1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)

62 263 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)Thu nhập của viên chức và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế tại bệnh viên nhân dân Gia định giai đoạn 2010 2015 (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

KHOA TÀI CHÍNH CÔNG

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Huyền Sinh viên thực hiện : Hoàng Thu Thảo

TP.HCM - 2015

Trang 2

Đề tài khóa luận này sẽ không thể hoàn thành nếu thiếu sự hỗ trợ nhiệt tình của các thầy cô khoa Tài chính công, trường Đại học Kinh tế TP.HCM và tất cả các anh chị trong phòng Tài chính – Kế toán của BVND Gia Định

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Huyền, giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Cô đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ từ những giai đoạn bắt đầu vào thực hiện đề tài cho tới lúc hoàn thành Những góp ý đó thực sự bổ ích để tôi có thể hoàn thiện đề tài khóa luận của mình một cách tốt nhất

Đối với đơn vị thực tập, tôi xin chân thành cảm ơn ban giám đốc và toàn thể các anh chị trong phòng Tài chính – Kế toán đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận, học hỏi những kinh nghiệm quý báu về lĩnh vực tài chính, kế toán trong đơn vị

sự nghiệp y tế cũng như giải đáp mọi thắc mắc trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 3

Trang 4

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU i

CHƯƠNG 1: THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC, NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1

1.1.Tổng quan lý thuyết về khu vực công 1

1.1.1.Khái niệm khu vực công 1

1.1.2 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của khu vực công 1

1.1.3 Các tổ chức thuộc khu vực công 1

1.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ của các tổ chức thuộc khu vực công 1

1.1.5 Khái niệm đơn vị công 2

1.1.6 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của đơn vị công 2

1.1.7 Đơn vị sự nghiệp y tế công lập 2

1.2.Tiền lương 3

1.2.1.Khái niệm về tiền lương 3

1.2.2 Bản chất của tiền lương 4

1.2.3 Chức năng của tiền lương 4

1.3.Các khoản thu nhập khác ngoài lương 7

1.3.1.Khái niệm và bản chất các khoản thu nhập khác ngoài lương 7

1.3.2.Vai trò của các khoản thu nhập khác ngoài lương 8

1.4.Hệ thống thang lương, bảng lương tại bệnh viện công lập 9

1.5.Năng suất lao động và mối quan hệ giữa thu nhập với năng suất lao động 9

1.5.1.Khái niệm 9

1.5.2.Ý nghĩa của tăng năng suất lao động 10

1.5.3.Mối quan hệ giữa thu nhập với năng suất lao động 12

1.6.Chất lượng dịch vụ và mối quan hệ giữa NSLĐ với chất lượng dịch vụ 14

1.6.1.Khái niệm chất lượng dịch vụ 14

1.6.2.Mối quan hệ giữa NSLĐ với chất lượng dịch vụ 15

CHƯƠNG 2: THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 17

2.1 Giới thiệu về bệnh viện nhân dân Gia Định 17

2.1.1 Giới thiệu chung về bệnh viện nhân dân Gia Định 17

2.1.2 Qui mô giường bệnh và số lượng viên chức tại BV 18

2.2 Thực trạng chính sách thu nhập tại BVND Gia Định trong giai đoạn 2010 – 2015 18

2.3 Thực trạng chất lượng cung ứng dịch vụ tại BVND Gia Định trong giai đoạn 2010-2015 23

Trang 6

Định trong giai đoạn 2010 – 2015 24 2.5 Tác động thu nhập của viên chức đến chất lượng cung ứng dịch vụ thông qua NSLĐ tại BVND Gia Định 30 2.6 Những vấn đề cần cải thiện 33 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN TRONG VẤN ĐỀ THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI BVND GIA ĐỊNH 34 3.1 Những kiến nghị trong vấn đề thu nhập của Viên chức và chất lượng dịch vụ tại BVND Gia Định 34 3.2 Kết luận 38 PHỤ LỤC A: BẢNG LƯƠNG CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ ĐỐI VỚI CÁN BỘ,

VIÊN CHỨC TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ NƯỚC (Ban hành kèm

theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ) A

PHỤ LỤC B: ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA BẢNG LƯƠNG TRONG PHỤ LỤC A E PHỤ LỤC C: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT H

Trang 7

BV Bệnh viện

Trang 8

Bảng 1 Phụ cấp độc hại 21

Bảng 2 Mức phụ cấp theo từng mức độ phẫu thuật 21

Bảng 3 Mức phụ cấp trực theo QĐ – 73 năm 2011 của TTg Chính phủ 22

Bảng 4 Mức phụ cấp đặc thù ngành theo QĐ 56 của Thủ tướng Chính phủ 22

Bảng 5: Thay đổi mức lương tối thiểu chung từ năm 2010 – 2015 24

Bảng 8 Lạm phát của cả nước trong giai đoạn 2010 – 2014 25

Trang 9

Hình 1 Số lượng giường bệnh và số lượt khám chữa bệnh của bệnh nhân tại BVND Gia Định

giai đoạn 2010 – 2014 27

Hình 2 Thủ tục đăng ký nhập viện 28

Hình 3 Thủ tục đăng ký khám chữa bệnh 29

Hình 4 Thông tin nội quy phòng khoa 29

Hình 5 Cảm nhận của người dân khi nghe Bác sĩ giải thích về bệnh, chẩn đoán, phương pháp điều trị 30

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tiền lương, là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên năng suất và hiệu quả công việc của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với viên chức Tiền lương nếu được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao NSLĐ Ngoài tiền lương là yếu tố cơ bản, thu nhập của viên chức trong đơn vị sự nghiệp y tế còn có các khoản thu nhập tăng thêm, các chế độ khác (các khoản ngoài lương)

Ngày 10/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội thông qua nghị quyết về dự toán NSNN năm 2015, trong đó có nội dung dành 11 nghìn tỷ đồng để tăng lương cho các đối tượng hưu trí, trợ cấp ưu đãi cho người có công và tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống) Theo lộ trình cải cách lương, giai đoạn 2015 – 2016 tiền lương phải đảm bảo mức sống tối thiểu, nhưng do tình hình kinh tế khó khăn, NSNN bị co lại, nên lộ trình phải giãn ra Theo đánh giá chung, tiền lương

ở Việt Nam hiện nay mới chỉ đáp ứng được 60% mức sống tối thiểu, ngoài ra mức lương ở khu vực nhà nước chỉ bằng 70% so với khu vực tư nhân BVND Gia Định là BV đa khoa loại 1 trực thuộc Sở Y tế TP.HCM, đã được UBND TP.HCM giao quyền tự chủ tài chính Như vậy, với bản nghị quyết được thông qua thì quỹ lương hiện nay của BV ít nhiều cũng sẽ thay đổi Theo khảo sát xếp hạng 143 thành phố đắt đỏ nhất thế giới của Tập đoàn Mercer, TP.HCM đứng vị trí thứ 2 chỉ sau Thủ đô Hà Nội, có chi phí sinh hoạt đắt đỏ nhất Việt Nam Theo Cục thống kê TP.HCM, CPI của cả năm 2014 tăng 1,65%, tuy nhiên, bình quân năm 2014 so với bình quân năm 2013 tăng ở mức 4,13% Đây là những con số hết sức đáng lo ngại, đặc biệt là trong bối cảnh NSNN eo hẹp, nợ công tích lũy ngày càng cao Mặc dù CPI các tháng cuối năm 2014 có dấu hiệu khả quan, tuy

Trang 11

nhiên vẫn tiềm ẩn rủi ro tăng giá Lương tăng chậm, trong khi giá cả các mặt hàng thiết yếu ngày càng tăng, điều này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống từ đó ảnh hưởng đến NSLĐ và chất lượng cung ứng dịch vụ và của BV.Với hai tác động như trên, nhưng với thời gian hạn chế, cũng như thiếu sót các công cụ hỗ trợ cần thiết, do vậy, mục tiêu cơ bản của đề tài này chỉ xem xét tác động của thu nhập đến chất lượng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại đơn

vị sự nghiệp y tế

Với những lý do ở trên, em chọn đề tài: “THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015” cho khóa luận tốt nghiệp của

mình

MỤC TIÊU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu thực trạng hạch toán thu nhập của viên chức tại BVND Gia Định để hiểu sâu hơn về lý thuyết và có cái nhìn thực tế hơn về kế toán tiền lương, các khoản trích theo lương và thu nhập của viên chức Mối quan hệ giữa thu nhập và chất lượng cung ứng dịch vụ trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập

- Sự khác biệt giữa thu nhập trung bình của các đối tượng lao động khác nhau trong BV

- Giải thích thực trạng hiện nay là chất lượng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng do nhu cầu xã hội quá lớn nên vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của người dân

- Đưa ra các phương hướng giải quyết cho vấn đề thu nhập hiện nay tại BVND Gia Định, để từ những thay đổi đó có thể thay đổi chất lượng cung ứng dịch vụ theo chiều hướng tích cực hơn Người dân cũng có thể hiểu và thông cảm cho các vấn đề nan giải của BV, hay nói cách khác là tìm ra góc nhìn chung giữa BV và người dân và giữa cán bộ viên chức với BV

Trang 12

Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Nắm bắt được thực trạng thu nhập của viên chức tại các đơn vị sự nghiệp

y tế hiện nay, thông qua tình hình thực tế tại BVND Gia Định

- Đưa ra lý giải khách quan để giải thích lý do các đơn vị sự nghiệp y tế -

cụ thể ở đây là BVND Gia Định – chưa đáp ứng được hết các nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

- Đưa ra các giải pháp cụ thể về vấn đề thu nhập của Viên chức hiện nay tại

BV, cụ thể hơn, thông qua các giải pháp này mong muốn của đề tài là chất lượng cung ứng dịch vụ của BV sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn Vấn đề dặt

ra hiện nay là làm sao đội ngũ y bác sĩ tại BV công nói chung và BVND Gia định nói riêng gắn bó với công việc, không đi ra các cơ sở y tế tư nhân với một mức thù lao hấp dẫn hơn các cơ sở y tế công lập

QUY TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Bước 1 Giới thiệu cơ sở lý thuyết chung về thu nhập (tiền lương, các chế độ, thu nhập tăng thêm, tiền làm thêm giờ…), chính sách thu nhập tại các đơn vị sự nghiệp y tế qua giai đoạn 2010 – 2015 và mối quan hệ giữa chất lượng cung ứng dịch vụ với thu nhập

Bước 2 Giới thiệu tổng quan về BVND Gia Định, chính sách thu nhập của BV thông qua quy chế chi tiêu nội bộ và các chính sách của nhà nước

Bước 3 Thu thập dữ liệu về thu nhập và lạm phát, nguồn thu, đặc điểm của từng đối tượng lao động tại BV Xử lý dữ liệu, mô tả đặc điểm và mối liên hệ giữa chúng, sau đó phân tích và giải thích ứng với mục tiêu cụ thể của đề tài Cuối cùng đưa ra kết luận và giải pháp

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu từ các trang web, Bộ Y tế, Sở Y tế, Tổng cục Thống kê Bên cạnh đó, dữ liệu từ Phòng Tài chính – kế toán của BVND Gia Định và phiếu khảo sát

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp sử dụng là thống kê mô tả, phân tích, so sánh, đánh giá, giải thích, diễn dịch và quy nạp Với công cụ sử dụng là phần mềm Excel

Trang 14

CHƯƠNG 1: THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC, NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

VÀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

1.1 Tổng quan lý thuyết về khu vực công

1.1.1 Khái niệm khu vực công

Khu vực công là khu vực do nhà nước làm chủ sở hữu, nhà nước đầu tư vốn hoặc một phần do tư nhân đầu tư vốn và được nhà nước quản lí nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phục vụ các nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của nhà nước và xã hội

1.1.2 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của khu vực công

- Khu vực công phụ thuộc vào định hướng chính trị của nhà nước

- Chịu sự chi phối của nhà nước

- Chủ yếu do nhà nước đầu tư

- Mục tiêu của khu vực công là phục vụ mục tiêu chung của xã hội, không nhằm mục tiêu lợi nhuận kinh tế

Khu vực công hoạt động trong quản lý nhà nước, thực hiện chức năng cai trị Trong hoạt động sản xuất và cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ, thực hiện chức năng xã hội và chức năng phục vụ

1.1.3 Các tổ chức thuộc khu vực công

- Tổ chức công trong lĩnh vục hành chính nhà nước

- Tổ chức công trong lĩnh vực sự nghiệp: Giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hoạt động văn hóa thông tin, khoa học công nghệ, thể dục thể thao…

- Tổ chức công trong lĩnh vực công ích: Giao thông công cộng, cung cấp điện, nước sạch, vệ sinh môi trường, thủy lợi…

1.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ của các tổ chức thuộc khu vực công

- Đối với lĩnh vực hành chính nhà nước: Hệ thống pháp luật, các chính sách của các tổ chức xã hôi, trợ cấp xã hội…

- Đối với lĩnh vực sự nghiệp: Hệ thống trường học, bệnh viện, các trung tâm văn hóa, thể thao…

Trang 15

- Đối với lĩnh vực công ích: Hệ thống giao thông công cộng, hệ thống điện quốc gia, hệ thống cung cấp nước sạch…

1.1.5 Khái niệm đơn vị công

Đơn vị công là những đơn vị do Nhà nước thành lập thực hiện chức năng quản lí Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng (đơn vị hành chính) cũng như hoạt động cung ứng các dịch vụ công cho

xã hội (đơn vị sự nghiệp)

1.1.6 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của đơn vị công

- Là những đơn vị không trực tiếp sản xuất vật chất

- Hoạt động mang tính chất phục vụ, không vì mục đích lợi nhuận, vì mục tiêu hoạt động của khu vực công là phục vụ cộng đồng

- Phạm vi hoạt động rộng, đa dạng và phong phú

- Hoạt động của các đơn vị công chứa đựng nhiều yếu tố xã hội, liên quan đến nhiều chính sách, chế độ

- Nguồn tài chính đảm bảo hoạt động các đơn vị công chủ yếu do ngân sách nhà nước tài trợ

1.1.7 Đơn vị sự nghiệp y tế công lập

“Đơn vị sự nghiệp y tế công lập” là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế)

Trang 16

1.2 Tiền lương

1.2.1 Khái niệm về tiền lương

Tiền lương là một phạm trù kinh tế, là kết quả quan trọng của sự phân phối của cải trong xã hội Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới Điều đó cho thấy sự phức tạp về tiền lương thể hiện ngay trong quan điểm triết lý về tiền lương

Tại Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hàng hoá sức lao động thì tiền lương

là giá cả của sức lao động Tiền lương, trước hết là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động, đó là quan hệ kinh tế về tiền lương Mặt khác, do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống trật tự xã hội

Trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế:

- Đối với thành phần kinh tế Nhà Nước và khu vực hành chính sự nghiệp: Tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp Nhà Nước, các cơ quan tổ chức của Nhà Nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà Nước và được thể hiện trong hệ thống thang bảng lương do Nhà nước quy định

- Đối với các thành phần kinh tế ngoài khu vực Nhà Nước: Tiền lương chịu

sự tác động, chi phối rất lớn của thị trường sức lao động Tiền lương trong khu vực này dù vẫn trong khuôn khổ pháp luật và theo chính sách của Nhà Nước nhưng là những giao dịch trực tiếp giữa người sử dụng lao động và người lao động

Trang 17

1.2.2 Bản chất của tiền lương

Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, quan niệm về tiền lương có những thay đổi:

- Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, Các Mác chỉ rõ, tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như giá cả lao động

- Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ cống hiến

- Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thoả thuận (theo hợp đồng lao động)

Như vậy, trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao sức lao động trở thành hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt Giá cả sức lao động chính là tiền lương, tiền công Từ những khái niệm và nhận thức về tiền lương nêu trên

có thể rút ra được là về bản chất, tiền lương trong cơ chế thị trường bao gồm 3 trụ cột:

- Tiền lương là giá cả sức lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động

- Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống do luật pháp quy định

- Tiền lương được xác định thông qua cơ chế thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động

1.2.3 Chức năng của tiền lương

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào, tiền lương thực hiện hai chức năng sau đây:

- Về phương diện xã hội:

Trong mọi chế độ xã hội, tiền lương thực hiện chức năng kinh tế cơ bản của nó

là đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho xã hội Nhà nước phải định mức lương

Trang 18

tối thiểu; mức lương tối thiểu phải đảm bảo nuôi sống gia đình và bản thân người lao động Mức lương tối thiểu là nền tảng cho chính sách tiền lương và việc trả lương của các doanh nghiệp, bởi vậy nó phải được thể chế bằng pháp luật buộc mọi doanh nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá linh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng, mức lương tối thiểu làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Mức lương cơ bản khác: Được xác định trên cơ sở mức giá hàng vật phẩm tiêu dùng trong từng trường hợp một, bởi vậy khi giá cả có biến động, đặc biệt khi tốc độ lạm phát cao, phải điều chỉnh tiền lương phù hợp để đảm bảo đời sống của người lao động

- Về phương diện kinh tế:

Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động làm cho họ vì lợi ích vật chất của bản thân và gia đình mình mà lao động một cách tích cực với chất lượng kết quả ngày càng cao

Để trở thành đòn bẩy kinh tế, việc trả lương phải gắn liền với kết quả lao động,

tổ chức tiền lương phải nhằm khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Bội số của tiền lương phải phản ánh đúng sự khác biệt trong tiền lương giữa loại lao động có trình độ thấp nhất và cao nhất được hình thành trong quá trình lao động

Với chức năng cơ bản nói trên, vai trò của tiền lương được biểu hiện:

- Về mặt kinh tế

Tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Nếu tiền không đủ trang trải, mức sống của người lao động bị giảm sút, họ phải kiếm thêm việc làm ngoài doanh nghiệp như vậy

có thể làm ảnh hưởng kết quả làm việc tại doanh nghiệp Ngược lại nếu tiền lương trả cho người lao động lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu thì sẽ tạo

Trang 19

cho người lao động yên tâm, phấn khởi làm việc, dồn hết khả năng và sức lực của mình cho công việc vì lợi ích chung và lợi ích riêng, có như vậy dân mới giàu, nước mới mạnh

- Về mặt chính trị xã hội

Có thể nói tiền lương là một nhân tố quan trọng tác động mạnh mẽ nhất, nếu như tiền lương không gắn chặt với chất lượng, hiệu quả công tác, không theo giá trị sức lao động thì tiền lương không đủ đảm bảo để sản xuất, thậm chí tái sản xuất giản đơn sức lao động không đủ để khuyến khích nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ tay nghề Vì vậy, tiền lương phải đảm bảo các yếu tố cấu thành để đảm bảo nguồn thu nhập, là nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình họ,

là điều kiện để người lao động hưởng lương hoà nhập vào thị trường lao động xã hội Để sử dụng đòn bẩy tiền lương đối với người lao động đòi hỏi công tác tiền lương trong doanh nghiệp phải đặc biệt coi trọng

Tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp được công bằng và hợp lý sẽ tạo ra hoà khí cởi mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển và vì lợi ích bản thân người lao động Chính vì vậy mà người lao động tích cực làm việc bằng cả lòng nhiệt tình, hăng say và họ có quyền tự hào về mức lương họ đạt được

Ngược lại, khi công tác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp thiếu tính công bằng và hợp lý thì không những sẽ sinh ra những mâu thuẫn nội bộ thậm chí khá gay gắt giữa người lao động với nhau, giữa những người lao động với cấp quản trị, cấp lãnh đạo doanh nghiệp, có lúc còn có thể dẫn đến sự phá hoại ngầm dẫn đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất Vì vậy, với nhà quản trị doanh nghiệp, một trong những công việc cần được quan tâm hàng đầu là phải theo dõi đầy đủ công tác tiền lương, thường xuyên lắng nghe và phát hiện kịp thời những ý kiến bất đồng hoặc những mâu thuẫn có khả năng xuất hiện trong phân phối tiền lương, tiền thưởng của người lao động qua đó có sự điều chỉnh thoả đáng, hợp lý

Tóm lại, trong đời sống xã hội, trong doanh nghiệp, tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đảm bảo cho đời sống của người lao động, tái sản

Trang 20

xuất sức lao động mà còn là một công cụ để quản lý doanh nghiệp, là đòn bẩy kinh tế hiệu lực Tuy nhiên, chỉ trên cơ sở áp dụng đúng đắn chế độ tiền lương, đảm bảo các nguyên tắc của nó thì mới phát huy được mặt tích cực và ngược lại

sẽ làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp

1.3 Các khoản thu nhập khác ngoài lương

1.3.1 Khái niệm và bản chất các khoản thu nhập khác ngoài lương

Ở nước ta hiện nay còn có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc: Tiền lương (lương cơ bản), các khoản phụ cấp theo lương, phụ cấp và phúc lợi (thu nhập tăng thêm ngoài lương)

Điều đó có nghĩa là bên cạnh tiền lương, người lao động còn có các khoản thu nhập khác như tiền thưởng, tiền lãi cổ phần do lao động đóng góp, tiền phụ cấp các loại, bảo hiểm xã hội, tiền trợ cấp xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội

Về bản chất, các khoản thu nhập ngoài lương này là các khoản tiền bổ sung vào tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc phân phối thu nhập của người lao động và nhằm khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguyên, vật liệu trong quá trình sản xuất Cùng với tiền lương, các khoản thu nhập ngoài lương góp phần thỏa mãn nhu cầu vật chất cho người lao động và phân định rõ chất lượng công việc của người lao động đóng góp cho công ty hoặc tổ chức

Thu nhập ngoài lương của người lao động chia thành hai loại Loại thứ nhất là thu nhập từ tiền thưởng, tiền lãi cổ phần đóng góp…, khoản tiền này người lao động trực tiếp nhận từ công ty Số tiền này phụ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty cũng như thành tích lao động của người lao động Loại thứ hai là các khoản tiền như tiền bảo hiểm xã hội, tiền trợ cấp thất nghiệp…, đây là các khoản thu nhập ngoài lương không mang tính trực tiếp và tức thì Các khoản này người lao động không được nhận trực tiếp từ doanh nghiệp Cụ thể hơn, thay vì phải đóng phí để được tham gia vào hệ thống an sinh xã hội của nhà nước thì người lao động được doanh nghiệp đứng ra đóng một phần hoặc toàn

bộ số tiền bảo hiểm xã hội hay trợ cấp thất nghiệp… đó cho đơn vị có liên quan

Trang 21

Chính vì vậy, nó cũng được xem là thu nhập khác ngoài lương của người lao động

1.3.2 Vai trò của các khoản thu nhập khác ngoài lương

Thứ nhất, các khoản thu nhập ngoài lương góp phần thực hiện đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó phản ánh nguyên tắc cơ bản của phân phối lao động

Thứ hai, nó là đòn bẩy để phát triển kinh tế Bởi lẽ, việc thực hiện đầy đủ các hình thức và chế độ thu nhập ngoài lương thể hiện sự đãi ngộ thỏa đáng của công ty với người lao động vì vậy sẽ khuyến khích họ trong công việc Khi mà tất cả các doanh nghiệp cùng nâng cao sản xuất, kinh tế của quốc gia sẽ phát triển

Thứ ba, các khoản thu nhập khác ngoài lương thúc đẩy người lao động thực hiện tốt mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Khi xây dựng phương án thưởng, phạt doanh nghiệp có thể đề ra các mục tiêu phát triển công ty để lao động có động lực làm việc, phấn đấu hoàn thành

Thứ tư, các khoản thu nhập khác ngoài lương mà cụ thể là từ hệ thống an sinh xã hội (bao gồm các khoản trợ cấp thất nghiệp, ốm đau, thai sản, bảo hiểm

xã hội, ) giúp người lao động yên tâm công tác, nhờ đó mà NSLĐ sẽ ổn định

và tăng lên Bởi lẽ, người lao động biết rằng, cuộc sống của họ được bảo đảm khỏi những rủi ro thông qua hệ thống an sinh xã hội mà doanh nghiệp đang đóng phí chi trả cho người lao động để họ được tham gia vào hệ thống Hệ thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất việc làm, mất khả năng lao động hoặc chết

Hệ thống an sinh xã hội đáp ứng những nhu cầu thiết thực nhất của con người và góp phần ổn định đời sống người lao động Trong đời sống xã hội, con người luôn phải đối mặt với những rủi ro, đặc biệt là những rủi ro từ cơ chế thị trường

và các rủi ro từ thiên nhiên như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh Để phòng ngừa, khắc phục các rủi ro này, con người có nhu cầu được đáp ứng về mặt an sinh xã hội Hệ thống an sinh xã hội càng tỏ rõ vai trò của mình khi nền kinh tế, xã hội

Trang 22

phát triển, nhu cầu về an sinh xã hội cũng tăng lên và đa dạng hơn như: nhu cầu

về bảo hiểm xã hội, an toàn việc làm và tiền lương đủ sống; nhu cầu tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch, kế hoạch hóa gia đình ); nhu cầu trợ giúp thường xuyên đối với các đối tượng yếu thế (người già cô đơn, không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, ); nhu cầu cứu trợ đột xuất như đau ốm, mất mùa, thiên tai Chính bởi vậy, an sinh xã hội góp phần bảo đảm an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế, xã hội

1.4 Hệ thống thang lương, bảng lương tại bệnh viện công lập

Hệ thống thang lương, bảng lương của viên chức trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập được quy định cụ thể trong Nghị định 204 năm 2004 của Chính Phủ (Phụ lục A, Phụ lục B)

- Viên chức loại A1 chia làm 9 bậc từ 2.34 đến 4.98

- Viên chức loại A0 chia làm 10 bậc từ 2.1 đến 4.98

- Viên chức loại B và loại C chia làm 12 bậc

1.5 Năng suất lao động và mối quan hệ giữa thu nhập với năng suất lao động

Hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm gồm hai thành phần: Lao động sống và lao động quá khứ Lao động sống là lao động trực tiếp tiêu hoa

Trang 23

trong quá trình sản xuất ra sản phẩm Lao động quá khứ là phần lao động tiêu hao từ trước để làm ra nguyên vật liệu và công cụ, nhà xưởng dùng cho quá trình sản xuất ra sản phẩm đó

NSLĐ cá nhân chỉ liên quan đến lao động sống, tăng NSLĐ cá nhân là hạ thấp hao phí lao động sống NSLĐ xã hội liên quan đến cả lao động sống và lao động quá khứ, tăng NSLĐ xã hội là hạ thấp cả chi phí lao động sống và hao phí lao động quá khứ

1.5.2 Ý nghĩa của tăng năng suất lao động

Tăng NSLĐ là quá trình tăng năng lực sản xuất của lao động, tăng hiệu quả sử dụng lao động sống Thực chất đây là quá trình tiết kiệm lao động sống trong việc sản xuất sản phẩm dịch vụ, từ đó chi phí cho lao động trong sản xuất sản phẩm dịch vụ được giảm xuống, đồng nghĩa với việc lợi nhuận từ việc bán sản phẩm đó tăng lên Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là giảm chi phí cho lao động sống nhưng chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng không bị giảm sút Việc tăng NSLĐ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi doanh nghiệp, đối với ngành và đối với người lao động

Ý nghĩa đối với doanh nghiệp kinh doanh sản phấm dịch vụ, tăng NSLĐ đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận và tăng hiệu quả kinh tế Mối quan tâm lớn nhất và quan trọng hàng đầu cua mối doanh nghiệp là lợi nhuận, do đó họ sẽ thực hiện mọi biện pháp để có thế tăng NSLĐ đến mức tối đa

Ý nghĩa đối với ngành, việc tăng NSLĐ làm cho khả năng tái sản xuất được tăng lên từ đó quy mô nghành cũng tăng cao Khi quy mô ngành tăng lên thì vị thế và đóng góp của ngành cho nền kinh tế cũng được cải thiện

Ý nghĩa đổi với người lao động, tăng NSLĐ có nghĩa là lượng giái trị mà người lao động tạo ra tăng lên từ đó thu nhập của họ cũng tăng lên, các lợi ích vật chất khác của họ cũng cao hơn NSLĐ tăng làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng mở rộng về quy mô và tăng cao về chất lượng, từ đó điều kiện làm việc của người lao động sẽ được nâng cao

Theo cách tính NSLĐ bằng chỉ tiêu giá trị:

Trang 24

Để NSLĐ tăng khi xảy ra các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Doanh thu tăng và số lao động bình quân không đổi Do chi phí không đối nên doanh nghiệp có lợi nhuận tuy nhiên quy mô của doanh nghiệp không tăng vì thế đó không phải lựa chọn tối ưu để doanh nghiệp phát triển Trường hợp 2: Doanh thu không đổi và số lao động bình quân giảm Do chi phí giảm vì lượng lao động giảm nhưng quy mô của doanh nghiệp lại giảm vì thế đây không phải là sự lựa tốt chọn để có thể phát triển doanh nghiệp

Trường hợp 3: Doanh thu tăng và số lao động bình quân giảm trường hợp này doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất, do doanh thu tăng lên và chi phí cho lao động giảm, tuy nhiên số lao dộng bình quân giảm tức là quy mô kinh doanh của doanh nghiệp giảm, điều này là không có lợi

Trường hợp 4: Doanh thu và sổ lao động bình quân đều giảm, nhưng doanh thu giàm ít hơn so với mức của chi phí tiết kiệm được từ việc giảm lao động Ở đây doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận tuy nhiên cả doanh thu lẫn quy mô hoạt động đều giảm so với trước Điều này hoàn toàn không có lợi

Trường hợp 5: Doanh thu và số lượng lao động đều tăng, nhưng doanh thu tăng nhiều hơn mức chi phí tăng lên do có thêm lao động Lúc này doanh nghiệp có lợi nhuận do doanh thu cao hơn chí phí, mặt khác quy mô của doanh nghiệp cũng tăng lên do thuê thêm lao động Đây chính là lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp để phát triển kinh doanh theo cả chiều sâu và chiều rộng

Bên cạnh cách tính NSLĐ như trên thì tại đơn vị sự nghiệp NSLĐ còn được xem xét dựa trên vị trí và mức độ hoàn thành công việc theo bảng mô tả công việc được quy định tại Thông tư 14 năm 2012 của Bộ nội vụ, theo thông tư này các công việc sẽ được Mô tả về nội dung, quy trình, thủ tục và thời gian hoàn thành

Trang 25

từng công việc tại từng vị trí việc làm, Kết quả (sản phẩm), khối lượng công việc của vị trí việc làm, Điều kiện làm việc (trang thiết bị, phần mềm quản lý, phương tiện, môi trường làm việc, ) tất cả đều được quy định một cách rõ ràng

và chặt chẽ nhằm xác định năng lực của viên chức trong các công việc, kết quả công việc cũng được đánh giá công bằng và khách quan hơn Việc nhìn nhận đúng năng lực và xác định đúng NSLĐ giúp viên chức có động lực làm việc, đây cũng là một phần cơ sở để xếp loại viên chức để chi trả thu nhập tăng thêm cũng như các khoản thưởng và phúc lợi được công bằng và minh bạch

1.5.3 Mối quan hệ giữa thu nhập với năng suất lao động

Giữa thu nhập và NSLĐ có một điểm gắn kết như sợi dây ràng buộc, đó là quá trình lao động Quá trình lao động gồm nhiều hoạt động lao động, sử dụng sức lao động để tạo ra NSLĐ làm ra sản phẩm Quá trình lao động đã làm hao phí sức lao động của người lao động để tạo ra sản phẩn nên người lao động phải được nhận một khoản tiền để bù đắp lại lượng lao động đã hao phí trong quá trình lao động, đó là tiền lương Đây chính là phần NLĐ được hưởng sau khi đã

sử dụng sức lao động của mình để tạo ra NSLĐ nhằm tạo ra sản phẩm Cụ thể hơn, NSLĐ là một yếu tố của quá trình động, là thước đo của việc sử dụng sức lao động Lao động sản xuất ra của cải vật chất, còn tiền lương và thu nhập là giá cả trả cho sức lao động đã bỏ ra để làm ra của cải vật chất đó Như vậy, NLĐ

sử dụng sức lao động để làm ra sản phẩm và họ được hưởng một lượng tiền gọi

là tiền lương tương ứng với sức lao động họ đã bỏ ra Thực chất, mối quan hệ giữa thu nhập và NSLĐ là mối quan hệ giữa làm và hưởng

Ngoài ra, trong mối quan hệ này, tốc độ tăng của thu nhập thấp hơn tốc độ tăng của NSLĐ Thực tế cho thấy tốc độ tăng NSLĐ lớn hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân Tức là lượng vật chất làm được thêm phải nhiều hơn phần được hưởng thêm do một số nguyên nhân sau:

Do yêu cầu tăng cường năng lực cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, giá thành một sản phẩm dịch vụ phải thấp và sản phẩm dịch vụ đó phải chất lượng mới có thể tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tiền lương là một chi

Trang 26

phí cấu thành nên giá thành sản phẩm Như vậy, tăng chi phí về tiền lương sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khi có yếu tố tăng NSLĐ tác động vào thì chi phí về tiền lương phải tăng thấp hơn tăng NSLĐ, có như vậy thì doanh nghiệp mới có thể gia tăng năng lực cạnh tranh

Thứ hai, NSLĐ chỉ là một bộ phận của năng suất tổng hợp NSLĐ tăng lên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như công nghệ sản xuất, môi trường lao động, tài nguyên thiên nhiên, con người…trong đó có tiền lương Như vậy, tiền lương chỉ góp một phần nhỏ làm tăng NSLĐ Do đó, khả năng tăng NSLĐ là lớn hơn so với khả năng tăng tiền lương

Do nhu cầu tích lũy để mở rộng quy mô sản xuất NSLĐ tăng thêm một phần do công nghệ sản xuất, như vậy cần thiết phải trích một phần lợi nhuận để tích lũy nhằm đầu tư, đổi mới công nghệ để tương lai quay trở lại phục vụ sản xuất, làm tăng NSLĐ

Cho đến thời điểm hiện tại, mối quan hệ giữa tiền lương, thu nhập và NSLĐ là mối quan hệ hai chiều Tiền lương tác động đến NSLĐ và NSLĐ tác động ngược trở lại tiền lương

Cụ thể, NSLĐ tác động đến quỹ tiền lương, làm tăng hoặc giảm quỹ tiền lương trong doanh nghiệp nhưng điều này không có nghĩa là nó cũng làm tăng hoặc giảm tiền lương, thu nhập của người lao động NSLĐ tăng làm rút ngắn thời gian để hoàn thành một lượng công việc, từ đó hoàn thành vượt mức sản lượng hay hoàn thành đúng mức sản lượng trước thời định Vì vậy, người lao động được hưởng theo quy định phần sản phẩm dôi ra đó, từ đó làm tăng thu nhập của người lao động Mặt khác, tiền lương chính là giá cả của sức lao động, là hình thức biểu hiện giá trị sức lao động, là lượng tiền dùng để mua sắm các tư liệu sinh hoạt nhằm tái sản xuất mở rộng sức lao động Tiền lương là một công cụ kinh tế quan trọng nhất trong quản lý lao động, người ta dùng công cụ này để kích thích thái độ quan tâm đến lao động, do đó tiền lương là một nhân tố mạnh

mẽ để tăng NSLĐ, hay nói cách khác, đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập chính và để tăng tiền lương họ phải tăng NSLĐ

Trang 27

Trong đơn vị hành chính, sự nghiệp, hàng năm Bộ nội vụ đều có ra công văn hướng dẫn đánh giá viên chức cuối năm, việc đánh giá này dựa trên nhiều tiêu chí như:

- Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết,

- Việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp,

- Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức,

- Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức

Theo quy định tại Điều 42 Luật Viên chức, căn cứ vào nội dung đánh giá, viên chức được phân loại theo các mức như sau: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Hoàn thành tốt nhiệm vụ, Hoàn thành nhiệm vụ, Không hoàn thành nhiệm vụ Khi NSLĐ tăng, viên chức hoàn thành tốt công việc, đạo đức nghề nghiệp và thái độ phục vụ tăng lên, đây là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến xếp loại đánh giá viên chức cuối năm và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của viên chức thông qua việc chi trả thu nhập tăng thêm cũng như các khoản thưởng và phúc lợi khác Điều này mặt khác lại giúp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vị tại đơn vị sự nghiệp công lập

1.6 Chất lượng dịch vụ và mối quan hệ giữa NSLĐ với chất lượng dịch

vụ

1.6.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ

Hiện nay về chất lượng dịch vụ vẫn chưa được có khái niệm nào được cho là hoàn chỉnh Tuy nhiên có một vài khái niệm thường gặp về chất lượng dịch vụ như sau:

Theo Philip B.Crosb trong cuốn sách “Chất lượng là thứ cho không” đã khái niệm về chất lượng như sau: Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu

Theo tiêu chuẩn VN (ISO – 9000): Chất lượng dịch vụ là mức độ phù hợp của sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đặt ra hoặc định trước của người mua

Trang 28

Như vậy, chất lượng dịch vụ còn được hiểu là sự thỏa mãn của khách hàng được xây dựng bởi sự so sánh chất lượng cảm nhận và chất lượng mong đợi của họ

1.6.2 Mối quan hệ giữa NSLĐ với chất lượng dịch vụ

NSLĐ và chất lượng dịch vụ là hai phạm trù, hai khái niệm có mối quan hệ hỗ trợ nhau, NSLĐ tác động đến chất lượng dịch vụ Bởi NSLĐ là thái độ nhằm tìm kiếm để cải tiến những gì đang tồn tại, nên khi NSLĐ tăng cao sẽ đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu của khách, từ đó có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, có thể làm cho chất lượng dịch vụ được nâng cao Ngược lại chất lượng dịch vụ cũng có tác động trở lại tới NSLĐ Khi đo lường NSLĐ theo chỉ tiêu giá trị thì năng suất là tỉ lệ giữa tống doanh thu so với số lao động bình quân được sử dụng đế tạo ra doanh thu đó Vì thế nếu như chất lượng dịch vụ có

xu hướng giảm làm cho doanh thu, lợi nhuận của việc kinh doanh sản phẩm dịch

vụ giảm sút thì sẽ kéo theo NSLĐ giảm Mặc khác nếu như chất lượng phục vụ khách hàng tốt thì sẽ thu hút được khách hàng tới sử dụng sản phấm dịch vụ Từ

đó doanh thu có xu hướng tăng lên kéo theo sự tăng NSLĐ NSLĐ và chất lượng phục vụ trong ngành dịch vụ nói chung có mối quan hệ biện chứng, bổ sung và tăng cường lẫn nhau

NSLĐ tăng chủ yếu phụ thuộc hai yếu tố: chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật chất NSLĐ được nâng cao kéo theo nhiều sự thay đối làm chất lượng dịch vụ được tăng lên Trang thiết bị, các tiện nghi được cải thiện sẽ tạo ra cảm giác hài lòng ngay từ lúc đầu cho khách hàng Đội ngũ nhân viên được tuyến dụng kỹ càng và có sự đào tạo thêm các kỹ năng, chuyên môn sẽ tạo nên hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp Việc nhân viên phục vụ chu đáo, nhiệt tình; các dịch vụ đi kèm có chất lượng cao sẽ làm cho khách hàng thực sự cảm thấy hài lòng Các dịch vụ đa dạng với nhiều loại hình khác nhau giúp cho khách hàng dễ dàng lựa chọn, tạo ra sự thoải mái cho khách hàng Khi khách hàng đã

có được sự thoải mái và dễ chịu ngay từ đầu thì họ sẽ đánh giá cao chất lượng phục vụ Kết hợp với một mức giá vừa phải và duy trì được cách phục vụ với chất lượng tốt chắc chắn quy mô kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng lên theo

Trang 29

thời gian

Tuy nhiên NSLĐ tăng lên đồng nghĩa với việc nhân viên phục vụ phải làm nhiều công việc hơn, phục vụ nhiều khách hàng hơn, đây có thế là nguyên nhân làm cho chất lượng dịch vụ giảm xuống

Mặc dù chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào việc tăng NSLĐ, tuy nhiên chất lượng dịch vụ cũng có tác động trở lại đối với NSLĐ Khi lượng khách hàng tăng lên đòi hỏi chất lượng dịch vụ phải được nâng cao Để chất lượng dịch vụ

có thế tăng lên thì sự đầu tư vào cơ sở vật chất và nguồn nhân lực là yếu tố cần thiết Chất lượng dịch vụ tăng lên là tiền đề đế doanh thu và lợi nhuận tăng Doanh thu, lợi nhuận tăng lên sẽ tạo điều kiện để cơ sở vật chất được cải tạo, thêm mới, cùng với đó là chất lượng nguồn nhân lực cũng phải được cải thiện đế

có thể sử dụng tối đa hiệu quả của cơ sở vật chất Ngược lại nếu chất lượng phục

vụ giảm xuống, nhân viên không có đủ năng lực, cơ sở vật chất xuống cấp sẽ làm cho NSLĐ giảm sút Khách hàng sẽ ít dần do không được đáp ứng những yêu cầu của bản thân về dịch vụ, tất yếu doanh thu giảm xuống đồng nghĩa với NSLĐ sụt giảm

Mặt khác nâng cao chất lượng phục vụ sẽ làm cho NSLĐ có thế bị giảm sút khi

mà số lượng khách hàng được sự phục vụ của một nhân viên giảm xuống

Trang 30

CHƯƠNG 2: THU NHẬP CỦA VIÊN CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

GIAI ĐOẠN 2010 – 2015

2.1 Giới thiệu về bệnh viện nhân dân Gia Định

2.1.1 Giới thiệu chung về bệnh viện nhân dân Gia Định

BVND Gia Định trực thuộc Sở Y tế TP.HCM Năm 1925, bệnh viện được xây dựng và mang tên “ Hospital de Gia Dinh” Đến cuối năm 1960, bệnh viện được xây dựng lại toàn bộ và nó được giữ nguyên hình dáng cho đến nay Trước giải phóng bệnh viện có tên là Nguyễn Văn Học và là Trung tâm thực tập y khoa Gia Định Bệnh viện ra đời với mục đích là khám chữa bệnh cho mọi tầng lớp nhân dân, cho đến ngày 30/04/1975 bệnh viện được tiếp quản và đổi tên thành BVND Gia Định Mục đích hoạt động không đổi nhưng quy mô hoạt động của BV ngày càng được mở rộng hơn, số giường bệnh đến nay đã tăng lên đến 1,500 với 40 khoa lâm sàng cận lâm sàng & các phòng chức năng và hơn 1,500 nhân viên Đây là BVĐK hạng I của TP.HCM đã được UBND TP.HCM giao cơ chế tự chủ theo nghị định của Chính phủ số 43 năm 2006 Bệnh viện tự chủ một phần chi phí hoạt động thường xuyên, xếp vào nhóm 2 theo nghị định 43 và được gọi là đơn vị tự chủ loại B

Qua nhiều năm hoạt động bệnh viện không ngừng cải tiến, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao trình độ chuyên môn cho bác sĩ Được sự chỉ đạo của ngành y tế Thành phố và sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện để bệnh viện phát triển ngày càng lớn mạnh với các dịch vụ kĩ thuật cao tiên tiến đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu điều trị của người bệnh

BVND Gia Định là bệnh viện đa khoa hạng I nằm ở vị trí cửa ngõ đông bắc của TP.HCM Cơ sở vật chất được xây dựng từ trước năm 1975 đến năm 2007 bệnh viện được cải tạo trên nền cũ một số khoa nhờ nguồn vốn kích cầu và một phần được ngân sách nhà nước cấp để sửa chữa và xây dựng mới khối khám cấp cứu

Trang 31

Bệnh viện được phân công tiếp nhận bệnh nhân thuộc các Quận Thủ Đức, Quận

1, Bình Thạnh, Phú Nhuận là những nơi có mật độ dân cư đông

2.1.2 Qui mô giường bệnh và số lượng viên chức tại BV

Năm 2015, bệnh viện được giao chỉ tiêu:

- Tổng số giường bệnh điều trị nội trú là 1,500

- Số lượt điều trị ngoại trú là 700,000 lượt khám/năm

- Tổng số cán bộ công chức ( bao gồm cả những người theo hợp đồng công nhật) hơn 1,500 người

- Có 27 khoa lâm sàng với đủ các chuyên khoa: Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng,…Mỗi chuyên khoa được chia thành nhiều khoa hoạt động khám chữa bệnh theo chuyên khoa sâu

- Có 8 khoa cận lâm sàng với các xét nghiệm kỹ thuật cao và 8 phòng chức năng theo quy chế của Bộ Y tế

- Công đoàn cơ sở và Đoàn thanh niên được công nhận vững mạnh, xuất sắc

2.2 Thực trạng chính sách thu nhập tại BVND Gia Định trong giai đoạn

2010 – 2015

Là đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Sở y tế Thành phố HCM, thu nhập của viên chức bệnh viện bao gồm lương chính và các khoản thu nhập tăng thêm khác bao gồm các khoản phụ cấp, thưởng và phúc lợi của viên chức BV được thực hiện theo quy định của nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp y tế, cụ thể là Nghị định

204 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Giai đoạn gần đây do thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảo bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên nên ngoài lương

và các khoản phụ cấp theo lưng, viên chức bệnh viện còn được nhận thu nhập tăng thêm do hoạt động hiệu quả của BV mang lại, cụ thể là chênh lệch thu chi Thu nhập tăng thêm được chi trả dựa trên thời gian và hiệu quả công việc của viên chức

Ngày đăng: 19/12/2017, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm