thế kỷ XIX, và thậm chí đến tận hôm nay

Từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX, tư duy lý luận văn học ở phương Tây cũng như phương Đông chủ yếu chỉ xoay quanh các vấn đề lý luận về phản ánh và nhận thức Với các hệ thống lý thuyết đó, tác phẩm văn học đã và chỉ được nhìn hoặc trong quan hệ với hiện thực, hoặc trong quan hệ với tác giả mà quên mất vai trò của người đọc

Với quan niệm tác phẩm văn học là nơi chuyển tải tư tưởng, ký thác tâm sự của nhà văn, sự ý thức về mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm, tư duy lý luận tiền hiện đại xem tác phẩm là sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo ra, vì thế, sự tồn tại và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào nhà văn, do nhà văn quyết định Ý nghĩa của tác phẩm không nằm ngoài ý đồ mà nhà văn đã định sẵn từ trước Tư tưởng của tác phẩm do đó cũng chính là tư tưởng của tác giả Với quan niệm này, tác phẩm đã và chỉ được nhìn trong mối quan hệ chi phối, ràng buộc bởi chính người sáng tạo ra nó; tác phẩm là ―con đẻ‖ của nhà văn, là ―vật phụ thuộc‖ của tác giả, nó bị đồng nhất với quá trình sáng tạo, với ý đồ tư tưởng, với chủ ý của nhà văn Việc phân

Trang 35

tích, đánh giá tác phẩm vì vậy cần phải căn cứ vào tác giả, người đọc phải đi tìm

và lĩnh hội cho được tư tưởng, tình cảm của nhà văn gửi gắm trong đó mà quên đi một mắt xích quan trọng và có tính quyết định hàng đầu là hoạt động tạo nghĩa nghĩa cho văn bản của chính người đọc

Cùng với sự vận động, phát triển của tư duy nhân loại, con người cá nhân có giá trị tự tại được khẳng định, đề cao trong văn học Khi chủ nghĩa lãng mạn ra đời, vai trò tác giả được biết đến không phải như một người ―thợ thủ công‖ mà là một chủ thể sáng tạo, một nguồn gốc quan trọng của tác phẩm Lúc này, tác giả như một cái tôi cá thể, một thế giới biệt lập, theo đó, tác phẩm là sản phẩm của con người cá nhân, là sự phát ngôn của ―cái tôi‖ tác giả Cùng với đó, trong nghiên cứu văn học, tác giả được chính thức ―phát hiện‖ vào đầu thế kỷ XIX Trước đó, suốt nhiều thế kỷ, nguyên tắc ―mô phỏng‖ của mỹ học và lý luận văn học châu Âu từ cổ đến trung đại đã khiến cho tư duy văn học không biết đến tác giả với tư cách như một chủ thể sáng tạo, ở đó, nhà văn không được sáng tạo theo cảm hứng của mình mà phải tuân thủ theo một khuôn mẫu nghệ thuật với các qui tắc đã được định trước, có sẵn Đến thời cận hiện đại, do phải tuân thủ nghiêm ngặt lôgic khách quan của đời sống, chủ nghĩa hiện thực cũng chỉ xem tác giả như là một yếu tố thứ hai đứng sau hiện thực Sang đầu thế kỷ XIX, khoa

học văn học ở phương Tây hình thành với câu hỏi đầu tiên được đặt ra là Tác giả

là ai? và Quan hệ giữa tác giả với tác phẩm như thế nào? Để trả lời câu hỏi đó,

nhà phê bình văn học Pháp Sainte Beuve (1804-1869) đã khởi xướng phương pháp Phê bình tiểu sử, lấy việc nghiên cứu con người tác giả để tìm hiểu tác phẩm Kể từ khi tác giả được ―phát hiện‖, nhân tố trực tiếp quyết định sáng tạo văn học không phải là hiện thực, cũng không phải là những qui tắc, khuôn mẫu hình thức, mà thay vào đó, là cá nhân riêng biệt và cụ thể của chính người sáng tạo Xuất phát từ quan niệm về mối quan hệ phụ thuộc của tác phẩm vào tác giả, coi tác phẩm là sản phẩm của con người cá nhân, là sự phát ngôn của tác giả, phương pháp Phê bình tiểu sử đã quan niệm đầu tiên và cuối cùng là ở con người nhà văn Muốn tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thì phải truy tìm căn

Trang 36

nguyên từ tác giả, vì vậy, họ đã đặt trọng tâm nghiên cứu vào tác giả Hướng sự nghiên cứu vào tác giả, Sainte Beuve cho rằng: ―Văn học, sáng tạo văn học không khác biệt, hay chí ít là đối với tôi, gắn liền với tất cả những gì còn lại trong con người, với bản tính của con người Tôi có thể thưởng thức tác phẩm này hay khác, nhưng tôi sẽ gặp khó khăn khi bàn luận về nó mà không có sự hiểu biết về chính con người tác giả Tôi có thể nói như thế này: cây nào, quả nấy‖ [dẫn theo172,tr.29] Như vậy, quan hệ tác giả - tác phẩm, theo các nhà Phê bình tiểu sử là quan hệ nhân - quả Bởi vậy, khi nghiên cứu tác phẩm, họ chủ trương phải tiếp cận, khám phá từ phía tác giả theo kiểu tìm hiểu ―cha‖ để biết ―con‖, dựa vào động cơ tư tưởng của tác giả để giải thích ý nghĩa của tác phẩm, từ nguyên nhân để suy ra kết quả Cực đoan hơn, có lúc các nhà phê bình tiểu sử còn biến mục đích thành phương tiện, coi tác phẩm là chìa khóa để hiểu tác giả, chỉ là một nguồn tư liệu, là phương tiện để thông qua đó khám phá thế giới tâm hồn của tác giả

Việc coi tác phẩm là vật phụ thuộc, là hình ảnh trung thực, là phát ngôn của nhà văn trong quan niệm của lý luận văn học tiền hiện đại đã dẫn đến nhiều hệ quả Trước hết, có thể thấy lý luận văn học truyền thống đã đồng nhất ý đồ sáng tạo với bản ngã cá nhân của nhà văn khi coi tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo mang tính chủ ý, hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của tác giả; ý nghĩa của tác phẩm, vì thế, do nhà văn quyết định và nghĩa đó trở thành cố định, bất biến và tồn tại vượt không gian, thời gian Phân tích, khám phá tác phẩm, vì vậy, là công việc mà mục đích của nó không ngoài việc tìm kiếm ý đồ sáng tạo của nhà văn, đi tìm tâm sự, tư tưởng, tình cảm, chí hướng mà nhà văn gửi gắm trong ấy; sự đọc chân chính là sự đọc tìm được ý định nguyên thủy của tác giả, cũng tức là phát hiện cái ý nghĩa duy nhất của tác phẩm Bản thể tác phẩm vì vậy không phải là yếu tố được quan tâm hàng đầu, mà quan trọng hơn, là phải truy nguyên về hoàn cảnh xã hội, lịch sử, không khí chính trị, và trực tiếp nhất là tiểu sử nhà văn, đời sống tâm lý, tinh thần, tư tưởng, tình cảm của họ khi sáng tạo ra đứa con tinh - tức cái hiện thực vây quanh tác giả - những yếu tố được coi là nguồn gốc, là cơ sở chi phối sự hình thành ý đồ đó

Trang 37

Vì thế, người đọc trở nên không có vai trò gì đối với tác phẩm, bởi trước người đọc, tác phẩm văn học đã là một sinh thể, trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Nói cách khác, người đọc không có mối liên quan tất yếu nào với tác phẩm Lý luận truyền thống vì vậy chỉ tập trung nghiên cứu khâu sáng tác, tự giới hạn phạm vi quan tâm trong mối quan hệ tác giả - tác phẩm, nhìn tác phẩm như một sản phẩm đã được hoàn tất bởi tác giả

Vấn đề tiếp nhận và người đọc đã từng được nói đến từ lâu trong lịch sử văn học Từ Aristote ở phương Tây, đến Lưu Hiệp ở phương Đông, khi Khổng

Tử san định Kinh Thi hay Kim Thánh Thán chú giải Thơ Đường, trong thuyết tri âm và ký thác hay lời khẳng định của Paul Valéry Ý nghĩa trong thơ tôi là do

bạn đọc cho nó đã khẳng định lịch sử tiếp nhận gắn liền với lịch sử sáng tạo

Nhưng trong lý luận văn học truyền thống, người đọc chưa trở thành một phạm trù tự giác, và tác phẩm văn học không tồn tại như một đối tượng độc lập mà chỉ là một vật phụ thuộc trong quan hệ với hiện thực, với tác giả Tác phẩm bị chìm đi trong những mối liên kết phi văn bản như hiện thực lịch sử, tiểu sử cá nhân, giai thoại văn học v.v Với quan niệm ấy, lý luận truyền thống chỉ nghiên cứu văn học dựa trên những yếu tố ngoài văn học, những thông tin về hiện thực, về thời đại, về tác giả để đánh giá tác phẩm Nói cách khác, tư duy tiền hiện đại đã lý giải tác phẩm bằng quan hệ nhân quả, bằng hệ qui chiếu, thông qua những dữ kiện ngoài văn học Thậm chí, tác phẩm không phải là đối tượng nghiên cứu (mà chỉ là phương tiện để tìm hiểu hiện thực xã hội hoặc con người tác giả) Nếu có xem tác phẩm là một đối tượng khám phá thì cái được đề cao trong tác phẩm chính là nội dung, giá trị hiện thực và tư tưởng của tác phẩm chứ không phải là chất liệu, hình thức Ý nghĩa của tác phẩm, do đó, là cái ổn định, bất biến mà người đọc hoàn toàn có thể nắm bắt được; và người đọc, vì như vậy, cũng chỉ đóng một vai trò rất khiêm tốn, thụ động, là người khám phá

ra cái ý nghĩa đã có sẵn trong tác phẩm Như vậy, đối với tư duy lý luận truyền thống, điều quan trọng không phải là phương thức tồn tại của tác phẩm, mà vấn

đề là tác phẩm đã được ra đời như thế nào Việc thay vì nghiên cứu chính bản

Trang 38

thân tác phẩm bằng nghiên cứu lịch sử hình thành tác phẩm, lấy các hiện tượng ngoài văn bản làm điểm xuất phát, và chỉ giới hạn việc nghiên cứu văn chương

ở khía cạnh sản xuất ra nó Cách tiếp cận này chỉ có thể tìm ra điều nhà văn muốn nói chứ không phải là điều mà tác phẩm thực sự nói được với người đọc,

và các thế hệ người đọc

2.2.2 Quan niệm hiện đại về người đọc

Thời kỳ hiện đại trong lịch sử nhân loại được bắt đầu từ cuộc cách mạng

tư sản Pháp 1789 với sự hình thành của chủ nghĩa tư bản, kéo dài hơn hai thế kỷ,

và chấm dứt sau đại chiến thế giới lần thứ nhất Đầu thế kỷ XX, sự ra đời của lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại của Ferdinand de Saussure (1857-1913) đã chi phối trực tiếp đến sự ra đời và phương thức tư duy của khoa học văn học, đặc biệt là vấn đề quan niệm về tiếp nhận văn học, đó được coi là ―bước ngoặt ngôn ngữ học‖ Thành tựu ngôn ngữ học cấu trúc của ông có ảnh hưởng to lớn đến các khoa học xã hội và nhân văn, thậm chí, có lúc nó được coi là một ―khoa học hoa tiêu‖ Theo F.Saussure, ý nghĩa của kí hiệu chỉ nảy sinh trong mối quan hệ với các kí hiệu khác; chính cấu trúc và các mối liên hệ đã tạo nên ý nghĩa của từ ngữ Ngôn ngữ cấu tạo nên khái niệm, và do vậy, ngôn ngữ là nhân tố căn bản cấu tạo hiện thực và sáng tạo ra tư tưởng, chứ không phải chỉ đóng vai trò ghi nhận hiện thực một cách thụ động như quan niệm truyền thống Khi con người ý thức được rằng ngôn ngữ không chỉ là cầu nối trung gian giữa con người và hiện thực, mà còn có khả năng ―kiến tạo thế giới‖, ngôn ngữ trở thành trung tâm chú ý của nghiên cứu văn học

Cùng với các thành tựu quan trọng của ngôn ngữ học hiện đại, các kết quả nghiên cứu mới mẻ của các khoa học lân cận như cấu trúc luận kí hiệu học, lý thuyết thông tin cũng đã đem lại cho nghiên cứu văn học những chìa khóa mới

để giải mã văn bản tác phẩm Từ đây, văn bản và sự tạo nghĩa, kí hiệu và chức năng thẩm mỹ trở thành đối tượng trung tâm của lý luận văn học hiện đại Giữa rất nhiều vấn đề mới mẻ được đặt ra, người đọc trở thành một trong những vấn

đề quan trọng của lý luận văn học hiện đại Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy,

Trang 39

dưới con mắt của các nhà lý luận hiện đại, người đọc đã được nhìn nhận, soi ngắm từ nhiều phía, nhiều chiều, mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau, chấm dứt một cách nhìn phụ thuộc, giản đơn, phiến diện về vai trò được xem là rất mờ nhạt của người đọc đã từng tồn tại từ thế kỷ XIX về trước

Mở đầu cho cuộc cách mạng về lý luận văn học thế kỷ XX là việc ―phát hiện‖ ra văn bản Phát hiện này đã đưa văn bản văn học vào trung tâm của sự chú

ý, và theo đó, là sự hoán đổi ngôi vị của các yếu tố trong hệ thống văn học Thay

vì vị trí trung tâm thuộc về tác giả như trước đó, nay đến lượt văn bản lên ngôi,

vai trò chủ thể của tác phẩm văn học được chuyển từ tác giả sang văn bản Có

thể xem lời khẳng định của Iu.M.Lotman như là một tuyên ngôn chung của các trường phái hình thức, khi ông nói: ―Chúng tôi xem xét không phải bản chất của việc chức năng hóa các văn bản trong tập thể, mà là hệ thống cấu tạo bên trong của chúng Vấn đề ―các văn bản nghệ thuật đã được cấu thành nên như thế nào?‖ [93,tr.135-136] Lối nghiên cứu lấy văn bản tác phẩm làm trung tâm và đi sâu khám phá tính văn học của nó còn được gọi là lối ―nghiên cứu bên trong‖ Tập trung chú ý vào văn bản tác phẩm, các quan niệm hình thức không quan tâm đến hiện thực được phản ánh cũng như tư tưởng, ý đồ chủ quan của nhà văn được biểu hiện trong văn bản, bởi theo họ, đó là đối tượng nghiên cứu của sử học, xã hội học, triết học, tâm lý học Dù trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể tìm thấy sự nhấn mạnh, tuyệt đối hoá văn bản trong nhiều trường phái lý luận phương Tây hiện đại, nhưng tập trung nhất là chủ nghĩa hình thức Nga, trường phái Phê bình mới Anh - Mỹ và chủ nghĩa cấu trúc Pháp Điểm chung dễ nhận thấy giữa các trường phái này là sự phủ nhận mối quan hệ nhân - quả và những yếu tố bên ngoài - những yếu tố mà trước đây từng được coi là căn cứ để khám phá tác phẩm, để đi vào chính bản thể tác phẩm, xây dựng một quan niệm mới mẻ về tác phẩm văn học độc lập với tác giả, với thời đại và với người tiếp nhận Quan điểm ấy được triển khai trên những luận điểm chính sau đây: Coi tác phẩm văn học là một khách thể thuần tuý, tồn tại khép kín, độc lập, tự trị trong văn bản Văn bản văn học là một cấu trúc, một tập hợp ngôn ngữ được đan dệt bằng những hệ thống

Trang 40

câu chữ, hình tượng thông qua những thủ pháp, những mối liên hệ theo qui luật nội tại của tác phẩm Thông qua cấu trúc ngôn ngữ ấy mà ý nghĩa được tạo

thành Văn bản văn học, do vậy, là một trung tâm tạo nghĩa Chính văn bản văn

học với các yếu tố hình thức như ngôn ngữ, thủ pháp, cấu trúc chứa đựng thông điệp của tác phẩm, làm cho tác phẩm có hiệu lực, chứ không phải bất cứ một yếu

tố ngoại tại nào khác; Nghĩa của tác phẩm là ổn định, nó nằm ngay trong những thông điệp có trong văn bản, được tạo ra từ trong cấu trúc ngôn ngữ, trong sự tương tác giữa các yếu tố hình thức của tác phẩm Thế giới văn bản khép kín ấy không những không có mối liên quan tất yếu nào với hiện thực khách quan, với

sự cảm thụ, lý giải của người đọc, mà còn nằm ngoài tầm chi phối của nhà văn

để trở thành một khách thể ý thức độc lập, không còn phụ thuộc vào tư tưởng, ý

đồ, sự chủ ý của nhà văn Vì những lý do đó, cần phải coi văn bản tác phẩm như một đối tượng nghiên cứu độc lập, cắt đứt mối quan hệ giữa nó với thế giới bên ngoài, chỉ cần đi sâu vào những qui luật bên trong, vào ngôn ngữ, vào cấu trúc, vào thủ pháp là có thể khám phá được ý nghĩa của nó mà không cần biết đến ai làm ra nó, làm ra trong hoàn cảnh nào và làm ra để làm gì Việc tiếp cận tác phẩm chỉ dựa vào những ấn tượng chủ quan, những phép suy luận nhân quả hay những căn cứ bên ngoài đều trở nên không còn ý nghĩa khi những phương pháp của khoa học chính xác được vận dụng để khám phá tác phẩm

Chủ nghĩa hình thức (Formalism) ra đời ở Nga vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, được coi là trường phái mở đầu cho tiến trình hiện đại hoá lý luận văn học Sự xuất hiện của trường phái này, một mặt, như là sự phủ định đối với chủ nghĩa chủ quan tâm lý học trong mỹ học truyền thống, mặt khác, là sự đáp ứng những đòi hỏi tất yếu của việc đổi mới tư duy lý luận văn học thế kỷ XX Với các đại diện tiêu biểu như V.Shklovski (1893 - 1984), B.M.Eikhenbaum (1886 - 1959), R.Jacobson (1896 - 1984), J.Tynianov (1894 - 1943) B.M.Eikhenbaum đã không hề sai khi khẳng định rằng trường phái hình thức chủ nghĩa là phong trào cách mạng vì đã giải phóng khoa học văn học ra khỏi những truyền thống cũ và lỗi thời Những gì chủ nghĩa hình thức đã làm được

Ngày đăng: 20/12/2017, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w