1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân một số thuộc huyện Chợ mới - tỉnh Bắc Kạn

59 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 915,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng đời sống của nhân dân một số xã thuộc huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc

Trang 1

khoa sinh - ktnn

************

Nguyễn thị vân anh

NGHiên cứu ảnh h-ởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất l-ợng cuộc sống của ng-ời dân một số xã thuộc huyện chợ

mới – tỉnh bắc kạn

khoá luận tốt nghiệp ĐạI HọC

Chuyên ngành: Sinh lý ng-ời và động vật

ThS Nguyễn xuân thành

Hà Nội - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng đời sống của nhân dân một

số xã thuộc huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn” là kết quả của riêng tôi và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2008

Sinh viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Xuân Thành, người đã giành nhiều thời gian chỉ dẫn tận tình và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, các thầy

cô tổ động vật bộ môn Giải phẫu - Sinh lý người và động vật trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin cảm ơn các cơ quan ở địa phương đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2008

Sinh viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

- FAO: Tổ chức nông lương quốc tế (Food and Agricultural Organization)

quốc

- UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp

(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)

- AFPPD: Diễn đàn nghị sĩ Châu Á về dân số và phát triển

- DV - KHHGĐ: Dịch vụ - kế hoạch hóa gia đình

- DS - DV - KHHGĐ: Dân số - Dịch vụ - kế hoạch hóa gia đình

- DS – KHHGĐ: Dân số - kế hoạch hóa gia đình

- BVCS&GDTE: Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

- DS - GĐ&TE: Dân số - gia đình và trẻ em

- UBDS - GĐ&TE: Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- UBND: Uỷ ban nhân dân

Trang 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Qua kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân một số xã thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh Băc Kạn, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1 Tỷ lệ gia tăng DSTN nhìn chung là giảm nhưng chưa bền vững, có

xu hướng tăng trở lại Cụ thể tỷ lệ gia tăng DSTN của huyện Chợ Mới giảm

từ 8,70 (2003) xuống 7,65 (2006), sau đó lại tăng lên 9,11(2007) Ở thị trấn là 5,2 (2003) giảm xuống còn 2,2 (2005) và tiếp tục tăng trở lại đến 7,5 (2007)

Ở Xã Quảng Chu tỷ lệ gia tăng DSTN là 10,6 (2003) giảm xuống còn 7,8 (2006) sau đó tăng trở lại đến 9,4 (2007)

2 Tỷ lệ sinh còn cao, cụ thể ở huyện Chợ Mới là 13,90 ‰ , ở thị trấn Chợ Mới là 13,22 ‰ và ở xã Quảng Chu là 13,28 ‰

3 Tỷ lệ sinh con thứ 3+ còn cao, cụ thể trong toàn huyện Chợ Mới là 3,3% Xã Quảng Chu có tỷ lệ sinh con thứ 3+ (10,44%) cao hơn so với thị trấn Chợ Mới (3,86%)

3 Việc thực hiện các biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong

độ tuổi sinh sản ngày càng tăng

6 Do tỉ lệ gia tăng dân số giảm và kết hợp với chính sách kinh tế xã hội của huyện và xã nên trong thời gian qua kinh tế - xã hội của huyện và xã có những chuyển biến tích cực, chất lượng đời sống của người dân ngày càng được nâng cao

Từ những kết luận trên, tôi đưa ra một số đề nghị sau:

1 Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong

kế hoạch, chỉ đạo cơ sở Tăng cường hơn nữa sự phối kết hợp có hiệu quả của các ban ngành, đoàn thể trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em

Trang 6

2 Có sự đầu tư thỏa đáng cho chương trình DS-KHHGĐ và có chính sách thỏa đáng cho cán bộ làm công tác này

3 Đào tạo đội ngũ cán bộ DS ở cơ sở có trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, có khả năng điều phối và quản lý các chương trình dân số ở địa phương

4 Tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền DS-KHHGĐ với người dân, đưa nội dung giáo dục dân số vào trường học

Phần 1 MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, một trong những mối quan tâm mang tính sức ép lớn nhất của thế giới hiện đại – cả về kinh tế, môi trường và các bệnh tật hiểm nghèo –

là sự bùng nổ dân số toàn cầu Sự tăng trưởng nhanh dân số thế giới trong thế

kỷ qua tạo ra một bức tranh tăng trưởng dân số quy mô lớn, không bền vững gắn với các cuộc khủng hoảng lương thực, đói nghèo và bệnh tật

Dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ người vào cuối thập kỷ XX, đạt 6,616 tỉ người vào năm 2007, với tỷ lệ tăng dân số hằng năm 1,2% (so với 2% của những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX) Chỉ trong vòng 12 năm, thế giới đã tăng thêm 1 tỉ dân (từ 1987 - 1999), là giai đoạn ngắn nhất trong lịch

sử loài người để có thêm 1 tỉ dân và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13 năm Theo dự báo, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,6 tỉ trong vòng 45 năm tới, tức đến năm 2050 dân số thế giới sẽ đạt 9,1 tỉ người Dân số tăng nhanh để lại hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt làm ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội

Nhiều nước, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á dân số vẫn tiếp tục gia tăng trong vài thập niên tới, trong khi đó ở một số nước phát triển đạt dưới

Trang 7

mức sinh thay thế lại có xu thế suy thoái dân số trong vòng 50 năm (2000 - 2050) như CHLB Nga, U-crai-na, Nhật, Ba-lan, Ru-ma-ni, CHLB Đức Như vậy, sức ép dân số đối với đa số các nước đang phát triển, trong đó có nước ta

do số dân tăng thêm hằng năm còn rất lớn trước đời sống kinh tế, chính trị và

xã hội, hạn chế đến khả năng cải thiện, phát triển và tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu

Mỗi một nước, dù là phát triển hay đang phát triển đều đang phải đối phó với những biến đổi dân số khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện và sự quan tâm của mỗi nước Mức sinh còn cao hay giảm nhưng chưa ổn định, tử vong cao, đặc biệt là tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, tử vong của bà mẹ và trẻ em liên quan đến HIV/AIDS, chất lượng dân số thấp, hiện đang là mối quan tâm lớn nhất của các nước đang phát triển Còn đối với các nước đã phát triển, mối quan tâm lại là mức sinh quá thấp và hậu quả bao gồm già hóa dân số và thiếu hụt dân số trong độ tuổi lao động

Từ rất sớm, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân số Cho đến nay Việt Nam đã đề ra hai chiến lược phát triển dân số, đó là “chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000” được ban hành tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 4 khóa VII tháng 1 năm 1993 và “Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010”

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số Việt Nam là 76,3 triệu người, tăng 11,9 triệu so với năm 1989 Tỷ lệ tăng dân

số bình quân hàng năm thời kỳ 1989-1999 là 1,7%, giảm 0,5% so với thời kỳ 1979-1989; số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm nhanh, từ 3,8 con năm 1989 xuống còn khoảng 2,3 con năm 1999 và đến

2007 là 2,09 con

Những con số này khẳng định kết quả giảm nhanh mức sinh trong thập

kỷ qua Mặc dù mức sinh giảm nhanh, nhưng quy mô dân số Việt Nam vẫn

Trang 8

ngày một lớn do số dân tăng thêm trung bình mỗi năm còn ở mức cao, bình quân vẫn ở mức trên 1 triệu người/năm Vấn đề dân số, bao gồm cả quy mô,

cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, là những thách thức lớn đối với

sự phát triển bền vững đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân

cả hiện tại và trong tương lai

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam ở thập kỉ đầu của thế kỷ 21, khi mức sinh tiến gần mức thay thế, muốn duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc, thì không thể chỉ tập trung giải quyết vấn đề quy mô dân số như trong thời gian qua, mà cùng với giảm sinh phải giải quyết đồng bộ, từng bước, có trọng điểm các vấn đề về chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân cư theo định hướng "Dân số - sức khoẻ sinh sản và phát triển" Đó cũng là đòi hỏi của một dân tộc văn minh có chiều dài hàng ngàn năm lịch sử đã và đang hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là sau khi nước ta gia nhập WTO và trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

Trong những năm gần đây nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chiến lược phát triển DS - KHHGĐ trên phạm vi toàn quốc, toàn tỉnh, còn trên phạm vi hẹp (huyện, xã, thôn) thì sự gia tăng dân số cụ thể chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến Xuất phát từ sự cần thiết tìm hiểu sự gia tăng dân số cấp cơ sở, cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân số, là một công dân của huyện Chợ Mới tôi muốn góp một phần nhỏ sức lực và trí tuệ của mình vào công tác này nhằm giúp cho công tác DS -

KHHGĐ của huyện đạt hiệu quả cao hơn vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: Nghiên

cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân một số xã thuộc huyện Chợ Mới – Tỉnh Bắc Kạn

2 Nội dung nghiên cứu

Trang 9

sau:

Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề

● Nghiên cứu tình hình DS - KHHGĐ của huyện Chợ Mới thông qua nghiên cứu một số chỉ tiêu về dân số để thấy được hiện trạng dân số của huyện trong các năm qua

● Sự ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân trong địa bàn huyện Chợ Mới

● Nghiên cứu phát triển dân số của thị trấn Chợ Mới và xã Quảng Chu huyện Chợ Mới trong 5 năm (2003 - 2007)

● Những vấn đề còn tồn tại, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân trong địa bàn huyện Chợ Mới sẽ làm cơ sở để có những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa nền kinh tế của huyện đi lên, bởi vì các chỉ tiêu dân số là những thông số phản ánh thiết thực nhất chất lượng cuộc sống của nhân dân cũng như hiện trạng của nền kinh tế

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Vai trò của dân số và sự cần thiết phải nghiên cứu

Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số lượng và chất lượng Mục tiêu của sự phát triển suy cho cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số,

sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển

Ðể có sự phát triển bền vững, việc đáp ứng tăng nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống của các thế hệ hiện tại không được ảnh hưởng các thế

hệ tương lai trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái

và chất lượng của sự phát triển Trong thực tế, các yếu tố dân số có ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên thiên nhiên và trạng thái môi trường Dân số phù hợp

sự phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh các xu hướng dân số phù hợp sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 11

Sự phù hợp đó là yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao tiềm lực của lực lượng sản xuất; là yếu tố cơ bản để xóa đói, giảm nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, giảm tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, nâng cao vị thế của người phụ nữ, giảm rủi ro về môi trường, mở rộng dịch vụ y tế, xã hội và huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ; góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chiến lược dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước; một trong những vấn đề hàng đầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế - xã hội; là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

2 Hậu quả của việc bùng nổ dân số đối với chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống chỉ đảm bảo khi những nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người được thỏa mãn Môi trường thiên nhiên được giữ gìn

và bảo vệ tốt, môi trường xã hội tiến bộ, lành mạnh, công bằng văn minh Song chất lượng cuộc sống lại có mối quan hệ tác động qua lại với sự phát triển của dân số Thực tế cho thấy, khi dân số phát triển không hợp lý, tốc độ gia tăng quá nhanh lại là trở lực cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống nó tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, chính trị, giáo dục, văn hóa, môi trường,…

Trang 12

dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh, đói học, đói việc làm gây sức ép về kinh tế xã hội

2.1.1.Ảnh hưởng của sự bùng nổ dân số đối với vấn đề cung cấp lương thực thực phẩm

An ninh lương thực luôn là vấn đề được cả cộng đồng thế giới quan tâm, đặc biệt trong tình trạng hiện nay sự gia tăng dân số quá nhanh trong khi việc tạo ra lương thực thực phẩm không tăng hoặc tăng không đang kể so với tốc độ gia tăng dân số dẫn đến hậu quả là nạn đói không ngừng xảy ra cụ thể:

số người chết đói trên thế giới tăng từ khoảng 460 triệu (1970) lên khoảng

550 triệu (1990), 600 – 650 triệu người(2000) Trong đó có khoảng 60% số người chết đói là ở những nước đang phát triển, 25% là ở Châu phi, 10% ở Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê Theo tính toán của FAO và UNESCO thì

có tới 65 nước Á – Phi đang phát triển, nếu cứ duy trì nhịp độ canh tác như hiện nay thì lương thực cũng chỉ đủ cung cấp cho hơn 1/2 số dân đang sống ở nước này Nghiêm trọng hơn khi diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, bài toán tăng 75% lương thực thực phẩm từ nay đến 2030 do FAO đề ra vẫn là bài toán khó chưa có lời giải đáp và dân số liên tục gia tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm, độ màu mỡ của đất ngày càng suy thoái

2.1.2 Hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh đối với giáo dục và đào tạo

Giáo dục là một trong những chỉ số cơ bản nói lên chất lượng cuộc sống Trình độ học vấn của mỗi nước phản ánh mức độ phát triển của mỗi xã hội cũng như trình độ văn minh của mỗi quốc gia [3] Với quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân số nhanh như hiện nay nó đang gây ra những tác động xấu đến sự phát triển giáo dục

Trang 13

Thế giới vẫn phát triển không ngừng tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ Vậy mà vẫn còn khoảng 20% dân số thế giới mù chữ tập chung ở các nước nghèo và kém phát triển Có những quốc gia chỉ có 8% đến 16% số dân biết chữ Riêng các nước ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tới 666 triệu người mù chữ Trong khi nạn đói còn đè nặng lên cuộc sống của con người, việc xóa mù chữ đem lại ánh sáng cho họ là một việc làm rất khó khăn [4] Ở nước ta số người trong độ tuổi đi học ngày càng tăng cao Mức đầu tư cho giáo dục có tăng nhưng không kịp so với mức độ gia tăng dân số chính vì thế mà việc đáp ứng các nhu cầu về cơ sở vật chất để phục vụ cho học tập còn gặp nhiều khó khăn.Ở Việt Nam có khoảng 15% trẻ em chưa được đến trường

2.1.3 Sức ép của dân số đối với việc bố trí công ăn việc làm

Các quá trình biến động dân số có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng, đi kèm theo đó là vấn đề việc làm Nhưng mối quan hệ giữa dân số với nguồn lao động và việc làm cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau Sự tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội, nhưng đảm bảo việc làm cho lực lượng lao động lại hết sức khó khăn trong điều kiện dân số tăng nhanh, nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước và xã hội

Khi dân số có sự gia tăng thì nguồn lao động trở nên “quá dồi dào” lại gây ra sức ép lớn đối với việc bố trí công ăn việc làm, đặc biệt đối với các nước đang phát triển ở Châu Á - Phi - Mỹ La Tinh có từ 1/4 đến 1/3 số lao động không có việc làm thường xuyên, nhiều nước tỷ lệ này là 70% Theo tổ chức lao động quốc tế, năm 1980 có gần 1/3 lực lượng lao động trên thế giới thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp Còn hiện nay thế giới có ít nhất 15% lực lượng lao động thất nghiệp thực sự [6]

Trang 14

Dân số Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn “tuổi vàng” vì lực lượng lao động rất dồi dào và đông đảo, tỷ trọng nhóm tuổi từ 15 – 59 là lứa tuổi có thể lao động được chiếm 59% Đây đồng thời lại là vấn đề khó khăn

do nhu cầu việc làm tăng cao và nạn thất nghiệp diễn ra [2] Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị đã giảm từ 8 – 9% vào đầu những năm 90 xuống còn 5, 6% (2004) nhưng vẫn còn ở mức cao Đặc biệt ở nông thôn nạn thiếu việc làm khá nghiêm trọng do diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Hiện nay ở nước ta có khoảng 3 triệu lao động không có việc làm

2.2 Dân số tăng nhanh - tài nguyên cạn kiệt - môi trường suy thoái

Vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, khi mà sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại đã làm cho sự giàu có của thế giới tăng lên gấp hàng trăm lần so với cuộc đại công nghiệp hồi đầu thế kỷ XIX, con người mới chợt nhận ra rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận Nhân loại đang đứng trước những thách thức lớn lao do tình trạng gia tăng dân số quá mức như hiện nay đã tạo nên những áp lực đối với sự phát triển Những cái giá mà con người phải trả là sự tổn hại về môi trường và sinh thái như: suy thoái đất đai, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự không bền vững về nơi cư trú, điều kiện sinh sống thấp kém và thiếu thốn về nước sinh hoạt, đất, nước, không khí

bị ô nhiễm nặng và sự nóng lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính, tầng ôzôn bảo vệ trái đất bị tổn hại đe dọa bầu khí quyển [8]

2.2.1 Tài nguyên ngày càng cạn kiệt

Con người khai thác tài nguyên để sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu của cuộc sống Dân số ngày càng tăng, chất lượng cuộc sống của con người luôn được cải thiện, do đó các công cụ và phương thức sản xuất được cải tiến

để khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên được nhiều hơn – tất yếu sẽ dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên nhanh hơn Những khoáng sản có

Trang 15

ích mỗi năm bị con người khai thác hàng trăm tỉ tấn Nếu cứ theo đà khai thác

và sử dụng như vậy thì 200 năm nữa sẽ hết than đá, 100 năm nữa sẽ hết dầu

mỏ Nhiều loại khoáng sản như: Ag, Zn, Pb,… cũng chỉ khai thác được 20 –

30 năm nữa [5]

Thổ nhưỡng, thế giới động thực vật tuy là tài nguyên tái tạo được nhưng cũng bị nghèo kiệt và suy giảm nhanh chóng Cứ theo đà phá rừng như hiện nay thì 60 – 80 năm nữa toàn bộ thế giới sẽ biến thành đồi trọc Diện tích rừng suy giảm làm nhiều loài động thực vật quý hiếm bị diệt vong Từ năm

1600 đến nay có hơn 700 loài động – thực vật đã bị tuyệt chủng, có nhiều loài

bị tuyệt chủng trước khi phát hiện ra Sự giảm tính đa dạng sinh học là một trong những nguyên nhân làm mất cân bằng sinh thái Mất rừng còn dẫn đến các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, đất đai bị suy thoái

Tài nguyên nước hiện nay khá dồi dào ước tính khoảng 1386 triệu km3 nhưng lượng nước ngọt được dùng chỉ chiếm 0,8% Do phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm, do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, chất thải sinh hoạt nên nhiều nơi lâm vào tình trạng thiếu nước và nhiều nơi nước bị ô nhiễm không sử dụng được [7]

2.2.2 Môi trường suy thoái

Trong những năm 60 và đầu những năm 70, người ta nhận thấy rằng thế giới sẽ gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nếu hệ sinh thái của hành tinh không được quan tâm đúng mức Chất lượng không khí ở những khu vực đông dân trên toàn cầu đã bị phá huỷ đến mức báo động Rất nhiều dòng sông trên thế giới đã bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến đời sống ở biển Do đó nguồn nước trở nên không an toàn để con người có thể sử dụng với các mục đích khác nhau nữa Thậm chí nước mưa, nguồn nước thường được coi là trong sạch nhất đã trở thành nguồn gây độc cho các loại thực vật, ô nhiễm các dòng

Trang 16

sông do nước mưa có tính a xít Một bức tranh toàn cảnh truyền từ vệ tinh cho thấy rằng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên trái đất Sự ô nhiễm hành tinh do hoạt động của con người đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với mọi người

Ô nhiễm môi trường không phải là một vấn đề mới Ô nhiễm môi trường do hoạt động của con người đã tồn tại từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất Tuy nhiên, có thể thấy sự liên hệ giữa việc ô nhiễm rộng rãi trên toàn thế giới và cuộc cách mạng về công nghiệp Trong thế kỷ 19 và 2/3 của thế kỷ 20, các nhà máy mọc lên trên khắp các thành phố Việc sử dụng điện của các khu dịch vụ, các cửa hàng và các căn hộ hàng ngày đã thải ra hàng loạt các chất thải vào không khí, vào các dòng sông, dòng suối và đất Khi dân số không nhiều, thì vấn đề dân số đối với môi trường chỉ là vấn đề nhỏ, không cần quan tâm tới Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với việc nhân lên của các nhà máy tại các thành phố; việc tăng số lượng của việc sử dụng các chất độc hại như thuốc trừ côn trùng, thuốc trừ cỏ và phân bón hoá học; với ảnh hưởng của mỗi cá nhân trong việc tạo ra ô nhiễm môi trường từ việc mưu sinh của mình (chủ yếu thông qua việc sử dụng các nguyên liệu hoá thạch) và với việc các nguồn gây nguy hại cho hệ sinh thái ngày càng nhiều,

sự lờ đi các vấn đề tồn tại không phải là một giải pháp nữa Dân số thế giới đã tăng từ 2.5 tỉ năm 1950 lên gần 7 tỉ vào thời điểm hiện nay Việc tăng dân số

có nghĩa là dẫn đến ô nhiễm môi trường và đồng thời với việc khai thác tài nguyên nhiều hơn Ô nhiễm môi trường và tăng sự chịu đựng của thiên nhiên diễn ra cùng một lúc Vào giữa những năm 80, việc quan tâm đến môi trường

đã trở lên quan trọng Tầng ô zôn bảo vệ môi trường đang giảm dần, và đồng thời tầng khí quyển cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính từ đó dẫn đến việc nóng lên toàn cầu Những vệt cỏ dài bị huỷ hoại được quan sát thấy tại vùng mưa nhiệt đới và các nhà khoa học đã cảnh báo rằng toàn bộ hành tinh

có thể bị nguy hiểm nếu việc phá rừng để làm nương vẫn tiếp tục Tương tự

Trang 17

như vậy, nếu chúng ta tiếp tục đốt các sản phẩm từ các nguyên liệu hoá thạch (than, các sản phẩm dầu mỏ) với mức độ như hiện nay hoặc cao hơn, mỏm cực băng có thể tan chảy và dẫn đến ngập lụt trên toàn thế giới

Kết luận: Chất lượng cuộc sống luôn gắn liền với quy mô dân số Mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số,

sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển Dân số phù hợp sự phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh các xu hướng dân số phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững đó cũng là nhiệm vụ cấp bách của mọi quốc gia trên toàn thế giới

Việt Nam, theo tổng cục thống kê, năm 2005 Việt Nam có khoảng 83,1199 triệu người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới Mật độ dân số lên tới 252 người/km2 tức là gấp 6 lần mật độ dân số chuẩn quốc tế (trong khi đó các chuyên gia LHQ tính toán để có cuộc sống thuận lợi, bình quân chỉ nên có 30-40 người/km2) Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn, mặc dù vậy dân số vẫn đang tăng nhanh, bình quân vẫn ở mức trên 1 triệu người/ năm, chính vì vậy mà chất lượng dân số vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam vẫn ở mức trung bình thấp so với khu vực và trên thế giới Theo báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2000, chỉ có 12 tỉnh có trình độ phát triển cao (HDI

từ 0,7 trở lên), có tới 41 tỉnh có trình độ phát triển trung bình (HDI từ 0,6 đến dưới 0,7), và 8 tỉnh còn lại có trình độ phát triển thấp (HDI dưới 0,6) Tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của nước ta chỉ là 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với

174 nước trên thế giới Các tố chất về thể lực của người Việt Nam còn nhiều hạn chế đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền Tính đến thời điểm 1/4/1999, cả nước vẫn còn 6,8 triệu người từ 10 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường, trong đó có 5,3 triệu người hoàn toàn không biết chữ Cơ cấu đào tạo

Trang 18

bất hợp lý, quan hệ tỉ lệ đào tạo giữa 3 loại trình độ chuyên môn kỹ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế là: Đại học và trên đại học 1; trung học chuyên nghiệp 4; công nhân kỹ thuật 10,(1 – 4 - 10 ), thì ở nước ta tại thời điểm 1/4/1999 là 1 – 1,13 – 0,92 Để tránh nguy cơ tụt hậu, cùng với việc giải quyết vấn đề quy mô dân số đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và thực thi một chiến lược dài hạn nhằm nâng cao chất lượng dân số Việt Nam cả về thể lực và trí lực [9]

2.3 Công tác DS - KHHGĐ của huyện Chợ Mới trong 5 năm (2003 – 2007)

2.3.1 Đặc điểm huyện Chợ Mới

Huyện Chợ Mới nằm ở phía nam tỉnh Bắc Kạn, là huyện có nền kinh tế còn chậm phát triển, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp độc canh cây lúa, mang tính tự cung tự cấp, không có nghề phụ chủ lực, ít nhà máy xí nghiệp Diện tích rừng chiếm phần lớn nhưng chưa phát huy, đời sống của đại bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn

Huyện có 15 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 61000 ha Tính đến 30/6/2007 trên địa bàn huyện có tổng số dân là 37219 người gồm nhiều dân tộc: Nùng, Tày, Kinh, H Mông, Sán Chí, Hoa Trong đó số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng là 7400 người Với diện tích lớn, nhiều loại hình dân tộc và số đối tượng trong diện vận động sinh đẻ có kế hoạch tương đối nhiều vì vậy, việc thực hiện chủ trương chính sách dân số của nhà nước là

“mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 đến 2 con cách nhau từ 3 đến 5 năm” gặp rất nhiều khó khăn

2.3.2 Tình hình thực hiện công tác DS - KHHGĐ trong 5 năm của huyện Chợ Mới

Trang 19

Từ khi có “Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010” và “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010” của chính phủ, thì “Chiến lược dân số - gia đình và trẻ em tỉnh Bắc Kạn 2001 – 2010” của ủy ban nhân dân tỉnh được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa chiến lược dân

số Việt Nam phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của tỉnh từ nay đến năm 2010 và thực hiện mục tiêu công tác dân số mà Nghị quyết đại hội Đảng

Công tác DS - KHHGĐ được coi là 1 chỉ tiêu để xếp loại cơ sở Đảng, đơn vị chính quyền trong sạch, vững mạnh, là tiêu chuẩn để xét gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa và xét thi đua khen thưởng cho tập thể, nhân dân hàng năm Nhờ vậy, ý thức về công tác DS - KHHGĐ của các tầng lớp trong nhân dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ngày càng được nâng cao hơn Quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh được đông đảo nhân dân trong tỉnh đồng tình hưởng ứng Nhiều cặp vợ chồng trẻ đã tự nguyện chấp nhận quy mô gia đình chỉ có 2 con và tự giác thực hiện bằng việc lựa chọn cho mình một biện pháp tránh thai thích hợp, an toàn và hiệu quả nhất

Ủy ban DSGĐ&TE đã chỉ đạo 16 cơ sở (15 xã và 1 thị trấn) thành lập ban DS - GĐ& TE, tham mưu với ủy ban nhân dân huyện giao chỉ tiêu kế hoạch DS - DV - KHHGĐ và chỉ tiêu kế hoạch về chăm sóc giáo dục trẻ em cho các xã Các ngành đoàn thể tiến hành ký kết hợp đồng trách nhiệm với trưởng ban dân số, cán bộ chuyên trách và thủ trưởng cơ quan các ban ngành

Trang 20

có liên quan Củng cố và kiện toàn đội ngũ cán bộ đảm bảo hoạt động đồng

bộ và thống nhất [9] Duy trì chế độ giao ban hàng tháng từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh, báo cáo kết quả thực hiện công tác DS - GĐ&TE, phản ánh những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực thi công việc, nhận kế hoạch từ Tỉnh và Trung ương về triển khai

Phối hợp với UBDS - GĐ&TE tỉnh tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho toàn bộ đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số ở 16 cơ sở

Tuyên truyền sâu rộng về Pháp lệnh dân số và Nghị Định 104/2003/NĐ

- CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 1 số điều của Pháp lệnh dân số, thường trực Đảng ủy nhiều xã có lịch hàng quý nghe báo cáo chuyên đề về công tác DS - GĐ&TE trên cơ sở đó thường xuyên nắm bắt tình hình và giải quyết những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao

UBND huyện tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền chỉ thị 55/CT –

TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở với công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, tiếp tục thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa vui chơi cho trẻ em

sóc

Tập chung chỉ đạo cơ sở tổng kết 10 năm thi hành luật bảo vệ chăm

Công tác thông tin giáo dục tuyên truyền về DS - GĐ&TE từ huyện xuống khu dân cư thường xuyên được tăng cường bằng nhiều hình thức, kết hợp nhiều loại hình tuyên truyền như báo cáo các chuyên đề, mở hội nghị tọa đàm, huy động lực lượng học sinh, thanh niên, phụ nữ dùng băng cờ khẩu hiệu, loa đài, trống ếch đi tuyên truyền cổ động ở những chiến dịch ở những nơi vùng sâu, vùng xa, những nơi đông người…… kết hợp tuyên truyền vận

Trang 21

động trực tiếp từng người, từng nhà thông qua nhiều tài liệu tranh ảnh, tờ rơi, sách báo gia đình và xã hội Ban DS - GĐTE huyện phối hợp với các ban ngành đoàn thể tổ chức tuyên truyền chiến dịch truyền thông lồng ghép với

DV - KHHGĐ năm 2005

Huyện tập trung tuyên truyền Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về quyền trẻ em Có sự phối hợp hoạt động tuyên truyền vơi các ngành, đoàn thể, tổ chức Chính trị xã hội

Phối hợp với Hội phụ nữ huyện chỉ đạo cơ sở xây dựng mô hình tổ phụ

nữ không có người sinh con thứ 3+, xây dựng Câu lạc bộ phụ nữ với nhiều nội dung hoạt động phong phú Truyền thông các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ, chăm sóc giáo dục trẻ em, phát triển kinh tế tăng thu nhập xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc

Phối hợp với Ban thường vụ huyện đoàn mở hội nghị truyền thông DS

- GĐ&TE với các đồng chí bí thư, phó bí thư chi đoàn và đoàn xã Các ban chủ nhiệm câu lạc bộ tiền hôn nhân và câu lạc bộ gia đình trẻ Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ… trong dịp hè cho các cháu

Phối hợp với Mặt trận tổ quốc huyện, xã tổ chức nhiều hội nghị tuyên truyền vận động những người có uy tín trong cộng đồng, trưởng thôn, trưởng họ… Tuyên truyền vân động thực hiện gia đình 1 – 2 con khỏe mạnh để có cuộc sống ấm no hạnh phúc, góp phần xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn, xóm, làng

Phối hợp Hội đồng nhân dân huyện xây dựng mô hình gia đình nông dân 6 chuẩn mực, mở nhiều hội nghị tuyên truyền vận động nam nông dân thực hiện KHHGĐ, vai trò của người cha trong việc chăm sóc và giáo dục con cái góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo

Trang 22

Phối hợp với ngành văn hóa thông tin tuyên truyền kẻ nhiều panô, áp phích, khẩu hiệu ở trung tâm huyện, xã Xây dựng nhiều điểm vui chơi cho các cháu, gắn tuyên truyền vận động trong các lễ hội Tích cực vận động mọi tầng lớp nhân dân sinh đẻ có kế hoạch, bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa

Phối hợp với ngành giáo dục đào tạo tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết TW2 (khóa VIII) và đề án 01 của Tỉnh ủy (khóa VII) về công tác giáo dục trẻ em Mạng lưới trường lớp từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông các cấp được mở rộng và phát triển.Tiếp tục đưa công tác giáo dục DS - GĐ&TE vào trong nhà trường

Phối hợp chặt chẽ với ngành y tế, đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản KHHGĐ đạt hiệu quả thiết thực Thường xuyên đảm bảo phục

vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ em Trẻ em dưới 6 tuổi được khám và chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế Nhà nước Thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh nguy hiểm cho trẻ em nên số trẻ em mắc bệnh và tử vong giảm Đã có những nỗ lực trong việc khắc phục thiếu dinh dưỡng của trẻ em và bà mẹ mang thai

Phối hợp với ngành tư pháp từ huyện xuống thực hiện tốt việc đăng ký khai sinh cho trẻ em

Bên cạnh những việc đã thực hiện tốt thì công tác DS - KHHGĐ vẫn còn gặp 1 số khó khăn và hạn chế:

- Về sự lãnh đạo: Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền còn thiếu chặt chẽ và sát sao Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các

cơ quan chức năng trong kế hoạch chỉ đạo cơ sở Tăng cường hơn nữa sự phối hợp có hiệu quả của các ban ngành, đoàn thể trong công tác bảo vệ chăm sóc

Trang 23

và giáo dục trẻ em Nhận thức của một bộ phận dân cư, nhất là đối với các dân tộc thiểu số trong đó có cả cán bộ đảng viên chưa đầy đủ về chương trình dân số, chăm sóc và bảo vệ trẻ em Chính quyền địa phương chưa kiên quyết

xử lý những trường hợp vi phạm sinh con thứ 3+

nên tỉ lệ sinh con thứ 3+ vẫn còn cao

- Về công tác truyền thông DS - GĐ&TE: Công tác thông tin giáo dục tuyên truyền về DS - GĐ&TE ở một số cơ sở làm chưa sâu, chưa rộng, chưa thường xuyên liên tục, chưa tạo ra được phong trào quần chúng rộng khắp nhất là đối với các vùng sâu vùng xa Thực hiện luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em chưa được đầy đủ dẫn đến trẻ em bị xâm hại tình dục, lao động sớm

Nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất còn hạn chế, cơ sở y tế chưa đáp ứng được yêu cầu, còn thiếu trang thiết bị chưa đủ điều kiện để chăm sóc sức khỏe cộng đồng Một số nhà văn hóa ở các xã còn thiếu trang thiết bị

- Về DV - KHHGĐ: Công tác tuyên truyền vận động trong các độ tuổi sinh đẻ chưa tích cực, chưa cụ thể và sâu sát, nhất là những đối tượng chưa thực hiện KHHGĐ Một số xã chưa có những biện pháp để động viên khuyến khích những người thực hiện tốt KHHGĐ

- Về đấu tư kinh phí: Kinh phí đầu tư vào công tác DS - GĐ&TE còn hạn hẹp và thiếu quan tâm Các cấp Đảng ủy chính quyền nhận thức chưa đầy

đủ về quan điểm của Đảng là: “Đầu tư cho công tác DS - GĐ&TE là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao” Do đó nhiều mục tiêu đề ra chưa được hoàn thành

Trang 24

2.2.3 Phương hướng thực hiện công tác DS - KHHGĐ đến năm

2008 và các năm tiếp theo của huyện Chợ Mới – Bắc Kạn

Tiếp tục đẩy mạnh mở rộng và đổi mới công tác thông tin giáo dục tuyên truyền về DS - GĐ&TE nhất là pháp lệnh dân số và Nghị định 104/NĐ-

CP của chính phủ mới ban hành Phổ biến và triển khai sâu rộng đến mọi người dân trong cộng đồng, nâng cao vai trò và vị trí trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể xã hội, chi bộ, khu dân cư, dòng họ trong việc thực hiện chính sách DS - KHHGĐ để xây dựng làng xã văn hóa Từng bước tiến tới xã hội hóa DS - KHHGĐ

2.2.3.2 Những giải pháp

* Lãnh đạo tổ chức quản lý

Tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên, sự phối kết hợp của các ngành đoàn thể Thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu, phân công từng thành viên, từng cộng tác viên phụ trách từng

xã, thôn , xóm, bản làng để lãnh đạo, chỉ đạo sát sao công tác DS - GĐ&TE ở

cơ sở đạt hiệu quả cao Bố trí cán bộ chuyên trách và cộng tác viên bảo đảm chất lượng và ổn định, có đủ năng lực chuyên môn để hoàn thành nhiệm vụ

Trang 25

Thường trực Ban DS - GĐ&TE huyện duy trì chế độ giao ban đổi mới phương thức giao ban, đối với cán bộ chuyên trách dân số xã, thị trấn và đảm bảo các cuộc giao ban có chất lượng hiệu quả

Duy trì báo cáo theo định kì của ngành Đảm bảo thu thập số liệu, thông tin báo cáo chuẩn từ mọi địa bàn dân cư trên huyện

Thường xuyên theo dõi ghi chép các loại sổ sách chuyên ngành kịp thời đầy đủ và chính xác

Ban DS - GĐ&TE các xã, thị trấn duy trì sinh hoạt đều hàng tháng, quý, năm đối với các thành viên, các ngành, cán bộ chuyên trách và cộng tác viên, nghiệm thu số liệu về sinh tử, đi, đến, kết hôn, ly hôn và tiến độ thực hiện các biện pháp tránh thai, quản lý, bảo vệ, chăm sóc và bảo vệ giáo dục trẻ em ở mọi địa bàn dân cư Báo cáo những vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện kế hoạch

Tiến hành bình xét thi đua, khen thưởng phổ biến kinh nghiệm những

mô hình làm tốt các cách làm hay để nhân ra diện rộng

* Công tác thông tin giáo dục tuyên truyền

Đẩy mạnh mở rộng và đổi mới công tác thông tin giáo dục tuyên truyền

về DS - GĐ&TE nhất là Pháp lệnh dân số và Nghị định 104/NĐ – CP của chính phủ mới ban hành Phân loại từng nhóm đối tượng để tập trung tuyên truyền vào các vùng sâu, vùng xa, vùng dân trí thấp, có các hình thức tuyên truyền thích hợp cho các vùng đồng bào dân tộc tổ chức thực hiện có hiệu quả tiếp tục phát động chiến dịch: Mùa xuân dân số, Thu đông dân số, phát động những đợt cao điểm thi đua lập thành tích nhân kỷ niệm “Ngày gia đình Việt Nam 28/6, ngày dân số thế giới 11/7, ngày dân số Việt Nam 26/12”

Trang 26

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu về DS - KHHGĐ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em Các cấp, các ngành đoàn thể nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền vận động, lồng ghép các hoạt động thông tin giáo dục tuyên truyền DS - GĐ&TE vào các chương trình kinh tế - xã hội Phối hợp thường xuyên với các cơ quan, ban ngành đoàn thể và tổ chức xã hội từ huyện xuống cơ sở có nhiều hoạt động phong phú về DS - GĐ&TE, từng bước nâng cao chất lượng dân số, thực hiện gia đình từ 1 – 2 con để nuôi dạy cho tốt tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no hạnh phúc

* Dịch vụ - kế hoạch hóa gia đình

Tăng cường DV - KHHGĐ cho vùng đông dân có mức sinh cao, vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa được tổ chức có hiệu quả, đạt kết quả tốt, tạo nhu cầu và đẩy mạnh sự tiếp cận của nhân dân đối với các DV - KHHGĐ, hạn chế đến mức thấp nhất tỉ lệ vỡ kế hoạch sau KHHGĐ

Tích cực vận động chị em trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là số phụ nữ sinh con 1 bề thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại Góp phần hạ tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện ngày càng giàu mạnh

* Công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

10%

Mục tiêu cơ bản là giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống

Tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em hoàn thành chỉ tiêu năm 2008

Thực hiện tốt mục tiêu vì trẻ em năm 2008 đã đề ra

Trang 27

Phối hợp với các cấp, các ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, các khu dân cư trong công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

Phần3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi đã chọn dân số của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn với quy mô dân số tính đến năm 2007 là 37219 người trong đó nữ là 18009 người, nam là 19210 người làm đối tượng nghiên cứu thông qua việc nghiên cứu một số chỉ tiêu dân số của huyện qua các năm từ 2003 –

2007

Chúng tôi chọn cụ thể 1 thị trấn và 1 xã để thấy rõ ảnh hưởng của dân số đến chất lượng đời sống của người dân trong địa bàn huyện (Thị trấn Chợ Mới và xã Quảng Chu)

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thu thập số liệu

Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập số liệu ở Ban DS - GĐ&TE huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

Trang 28

Tiến hành điều tra dân số của thị trấn Chợ Mới và xã Quảng Chu

để thu được các số liệu về các chỉ tiêu dân số của xã và thị trấn

2.2 Xử lý số liệu

Từ các số liệu thu được, chúng tôi xử lý bằng toán học thống kê

Trên cơ sở xử lý số liệu đó sẽ lập các bảng biểu, đồ thị, biểu đồ rồi từ đó rút ra nhận xét, kết luận

2.3 Các công thức được dùng để xử lý số liệu [3,4]

2.3.1.Tỷ suất sinh thô (tỷ lệ sinh)

Tỉ lệ sinh CBR (Cryde Birth Rate) biểu thị số trẻ em sinh ra/1000 dân trong một năm

CBR B 1000 P

Trong đó:

CBR: tỷ suất sinh thô (‰) B: số trẻ em sinh ra trong 1 năm P: dân số trung bình trong 1 năm của đơn vị lãnh thổ đó

2.3.2 Tỷ suất chết thô (tỷ lệ chết trong năm)

Tỷ suất chết thô là biểu thị mối quan hệ giữa số người chết trong năm so với tổng số dân trung bình trong cùng năm trên 1 địa bàn lãnh thổ nhất định

CDR D 1000 P

Trang 29

2.3.3 Tỉ lệ phát triền dân số tự nhiên

Trong đó:

NiR CBR CDR

NiR: Tỉ lệ tăng tự nhiên ( 000) CBR: Tỉ suất sinh thô ( 000) CDR: Tỉ suất chết thô ( 000) 2.3.4 Tỉ lệ bình quân trong một năm

M A F

E Trong đó:

M: Tỉ lệ giảm bình quân mỗi năm

N: Tỉ lệ tăng bình quân mỗi năm

F: Tổng số tăng từng năm

A: Tổng số giảm từng năm

K: Dân số hiện tại 2.3.6 Dự báo dân số

Ngày đăng: 19/12/2017, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo thông tin khoa học - xã hội. số ra (4 - 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo thông tin khoa học - xã hội
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục - đào tạo và quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA). Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số - Dự án VIE/94/Po1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số - Dự án VIE/94/Po1
Tác giả: Bộ Giáo dục - đào tạo, quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
4. Bộ Giáo dục - đào tạo và quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA). Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số - Dự án VIE/01/P09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số - Dự án VIE/01/P09
Tác giả: Bộ Giáo dục - đào tạo, quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
5. Nguyễn Hữu Dũng – Lê Thông (1998), Dân số - Môi trường – Tài nguyên. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số - Môi trường – Tài nguyên
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Lê Thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Phạm Văn Đồng – Nguyễn Thị Thiến (1995), Giáo trình thống kê dân số học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thống kê dân số học
Tác giả: Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Thiến
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
7. Trần Kiên – Hoàng Đức Nhuận – Mai Sĩ Tuấn, Sinh thái học và môi trường. NXB Giáo dục 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học và môi trường
Tác giả: Trần Kiên, Hoàng Đức Nhuận, Mai Sĩ Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
8. Lê Văn Khoa (2001), khoa học môi trường. NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: khoa học môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2001
1. Ban DS - GĐ& TE : Báo cáo thực hiện công tác DS - GĐ& TE các năm từ 2003 – 2007 Khác
9. Những nội dung chủ yếu của pháp lệnh dân số, 2004. NXB Lao động – xã hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w