1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bản án, quyết định của Tòa án môn Tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình

101 334 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 594,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HÒA XÃ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Quyết định giám đốc thẩm Số: 202007DSGĐT Ngày: 972007 Vụ án: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Với Hội đồng giám đốc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Các Thẩm phán: Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Họp phiên tòa ngày 972007, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” giữa: 1. Nguyên đơn: Công ty du lịch Phú Yên có trụ sở tại nhà số 149XB25 Tô Hiến Thành, phường 13, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Lê Quang Bính đại diện theo giấy uỷ quyền ngày 19111999. 2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc có trụ sở tại nhà số 153 Nguyễn Thông, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Vưu Út – Giám đốc đại diện (sau đó đã bỏ trốn). 3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940; Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938; Ông Mẫn và Phấn cùng cư trú tại nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. NHẬN THẤY Tại đơn khởi kiện ngày 641998 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty Du lịch Phú Yên trình bày: Ngày 1081995, Công ty Du lịch Phú Yên (sau đây gọi tắt là Công ty Phú Yên) ký hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá số 29HĐUT của Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc (sau đây gọi là Công ty Thịnh Phúc) nhập khẩu 11 xe ô tô tải chuyên dùng (đã qua sử dụng) với giá 90.000 USD. Công ty Phú Yên đã nhập về 06 xe ô tô do Hàn Quốc sản xuất, trị giá 50.000 USD và giao cho Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc đã ký quỹ trước 5.000 USD. Số tiền còn lại là 45.000 USD sẽ phải thanh toán trong thời hạn 180 ngày. Ngày 27111995, tại Phòng công chứng số 2 thành phố Hồ Chí Minh, ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn ký cam kết thế chấp căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (thuộc quyền sở hữu của ông Mẫn, bà Phấn) để bảo lãnh cho Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út đại diện, thực hiện hợp đồng uỷ thác nhập khẩu số 29HĐUT nêu trên. Ông Út (bên được bảo lãnh) với ông Mẫn và bà Phấn (người thế chấp) cam kết: “Trường hợp đáo hạn mà Công ty Thịnh Phúc không trả đủ nợ, lãi cho Công ty Phú Yên để thanh lý hợ đồng trên, chúng tôi đồng ý cho Công ty Phú Yên phát mãi nhà nói trên để trừ nợ, lãi và chi phí liên quan đến lô hàng mà không tranh chấp, khiếu nại gì.” Tại “Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ” ngày 3111998 giữa Công ty Phú Yên với Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc xác nhận đến ngày 3111998 còn nợ Công ty Phú Yên tổng số tiền là 1.015.814.000 đồng (bao gồm 45.000 USD nợ của hợp đồng uỷ thác số 29HĐUT ngày 1081998, lãi của tiền nợ do chậm trả từ tháng 41996 đến tháng 11998 là 14.850 USD và nợ tiền hàng cũ là 238.841.300 đồng) và đồng ý để Công ty Phú Yên tiến hành lập thủ tục phát mãi nhà số 62 Dạ Nam để thu hồi nợ. Ngày 641998, Công ty Phú Yên khởi kiện Toà án kinh tê nhân dân thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Công ty Thịnh Phúc thanh toán số nợ và lãi theo biên bản xác nhận công nợ nêu trên, tổng cộng là 1.015.814.000 đồng; trường hợp Công ty Thịnh Phúc không có khả năng thanh toán số nợ trên thì đề nghị Toà án phát mãi căn nhà số 62 Dạ Nam để thanh toán nợ gốc và lãi theo quy định. Bị đơn là Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út – Giám đốc có lời khai duy nhất tại Toà án ngày 2051998 xác nhận: Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 45.000 USD từ ngày 141996 đến nay chưa thanh toán, Công ty Phú Yên áp dụng mức lãi suất quá cao, đề nghị thương lượng lại. Hợp đồng số 29HĐUT ngày 1081998 được bảo đảm bằng tài sản là nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; cam kết thanh toán trong hạn 3 tháng, quá hạn không trả được thì phát mãi nhà số 62 Dạ Nam. Ngoài ra, Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 238.841.300 đồng (số nợ này không có bảo đảm), Cong ty Thịnh Phúc sẽ thanh toán trong hạn 18 tháng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Phấn trình bày: vợ chồng bà có bảo lãnh cho ông Út thực hiện hợp đồng uỷ thác số 29HĐUT ngày 1081998 để nhập 6 chiếc xe ô tô chứ không bảo lãnh các việc khác; vợ chồng bà không nợ Công ty Phú Yên nên koong có trách nhiệm gì với số nợ của ông Út đối với Công ty Phú Yên. Tại quyết định chuyển vụ án số 14CHKT ngày 2681999, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xác định thoả thuận ngày 3111998 giữa hai bên ký kết với nhau nhằm xác định công nợ, mang tính dân sự, không phải là tranh chấp hợp đồng kinh tế mà là tranh chấp dân sự và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1588DSST ngày 2182001 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc. Do ông Vưu Út làm Giám đốc, trả cho Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên số nợ còn thiếu của hợp đồng uỷ thác số 29HĐUT ngày 1081995 là 989.086.247 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu, tám mươi sáu ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. 2. Kê biên căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là tài sản thế chấp, để đảm bảo thi hành số tiền ở Điều 1 ở trên. Số tiền còn lại trong quá trình phát mãi nhà thì ông Mẫn và bà Phấn được nhận. Nếu ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn trả nợ cho Công ty Du lịch Phú Yên , thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, số tiền 989.086.247 đồng theo Điều 1 ở trên thì Công ty Du lịch Phú Yên phải trả giấy tờ nhà 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8 cho ông Mẫn – bà Phấn, các giấy tờ bản chính gồm: Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 172GPUB ngày 131989. Bản vẽ hiện trạng nhà. Tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ ngày 1831993. Biên lại thu lệ phí trước bạ số 004777 ngày 2531993. 3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc phải trả cho Công ty Du lịch Phú Yên số tiền 238.841.300 đồng (hai trăm ba mươi tám triệu, tám trăm bốn mươi mốt ngàn, ba trăm đồng chẵn) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, điều kiện thi hành án và tuyên quyền kháng cáo. Ngày 2782001, bà Phấn kháng cáo đề nghị xem xét, giải quyết lại vụ án và yêu cầu xét xử phải có bị đơn mà Công ty Thịnh Phúc vì ông Vưu Út bỏ trốn thì còn các thành viên khác; Công ty Phú Yên phải đòi nợ họ, để vợ chồng bà không bị thiệt thòi. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 91DSPT ngày 3132003, Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: 1. Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588DSST ngày 2182001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại từ đầu theo thủ tục chung. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án sô 322005QĐTĐCDS ngày 2042005, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: 1. Tạm đình chỉ xét xử sơ thẩm vụ án đã thụ lý số 1249DSST ngày 472003 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc “Đòi nợ” giữa: Nguyên đơn: Công ty Du lịch Phú Yên Địa chỉ: 149XB25 Tô Hiến Thành, phường 13, quận 10 Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc Địa chỉ: 153 Nguyễn Thông, phường 9, quận 3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940; Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938; Trú tại: 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8. 2. Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ kiện và tính án phí khi lý do tạm đình chỉ không còn. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo. Ngày 592005, bà Phấn kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không xét xử mà ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án à không thoả đáng, là thiệt thòi cho vợ chồng bà. Tại Quyết định phúc thẩm số 5062005DSPT ngày 31122005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: 1. Huỷ quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án số 322005QĐTĐCDS ngày 2042005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữa: Nguyên đơn: Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940 Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938 2. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm và theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Tại Công văn số 363CVTDS ngày 2722006, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định phúc thẩm số 5062005DSPT nên trên. Tại Quyết định kháng nghị số 952007KNDS ngày 2552007, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định phúc thẩm số 5062005DSPT ngày 30122005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định: Ngày 2182001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm (Bản án dân sự sơ thẩm số 1588DSST ngày 2182001). Ngày 2782001, bà Phấn có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại Bản án phúc thẩm số 91PTDS ngày 3132003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588DSST ngày 2182001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục chung (tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm có Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu). Tại Quyết định số 322005QĐTĐCDS ngày 2042005, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với nhận định là nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn. Ngày 592005, bà Phấn, ông Mẫn kháng cáo. Tại Quyết định phúc thẩm số 5062005DSPT ngày 30122005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định huỷ Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 322005QĐTĐCDS ngày 2042005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật (tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm có Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu). Như vậy, Thẩm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm để xét xử vụ án vào ngày 3132003; sau đó Thẩm phán Hồ Trung Hiếu lại tham gia Hội đồng xét xử lại vụ vào ngày 30122005, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toá án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. XÉT THẤY Theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Thẩm phán, Hội thẩ nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó. Thảm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia xét xử phúc thẩm vụ án vào ngày 3132003 và ngày 30122005 lại tham gia xét xử phúc thẩm về cùng một vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì lẽ trên, căn cứ vào khoản 3, Điều 297; khoản 3 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự. QUYẾT ĐỊNH 1. Huỷ Quyết định phúc thẩm số 5062005DSPT ngày 30122005 của Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc. 2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại; theo đúng quy định của pháp luật. Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM VKSNDTC (V5) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TAND huyện, tỉnh (kèm hồ sơ) .TAND tỉnh VKSND VKSND Chi cục THADS huyện, tỉnh Các đương sự Lưu hồ sơ, VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập Tự do Hạnh phúc _________ Bản án số: 452014DSPT Ngày 1732014 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán TAND tối cao Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Việt; Các Thẩm phán TAND tối cao: Ông Lê Thanh Bình; Ông Đặng Bảo Vĩnh. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm, Kiểm sát viên. Trong c¸c ngày 14 và 17 tháng 3 năm 2014 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 482013DSTLPT ngày 12 tháng 11 năm 2013 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tiền. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 022013DSST ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị cáo kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4552014QĐPT ngày 6 tháng 3 năm 2014 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn Hòa, sinh năm 1956; Địa chỉ: số 295 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt đã ủy quyền. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh năm 1960; hiện trú tại: 40 Saltash St, Yagoona, NSW 2199, Australia, hộ chiếu Australia số M2934069, cấp ngày 11052005, nơi cấp Sydney, Australia; vắng mặt đã ủy quyền. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ninh, luật sư Giám đốc Công ty luật TNHH một thành viên Nguyễn Thị Ninh thuộc đoàn luật sư thành phố Hải Phòng (theo hợp đồng ủy quyền ngày 0392013); có mặt. 2. Bị đơn: Công ty TNHH Tân Thành Yến; Địa chỉ: số 36 Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Yến Giám đốc Công ty; vắng mặt đã ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thùy Liên, trú tại: 16A119 Trung Hành 7, phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; có mặt. 3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank); Địa chỉ: số 72 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng xử lý nợ hội sở; vắng mặt. Ông Nguyễn Lê Huy, Nhân viên phòng xử lý nợ hội sở; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Mai Xuân Trọng, Chuyên viên phòng xử lý nợ hội sở; có mặt. Bà Tăng Thị Liên, Trưởng nhóm cao cấp khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ chi nhánh Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. NHẬN THẤY Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn là ông Lê Văn Hòa cùng vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã cho Công ty TNHH Tân Thành Yến (sau đây gọi tắt là Công ty Tân Thành Yến) vay từ năm 2009 đến nay tổng cộng số tiền đã vay là 18.000.000.000 đ (mười tám tỷ đồng chẵn) để mua xe ô tô kinh doanh taxi. Theo hợp đồng thì Công ty Tân Thành Yến phải trả hết cả gốc và lãi trong thời hạn 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày 15112009. Nhưng đến nay đã quá thời hạn trả nợ theo cam kết, Công ty Tân Thành Yến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và còn trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Số tiền Công ty Tân Thành Yến vay được cam kết trả nợ bằng toàn bộ số xe ô tô mà Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại chi nhánh Ngân hàng MHB Hải Phòng. Ngày 0252012 Công ty Tân Thành Yến ký hợp đồng ủy quyền cho ông Lê Văn Hòa hoàn thành việc thanh toán tiền vay ngân hàng và nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (ô tô) tại chi nhánh VPBank Hải Phòng. Tuy nhiên, ngày 0752013 Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm cam kết, trả tiền ngân hàng, nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của 32 chiếc xe ô tô và đã bán ngay số xe này, không thông báo cho vợ chồng ông Hòa và không trả nợ cho vợ chồng ông Hòa. Đây là hành vi bội ước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Hòa. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty Tân Thành Yến phải trả nợ vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 18.000.000.000 đồng. Trường hợp Công ty Tân Thành Yến không trả được, đề nghị Tòa án quyết định cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa trả VPBank khoản nợ của Công ty Tân Thành Yến và nhận lại toàn bộ giấy tờ gốc 42 chiếc xe ô tô Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại VPBank khoản nợ của Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại VPBank, nhận lại, quản lý và định đoạt toàn bộ số xe ô tô trên xe theo nội dung hợp đồng ủy quyền đã quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông Lê Văn Hòa vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Ngày 3052013 Ngân hàng VPBank có đơn yêu cầu được tham gia tố tụng vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 082013TLSTDS ngày 1452013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Với nội dung: chi nhánh Công ty Tân Thành Yến vay của VPBank số tiền 5.700.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số LD 1019700080 ngày 1672010 (phụ lục ngày 2382011) số tiền vay 2.900.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng, mục đích vay thanh toán tiền mua 22 xe ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT. Lãi suất cho vay trong thời hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 17%năm. Lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 thánglần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 7%năm. Lãi suất trong hạn từ ngày 2382011 là 21%năm, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 5,92%năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu tiền phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền lãi chậm trả. Bắt đầu tính từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán nợ lãi quá hạn. Các kỳ trả nợ gốc: bên vay phải trả gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01 thánglần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 1582010, tổng cộng 36 kỳ, mỗi kỳ trả 80.000.000 đồng, kỳ cuối cùng trả 100.000.000 đồng. Các kỳ trả nợ lãi: bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 thánglần vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 1582010. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 22 xe ô tô hình thành từ món vay của VPBank có hợp đồng thế chấp tài sản riêng. Hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 2382011, số tiền vay 2.800.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay thanh toán tiền mua 20 xe ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 23%năm. Lãi suất cho vay điều chỉnh 03 thánglần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 10%năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền chậm trả và số ngày chậm trả. Bắt đầu từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán hết nợ lãi quá hạn. Bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 thánglần vào các ngày 15, kỳ hạn trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 1592011, tổng cộng 36 kỳ, số tiền gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 78.000.000 đồng, riêng kỳ cuối là 70.000.000 đồng. Bên vay phải trả tiền lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 thánglần vào các ngày 15, kỳ hạn trả lãi đầu tiên vào ngày 1592011. Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là 20 xe ô tô hình thành từ vốn vay của VPBank, có tài sản thế chấp kèm theo. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên các hợp đồng tín dụng trên đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 2882012 và phải chịu mức lãi suất quá hạn. Tính đến ngày 2752013 ngày VPBank gửi đơn khởi kiện Công ty Tân Thành Yến còn nợ ngân hàng 1.130.755.591 đồng trong đó nợ gốc là 1.122.630.806 đồng và nợ lãi là 8.124.785 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VPBank trình bày: trong thời gian vừa qua Công ty Tân Thành Yến đã trả nợ tiếp được 177.809.257 đồng. Trong đó trả nợ gốc là 122.124.139 đồng và trả nợ lãi được 55.685.118 đồng. Khoản tiền trên được trả tính trả cho hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 1672010 (phụ lục ngày 2382011) số tiền vay là 2.900.000.000 đồng. Đến nay Công ty Tân Thành Yến chỉ còn nợ hợp đồng dụng số LD 1123500034 ngày 2382011 là 1.006.692.166 đồng, trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng. VPBank yêu cầu Công ty Tân Thành Yến phải thực hiện việc trả nợ cho VPBank nếu không sẽ đề nghị Tòa án tuyên kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VPBank. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Công ty Tân Thành Yến vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 286 dụng số LD 11235000342013 và những lời trình bày của đại diện Công ty Tân Thành Yến: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có vay và còn nợ tiền vợ chồng ông Lê Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt. Cụ thể 04 lần vay như sau: lần thứ nhất vay 200.000 USD tương đương 4.000.000.000 VNĐ vào tháng 32010. Lần thứ hai vay 500.000.000 đồng khoảng tháng 32011. Lần thứ ba vay 100.000 AUD tương đương 2.100.000.000 VNĐ. Lần thứ 4 vay 4.400.000.000 đồng là tiền ông Hòa bà Nguyệt bán đất cho vay vào tháng 42012. Cộng tất cả Công ty Tân Thành Yến vay của vợ chồng ông Hòa bà Nguyệt là 11.000.000.000 đồng. Kể từ khi vay tiền của ông Hòa bà Nguyệt, Công ty Tân Thành Yến đã nhiều lần trả nợ, hàng tháng kế toán công ty đều trả vào tài khoản 10922224602068 của ông Hòa tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải Phòng mỗi tháng 4050 triệu đồng, ngoài ra mỗi lần bà Nguyệt về nước Công ty còn trả trực tiếp cho bà Nguyệt để mua quà cáp tặng người thân. Tổng cộng Công ty đã trả 4 5 tỷ đồng, đến nay Công ty chỉ còn nợ vợ chồng ông Hòa khoảng 5 6 tỷ đồng. Do chứng từ bị mất nên phía bị đơn không thể cung cấp cho Tòa án được. Hợp đồng vay tiền do ông Hòa, bà Nguyệt lập sau ngày hai bên đã cho nhau vay tiền. Lúc đó Công ty đang trong tình trạng khó khăn, nhiều chủ nợ truy đòi, tinh thần tôi bị hoảng loạn, ông Hòa bà Nguyệt ép buộc tôi phải ký trên xe ô tô ở khu vực Bến Bính, tôi không đọc nội dung hợp đồng, không biết số tiền ghi trên hợp đồng là bao nhiêu, nay được biết số tiền trên hợp đồng là 18.000.000.000 đồng tôi không chấp nhận khoản nợ này. Đối với khoản nợ của VPBank: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có ký hai hợp đồng vay tiền của VPBank chi nhánh Hải Phòng. Tuy nhiên, theo hợp đồng tín dụng ký giữa Công ty với VPBank thì các khoản vay đến thời điểm VPBank khởi kiện đều chưa đến hạn. Thời hạn vay của hai hợp đồng đều là 36 tháng, thời hạn của hợp đồng tín dụng LD 1019700080 ngày 1672010 đến ngày 1672013 mới đến hạn, còn hợp đồng tín dụng LD 1123500034 ngày 2382011 đến ngày 2382014 mới đến hạn. Trước đó, có lúc có khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn nhưng Công ty đã lần lượt thanh toán hết nợ quá hạn. Đến nay Công ty không còn nợ quá hạn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VPBank, đồng thời đề nghị VPBank tạo điều kiện thuận lợi để Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng. Ngày 1982013 Công ty Tân Thành Yến có đơn xin miễn giảm một phần án phí. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 022013DSST ngày 2782013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 471, 472, 473, 474, 315 Bộ luật dân sự; Căn cứ Quyết định số 16272001QĐNHNN ngày 31122001 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng. Căn cứ Nghị định số 1632006NĐCP ngày 29122006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của ủy ban thường vụ Quốc hội số 102009PLUBTVQH12 ngày 27022009; xử: 1. Công ty TNHH Tân Thành Yến còn nợ và có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê Văn Hòa và vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 17.165.670.000đ (mười bảy tỷ, một trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng). Kể từ tháng thứ 2 trở đi tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH Tân Thành Yến không trả xong khoản nợ trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án. 2. Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tại chi nhánh Hải Phòng Phòng giao dịch Quang Trung 1.006.692.166đ (một tỷ, không trăm không sáu triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng là khoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 2382011, Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quy định trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. 3. Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợ còn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Hải Phòng Phòng giao dịch Quang Trung. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thạnh Vượng Chi nhánh Hải Phòng Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho ông Lê Văn Hòa toàn bộ giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tài sản thế chấp tại ngân hàng (có danh sách kèm theo). Ông Lê Văn Hòa trở thành chủ sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công ty TNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao 42 chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ. 4. Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 6532013QĐBPKCTT ngày 1052013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để đảm bảo cho việc thi hành án. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 1792013 bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến có đơn kháng cáo với nội dung hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 0992013 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng có đơn kháng cáo với nội dung sửa bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cho rằng quyết định của bản án sơ thẩm đã giải quyết là đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đại diện của bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm vì có những vi phạm nghiêm trong về thủ tục tố tụng như: bà Nguyễn Thị Ninh là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trước đây có nhiều năm công tác ở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nên có mối quan hệ thân thiết với ông Trần Văn Nhiên chủ tọa phiên tòa, vì vậy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không được vô tư, khách quan. Về giấy ủy quyền của ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh là không hợp pháp vì không có công chứng, chứng thực; việc xác định Ngân hàng VP Bank là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng pháp luật vì khoản vay của Công ty TNHH Tân Thành Yến và ông Hòa, bà Nguyệt không liên quan đến Ngân hàng. Mặt khác Công ty TNHH Tân Thành Yến không vay của ông Hòa, bà Nguyệt số tiền 18 tỷ như cấp sơ thẩm xác định. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng quy định vì 42 chiếc ô tô này không phải là tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty đối với vợ chồng ông Hòa. Đại diện cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tuyên thêm nội dung trong trường hợp Công ty TNHH Tân Thành Yến hoặc ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt không trả nợ thay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc, lãi phát sinh thì Ngân hàng VP Bank có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 42 xe ô tô theo các hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do sau: Việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp tạm thời số 6532013QĐBPKCTT ngày 1052013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng chưa tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; lời trình bày, tranh luận của các đương sự và quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao. XÉT THẤY Xét kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yên và kháng cáo của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng với nội dung trờn, Hội đồng xét xử thấy: Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng giấy ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh không có công chứng, chứng thực là không hợp pháp. Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật dân sự thì: Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện, hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật có quy định ủy quyền phải lập thành văn bản. Việc ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh đã được thực hiện bằng văn bản và tại phiên tòa sơ thẩm ông Lê Văn Hòa bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đều xác nhận họ đã ủy quyền cho bà Ninh thực hiện việc khởi kiện Công ty TNHH Tân Thành Yến và thực hiện các quyền tố tụng dân sự khác thể hiện trong giấy ủy quyền ngày 0952013, khẳng định và thể hiện rõ ý chí của họ là có việc ủy quyền. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh là hợp pháp là đúng theo quy định pháp luật

Trang 1

CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA

ÁN

Trang 2

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HÒA XÃ CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ Độc lập

– Tự do – Hạnh phúc Quyết định giám đốc thẩm

Số: 20/2007/DS-GĐT

Ngày: 9/7/2007

Vụ án: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Với Hội đồng giám đốc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Các Thẩm phán:

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia

phiên tòa:

Họp phiên tòa ngày 9/7/2007, tại trụ sở Toà án nhân dân

tối cao để xét xử giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp

về hợp đồng vay tài sản” giữa:

1 Nguyên đơn: Công ty du lịch Phú Yên có trụ sở tại

nhà số 149X/B25 Tô Hiến Thành, phường 13, quận 10, thànhphố Hồ Chí Minh, do ông Lê Quang Bính đại diện theo giấy

uỷ quyền ngày 19/11/1999

2 Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại

Thịnh Phúc có trụ sở tại nhà số 153 Nguyễn Thông,

phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Vưu Út –

Giám đốc đại diện (sau đó đã bỏ trốn)

3 Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

Trang 3

- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940;

- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938;

- Ông Mẫn và Phấn cùng cư trú tại nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thànhphố Hồ Chí Minh

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 6/4/1998 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,Công ty Du lịch Phú Yên trình bày:

Ngày 10/8/1995, Công ty Du lịch Phú Yên (sau đây gọi tắt là Công ty Phú Yên)

ký hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá số 29/HĐUT của Công ty Trách nhiệmhữu hạn thương mại Thịnh Phúc (sau đây gọi là Công ty Thịnh Phúc) nhập khẩu 11 xe

ô tô tải chuyên dùng (đã qua sử dụng) với giá 90.000 USD Công ty Phú Yên đã nhập

về 06 xe ô tô do Hàn Quốc sản xuất, trị giá 50.000 USD và giao cho Công ty ThịnhPhúc, Công ty Thịnh Phúc đã ký quỹ trước 5.000 USD Số tiền còn lại là 45.000 USD

sẽ phải thanh toán trong thời hạn 180 ngày

Ngày 27/11/1995, tại Phòng công chứng số 2 thành phố Hồ Chí Minh, ông MạcHữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn ký cam kết thế chấp căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2,quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (thuộc quyền sở hữu của ông Mẫn, bà Phấn) để bảolãnh cho Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út đại diện, thực hiện hợp đồng uỷ thácnhập khẩu số 29/HĐUT nêu trên Ông Út (bên được bảo lãnh) với ông Mẫn và bà Phấn(người thế chấp) cam kết: “Trường hợp đáo hạn mà Công ty Thịnh Phúc không trả đủ

nợ, lãi cho Công ty Phú Yên để thanh lý hợ đồng trên, chúng tôi đồng ý cho Công tyPhú Yên phát mãi nhà nói trên để trừ nợ, lãi và chi phí liên quan đến lô hàng mà khôngtranh chấp, khiếu nại gì.”

Tại “Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ” ngày 31/1/1998 giữa Công ty PhúYên với Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc xác nhận đến ngày 31/1/1998 còn

nợ Công ty Phú Yên tổng số tiền là 1.015.814.000 đồng (bao gồm 45.000 USD nợ củahợp đồng uỷ thác số 29/HĐUT ngày 10/8/1998, lãi của tiền nợ do chậm trả từ tháng4/1996 đến tháng 1/1998 là 14.850 USD và nợ tiền hàng cũ là 238.841.300 đồng) vàđồng ý để Công ty Phú Yên tiến hành lập thủ tục phát mãi nhà số 62 Dạ Nam để thuhồi nợ

Ngày 6/4/1998, Công ty Phú Yên khởi kiện Toà án kinh tê nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh yêu cầu Công ty Thịnh Phúc thanh toán số nợ và lãi theo biên bản xácnhận công nợ nêu trên, tổng cộng là 1.015.814.000 đồng; trường hợp Công ty ThịnhPhúc không có khả năng thanh toán số nợ trên thì đề nghị Toà án phát mãi căn nhà số

62 Dạ Nam để thanh toán nợ gốc và lãi theo quy định

Trang 4

Bị đơn là Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út – Giám đốc có lời khai duy nhất tạiToà án ngày 20/5/1998 xác nhận: Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 45.000USD từ ngày 1/4/1996 đến nay chưa thanh toán, Công ty Phú Yên áp dụng mức lãisuất quá cao, đề nghị thương lượng lại Hợp đồng số 29/HĐUT ngày 10/8/1998 đượcbảo đảm bằng tài sản là nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ ChíMinh; cam kết thanh toán trong hạn 3 tháng, quá hạn không trả được thì phát mãi nhà

số 62 Dạ Nam Ngoài ra, Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 238.841.300đồng (số nợ này không có bảo đảm), Cong ty Thịnh Phúc sẽ thanh toán trong hạn 18tháng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Phấn trình bày: vợ chồng bà

có bảo lãnh cho ông Út thực hiện hợp đồng uỷ thác số 29/HĐUT ngày 10/8/1998 đểnhập 6 chiếc xe ô tô chứ không bảo lãnh các việc khác; vợ chồng bà không nợ Công tyPhú Yên nên koong có trách nhiệm gì với số nợ của ông Út đối với Công ty Phú Yên.Tại quyết định chuyển vụ án số 14/CH-KT ngày 26/8/1999, Toà án nhân dânthành phố Hồ Chí Minh xác định thoả thuận ngày 31/1/1998 giữa hai bên ký kết vớinhau nhằm xác định công nợ, mang tính dân sự, không phải là tranh chấp hợp đồngkinh tế mà là tranh chấp dân sự và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 Toà án nhân dân thànhphố Hồ Chí Minh quyết định:

1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc Do ông Vưu Út làmGiám đốc, trả cho Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên số nợ còn thiếu của hợp đồng uỷ thác

số 29/HĐUT ngày 10/8/1995 là 989.086.247 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu, támmươi sáu ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật

2 Kê biên căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minhthuộc sở hữu của ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là tài sản thế chấp, để đảmbảo thi hành số tiền ở Điều 1 ở trên Số tiền còn lại trong quá trình phát mãi nhà thìông Mẫn và bà Phấn được nhận

Nếu ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn trả nợ cho Công ty Du lịch Phú Yên ,thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, số tiền 989.086.247 đồngtheo Điều 1 ở trên thì Công ty Du lịch Phú Yên phải trả giấy tờ nhà 62 Dạ Nam,phường 2, quận 8 cho ông Mẫn – bà Phấn, các giấy tờ bản chính gồm:

- Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 172/GP-UB ngày 1/3/1989

- Bản vẽ hiện trạng nhà

- Tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ ngày 18/3/1993

Trang 5

- Biên lại thu lệ phí trước bạ số 004777 ngày 25/3/1993.

3 Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc phải trả cho Công ty Dulịch Phú Yên số tiền 238.841.300 đồng (hai trăm ba mươi tám triệu, tám trăm bốnmươi mốt ngàn, ba trăm đồng chẵn) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, điều kiện thi hành án vàtuyên quyền kháng cáo

Ngày 27/8/2001, bà Phấn kháng cáo đề nghị xem xét, giải quyết lại vụ án và yêucầu xét xử phải có bị đơn mà Công ty Thịnh Phúc vì ông Vưu Út bỏ trốn thì còn cácthành viên khác; Công ty Phú Yên phải đòi nợ họ, để vợ chồng bà không bị thiệt thòi.Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 91/DSPT ngày 31/3/2003, Toà án phúc thẩmToà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1 Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 của Toà án nhândân thành phố Hồ Chí Minh

2 Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại

từ đầu theo thủ tục chung

Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án sô 32/2005/QĐ-TĐCDSngày 20/4/2005, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1 Tạm đình chỉ xét xử sơ thẩm vụ án đã thụ lý số 1249/DSST ngày 4/7/2003 củaToà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc “Đòi nợ” giữa:

Nguyên đơn: Công ty Du lịch Phú Yên

Địa chỉ: 149X/B25 Tô Hiến Thành, phường 13, quận 10

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc

Địa chỉ: 153 Nguyễn Thông, phường 9, quận 3

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940;

- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938;

Trú tại: 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8

2 Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ kiện và tính án phí khi lý do tạm đình chỉkhông còn

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo

Trang 6

Ngày 5/9/2005, bà Phấn kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân thành phố Hồ ChíMinh không xét xử mà ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án à khôngthoả đáng, là thiệt thòi cho vợ chồng bà.

Tại Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 31/12/2005, Toà phúc thẩmToà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1 Huỷ quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án số 32/2005/QĐ-TĐCDSngày 20/4/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữa:

Nguyên đơn: Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940

- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938

2 Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theotrình tự sơ thẩm và theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Tại Công văn số 363/CV-TDS ngày 27/2/2006, Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định phúc thẩm

số 506/2005/DSPT nên trên

Tại Quyết định kháng nghị số 95/2007/KN-DS ngày 25/5/2007, Chánh án Toà ánnhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày30/12/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy địnhcủa pháp luật với nhận định:

Ngày 21/8/2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm(Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001) Ngày 27/8/2001, bà Phấn cóđơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm Tại Bản án phúc thẩm số 91/PTDSngày 31/3/2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đãquyết định huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 của Toà án nhândân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục chung (tham gia Hội đồng xét

xử phúc thẩm có Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu)

Tại Quyết định số 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005, Toà án nhân dân thànhphố Hồ Chí Minh quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với nhận định là nguyênđơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn Ngày 5/9/2005, bà Phấn, ông Mẫn khángcáo Tại Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 Toà phúc thẩm

Trang 7

Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định huỷ Quyết định tạmđình chỉ giải quyết vụ án số 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005 của Toà án nhândân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minhgiải quyết vụ án theo quy định của pháp luật (tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm cóThẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu).

Như vậy, Thẩm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm đểxét xử vụ án vào ngày 31/3/2003; sau đó Thẩm phán Hồ Trung Hiếu lại tham gia Hộiđồng xét xử lại vụ vào ngày 30/12/2005, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, theoquy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự

Tại phiên toà Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghịHội đồng Thẩm phán Toá án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh ánToà án nhân dân tối cao

XÉT THẤY

Theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Thẩm phán, Hộithẩ nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đã tham gia xét xử

sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó

Thảm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia xét xử phúc thẩm vụ án vào ngày31/3/2003 và ngày 30/12/2005 lại tham gia xét xử phúc thẩm về cùng một vụ án tranhchấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn làCông ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan là ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tốtụng

Vì lẽ trên, căn cứ vào khoản 3, Điều 297; khoản 3 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dânsự

QUYẾT ĐỊNH

1 Huỷ Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 của Toà ánphúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấphợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công

ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc

2 Giao hồ sơ vụ án cho Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố

Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại; theo đúng quy định của pháp luật

Nơi nhận: TM HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM

- VKSNDTC (V5) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trang 8

- TAND huyện, tỉnh (kèm hồ sơ)

Trang 9

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán TAND tối cao - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Việt;

Các Thẩm phán TAND tối cao: Ông Lê Thanh Bình;

Ông Đặng Bảo Vĩnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú, cán bộ Tòa

phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị

Thanh Tâm, Kiểm sát viên

Trong c¸c ngày 14 và 17 tháng 3 năm 2014 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa ánnhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số48/2013/DS-TLPT ngày 12 tháng 11 năm 2013 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tiền

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Tòa ánnhân dân thành phố Hải Phòng bị cáo kháng cáo Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử

số 455/2014/QĐ-PT ngày 6 tháng 3 năm 2014 giữa các đương sự:

1 Nguyên đơn:

- Ông Lê Văn Hòa, sinh năm 1956;

Địa chỉ: số 295 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố HảiPhòng; vắng mặt đã ủy quyền

Trang 10

- Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh năm 1960; hiện trú tại: 40 Saltash St,Yagoona, NSW 2199, Australia, hộ chiếu Australia số M2934069, cấp ngày11/05/2005, nơi cấp Sydney, Australia; vắng mặt đã ủy quyền.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ninh, luật sư - Giám

đốc Công ty luật TNHH một thành viên Nguyễn Thị Ninh thuộc đoàn luật sư thành phốHải Phòng (theo hợp đồng ủy quyền ngày 03/9/2013); có mặt

2 Bị đơn: Công ty TNHH Tân Thành Yến;

Địa chỉ: số 36 Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố HảiPhòng;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Yến - Giám đốc Công ty; vắng

mặt đã ủy quyền

Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thùy Liên, trú tại: 16A/119 TrungHành 7, phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; có mặt

3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng

TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank);

Địa chỉ: số 72 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

* Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng xử lý nợ hội sở; vắng mặt

- Ông Nguyễn Lê Huy, Nhân viên phòng xử lý nợ hội sở; có đơn đề nghị xét xửvắng mặt

- Ông Mai Xuân Trọng, Chuyên viên phòng xử lý nợ hội sở; có mặt

- Bà Tăng Thị Liên, Trưởng nhóm cao cấp khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏchi nhánh Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

NHẬN THẤY

Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn là ông Lê Văn Hòacùng vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã cho Công ty TNHH Tân Thành Yến (sauđây gọi tắt là Công ty Tân Thành Yến) vay từ năm 2009 đến nay tổng cộng số tiền đãvay là 18.000.000.000 đ (mười tám tỷ đồng chẵn) để mua xe ô tô kinh doanh taxi.Theo hợp đồng thì Công ty Tân Thành Yến phải trả hết cả gốc và lãi trong thời hạn

36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày 15/11/2009 Nhưng đến nay đã quá thời hạn trả

Trang 11

nợ theo cam kết, Công ty Tân Thành Yến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và còntrốn tránh trách nhiệm trả nợ.

Số tiền Công ty Tân Thành Yến vay được cam kết trả nợ bằng toàn bộ số xe ô

tô mà Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại chi nhánh Ngân hàng MHB HảiPhòng Ngày 02/5/2012 Công ty Tân Thành Yến ký hợp đồng ủy quyền cho ông LêVăn Hòa hoàn thành việc thanh toán tiền vay ngân hàng và nhận lại bản chính cácgiấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (ô tô) tại chi nhánh VPBank Hải Phòng.Tuy nhiên, ngày 07/5/2013 Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm cam kết, trả tiềnngân hàng, nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của 32 chiếc xe

ô tô và đã bán ngay số xe này, không thông báo cho vợ chồng ông Hòa và không trả

nợ cho vợ chồng ông Hòa Đây là hành vi bội ước, ảnh hưởng nghiêm trọng đếnquyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Hòa

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty Tân ThànhYến phải trả nợ vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt18.000.000.000 đồng Trường hợp Công ty Tân Thành Yến không trả được, đề nghị Tòa

án quyết định cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa trả VPBank khoản nợ của Công ty TânThành Yến và nhận lại toàn bộ giấy tờ gốc 42 chiếc xe ô tô Công ty Tân Thành Yếnđang thế chấp tại VPBank khoản nợ của Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tạiVPBank, nhận lại, quản lý và định đoạt toàn bộ số xe ô tô trên xe theo nội dung hợpđồng ủy quyền đã quy định Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông Lê Văn Hòa vẫn giữnguyên yêu cầu trên

Ngày 30/5/2013 Ngân hàng VPBank có đơn yêu cầu được tham gia tố tụng vụ ándân sự sơ thẩm thụ lý số 08/2013/TLST-DS ngày 14/5/2013 của Tòa án nhân dân thànhphố Hải Phòng, với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độclập Với nội dung: chi nhánh Công ty Tân Thành Yến vay của VPBank số tiền5.700.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số LD 1019700080 ngày 16/7/2010 (phụlục ngày 23/8/2011) số tiền vay 2.900.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng, mục đích vaythanh toán tiền mua 22 xe ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT

Lãi suất cho vay trong thời hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 17%/năm Lãisuất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm

kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên

độ 7%/năm

Lãi suất trong hạn từ ngày 23/8/2011 là 21%/năm, mức điều chỉnh bằng lãi suấttiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh(+) biên độ 5,92%/năm

Trang 12

Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phảichịu tiền phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền lãi chậm trả.Bắt đầu tính từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán nợ lãi quá hạn.Các kỳ trả nợ gốc: bên vay phải trả gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/8/2010, tổng cộng 36 kỳ, mỗi

ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT

Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 23%/năm Lãi suấtcho vay điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ10%/năm Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Khoản nợ lãi quá hạn sẽphải chịu phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền chậm trả và sốngày chậm trả Bắt đầu từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán hết nợlãi quá hạn

Bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào các ngày 15,

kỳ hạn trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2011, tổng cộng 36 kỳ, số tiền gốc bên vayphải trả mỗi kỳ là 78.000.000 đồng, riêng kỳ cuối là 70.000.000 đồng

Bên vay phải trả tiền lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào các ngày

15, kỳ hạn trả lãi đầu tiên vào ngày 15/9/2011

Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là 20 xe ô tô hình thành từ vốn vay củaVPBank, có tài sản thế chấp kèm theo

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm nghĩa

vụ trả nợ nên các hợp đồng tín dụng trên đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 28/8/2012

và phải chịu mức lãi suất quá hạn Tính đến ngày 27/5/2013 ngày VPBank gửi đơnkhởi kiện Công ty Tân Thành Yến còn nợ ngân hàng 1.130.755.591 đồng trong đó nợgốc là 1.122.630.806 đồng và nợ lãi là 8.124.785 đồng

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VPBank trình bày: trong thời gian vừa qua Công

ty Tân Thành Yến đã trả nợ tiếp được 177.809.257 đồng Trong đó trả nợ gốc là

Trang 13

122.124.139 đồng và trả nợ lãi được 55.685.118 đồng Khoản tiền trên được trả tínhtrả cho hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 16/7/2010 (phụ lục ngày23/8/2011) số tiền vay là 2.900.000.000 đồng Đến nay Công ty Tân Thành Yến chỉ còn

nợ hợp đồng dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011 là 1.006.692.166 đồng, trong đó

nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng VPBank yêu cầu Công tyTân Thành Yến phải thực hiện việc trả nợ cho VPBank nếu không sẽ đề nghị Tòa ántuyên kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VPBank

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Công ty Tân Thành Yến vắng mặt Tại bản tự khaingày 28/6 dụng số LD 1123500034/2013 và những lời trình bày của đại diện Công tyTân Thành Yến: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có vay và còn nợ tiền vợ chồng ông

Lê Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt Cụ thể 04 lần vay như sau: lần thứ nhấtvay 200.000 USD tương đương 4.000.000.000 VNĐ vào tháng 3/2010 Lần thứ hai vay500.000.000 đồng khoảng tháng 3/2011 Lần thứ ba vay 100.000 AUD tương đương2.100.000.000 VNĐ Lần thứ 4 vay 4.400.000.000 đồng là tiền ông Hòa bà Nguyệt bánđất cho vay vào tháng 4/2012 Cộng tất cả Công ty Tân Thành Yến vay của vợ chồngông Hòa bà Nguyệt là 11.000.000.000 đồng Kể từ khi vay tiền của ông Hòa bà Nguyệt,Công ty Tân Thành Yến đã nhiều lần trả nợ, hàng tháng kế toán công ty đều trả vàotài khoản 10922224602068 của ông Hòa tại ngân hàng Techcombank chi nhánh HảiPhòng mỗi tháng 40-50 triệu đồng, ngoài ra mỗi lần bà Nguyệt về nước Công ty còn trảtrực tiếp cho bà Nguyệt để mua quà cáp tặng người thân Tổng cộng Công ty đã trả 4 - 5

tỷ đồng, đến nay Công ty chỉ còn nợ vợ chồng ông Hòa khoảng 5 - 6 tỷ đồng Do chứng

từ bị mất nên phía bị đơn không thể cung cấp cho Tòa án được

Hợp đồng vay tiền do ông Hòa, bà Nguyệt lập sau ngày hai bên đã cho nhauvay tiền Lúc đó Công ty đang trong tình trạng khó khăn, nhiều chủ nợ truy đòi, tinhthần tôi bị hoảng loạn, ông Hòa bà Nguyệt ép buộc tôi phải ký trên xe ô tô ở khu vựcBến Bính, tôi không đọc nội dung hợp đồng, không biết số tiền ghi trên hợp đồng làbao nhiêu, nay được biết số tiền trên hợp đồng là 18.000.000.000 đồng tôi khôngchấp nhận khoản nợ này

Đối với khoản nợ của VPBank: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có ký hai hợpđồng vay tiền của VPBank chi nhánh Hải Phòng Tuy nhiên, theo hợp đồng tín dụng

ký giữa Công ty với VPBank thì các khoản vay đến thời điểm VPBank khởi kiện đềuchưa đến hạn Thời hạn vay của hai hợp đồng đều là 36 tháng, thời hạn của hợp đồngtín dụng LD 1019700080 ngày 16/7/2010 đến ngày 16/7/2013 mới đến hạn, còn hợpđồng tín dụng LD 1123500034 ngày 23/8/2011 đến ngày 23/8/2014 mới đến hạn.Trước đó, có lúc có khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn nhưng Công ty đã lần lượtthanh toán hết nợ quá hạn Đến nay Công ty không còn nợ quá hạn nên không chấp

Trang 14

nhận yêu cầu khởi kiện của VPBank, đồng thời đề nghị VPBank tạo điều kiện thuậnlợi để Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Ngày 19/8/2013 Công ty Tân Thành Yến có đơn xin miễn giảm một phần ánphí

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 27/8/2013 của Tòa án nhândân thành phố Hải Phòng đã quyết định:

- Căn cứ vào các Điều 471, 472, 473, 474, 315 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốcngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng vớikhách hàng

- Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ vềgiao dịch bảo đảm

- Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của ủy ban thường vụ Quốc hội số10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009; xử:

1 Công ty TNHH Tân Thành Yến còn nợ và có nghĩa vụ phải trả cho ông

Lê Văn Hòa và vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 17.165.670.000đ (mười bảy tỷ, một trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

Kể từ tháng thứ 2 trở đi tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công tyTNHH Tân Thành Yến không trả xong khoản nợ trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòathì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chậm trả theo lãi suất cơbản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án

2 Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt NamThịnh Vượng - tại chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung1.006.692.166đ (một tỷ, không trăm không sáu triệu sáu trăm chín mươi hai nghìnmột trăm sáu mươi sáu đồng) Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là6.185.499 đồng là khoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày23/8/2011, Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quyđịnh trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ

3 Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợcòn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng - chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung Sau khi hoàn thànhnghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thạnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng -Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho ông Lê Văn Hòa toàn bộgiấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tài sản thế chấp

Trang 15

tại ngân hàng (có danh sách kèm theo) Ông Lê Văn Hòa trở thành chủ sở hữu đốivới 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công ty TNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao

42 chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ

4 Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số653/2013/QĐ-BPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng

để đảm bảo cho việc thi hành án

Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng còn quyết định về án phí vàtuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Ngày 17/9/2013 bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến có đơn kháng cáo vớinội dung hủy toàn bộ bản án sơ thẩm

Ngày 09/9/2013 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCPViệt Nam Thịnh Vượng có đơn kháng cáo với nội dung sửa bản án sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau vềviệc giải quyết vụ án Đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và chorằng quyết định của bản án sơ thẩm đã giải quyết là đúng pháp luật Đề nghị khôngchấp nhận kháng cáo của bị đơn và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan

- Đại diện của bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến giữ nguyên yêu cầu

kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án kinh doanhthương mại sơ thẩm vì có những vi phạm nghiêm trong về thủ tục tố tụng như: bàNguyễn Thị Ninh là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trước đây có nhiều nămcông tác ở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nên có mối quan hệ thân thiết vớiông Trần Văn Nhiên chủ tọa phiên tòa, vì vậy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩmkhông được vô tư, khách quan

Về giấy ủy quyền của ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh là không hợppháp vì không có công chứng, chứng thực; việc xác định Ngân hàng VP Bank làngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng pháp luật vì khoảnvay của Công ty TNHH Tân Thành Yến và ông Hòa, bà Nguyệt không liên quan đếnNgân hàng Mặt khác Công ty TNHH Tân Thành Yến không vay của ông Hòa, bàNguyệt số tiền 18 tỷ như cấp sơ thẩm xác định Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời là không đúng quy định vì 42 chiếc ô tô này không phải là tài sản bảo đảm chokhoản vay của Công ty đối với vợ chồng ông Hòa

- Đại diện cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng giữ nguyên kháng cáo

đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, hủy bỏ quyết định áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời; tuyên thêm nội dung trong trường hợp Công ty TNHH Tân Thành

Trang 16

Yến hoặc ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt không trả nợ thay cho Ngânhàng toàn bộ số tiền gốc, lãi phát sinh thì Ngân hàng VP Bank có quyền đề nghị Cơquan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 42 xe ô tô theo các hợp đồngthế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về việc tuân theo

pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơthẩm và phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong quátrình giải quyết vụ án

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm,nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý

do sau: Việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp tạm thời số653/2013/QĐBPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòngchưa tuân thủ các quy định của pháp luật Việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa Ngân hàngthương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng tham gia vụ kiện với tư cách người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra côngkhai tại phiên tòa; lời trình bày, tranh luận của các đương sự và quan điểm giải quyết

vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XÉT THẤY

Xét kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yên và kháng cáo của Ngânhàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng với nội dung trờn, Hội đồng xét xử thấy: Đốivới nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng giấy ủy quyền của vợ chồng ông LêVăn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh không có công chứng, chứng thực là không hợppháp Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật dân sự thì: Đại diện theo ủy quyền là đạidiện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện,hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật có quy định ủyquyền phải lập thành văn bản Việc ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bàNguyễn Thị Ninh đã được thực hiện bằng văn bản và tại phiên tòa sơ thẩm ông LêVăn Hòa bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đều xác nhận họ đã ủy quyền cho bà Ninhthực hiện việc khởi kiện Công ty TNHH Tân Thành Yến và thực hiện các quyền tốtụng dân sự khác thể hiện trong giấy ủy quyền ngày 09/5/2013, khẳng định và thểhiện rõ ý chí của họ là có việc ủy quyền Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc

ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh là hợp pháp làđúng theo quy định pháp luật

Trang 17

Đối với nội dung kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yến cho rằng bản

án sơ thẩm căn cứ vào lời khai của ông Hòa, bà Nguyệt và Hợp đồng vay tài sản đểxác định Công ty vay của vợ chồng ông Hòa, bà Nguyệt 18.000.000.000 đồng làkhông đúng vì khi ký hợp đồng vay người đại diện theo pháp luật của Công ty ký

trong tình trạng không minh mẫn, bà Yến không đọc hợp đồng và được ký trên xe ô

tô ở khu vực Bến Bính

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm ông

Lê Văn Hòa khai: vợ chồng ông đã cho Công ty TNHH Tân Thành Yến vay nhiềulần từ năm 2009 đến năm 2012 với tổng số tiền là 18.000.000.000 đồng, các lần vayđều không có chứng từ, tuy nhiên đến ngày 27/4/2012 hai bên lập hợp đồng vay tiền

để xác nhận khoản nợ trên, hợp đồng có đầy đủ chữ ký của các bên và được côngchứng tại Phòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của cácbên đương sự, Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng vay tiền giữa ông Lê Văn Hòa, bàNguyễn Thị Minh Nguyệt với Công ty TNHH Tân Thành Yến được hai bên thỏathuận, ký kết tại phòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng vào ngày 27/4/2012

do Công chứng viên Nguyễn Nhật Quang chứng nhận Chủ thể tham gia ký kết hợpđồng vay tiền này là những người có đủ năng lực trách nhiệm dân sự và nội dungcủa hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội Trong quá trình giải quyết vụ

án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của công chứng viên Nguyễn Nhật Quang,ông Quang cũng khẳng định việc công chứng hợp đồng trên được thực hiện tạiPhòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng là hợp pháp đúng quy định của phápluật

Mặt khác, ngoài hợp đồng vay tiền thể hiện khoản vay 18.000.000.000 đồng củaCông ty TNHH Tân Thành Yến, thì còn nhiều các tài liệu khác như: Biên bản họphội đồng thành viên ngày 25/4/2012 của Công ty TNHH Tân Thành Yến thống nhấtvay của ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt số tiền 18.000.000.000 đồng;

và tại Biên bản giữa Công ty TNHH Tân Thành Yến và ông Lê Văn Hòa ngày24/4/2012 trong đó có nội dung: “Công ty TNHH Tân Thành Yến có vay của ông LêVăn Hòa số tiền 18.000.000.000 đồng Nay do điều kiện khó khăn không có điềukiện trả nợ đúng hạn cho anh Hòa, vì vậy bằng biên bản này Công ty nhất trí gán nợcho anh Hòa 72 xe ô tô đang thế chấp tại Ngân hàng VP Bank”

Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở xác định Công tyTNHH Tân Thành Yến đã vay của vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị MinhNguyệt số tiền 18.000.000.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứpháp luật

Trang 18

Về khoản tiền Công ty TNHH Tân Thành Yến đã trả nợ cho vợ chồng ông LêVăn Hòa đến nay hai bên khai cũng không thống nhất Ông Lê Văn Hòa cho rằngCông ty TNHH Tân Thành Yến mới trả 219.000.000 đồng tiền lãi Còn bà Nguyễn ThịYến khai hợp đồng vay tiền không có quy định lãi suất, Công ty đã trả nhiều lần, trảvào tài khoản của ông Hòa tại Ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải Phòng và trảtrực tiếp cho vợ chồng ông Hòa mỗi lần về nước nhưng không nhớ là bao nhiêu, do

bị mất chứng từ, chỉ biết đến nay còn nợ vợ chồng ông Hòa khoảng 4 đến 5 tỷ đồng.Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định yêu cầu Ngânhàng Techcombank chi nhánh Hải Phòng sao kê các lần Công ty TNHH Tân ThànhYến trả nợ vào tài khoản của ông Lê Văn Hòa Theo kết quả sao kê thì từ ngày14/8/2010 đến ngày 21/9/2012 Công ty TNHH Tân Thành Yến đã 31 lần trả nợ cho

vợ chồng ông Lê Văn Hòa qua tài khoản với tổng số tiền đã trả là 834.330.000 đồng.Tại phiên tòa sơ thẩm vợ chồng ông Lê Văn Hòa và tại phiên tòa phúc thẩm đại diệntheo ủy quyền của ông Hòa, bà Yến đều chấp nhận số tiền này Đối với khoản tiềnkhác bà Nguyễn Thị Yến khai đã trả trực tiếp cho vợ chồng ông Hòa nhưng không

có chứng cứ chứng minh và vợ chồng ông Hòa cũng không thừa nhận, nên không cócăn cứ chấp nhận đề nghị của Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Thành Yến

Theo khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng vay tiền có thỏa thuận về lãi suất: Lãi suấttiền vay, lãi suất quá hạn, kỳ hạn trả gốc + lãi do hai bên thỏa thuận tại văn bản khác.Cho đến nay cả hai bên đều không xuất trình được văn bản quy định về lãi suất Do

đó coi như hợp đồng vay tiền không có lãi suất Nên khoản tiền 834.330.000 đồng

mà Công ty TNHH Tân Thành Yến đã trả cho ông Lê Văn Hòa được trừ vào khoản

nợ gốc Nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn làCông ty TNHH Tân Thành Yến còn nợ vợ chồng ông Lê Văn Hòa tổng số tiền là17.165.670.000 đồng là có căn cứ pháp luật

Đối với yêu cầu về việc xác định Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (Ngân hàng VP Bank) là người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án Hội đồng xét xử thấy: Sau khi thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng vay

tiền giữa vợ chồng ông Lê Văn Hòa với Công ty TNHH Tân Thành Yến và trên cơ

sở đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của vợ chồng ông Hòa, Tòa áncấp sơ thẩm đã ra Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời trong đó có nội dung: cấmchuyển dịch 42 xe ô tô là tài sản thế chấp của Công ty TNHH Tân Thành Yến tạiNgân hàng VP Bank Do đó Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng thấy việcgiải quyết vụ án có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình và đề nghị Tòa

án đưa Ngân hàng VP Bank vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập và Ngân hàng VP Bank đã nộp tiền tạmứng án phí là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật

Trang 19

Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởikiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị vàđược Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quanđến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vàotham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa ánphải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan” Do đó việc Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tham gia tố tụng trong

vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là hoàn toàn đúngpháp luật

- Đối với nội dung yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng (VPBank) Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình kinh doanh Công ty TNHHTân Thành Yến đã ký với Ngân hàng VP Bank chi nhánh Hải Phòng các hợp đồngtín dụng gồm:

+ Hợp đồng tín dụng số LD1019700080 ngày 16/07/2010 (phụ lục ngày23/8/3011) số tiền vay 2.900.000.000 đồng, đến nay Công ty TNHH Tân Thành Yến

đã trả xong

+ Hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 23/08/2011, số tiền vay2.800.000.000 đồng Tính đến phiên tòa sơ thẩm, Công ty TNHH Tân Thành Yếncòn nợ là 1.007.691.166 đồng, trong đó nợ gốc là 1.000.505.667 đồng, nợ lãi là6.185.499 đồng Để bảo đảm cho hai khoản vay nêu trên, Công ty TNHH Tân ThànhYến và Ngân hàng đã ký kết hai hợp đồng thế chấp tài sản bao gồm thế chấp 42chiếc xe ô tô con (có danh sách kèm theo), việc thế chấp có công chứng và đăng kýgiao dịch bảo đảm

Theo Điều 6 của hợp đồng tín dụng về việc thu hồi nợ trước hạn có quy định:

“Việc thu hồi nợ trước thời hạn trong trường hợp: Tình hình tài chính, thu nhập, tàisản của bên vay giảm sút, các tài sản bảo đảm tiền vay bị giảm sút, liên quan đến cáctranh chấp, khiếu kiện, bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào đối với ngân hàng theohợp đồng này” Do đó việc Ngân hàng VP Bank có đơn yêu cầu độc lập gửi Tòa ánnhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị buộc Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trảhết khoản nợ còn lại trước hạn là có căn cứ và đúng pháp luật

Theo các tài liệu thể hiện thì khoản vay nợ giữa Công ty TNHH Tân Thành Yến và vợ chồng ông Lê Văn Hòa không có tài sản bảo đảm Khi đến hạn Công ty

TNHH Tân Thành Yến đã không trả được nợ nên ngày 24 tháng 4 năm 2012 hai bên

Trang 20

đã lập biên bản xác nhận: “Công ty Tân Thành Yến vay của ông Lê Văn Hòa18.000.000.000đồng, do khó khăn về kinh tế không có điều kiện trả nợ, bằng biênbản này Công ty nhất trí gán nợ cho ông Hòa toàn bộ số xe thuộc quyền sở hữu củaCông ty hiện đang thế chấp tại VPBank chi nhánh Hải Phòng Để thực hiện việcgán nợ ngày 02 tháng 5 năm 2012 bà Nguyễn Thị Yến giám đốc Công ty TNHHTân Thành Yên và ông Lê Văn Hòa đã ký hợp đồng ủy quyền (có chứng thực củaphòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng, do công chứng viên Nguyễn NhậtQuang chứng nhận), theo hợp đồng ủy quyền này thì Công ty TNHH Tân ThànhYến đã ủy quyền cho ông Lê Văn Hòa được quyền thay mặt Công ty TNHH TânThành Yến hoàn thành việc thanh toán các nghĩa vụ được bảo đảm tại Ngân hàngTMCP Việt Nam Thịnh Vượng Chi nhánh Hải Phòng- Phòng giao dịch QuangTrung Nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cùng vớithông báo giải tỏa các tài sản tại Ngân hàng Làm thủ tục xóa đăng ký thế chấp tạicác cơ quan có thẩm quyền Quản lý, sử dụng, khai thác công dụng của tài sản, giảiquyết các tranh chấp dân sự liên quan nếu có Lập và ký kết hợp đồng bán tài sảncho người mua, với giá mua bán và các điều khoản khác do ông Lê Văn Hòa toànquyền quyết định”

Hội đồng xét xử thấy: Đối với biên bản gán nợ và hợp đồng ủy quyền trên làhợp pháp, thể hiện rõ ý chí của hai bên, trước khi bà Yến đại diện ký các hợp đồngtrên thì Công ty TNHH Tân Thành Yến cũng đã họp và ra nghị quyết nhất trí các nộidung ủy quyền và giao cho bà Nguyễn Thị Yến đại diện Công ty ký hợp đồng ủyquyền với ông Lê Văn Hòa Việc ủy quyền trên đã được đại diện Ngân hàng TMCPViệt Nam Thịnh Vượng là ông Vũ Văn Tùng - Giám đốc chi nhánh VPBank tại HảiPhòng đồng ý tại công văn số 26/CV ngày 26/4/2012 của Công ty TNHH Tân ThànhYến gửi Ngân hàng

Như vậy nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng từ Công tyTNHH Tân Thành Yến đã được chuyển giao cho ông Lê Văn Hòa Ông Lê Văn Hòa

có trách nhiệm thanh toán trả nợ ngân hàng và được quyền nhận lại các giấy tờ gốc(bản chính) tài sản thế chấp, làm thủ tục giải chấp và quản lý, định đoạt tài sản theonội dung hợp đồng ủy quyền đã quy định Tại phiên tòa sơ thẩm vợ chồng ông LêVăn Hòa đề nghị được thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả nợ Ngân hàng và nhận lạicác giấy tờ gốc (bản chính) chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô thếchấp là đúng với sự thỏa thuận của các bên Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm quyếtđịnh chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợcòn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng - Chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung là có căn cứ pháp

Trang 21

luật, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của vợ chồng ông Hòa, bà Nguyệt và cũngnhư bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng VPBank

Sau khi ông Lê Văn Hòa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngânhàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịchQuang Trung mới bàn giao cho ông Lê Văn Hòa toàn bộ giấy tờ gốc chứng minhquyền sở hữu đối với 42 chiếc ô tô con là tài sản thế chấp tại ngân hàng Việc quyếtđịnh trên là phù hợp, không ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng Do đó việcNgân hàng VP Bank kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm tuyên thêm nội dungNgân hàng VP Bank có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sảnthế chấp là 42 xe ô tô theo các hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ làkhông cần thiết, nên không được chấp nhận

Đối với nội dung kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yến, và kháng cáo

của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đề nghị hủy bỏ quyết định áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời, Hội đồng xét xử thấy: trên cơ sở đơn yêu cầu của vợ chồng ôngHòa, bà Nguyệt cùng các tài liệu chứng cứ khác, xác định Công ty TNHH Tân ThànhYến có vay và nợ tiền vợ chồng ông Hòa với số tiền 18.000.000.000 đồng Theo nhưđơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của vợ chồng ông Hòa, bà Nguyệt thìCông ty TNHH Tân Thành Yến đã vi phạm cam kết, trả tiền cho ngân hàng, nhận lạigiấy tờ và tự bán 32 chiếc xe ô tô đã gán nợ cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa, không trả

nợ cho ông Lê Văn Hòa Việc làm trên của Công ty TNHH Tân Thành Yến trực tiếpảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của vợ chồng ông Lê Văn Hòa Vì vậy Tòa án cấp

sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 99, khoản 1 Điều 100, Điều 109, Điều 110 và Điều

117 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là có căn

cứ và đúng pháp luật Để bảo đảm cho việc thi hành bản án đúng pháp luật, bảo vệquyền lợi hợp pháp cho các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tiếp tục duy trìquyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên là phù hợp Do đó không có căn

cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yến và kháng cáo của Ngânhàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng về vấn đề trên

Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng bà Nguyễn Thị Ninh là ngườiđại diện hợp pháp của nguyên đơn trước đây có nhiều năm công tác ở Tòa án nhândân thành phố Hải Phòng nên có mối quan hệ thân thiết với ông Trần Văn Nhiên chủtọa phiên tòa, vì vậy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không được vô tư, kháchquan Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy: trong quá trình giải quyết vụ án Hội đồngxét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật nênyêu cầu của bị đơn nêu ra không có căn cứ chấp nhận

Trang 22

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận nộidung kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yến và kháng cáo của Ngân hàngTMCP Việt Nam Thịnh Vượng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm Ý kiến củađại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị hủy bản án sơthẩm là không có cơ sở để chấp nhận.

Công ty TNHH Tân Thành Yến và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượngkháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúcthẩm theo quy định

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cóhiệu lực pháp luật

Vì các lẽ trên; căn cứ vào khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

- Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của ủy ban thường vụ Quốc hội số10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009; xử:

1 Công ty TNHH Tân Thành Yến còn nợ và có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê

Văn Hòa và vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 17.165.670.000đ (mười bảy tỷ, một

trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

Kể từ tháng thứ 2 trở đi tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công tyTNHH Tân Thành Yến không trả xong khoản nợ trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòathì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chậm trả theo lãi suất cơbản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án

2 Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng - tại chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung 1.006.692.166 đồng(một tỷ, không trăm không sáu triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn một trăm sáu mươi

Trang 23

sáu đồng) Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng làkhoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011, Công tyTNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quy định trong các hợpđồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

3 Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợcòn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng - chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung Sau khi hoàn thànhnghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng -Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho vợ chồng ông Lê VănHòa toàn bộ giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tàisản thế chấp tại ngân hàng (có danh sách kèm theo) Ông Lê Văn Hòa và bà NguyễnThị Minh Nguyệt trở thành chủ sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công tyTNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao 42 chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồngông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ

4 Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số653/2013/QĐ-BPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng

để đảm bảo cho việc thi hành án

5 Về án phí: Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu 126.166.000 đồng (mộttrăm hai mươi sáu triệu một trăm sáu sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

Hoàn lại cho ông Lê Văn Hòa 63.000.000 đồng (sáu mươi ba triệu đồng) tiềntạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng tạibiên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2010/3851 ngày 14 tháng 5 năm 2013

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng 22.000.000đ (haimươi hai triệu đồng) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Cục thihành án dân sự thành phố Hải Phòng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí sốAA/2010/3815 ngày 18 tháng 6 năm 2013

- Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự phúcthẩm, được trừ số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên laithu tiền số AA/2010/3842 ngày 27/9/20013 tại Cục thi hành án dân sự thành phố HảiPhòng

- Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng phải chịu 200.000 đồng án phí dân

sự phúc thẩm, được trừ số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theobiên lai thu tiền số AA/2010/001943 ngày 13/9/2013 tại Cục thi hành án dân sự thànhphố Hải Phòng

Trang 24

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thihành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự cóquyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theoquy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án đượcthực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cóhiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Các thẩm phán Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa

(Đã ký)

Trần Ngọc Việt

Trang 25

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOA AN NHAN DAN CẤP CAO TẠI HA NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Minh Thu;

Các Thẩm phán : Ông Đặng Bảo Vĩnh;

Ông Bùi Thế Linh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, cán bộ Tòa

án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Thế

Nho, Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 9 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét

xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2015/TLPT-KDTM ngày 10tháng 02 năm 2015 về việc “Tranh chấp giữa các thành viên Công ty”

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2014/KDTM-ST ngày09/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 325/2015/QĐ-PT ngày 20tháng 8 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Nguyệt, sinh năm 1961;

Bà Bùi Thị Ghim, sinh năm 1963;

Bà Mai Thị Đến, sinh năm 1963.

- Cùng địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố HảiPhòng; các bà Nguyệt, bà Ghim, bà Đến đều có mặt

Trang 26

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành Tự, sinh năm 1955; địa chỉ:89/47A Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.

* Bị đơn: Ông Vũ Văn Tành, sinh năm 1950 - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám

đốc Công ty cổ phần An Tiến; có mặt

- Địa chỉ: Số 129 Phương Khê, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phốHải Phòng;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Viết Đa

-Công ty luật TNHH Nguyễn Vũ, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Công ty cổ phần An Tiến, địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn An Dương, huyện AnDương, thành phố Hải Phòng

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Tành - Giám đốc Công ty; có mặt.

- Công ty cổ phần thương mại Kim khí An Dương; địa chỉ: Số 402 đường 351Cách Hạ, xã Nam Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Thưởng- Giám đốc Công ty; cómặt

Ngày 10/5/2011, 4/5 thành viên Hội đồng quản trị Công ty đã nhất trí biểuquyết đồng ý: "cho thuê khu vực văn phòng Công ty An Tiến, thời hạn thuê từ 5 nămđến 10 năm; giá cả cho thuê theo thị trường có cạnh tranh, dự kiến 18.000.000 đồng/tháng; trả tiền một quý một lần vào tài khoản Công ty Công ty để lại diện tích 5m x15m làm văn phòng của Công ty Bên thuê được sử dụng toàn bộ tài sản trên đất củaCông ty vào mục đích sản xuất kinh doanh Sau thời hạn 5 năm bên cho thuê và bênthuê sẽ bàn bạc để có thể kéo dài thời gian thuê hoặc bằng các phụ lục hợp đồng hoặcthanh lý hợp đồng hoặc thay đổi giá thuê"

Ngày 18/5/2011, Đại hội đồng cổ đông Công ty An Tiến đã họp và biểu quyếtđồng ý: "cho thuê khu văn phòng với thời gian là 5 năm đến 10 năm, ổn định giátrong 5 năm, sau 5 năm lại điều chỉnh lại giá cả và hợp đồng, hết hợp đồng Công ty

Trang 27

có nhu cầu lấy lại mặt bằng thì bên thuê phải trả lại mặt bằng cho Công ty và ngườithuê phải là người có cổ đông trong Công ty mới được làm hợp đồng với giá thuê là18.000.000 đồng/tháng".

Ngày 23/5/2011, Văn phòng Công chứng Đất Việt công chứng “Hợp đồng chothuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” giữa Công ty An Tiến và Công ty cổphần thương mại Kim khí An Dương (gọi tắt là Công ty An Dương) Hợp đồng có nộidung: Công ty An Tiến (người đại diện theo pháp luật ông Vũ Văn Tành, Giám đốcCông ty) và Công ty An Dương (người đại diện theo pháp luật ông Phạm Văn Thưởng,Giám đốc Công ty) cùng thống nhất thỏa thuận: Công ty An Tiến cho Công ty AnDương thuê toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê gồm: nhà văn phònglàm việc, tường bao và các công trình kiến trúc khác được xây dựng trên diện tích đất1.390,7 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất số BB 245941, vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CT00120 do SởTài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/6/2010; mục đích thuê làm trụ sở Văn phònglàm việc và phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty An Dương; thời hạn thuê

kể từ ngày 25/5/2011 đến hết ngày 25/5/2021; giá thuê 18.000.000 đồng/tháng (đã baogồm thuế giá trị gia tăng), từ năm thứ 5, giá thuê nếu có điều chỉnh hai bên tự thỏathuận; tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê được bàn giao ngay sau khi ký hợpđồng; thanh toán tiền thuê 03 tháng một lần Trong thời hạn thuê, Công ty An Dươngđược toàn quyền sử dụng, sửa chữa, cải tạo cho phù hợp với yêu cầu sản xuất kinhdoanh của mình

Ngày 13/6/2011, Văn phòng Công chứng Đất Việt công chứng văn bản sửa đổi,

bổ sung Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất, quyền sử dụng đất thuê với nội dung:sửa đổi bổ sung Điều 5 của Hợp đồng với phương thức thanh toán là chuyển khoảnhoặc tiền mặt vào tài khoản của Công ty An Tiến tại Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam chi nhánh Hải Phòng

Ngày 24/5/2011, Công ty An Tiến bàn giao tài sản khu văn phòng Công ty AnTiến cho Công ty An Dương, hiện trạng gồm: nhà văn phòng, các vật kiến trúc và câycối trên toàn bộ diện tích khu văn phòng theo sổ sách kế toán của Công ty An Tiến Haibên nhất trí để lại gara ô tô cũ có chiều rộng 5m x 15m để Công ty An Tiến làm vănphòng tại địa điểm giáp tường với Công ty năng lượng Bình An

Ngày 24/10/2011, Công ty An Dương tiến hành phá dỡ toàn bộ vật kiến trúckhu văn phòng Công ty An Tiến và xây dựng xong phần móng, nhưng do các cổ đôngcủa Công ty An Tiến không chấp nhận việc cho thuê đất trên nên Công ty An Tiến vàCông ty An Dương tạm dừng việc thực hiện hợp đồng

Các đồng nguyên đơn bà Đoàn Thị Nguyệt, bà Bùi Thị Ghim, bà Mai Thị Đến

Trang 28

khởi kiện đề nghị Tòa án:

- Tuyên “Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” giữaCông ty An Tiến và Công ty An Dương là vô hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 120Luật Doanh nghiệp, Điều 45 Luật Công chứng,

- Buộc ông Vũ Văn Tành phải:

+ Bồi thường cho Công ty khoản tiền thiệt hại do toàn bộ vật kiến trúc là nhàvăn phòng, nhà ga ôtô, nhà để xe máy, xe đạp, nhà vệ sinh, bể nước, cánh cổng thép;đường ống nước, thiết bị văn phòng, cây cối trên diện tích đất của Công ty và phải trảcho Công ty mỗi tháng 18.000.000 đồng phát sinh từ “hợp đồng cho thuê tài sản gắnliền với quyền sử dụng đất thuê” tính từ tháng 6/2011 cho đến khi bản án có hiệu lựcpháp luật (tạm tính từ tháng 6/2011 đến ngày 22/8/2014 là 702.000.000 đồng)

+ Buộc ông Tành bàn giao lại con dấu của Công ty để sử dụng và bảo quản tạiVăn phòng Công ty theo đúng quy định tại Điều 36 Luật Doanh nghiệp; bàn giao lạitoàn bộ giấy tờ, tài liệu để lưu giữ theo Điều 60 Điều lệ Công ty An Tiến

+ Kiến nghị Công an huyện An Dương điều tra, xác minh, xử lý các hành vi viphạm Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001 của Chính phủ, vi phạm Điều164b, Điều 266 Bộ luật hình sự của ông Vũ Văn Tành

Tại đơn đề ngày 28/5/2014, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền củanguyên đơn đề nghị đối với phần yêu cầu bồi thường toàn bộ vật kiến trúc là nhà vănphòng, ga ra ô tô, nhà để xe máy xe đạp, bể nước, nhà vệ sinh, đường ống nước, cánhcổng thép, cây cối, thiết bị văn phòng tách ra và không yêu cầu giải quyết trong vụ ánnày

* Bị đơn, đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan (Công ty An Tiến) là ông Vũ Văn Tành và ông Vũ Văn Nam là người đại diện theo ủy quyền của Công ty An Tiến đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và trình bày:

Công ty An Tiến và Công ty An Dương ký “Hợp đồng cho thuê tài sản gắn liềnvới quyền sử dụng đất thuê” theo như lời trình bày của nguyên đơn là đúng Tuynhiên, việc ông là người đại diện theo pháp luật của Công ty An Tiến khi ký “Hợpđồng cho thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” đã được Hội đồng quản trị

và Đại hội đồng cổ đông Công ty họp và biểu quyết đồng ý Vì vậy, việc ông ký Hợpđồng cho thuê tài sản với Công ty An Dương là đúng với nội dung biểu quyết của Hộiđồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông Công ty, không trái quy định của pháp luật.Với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty An Tiến, ông không đồng ývới yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố “Hợp đồng cho thuê tài

Trang 29

sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” vô hiệu.

+ Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông với tư cách cá nhân phảibồi thường số tiền mỗi tháng 18.000.000 đồng tính từ tháng 6/2011 đến ngày bản án cóhiệu lực pháp luật, tạm tính đến ngày 22 tháng 8 năm 2014 là 702.000.000 đồng, bịđơn cho rằng: ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị đồng thời là Giám đốc, là người đạidiện theo pháp luật của Công ty ký “Hợp đồng cho thuê tài sản gắn liền với quyền sửdụng đất thuê” với Công ty An Dương là đúng với Nghị quyết của Hội đồng quản trị

và Đại hội đồng cổ đông Công ty, không trái quy định của pháp luật Vì vậy cá nhânông không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho Công ty theo yêu cầu của cácnguyên đơn

+ Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông phải bàn giao con dấu, toàn bộ giấy tờ,tài liệu của Công ty để lưu giữ, ông cho rằng: hiện ông vẫn đang là Chủ tịch Hội đồngquản trị, Giám đốc Công ty An Tiến Theo điều lệ Công ty thì Giám đốc Công ty làngười quản lý con dấu, vì vậy ông không thể bàn giao con dấu của Công ty theo yêucầu của nguyên đơn Hiện Công ty An Tiến không có trụ sở làm việc nên ông cũngkhông thể bàn giao các giấy tờ tài liệu có liên quan đến Công ty theo yêu cầu củanguyên đơn

Ông Phạm Văn Thưởng là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Công ty An Dương) trình bày: Công ty An Dương và Công ty An Tiến ký

“Hợp đồng cho thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” ngày 23/5/2011, nộidung của hợp đồng như lời trình bày của nguyên đơn là đúng Sau khi ký hợp đồng,Công ty An Tiến đã bàn giao tài sản cho Công ty An Dương theo như nội dung củahợp đồng và Công ty An Dương đã chuyển vào tài khoản của Công ty An Tiến số tiền

là 54.000.000 đồng, là số tiền thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất theo hợpđồng đã ký Sau khi ký hợp đồng, giữa Công ty An Dương và Công ty An Tiến cóthỏa thuận: Công ty An Dương phá dỡ toàn bộ phần vật kiến trúc trên đất là khu nhàvăn phòng của Công ty An Tiến để xây dựng nhà văn phòng mới Việc Công ty AnTiến và Công ty An Dương ký hợp đồng thuê tài sản bởi đại diện hợp pháp của haipháp nhân là không trái với quy định của pháp luật, hợp đồng đã được công chứng nênkhông có căn cứ để cho rằng hợp đồng đó là vô hiệu, đề nghị Tòa bác yêu cầu củanguyên đơn yêu cầu tuyên bố “Hợp đồng cho thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụngđất thuê” vô hiệu Trong trường hợp Tòa tuyên bố hợp đồng này là vô hiệu thì đề nghịTòa án tách phần yêu cầu xử lý hợp đồng vô hiệu thành một vụ án khác mà không yêucầu giải quyết trong vụ án này

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2014/KDTM-ST ngày09/10/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã áp dụng các Điều 36, 111,116,

Trang 30

118, 120 Luật Doanh nghiệp; khoản 4 Điều 6 Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày24/8/2001; Điều 25 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ,xử:

“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tuyên bố Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê giữa Công

ty cổ phần An Tiến và Công ty cổ phần thương mại kim khí An Dương số công chứng1443/CTTS-TM Đ,quyển số 01 TP/CS-SCC/H ĐGD ngày 23/5/2011 là vô hiệu

Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ Văn Tành phải bồi thường cho Công

ty số tiền là 18.000.000 đồng/tháng tính đến tháng 8/2014 là 702.000.000 đồng Đối

với yêu cầu này nguyên đơn có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyềnkháng cáo theo quy định của pháp luật

Ngày 15/10/2014, bị đơn Công ty cổ phần An Tiến và người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan là Công ty cổ phần thương mại kim khí An Dương cùng có đơn khángcáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyênđơn

Ngày 27/10/2014, đồng nguyên đơn là các bà Đoàn Thị Nguyệt, Bùi Thị Ghim,Mai Thị Đến cùng có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảiquyết:

- Buộc ông Vũ Văn Tành phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc thực hiệnHợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê theo quy định tại khoản 4Điều 116, khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp, Điều 45 Luật Công chứng, trong đóthất thu tiền thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê từ tháng 6/2011 cho đếnngày bản án có hiệu lực pháp luật, mỗi tháng 18.000.000 đồng, tạm tính đến ngày nộpđơn kháng cáo là 738.000.000 đồng

- Về yêu cầu ông Vũ Văn Tành phải bồi thường thiệt hại do hành vi phá dỡ trụ

sở, vật kiến trúc tại khu văn phòng, chiếm đoạt các thiết bị văn phòng của Công ty, đềnghị Tòa án cấp phúc thẩm quyết định tách ra thành một vụ án khác và giao cho Tòa

án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử theo thủ tục chung

- Buộc ông Vũ Văn Tành phải bàn giao lại con dấu của Công ty để sử dụng vàbảo quản tại văn phòng Công ty theo đúng quy định của pháp luật; bàn giao lại toàn

bộ giấy tờ, tài liệu để lưu giữ theo Điều 60 Điều lệ Công ty cổ phần An Tiến

- Kiến nghị với Công an huyện An Dương điều tra, xác minh, xử lý các hành vi

vi phạm Nghị định 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001 của Chính phủ, vi phạm Điều

Trang 31

164b, Điều 266 Bộ luật hình sự của ông Vũ Văn Tành.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầukháng cáo nêu rõ: về tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thời hạn nhận đơn; chuẩn bịxét xử; không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và khi có khiếu nại thì không đượcgiải quyết theo đúng quy định của pháp luật Nguyên đơn tiếp tục khiếu nại lên Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao nhưng chưa được giải quyết; sau khi tuyên án xong đã sửachữa bản án, cắt xén ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốHải Phòng tại phiên tòa; không gửi bản án theo đúng thời hạn do luật định Về nộidung, Tòa án cấp sơ thẩm có những nhận định trái với quy định của pháp luật, khôngđúng diễn biến tại phiên tòa, bỏ sót nội dung khởi kiện của nguyên đơn; có nội đung đãnhận định nhưng lại không được quyết định trong bản án là có chấp nhận hay khôngchấp nhận; Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp, trong vụ án này tranhchấp giữa các thành viên Công ty với nhau Nguyên đơn yêu cầu ông Tành phải bồithường thiệt hại theo quy định tại khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp nhưng cấp sơthẩm không giải quyết yêu cầu này trong cùng vụ án là không đúng; yêu cầu ông Tànhphải trả dấu cho Công ty; kiến nghị Công an xử lý hành vi vi phạm pháp luật của ông

Vũ Văn Tành Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Tành phải bồi thườngcho Công ty khoản tiền cho thuê trụ sở Công ty tính đến ngày xét xử phúc thẩm vớitổng số tiền là 922.800.000 đồng; nguyên đơn yêu cầu tách khoản buộc ông Tành phảibồi thường thiệt hại do trụ sở Công ty và các vật kiến trúc trên đất cho thuê bị phá bỏ,

về phần này, Tòa án sơ thẩm đã nhận định nhưng lại không đề cập tại phần quyết địnhnên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tách yêu cầu này bằng một vụ kiệndân sự khác

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty An Tiến giữ nguyên yêu cầukháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại

Đại diện Công ty An Dương không nhất trí xác định Hợp đồng thuê tài sảngắn liền với quyền sử dụng đất đã được ký kết giữa hai Công ty là vô hiệu và chưa đềnghị giải quyết trong vụ án này Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng vôhiệu nhưng không tuyên Công ty An Dương phải trả lại đất và Công ty An Tiến phảitrả lại tiền Vì vậy, Công ty An Dương cũng đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm

để giải quyết lại

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có quan điểm: Việc quản

lý con dấu do pháp luật quy định, ông Tự có thể làm đơn đến Công an hoặc Phòngđăng ký kinh doanh để được giải quyết; khoản tiền dự án phí 720.000.000 đồng mànguyên đơn yêu cầu được bồi thường nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu tạm ứng

án phí là không đúng pháp luật; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu là không

Trang 32

đúng vì giá trị của hợp đồng chỉ là 91.000.000 đồng chứ không phải là khoản tiền chothuê của cả 10 năm; hợp đồng được ký kết bởi đại diện của hai pháp nhân có côngchứng chứng thực nên có hiệu lực; Biên bản họp Hội đồng quản trị chỉ nêu ý kiến củacác bên mà không có Nghị quyết nên không hợp pháp Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vàobiên bản này để xác định hợp đồng vô hiệu là không đúng Vì vậy, đề nghị hủy bản

án sơ thẩm để giải quyết lại

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vũ Văn Tành còn cho rằng thái độ của ông TrầnThành Tự biểu hiện tại các phiên tòa là không bình thường, đề nghị Hội đồng xét xửcho giám định năng lực hành vi dân sự của ông Tự; đề nghị hủy án sơ thẩm để giảiquyết lại

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm cónhững vi phạm tố tụng về thời hạn nhận đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử… Tòa án cấp sơthẩm xác định “Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” giữa Công

ty An Tiến và Công ty An Dương là hợp đồng vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả

vô hiệu Vi phạm nghiêm trọng này không thể khắc phục được ở cấp phúc thẩm Vìvậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ áncho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở trình bày, tranh luận của các bên đương sự, kết luận của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là các bà Đoàn ThịNguyệt, Bùi Thị Ghim, Mai Thị Đến, cổ đông của Công ty Cổ phần An Tiến đã khởikiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên “Hợp đồng thuê tài sản gắnliền với quyền sử dụng đất thuê” giữa Công ty An Tiến và Công ty An Dương là hợpđồng vô hiệu; buộc ông Vũ Văn Tành - Giám đốc Công ty An Tiến phải bàn giao condấu của Công ty; bồi thường cho Công ty 702.000.000 đồng là khoản tiền phát sinh từHợp đồng cho thuê tài sản và thiệt hại do vật kiến trúc trên đất bị tháo dỡ; đây là quan

hệ pháp luật tranh chấp giữa các thành viên Công ty thuộc trường hợp quy định tạikhoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dânthành phố Hải Phòng Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn chỉ là cá nhân ông Vũ Văn

Tành là chưa đầy đủ theo qui định tại Điều 25 Nghị định 102… Trong vụ án này, bị

đơn là ông Vũ Văn Tành với chức danh là Chủ tịch Hội đồng quản trị - Giám đốc Côngty

Trang 33

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự được triệu tập có mặt hoặc ủy quyền hợppháp nên phiên tòa được xét xử công khai Các bên đương sự không thỏa thuận đượcvới nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Nguyên đơn kháng cáo về phần tố tụng cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạmthời hạn nhận đơn, chuẩn bị xét xử; không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; vi phạmĐiều 240 Bộ luật tố tụng dân sự vì sau khi tuyên án xong đã sửa chữa bản án, cắt xén ýkiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng vi phạm vềthời hạn nhận đơn, chuẩn bị xét xử, giao nhận bản án là đúng như nguyên đơn nêu tuynhiên vi phạm này của Tòa án cấp sơ thẩm đã xảy ra và không thể khắc phục được, cầnrút kinh nghiệm

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm khôngthu tạm ứng án phí cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán720.000.000 đồng tiền cho thuê tài sản, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩmcũng đã thông báo và nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí 19.000.000 đồng (không nêu rõtạm ứng án phí cho yêu cầu khởi kiện nào) và khoản tiền này đã được tuyên trả lại chocác nguyên đơn nên quan điểm này của Luật sư không được Hội đồng xét xử chấp nhận

Về nội dung:

Theo “Biên bản họp hội đồng cổ đông” của Công ty An Tiến ngày 18/5/2011, chỉ có 05thành viên gồm ông Vũ Văn Tành, bà Bùi Thị Tươi, Bùi Thị Ghim, Đoàn Thị Nguyệt,Bùi Như Khoa còn các thành viên khác ủy quyền cho những người có mặt tại cuộc họpnày Theo đó, cuộc họp đã thống nhất ý kiến cho thuê khu văn phòng của Công ty vớiđiều kiện người thuê phải là cổ đông của Công ty mới được làm hợp đồng thuê Căn cứĐiều 106 Luật Doanh nghiệp thì Biên bản này không đúng quy định của pháp luật cả vềhình thức lẫn nội dung Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm thì ông Vũ Văn Tành và cácnguyên đơn đều cho rằng ý chí của cuộc họp là cho thuê mặt bằng trụ sở của công ty vàngười thuê phải là cổ đông của công ty Như vậy, nếu xác định Biên bản này có giá trịnhư là Nghị Quyết của đại Hội đồng cổ đông thì việc ông Vũ Văn Tành là giám đốcCông ty đã ký hợp đồng cho thuê Văn phòng của Công ty với Công ty An Dương trongkhi con trai ông Tành là Vũ Văn Tùng là cổ đông của Công ty An Dương có tỷ lệ vốngóp 45%, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty An Dương cũng như giátrị hợp đồng cho thuê đất giữa Công ty An Tiến và Công ty An Dương lớn hơn vốn điều

lệ của Công ty nên phải được Đại Hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận

và ông Vũ Văn Tành phải công khai các lợi ích liên quan Tòa án cấp sơ thẩm khôngđiều tra, xác minh, thu thập chứng cứ để xác định tính hợp pháp của văn bản là “Biênbản họp Hội đồng cổ đông ngày 18/5/2011” mà căn cứ ngay vào biên bản đó để xác định

“Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” giữa Công ty An Tiến và

Trang 34

Công ty An Dương vô hiệu là chưa đủ căn cứ pháp luật Hơn nữa, Tòa án cấp sơ thẩmtuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả vô hiệu và những yêu cầu khởikiện khác của nguyên đơn là không đúng pháp luật, không bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của các bên đương sự.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc Công ty An Dương là người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trong khi Công ty không

có yêu cầu phản tố là không đúng

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhữngsai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thểkhắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩmgiải quyết lại theo thủ tục chung

Căn cứ Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/9.10.2014 của Tòa án nhân dânthành phố Hải Phòng Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyếtlại theo thủ tục chung

Các đương sự không phải nộp án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm đượchoàn lại dự phí đã nộp Dự phí nguyên đơn đã nộp sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm quyếtđịnh khi giải quyết lại vụ án

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Minh Thu

Trang 35

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 67/2016/HNGĐ-ST

Ngày: 19/7/2016

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

và cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Phạm Văn Lâm

2 Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga - Cán bộ Tòa

án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Ngọc Mai- Kiểm sát viên

Ngày 19/7/2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, xét xử sơthẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 114/2016/TLST- HNGĐ ngày08/3/2016 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố: 66/2016/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2016, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đăng Khoa, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú:

Số 20/8 đường Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

- Bị đơn: Ông Đoàn Chí Thanh, sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: Lô 49B4

đường Hoàng Văn Thụ, KDC Chánh Nghĩa, Khu phố 11, phường Chánh Nghĩa, thànhphố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đăng Khoa trình bày: Bà Khoa và ông Đoàn Chí

Thanh chung sống với nhau năm 2011, đăng ký kết hôn tại UBND phường ChánhNghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Sau khi kết hôn, ông Thanh làm

Trang 36

việc tại Ngân hàng VDBank chi nhánh Bình Phước, còn bà Thanh sống và làm việc tạiThành phố Hồ Chí Minh nên cả hai ít có thời gian gần nhau, chỉ gặp nhau cuối tuần ởnhà cha mẹ bà Khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ở nhà cha mẹ ông Thanh ở BìnhDương Khoảng 3 năm gần đây, ông Thanh không về Thành phố Hồ Chí Minh đểthăm bà Khoa và con, thỉnh thoảng bà Khoa đưa con về Bình Dương thăm ông bà nộithì mới gặp được ông Thanh Bà Khoa yêu cầu ông Thanh chuyển công tác về Thànhphố Hồ Chí Minh để vợ chồng có nhiều thời gian ở gần nhau nhưng ông Thanh khôngđồng ý, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng Ông Thanh không còn quan tâm đến vợcon, thường hay uống rượu, xúc phạm danh dự bà Khoa, sống ích kỷ chỉ lo cho bảnthân mình, không chu cấp tiền để nuôi con Bà Khoa nghi ngờ ông Thanh có ngườiphụ nữ khác nhưng bà Khoa không có chứng cứ chứng minh Bà Khoa và gia đình haibên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Thanh không nghe, bà Khoa cố gắng chịuđựng để vợ chồng chung sống hạnh phúc, lo cho con cái nhưng ông Thanh vẫn khôngthay đổi Bà Khoa nhận thấy không còn tình cảm với ông Thanh nên yêu cầu Tòa ángiải quyết ly hôn

Quá trình chung sống, bà Khoa, ông Thanh có 01 con chung là Đoàn NguyễnThủy Tiên, sinh ngày 09/10/2011 Sau khi ly hôn, bà Khoa yêu cầu được trực tiếp nuôidưỡng, yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khicon chung đủ 18 tuổi

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà Khoa không yêu cầu Tòa án giảiquyết

Bị đơn ông Đoàn Chí Thanh trình bày: Ông Thanh và bà Khoa chung sống với

nhau năm 2011, đăng ký kết hôn tại UBND phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ DầuMột Sau khi kết hôn, ông Thanh, bà Khoa có 01 con chung là Đoàn Nguyễn ThủyTiên, sinh ngày 09/10/2011 Quá trình chung sống, ông Thanh và bà Khoa không cómâu thuẫn gì nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Khoa Do không đồng ý lyhôn nên các yêu cầu về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con của bà Khoa, ông Thanh khôngđồng ý Về tài sản chung, nợ chung: Ông Thanh khai không có tài sản chung, không có

nợ chung và không ai nợ ông Thanh, bà Khoa

Ông Thanh yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án

Tại phiên tòa, bà Khoa giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp thêm

chứng cứ cho Tòa án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu ý kiến: Quakiểm sát việc giải quyết vụ án trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiệnđúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa,

Trang 37

Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tốtụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm; về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tốtụng, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; căn cứ vào các tàiliệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa nhận thấy yêucầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56, 81, 82,

83, 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định; đại diệnViện Kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiênTòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Yêu cầu khởi kiện của bà Khoa là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án (quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) Do ôngThanh có nơi cư trú tại phường Cánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh BìnhDương nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một,tỉnh Bình Dương (quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm a, Khoản 1, Điều

39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) Yêu cầu khởi kiện của bà Khoa liên quanđến quyền nhân thân nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện (quyđịnh tại Khoản 2, Điều 160 của Bộ luật dân sự)

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Khoa, ông Thanh, Tòa thấy rằng: Bà Khoa, ôngThanh chung sống với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luậtnên hôn nhân của ông bà là hợp pháp Bà Khoa nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết lyhôn trình bày lý do ông Thanh sống không có trách nhiệm, không chăm lo gia đình, vợcon và nhiều lần xúc phạm danh dự bà Khoa; ông Thanh không đồng ý ly hôn do vợchồng không có mâu thuẫn Xét thấy, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chămsóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc Tuy nhiên, qua lời khaicủa bà Khoa và qua xác minh tại địa phương, Tòa thấy rằng mặc dù bà Khoa, ôngThanh là vợ chồng nhưng không sống chung nhà với nhau sau khi kết hôn Ông Thanhlàm việc tại thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; bà Khoa làm việc tại Thành phố HồChí Minh nên ông bà ít có thời gian gặp nhau, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, dẫn đếnnền tảng gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được Ông Thanh khai vợchồng không có mâu thuẫn, không đồng ý ly hôn nhưng khi Tòa thông báo ông Thanhđến hòa giải, hàn gắn tình cảm, ông Thanh không đến Chứng tỏ ông Thanh không cóthiện chí hòa giải, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ Như vậy, yêu cầu ly hôn của

bà Khoa là có cơ sở như nhận định của đại diện Viện Kiểm sát, căn cứ Điều 56 củaLuật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Khoa và

đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát

Trang 38

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Khoa, ông Thanh có 01 con chung

là Đoàn Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 09/10/2011 Sau khi ly hôn, bà Khoa yêu cầuđược trực tiếp nuôi dưỡng con chung Xét thấy, con chung bà Khoa, ông Thanh là nữ,đang sinh sống cùng bà Khoa, việc giao con chung cho bà Khoa nuôi dưỡng là phùhợp, do đó Tòa chấp nhận yêu cầu của bà Khoa và ý kiến đề nghị của đại diện ViệnKiểm sát, giao cháu Tiên cho bà Khoa trực tiếp nuôi dưỡng

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, Tòa thấy rằng: Sau khi bà Khoa, ông Thanh lyhôn, ông Thanh không trực tiếp nuôi con, do đó theo quy định tại Khoản 2, Điều 82Luật hôn nhân gia đình năm 2014, ông Thanh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Bà Khoa khai, hiện nay ông Thanh làm việc tại ngân hàng, ngoài lương chính5.000.000 đồng/tháng, còn có phụ cấp ngoài lương 3.000.000 đồng/tháng Ông Thanhkhông đến Tòa để trình bày, phản đối lời khai của bà Khoa nên lời khai của bà Khoa làtình tiết không cần phải chứng minh Xét thấy, mức cấp dưỡng bà Khoa yêu cầu là phùhợp nên Tòa chấp nhận yêu cầu của bà Khoa và ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểmsát, buộc ông Thanh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từngày 01/8/2016 đến khi con chung đủ 18 tuổi

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Khoa, ông Thanh đều khai không có nên Tòakhông xem xét, giải quyết

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Khoa phải nộp án phí ly hôn, ôngThanh phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39,Khoản 4 Điều 147, Điều 266, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2Điều 160 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy banThường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án

Xử:

1 Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệncủa bà Nguyễn Thị Đăng Khoa đối với ông Đoàn Chí Thanh về việc ly hôn, tranh chấpnuôi con và cấp dưỡng nuôi con

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đăng Khoa được ly hôn ông Đoàn Chí Thanh

Trang 39

- Về con chung: Bà Khoa được trực tiếp nuôi con chung là Đoàn Nguyễn ThủyTiên, sinh ngày 09/11/0/2011.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Đoàn Chí Thanh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôicon Đoàn Nguyễn Thủy Tiên 2.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ ngày 01/8/2016 đếnkhi con chung đủ 18 tuổi

Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccon chung của ông Thanh Ông Thanh không được lạm dụng việc thăm nom conchung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục,nuôi dưỡng con của bà Khoa Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêucầu Tòa án thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

Kể từ ngày bà Khoa có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Thanh chậm thực hiệnnghĩa vụ cấp dưỡng nêu trên thì phải trả lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhànước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanhtoán

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành ándân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏathuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chếthi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thihành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Khoa, ông Thanh khai không có nên Tòa ánkhông xem xét, giải quyết

2 Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

- Án phí ly hôn: Bà Nguyễn Thị Đăng Khoa nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng),được trừ vào số tiền 200.000 đồng đã nộp trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng ánphí số AA/2014/0015182, ngày 01/3/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phốThủ Dầu Một

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Thanh nộp 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành

Trang 40

Trần Thanh Bình

Ngày đăng: 20/12/2017, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w