1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

91 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 921,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Sau đại học Học Viện Hành chính Quốc gia

Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau đại học xem xét

để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đặng Như Phú Tân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 7

1.1 Quan niệm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 7

1.2 Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng và biện pháp khắc phục 13

1.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm trật tự về xây dựng 18

1.4 Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính 20

1.5 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính 21

1.6 Thẩm quyền của các cơ quan trong quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 21

1.7 Quy trình xử lý vi phạm TTXD 30

1.8 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 33

Tiểu kết Chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ VPHC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK 36

2.1 Tổng quan về huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk 36

2.2 Thực trạng tình hình vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk 44

2.3 Thực trạng trong áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk 50

2.4 Nhận xét chung về tình hình xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk 53

Tiểu kết Chương 2 59 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 5

HUYỆN CƯ KUIN 60

3.1 Quan điểm xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng 60

3.2 Giải pháp đảm bảo xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin 60

Tiểu kết Chương 3 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Bản đồ Sử dụng đất huyện Cư Kuin 38

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 2.1 Hiện trạng sử dụng đất 2016 38 Biểu 2.2 Diện tích sử dụng đất của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện 40 Biểu 2.3 Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trật tự xây dựng năm

2015 47 Biểu 2.4 Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trật tự xây dựng năm

2016 48 Biểu 2.5 Số liệu các trường hợp xây dựng trái phép trên đất của các Doanh nghiệp quản lý, sử dụng năm 2010 49

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản lý xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, liên quan tới nhiều ngành, lĩnh vực pháp luật không chỉ pháp luật về xây dựng mà còn có Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Nhà ở, Luật Đất đai Vì vậy, vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đã phong phú, đa dạng và phức tạp, mà công tác xử

lý đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cũng còn nhiều vấn đề nảy sinh tính phức tạp Do đó, phạm vi nghiên cứu tại luận văn tập trung chủ yếu vào các qui định của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định 180/2007/NĐ-CP, quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một sổ điều của Luật Xây dựng và xử lý vi phạm trật tự xây; Nghị định sổ 121/2012/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng

kỳ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở Mặt khác, pháp luật về xử phạt hành chính gồm rất nhiều qui định: về hành vi vi phạm hành chính, hình thức

xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt, thời hiệu xử phạt, trong phạm

vi khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật xử phạt vi phạm hành chính dưới góc độ nội dung chứ không đi sâu nghiên cứu pháp luật dưới góc độ trình tự, thủ tục Cụ thể đó là những qui định về: Hành

vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và thẩm quyền xử phạt

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thì định hướng và chiến lược phát triển đô thị có vai trò ngày càng quan trọng, nhưng để đô thị phát triển một cách có kiểm soát, theo quy hoạch, thì Đảng và Nhà nước ta đã

có chủ trương là: “Cần phải phát triển đô thị một cách vững chắc, có trật tự, nhằm xây dựng một đô thị hiện đại hơn, to đẹp hơn”

Trang 10

2

Thực tế đã cho thấy rằng một trong những công cụ quản lý đô thị có hiệu quả đó là xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng Nếu các nguyên tắc, quy trình, xử lý vi phạm trật tự xây dựng được tuân thủ một cách nghiêm minh thì công tác quản lý trật tự đô thị sẽ có hiệu quả hơn, còn ngược lại thì công tác quản lý trật tự đô thị sẽ gặp nhiều khó khăn, hạn chế

Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh Đô thị hoá nhanh đồng nghĩa với việc các hạng mục công trình nhanh chóng được xây dựng nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu về nhà ở, thương mại dịch vụ, sản xuất phát triển của cộng đồng dân cư đô thị

Tình hình vi phạm hành chính về trật tự xây dựng đô thị đã và đang là một vấn đề nóng bỏng trong thực tế các đô thị ở nước ta hiện nay Hiện tượng xây dựng không phép, sai phép, xây dựng trên đất không được phép xây dựng xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh… Có thể nhận thấy các công trình vi phạm trật tự xây dựng và phát triển đô thị ngày càng nhiều và đa dạng hơn Mức độ vi phạm trật tự xây dựng ngày càng tăng và diễn biến phức tạp (sử dụng đất không đúng mục đích, xây dựng trên đất không được phép xây dựng, xây dựng không có giấy phép xây dựng, xây dựng sai giấy phép xây dựng…)

Cho đến nay, sau gần 10 năm hình thành và phát triển, huyện Cư Kuin

đã đi lên và phát triển mạnh về nhiều mặt Không nằm ngoài xu thế chung của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, quá trình đô thị hóa cũng đang diễn ra khá mạnh mẽ trên địa bàn huyện Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, nhu cầu xây dựng các công trình, nhà ở của người dân ngày một tăng cao; dẫn đến tình hình vi phạm về trật tự xây dựng ngày càng nhiều, các công trình xây dựng không phép, sai phép, xây dựng trên đất không được phép xây dựng, xây

Trang 11

3

dựng trên đất doanh nghiệp diễn ra ngày càng nhiều Việc quản lý, xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện vì thế mà được đặt ra một cách cấp thiết hơn bao giờ hết Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xử lý, quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin nói riêng, đồng thời qua tìm hiểu và xem xét về công tác xử phạt vi phạm trật tự xây dựng của

huyện Cư Kuin em quyết định lựa chọn đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính về

trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Thời gian qua, trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính như:

"Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn" của Tiến sĩ Vũ Thư, Nxb Chính trị quốc gia, 2000; Luận văn cao học "Hoàn thiện qui định pháp luật về các hình thức xử phạt vi plạm hành chỉnh", của Nguyễn Trọng Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000; Luận văn cao học "Vi phạm hành chính và tội phạm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", của Trần Thu Hạnh, Khoa Luật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội, 1998; Luận văn cao học "Hoàn thiện pháp luật về

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, liên hệ qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội" của Quân Ngọc Anh, khoa Luật Trường Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2009 và một số bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này

Ở các công trình nghiên cứu này, các tác giả trên cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ giới thiệu, phân tích, đánh giá về hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung chứ không chuyên sâu đề cập cụ thể tới vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng

Tuy nhiên, các công trình đó chưa đề cập cụ thể đến những vấn đề của hoạt động xử phạt chuyên ngành trong lĩnh vực xây dựng vốn được xem là

Trang 12

4

một trong những vấn đề bức xúc của công tác quản lý nhà nước hiện nay Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp luật và thực tiễn của pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng ở huyện Cư Kuin hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện

Do đó, việc nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề

xử lý vi phạm hành chính về trật tự vực xây dựng

Mặc dù vậy, những công trình khoa học đã được công bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích cơ sở lý

luận xử phạt vi phạm hành chính về trật tự xây dựng; đánh giá thực trạng, các thành công việc tổ chức thực hiện áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác xử lý vi phạm trật tự về xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích đề ra, luận văn có những nhiệm vụ

sau:

+ Làm rõ cơ sở lý luận xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng + Đánh giá tổ chức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng, làm rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

Trang 13

5

+ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể để nhằm hoàn thiện xử lý

vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp luật, áp dụng pháp luật liên quan đến khái niệm, bản chất, đặc trưng của xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng; khái niệm, đặc điểm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng

Đánh giá thực tiễn tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính về trật

tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin (từ năm 2010 đến nay)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –

Lênin,tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, quan điểm của Đảng, pháp luật của nhà nước xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần kiến nghị hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng

Trang 14

6

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định cơ chế chính sách ở địa phương liên quan đến công tác xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng ở huyện Cư Kuin

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây

dựng

Chương 2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành

chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực

hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin

Trang 15

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT

TỰ XÂY DỰNG 1.1 Quan niệm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính

1.1.1 Định nghĩa vi phạm hành chính

Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm hành chính được pháp luật quy định Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước Xác định được đúng hành vi vi phạm hành chính, tức là xác định đúng cơ sở xử phạt, thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính

Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, vi phạm hành chính thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà không phải là cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp Trước khi Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 được Uỷ ban thường

vụ Quốc hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi

Trang 16

8

cảnh” Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ xử phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/5/1977 Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh Cũng theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì có 04 hình thức xử phạt vi cảnh, đó là: cảnh cáo, phạt tiền từ 01 đến 10 đồng, phạt lao động công ích từ 01 đến 03 ngày, phạt giam từ 01 đến 03 ngày Bên cạnh đó, Điều lệ xử phạt vi cảnh cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tuỳ theo tính chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thuỷ sản, Thương nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải trong khi thừa hành công vụ ngoài lực lượng cán bộ, chiến sĩ Công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt mà Điều lệ xử phạt vi cảnh quy định Về sau, trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộng hơn, không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 2 của Điều lệ về phạt vi cảnh nói trên định nghĩa: “những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”[31]

Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính Ví dụ: Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca,

Minnesota[2] định nghĩa VPHC là hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh

Trang 17

9

này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…” Luật về

xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996 (Điều 3)

định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” Trong khi đó, theo quy định của Bộ Luật xử

phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga[3] thì vi phạm hành

chính được định nghĩa là “hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”

Trong pháp luật Việt Nam, định nghĩa “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành

chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa này sau đó

đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,

bổ sung năm 2007 và 2008) và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “vi phạm hành chính” được quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật

Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[23] thì vi phạm hành chính được hiểu là

“Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và

Trang 18

10

theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Về ngôn

ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về vi phạm hành chính được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý vi phạm hành chính 1989, 1995, 2002 và 2012 Tuy nhiên, về bản chất hành vi vi phạm hành chính thì các định nghĩa trong các văn bản pháp luật này, về cơ bản, không có gì khác nhau Theo chúng tôi, định nghĩa “vi phạm hành chính” có

04 dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành

vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành

vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm

Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện

(hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” (material) của vi phạm

Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện,

đây là dấu hiệu xác định “chủ thể” của vi phạm

Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận

thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả

và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải

Trang 19

11

thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm Đây có thể coi là dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm

Tại Khoản 1, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 định

nghĩa Vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

1.1.2 Khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”

Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui định của pháp luật về quản lý nhà nứớc mà không phải phạm tội và theo qui định của pháp luật phải bị xử lý hành chính

Xử lý vi phạm trật tự xây dựng bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác trong hoạt động quản lý nhà nước về trật

tự xây dựng

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp

dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính

Xử lý vi phạm hành chính là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước (các chế tài hành chính) đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành thì xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài chủ yếu đánh vào lợi ích kinh tế, tinh thần của người vi phạm Các chế tài xử phạt hành chính bao

Trang 20

12

gồm hình thức xử phạt chính, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Ví dụ: Một người sử dụng cuốc, xẻng, cưa máy… để chặt phá rừng thì ngoài việc

bị phạt tiền còn bị tịch thu các phương tiện, vật dụng (cuốc, xẻng, cưa ) đã dùng để thực hiện hành vi vi phạm

- Trục xuất (đối với người nước ngoài) khi không áp dụng là hình phạt chính

1.1.5 Các biện pháp khắc phục hậu quả

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép (ví dụ: Buộc trồng lại khoảng rừng đã bị đốt, bị chặt phá; buộc tháo dỡ nhà xây lấn chiếm đất công)

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất các hàng hóa, vật phẩm, phương tiện Biện pháp này được áp dụng chủ yếu trong quá trình

xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc các lĩnh vực có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hoặc có hàng hoá, vật phẩm, phương tiện

Trang 21

13

được đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam như kiểm dịch thực vật, thuỷ sản Ví dụ như hàng hoá, vật phẩm, phương tiện được nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật sẽ bị buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất

- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước đối với nhà máy sản xuất phân bón không thực hiện các biện pháp xử lý chất thải gây ra tình trạng ô nhiễm)

- Buộc tiêu huỷ văn hóa phẩm độc hại, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người và vật nuôi, cây trồng

- Ngoài những biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, các Nghị định của Chính phủ về xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước còn quy định thêm các biện pháp khắc phục hậu quả khác mà người có thẩm quyền được áp dụng khi xử phạt vi phạm hành chính

1.2 Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng và biện pháp xử lý

1.2.1 Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng

1.2.1.1 Công trình không phép

Là những công trình đi vào khởi công mà vẫn chưa được phép của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn Việc xin phép với những công trình này là bắt buộc nhưng chủ đầu tư không xin cấp giấy phép Hậu quả dẫn đến với những loại công trình này thường là xây dựng không đúng theo quy hoạch chi tiết của Huyện, xã…, xây dựng không đúng chỉ giới

Trang 22

14

đường đỏ dễ gây tranh chấp đất đai, các biện pháp thi công không được kiểm soát dễ gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, cảnh quan đô thị [2,Điều 5]

Hành vi xây dựng không phép trên đất không đủ điều kiện để cấp giấy phép xây dựng xử lý bằng biện pháp dỡ bỏ Hậu quả dẫn đến những công trình này gây lãng phí về tiền của của công dân, của nhà nước và mất cảnh quan đô thị, gây ô nhiễm môi trường khi thực hiện dỡ bỏ…

1.2.1.2 Công trình sai phép

Là những công trình xây dựng không đúng với thiết kế đã được phê duyệt, không đúng với nội dung GPXD đã cấp [2,Điều 5] Những loại công trình này đều đã có xin phép xây dựng song sau khi có giấy phép lại xây dựng không giống như nội dung ghi trong giấy phép đã được cấp kèm theo hồ sơ xin phép xây dựng Hầu hết là xây lấn, xây tăng thêm so với giới hạn đã cho phép Những công trình này rất nhiều vì chủ đầu tư trong quá trình xây dựng thường lấy cớ là đã có GPXD để che mắt sau đó là thực hiện hành vi xây dựng sai phép Hậu quả gây ra là không đảm bảo an toàn khi sử dụng, không phù hợp quy hoạch, gây mất mỹ quan đô thị, gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, dỡ bỏ phần sai phạm gây lãng phí tiền của …

1.2.1.3 Công trình xây dựng sai thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt

Là những công trình xây dựng sai so với quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ

lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (đối với công trình được miễn phép xây dựng) [2,Điều 5]

1.2.1.4 Công trình xây dựng có tác động đến chất lượng công trình lân cận, ảnh hưởng đến môi trường cộng đồng dân cư

Trang 23

15

Trường hợp này bao gồm cả hai loại công trình xây dựng có phép và công trình xây dựng không phép trong quá trình thi công xây dựng gây lún nứt hoặc ảnh hưởng đến chất lượng công trình liền kề hoặc trổ cửa không đáp ứng quy chuẩn xây dựng Việt Nam…

1.2.2 Các hình thức xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng

Chính phủ đã ban hành Nghị định 180 về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị Theo đó, những công trình xây dựng không phép vẫn được xem xét cấp phép xây dựng, sau đó nếu đảm bảo một trong các điều kiện sau: Xây trên đất ở có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà; xây dựng mới trên nền nhà cũ hoặc cải tạo nhà đang ở phù hợp qui hoạch xây dựng; công trình xây dựng có đủ điều kiện về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Khi phát hiện, cơ quan chức năng sẽ lập biên bản ngừng thi công, yêu cầu chủ đầu tư làm thủ tục xin cấp Giấy phép xây dựng

Nếu chủ đầu tư không chấp hành thì cơ quan chức năng đình chỉ thi công Trong thời hạn 60 ngày kể từ khi có quyết định đình chỉ thi công, nếu chủ đầu tư không xuất trình Giấy phép xây dựng thì công trình sẽ bị cưỡng chế phá dỡ Sau khi được cấp Giấy phép xây dựng, nếu công trình đã xây dựng sai nội dung giấy phép thì chủ đầu tư phải tự phá dỡ phần sai nội dung giấy phép được cấp mới được tiếp tục thi công Nếu không chấp hành thì công trình phải bị cưỡng chế, đồng thời chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí tổ chức cưỡng chế này

Nghị định cũng qui định trách nhiệm của các bên trong quá trình xây dựng công trình Theo đó, chủ đầu tư, nhà thầu thi công phải ngừng thi công công trình khi có biên bản ngừng thi công của cơ quan chức năng và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra

Trang 24

Trong đó, ngoài việc sửa đổi, bổ sung và quy định chi tiết các hành vi

vi phạm, đồng thời tăng nặng mức tiền xử phạt để có tác dụng phòng ngừa, răn đe các trường hợp vi phạm pháp luật, tăng cường quản lý trật tự xây dựng

đô thị, tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP còn có điểm mới so với Nghị định

số 23/2009/NĐ-CP trong việc quy định về xử lý vi phạm đối với một số trường hợp thi công xây dựng công trình sai phép, không phép, cụ thể là:

- Tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định:

Hành vi quy định tài Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6 và Điểm b Khoản 7 Điều này mà không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp thì ngoài việc

bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được bằng 40% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với công trình là nhà ở riêng lẻ và bằng 50% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được phê duyệt hoặc sai quy hoạch xây dựng hoặc thiết kế đô thị

Trang 25

17

được duyệt đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng hoặc công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình Sau khi chủ đầu tư hoàn thành việc nộp phạt thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng [4,Điều 13]

- Tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định

về xử lý chuyển tiếp đối với các trường hợp xây dựng sai phép, không phép quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 13 Nghị định này Quy định mới này nhằm để xử lý một số trường hợp xây dựng sai phép, không phép, sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng mới bị phát hiện, trong trường hợp nếu buộc phá

dỡ thì cũng gây lãng phí lớn cho xã hội, có những trường hợp

đã kéo dài nhiều năm nhưng cũng chưa xử lý được triệt để Các công trình áp dụng quy định này phải đảm bảo điều kiện không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp, chứ quy định mới này không

áp dụng đối với tất cả các công trình xây dựng sai phép, không phép [4,Điều 70]

Ngày 12/02/2014, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT- BXD hướng dẫn một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, trong đó có một số điều hướng dẫn cụ thể khoản 9 Điều 13 và khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, cụ thể là:

- Tại Điều 8 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn phương pháp tính giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được

Trang 26

18

duyệt, sai quy hoạch hoặc sai thiết kế đô thị được duyệt đối với các công trình quy định tại khoản 9 Điều 13 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP [1]

- Tại Điều 11 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn cụ thể về

xử lý chuyển tiếp các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP [1]

Trên thực tế, Thông tư số 02/2014/TT-BXD không có quy định thêm hoặc quy định khác so với Nghị định số 121/2013/NĐ-CP về các trường hợp xây dựng sai phép, không phép được nộp tiền phạt và cho tồn tại, không cưỡng chế phá dỡ đã được quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định này[1]

Tuy nhiên, sau khi Thông tư số 02/2014/TT-BXD được ban hành, đã

có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó có những ý kiến không đồng tình với quy định phạt tiền và cho tồn tại đối với các trường hợp xây dựng sai phép, không phép quy định tại khoản 9 Điều 13, khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và hướng dẫn cụ thể tại Điều 8, Điều 11 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD với quan ngại rằng việc thực hiện quy định này có thể làm gia tăng các trường hợp sai phạm, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị

Trang 27

19

- Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà dung túng, bao che không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không công minh, không đúng thẩm quyền thì tuỳ theo tính chất, mức độ sai phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính có hành vi chống đối người thì hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh thi hành quyết định xử phạt hoặc

có những hành vi vi phạm khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị

Trang 28

20

xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

1.4 Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

- Cá nhân người Việt Nam:

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra, kể cả lỗi cố ý hoặc vô ý Khi áp dụng phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì mức phạt tiền áp dụng không quá 1/2 mức phạt đối với người thành niên có cùng hành vi vi phạm;

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt về vi phạm hành chính do cố ý (hình phạt áp dụng đối với họ chỉ là cảnh cáo, không áp dụng hình thức phạt tiền trong mọi trường hợp);

+ Người dưới 14 tuổi không bị xử phạt vi phạm hành chính

- Tổ chức Việt Nam: Tổ chức ở đây bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị và các tổ chức khác có hành vi

vi phạm hành chính Ví dụ một cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… không chấp hành chế độ báo cáo thống kê hoặc có hành vi vi phạm quy tắc xây dựng, không chấp hành quy tắc phòng cháy, chữa cháy… đều bị xử phạt hành chính

- Cá nhân, tổ chức nước ngoài: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác Thông thường, những trường hợp mà người nước ngoài được miễn trừ trách nhiệm hành chính được quy định trong các Điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên về miễn trừ ngoại giao năm 1961

Trang 29

21

1.5 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt hành chính là khoảng thời gian mà pháp luật quy định người có thẩm quyền được áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm, quá thời hiệu này thì không được xử phạt nữa Thời hiệu thông thường là 1 năm, kể từ ngày vi phạm hành chính xảy ra Đối với một số lĩnh vực như tài chính, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là 2 năm kể từ ngày vi phạm hành chính xảy ra (Điều 10 Luật XLVPHC)

Mặc dù pháp luật quy định thời hiệu xử phạt khá dài, nhưng điều đó không có nghĩa là khi người có thẩm quyền phát hiện thấy hành vi vi phạm có thể “treo” vụ việc đó, không xử lý Theo quy định của pháp luật thì khi phát hiện thấy hành vi vi phạm, người có thẩm quyền phải đình chỉ ngay hành vi vi phạm và lập biên bản để xử phạt vi phạm hành chính, nếu thiếu trách nhiệm

để quá thời hiệu mà không xử phạt thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý trách nhiệm kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

1.6 Thẩm quyền của các cơ quan trong quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

1.6.1 Nguyên tắc chung trong phối hợp hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động xây dựng

Tăng cường trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Sở Xây dựng trong công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk; đảm bảo công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng được thực hiện thường xuyên, liên tục thống nhất đúng thẩm quyền, phát huy hiệu

Trang 30

Sở Xây dựng và Uỷ ban nhân cấp huyện cùng thực hiện việc quản lý, chỉ đạo Đội thanh tra xây dựng cấp huyện trong quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn

Sở Xây dựng chỉ đạo Chánh Thanh tra Sở Xây dựng quản lý, chỉ đạo Đội thanh tra xây dựng cấp huyện về tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ, đôn đốc Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện kiểm tra thường xuyên, hàng ngày việc chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự xây dựng đối với việc xây dựng các công trình trên địa bàn, lập hồ sơ vi phạm trật tự xây dựng theo quy định và chuyển hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân các cấp để xử lý theo thẩm quyền

và theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định

Uỷ ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo, điều hành Đội thanh tra xây dựng cấp huyện phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện trách nhiệm quản

lý trật tự trên địa bàn theo quy định của pháp luật (Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn do Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện chuyển đến để xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định)

Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện chịu sự quản lý, chỉ đạo của Thanh tra

Sở Xây dựng về tổ chức chuyên môn nghiệp vụ; sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân cấp huyện về quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn [25,Điều 2]

Trang 31

23

1.6.2 Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản

lý trật tự xây dựng đô thị

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã)

Thực hiện nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn cấp xã theo quy định tại Điều 121 của Luật tổ chức Tổ chức Chính quyền địa phương

2015, Điều 10 của Nghị định số 180/2007/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính Phủ và các quy định khác có liên quan [25,Điều 3]

Cụ thể như sau:

+ Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật

về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định

+ Đôn đốc, kiểm tra tình hình trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn, ban hành kịp thời quyết định đình chỉ thi công xây dựng, quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị theo thẩm quyền

Xử lý những cán bộ dưới quyền được giao nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm

+ Chịu trách nhiệm về tình hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn + Thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 17 của Nghị định số 180/2007/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ, khoản 1 Điều 38 của Luật

Xử lý vi phạm hành chính 2012 và các quy định khác có liên quan

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Thực hiện nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn cấp huyện theo quy định tại Điều 57 Luật tổ chức Tổ chức Chính quyền địa phương

2015, Điều 10 của Nghị định số 180/2007/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ và các quy định khác có liên quan [25,Điều 3]

Cụ thể như sau:

Trang 32

24

+ Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng và kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng; tổ chức thực hiện các chính sách về nhà ở; quản

lý đất ở và quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn

+ Đôn đốc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện quản

lý trật tự xây dựng đô thị thuộc địa bàn; ban hành kịp thời quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng theo thẩm quyền

+ Xử lý Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; các cán bộ dưới quyền được giao nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm

+ Chịu trách nhiệm về tình hình vi phạm trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn

Kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh) ban hành biện pháp cần thiết, phù hợp thực tế nhằm quản lý trật tự xây dựng đô thị có hiệu quả

+ Thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 180/2007/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ, khoản 2 Điều 38 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các quy định khác có liên quan

- Trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng của Thanh tra Sở Xây dựng

+ Giúp Giám đốc Sở Xây dựng; kiểm tra đôn đốc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn; thực hiện mối quan hệ phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 của quy chế này [25, Điều 3]

+ Tổng hợp tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh, báo cáo giám đốc Sở Xây dựng theo quy định tại Khoản 4, điều 10 của Nghị định số 180/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ;

Trang 33

25

+ Thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo Điều 21 của Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ (quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng), Điều 46 Luật

Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các quy định khác có liên quan

- Trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng của Giám đốc Sở Xây dựng

+ Chịu trách nhiệm về hoạt động của Thanh tra Sở Xây dựng trong công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh;

+ Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở Xây dựng (quy định trình tự, thủ tục để triển khai nhiệm vụ quy định tại điểm h khoản 2

và điểm b khoản 4 điều 4, khoản 1 điều 5 của quy chế này) [25, Điều 3]

+ Báo cáo và đề xuất Uỷ ban nhân dân tỉnh những biện pháp chấn chỉnh, khắc phục tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn

1.6.3 Chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ trong công tác của Đội Thanh tra xây dựng huyện

Đội thanh tra xây dựng huyện có chức năng tham mưu, thực hiện các nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng, giúp Chủ tịch UBND huyện, thị xã và Chánh Thanh tra Sở Xây dựng trong công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn xã

Đội Thanh tra xây dựng huyện chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Thanh tra Sở Xây dựng; có trách nhiệm thực hiện các nhiệm và thường xuyên báo cáo Thanh tra Sở Xây dựng, Sở Xây dựng, UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn theo quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng giữa Thanh tra Sở Xây dựng và UBND huyện, xã, phường, thị trấn do UBND tỉnh ban hành

Đội Thanh tra xây dựng huyện đồng thời chịu sự chỉ đạo, điều hành của UBND huyện, thị xã; có trách nhiệm giúp UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn thực hiện kế hoạch quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm trật tự xây dựng

Trang 34

26

đô thị trên địa bàn quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn; chuyển hồ sơ tới Chủ tịch UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn tổ chức xử lý các vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn quận, huyện, thị xã theo quy chế phối hợp quản

lý trật tự xây dựng giữa Thanh tra Sở Xây dựng và UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn do UBND tỉnh ban hành và các quy định hiện hành của pháp luật

Thanh tra Sở Xây dựng phân công một số thành viên thuộc các Đội thanh tra xây dựng huyện về làm việc tại các xã, phường, thị trấn để giúp UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp thực hiện kiểm tra, lập hồ sơ xử lý vi phạm về trật tự xây dựng trên địa bàn theo các quy định của pháp luật và theo quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng giữa Thanh tra Sở Xây dựng và UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn Các công chức, lao động, hợp đồng thuộc Thanh tra Sở xây dựng khi làm việc tại UBND xã, phường, thị trấn đồng thời chịu sự chỉ đạo điều hành của UBND xã, phường, thị trấn về việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, tham gia phối hợp xử lý các vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị trấn; có trách nhiệm báo cáo Đội thanh tra xây dựng huyện và lãnh đạo UBND xã, phường, thị trấn theo quy định và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Đội Thanh tra xây dựng quận, huyện

Đội Thanh tra xây dựng huyện trực tiếp tổ chức kiểm tra đối với công trình xây dựng theo chỉ đạo của Lãnh đạo Thanh tra Sở Xây dựng trong trường hợp cần thiết để xử lý vi phạm kịp thời theo Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng và quy định của pháp luật[24, Điều 6]

1.6.4 Nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp xã

Chủ trì, phối hợp với Đội thanh tra xây dựng cấp huyện, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp xã thực hiện việc tuyên truyền, vận động hướng

Trang 35

vi vi phạm hành chính về trật tự xây dựng theo thẩm quyền và quy định của pháp luật

Chỉ đạo Công an xã cấm thợ xây dựng, cấm vận chuyển vật liệu xây dựng; yêu cầu các cơ quan cung cấp dịch vụ điện nước ngừng cung cấp dịch

vụ đối với các công trình vi phạm trật tự xây dựng theo quy định của pháp luật

Kịp thời chuyển hồ sơ vi phạm hành chính về trật tự xây dựng vượt thẩm quyền và kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xử lý theo thẩm quyền

Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, tổ chức thực hiện kết luận kiểm tra, quyết định xử lý vi phạm trật tự xây dựng của cấp thẩm quyền đối với công trình xây dựng trên địa bàn;

Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin tài liệu, hồ sơ vi phạm theo đề nghị của Thanh tra Sở Xây dựng, Uỷ ban nhân dân cấp huyện

để phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Cử cán bộ tham gia các hoạt động phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn khi

có yêu cầu của cơ quan có liên quan

Tạo điều kiện thuận lợi về môi trường làm việc, cơ sở vật chất cho công tác của Đội thanh tra xây dựng cấp huyện đặt tại địa bàn[24, Điều 4]

1.6.5 Nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Trang 36

28

Chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng thực hiện việc tuyên truyền, vận động hướng dẫn các tổ chức và nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự xây dựng trên địa bàn

Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cấp xã và các cơ quan liên quan thực hiện trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy định của pháp luật nhằm kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý trật tự xây dựng

Chỉ đạo điều hành Đội thanh tra xây dựng cấp huyện quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy định của Quy chế này; tiếp nhận hồ sơ

vi phạm hành chính về trật tự xây dựng do Đội thanh tra xây dựng cấp huyện chuyển đến để ban hành các quyết định xử phạt, quyết định đình chỉ thi công, quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện xử lý các hành vi vi phạm hành chính về trật tự xây dựng theo thẩm quyền và quy định của pháp luật

Chỉ đạo các phòng ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện phối hợp chặt chẽ với Đội thanh tra xây dựng cấp huyện trong công tác quản

lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn

Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, tổ chức thực hiện kết luận, kiểm tra, quyết định xử lý vi phạm trật tự xây dựng cấp huyện trong công tác quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn;

Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu theo đề nghị của Sở Xây dựng để phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra;

Cử cán bộ tham gia các hoạt động phối hợp, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng và giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn khi có yêu cầu của cơ quan liên quan

Tạo điều kiện thuận lợi về môi trường làm việc, cơ sở vật chất cho Đội thanh tra xây dựng trên địa bàn;

Trang 37

1.6.6 Nhiệm vụ của Thanh tra Sở Xây dựng

Theo chỉ đạo của Sở Xây dựng, Thanh tra Sở Xây dựng thực hiện mối quan hệ phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã trong quản lý tình hình trật tự xây dựng trên địa bàn

Chỉ đạo Đội thanh tra xây dựng cấp huyện xây dựng kế hoạch kiểm tra

và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra một cách thường xuyên đối với hoạt động xây dựng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Đội thanh tra xây dựng cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, lập hồ sơ biên bản vi phạm trật tự xây dựng, chuyển hồ sơ vi phạm trật tự xây dựng và đề xuất biện pháp xử lý (trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản) đến chủ tịch uỷ ban cấp huyện hoặc Chủ tịch uỷ ban nhân cấp xã để xử lý theo thẩm quyền

Chỉ đạo Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện bố trí các Tổ công tác của Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện đặt tại địa bàn một hoặc nhiều xã, phường, thị trấn để phối hợp với uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn

Chỉ đạo, đôn đốc Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện tổng hợp, báo cáo

Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Sở Xây dựng, Thanh tra Sở Xây dựng về tình hình quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn, tham mưu đề xuất các giải pháp quản lý đảm bảo hiệu quả công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo định kỳ hoặc theo yêu cầu đột xuất của Sở Xây dựng, Thanh tra Sở xây dựng,

Uỷ ban nhân dân cấp huyện [24, Điều 4]

Trang 38

30

1.6.7 Nhiệm vụ của Sở Xây dựng

Phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện tuyên truyền vận động hướng dẫn các tổ chức và nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự xây dựng trên địa bàn

Chỉ đạo Thanh tra Sở quản lý, chỉ đạo các Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện theo quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở Xây dựng, thường xuyên kiểm tra chỉ đạo Thanh tra Sở, Đội Thanh tra cấp huyện thực hiện trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng và nhiệm vụ phối hợp quản lý trật tự xây dựng theo quy định của quy chế này;

Kiểm tra, đôn đốc Uỷ ban nhân dân cấp huyện xử lý vi phạm theo thẩm quyền, đồng thời kiến nghị cấp thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân có liên quan buông lỏng quản lý, không xử lý kịp thời đối với các hành vi vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn

Chỉ đạo Thanh tra Sở bố trí các tổ công tác của Đội Thanh tra xây dựng cấp huyện đặt tại địa bàn một hoặc nhiều xã, phường thị trấn để phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn [24, Điều 4]

Trang 39

xử lý vi phạm theo thẩm quyền (qua phòng Kinh tế và Hạ tầng) Đồng thời gửi hồ sơ và báo cáo lãnh đạo Sở để đôn đốc, chỉ đạo và phối hợp xử lý (qua Thanh tra Sở)

Trường hợp UBND cấp huyện không kịp thời xử lý vi phạm theo thẩm quyền, Đội trưởng Đội Thanh tra xây dựng phải kịp thời báo cáo và tham mưu cho lãnh đạo Thanh tra Sở biện pháp xử lý theo thẩm quyền [19]

1.7.2 Quy trình xử lý vi phạm trật tự xây dựng của UBND cấp xã

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản ngừng thi công xây dựng (hồ sơ, biên bản do tổ công tác thanh tra xây dựng được phân công nhiệm vụ trên địa bàn cấp xã lập và báo cáo đề xuất) mà chủ đầu tư không ngừng thi công xây dựng để thực hiện các nội dung ghi trong biên bản thì Chủ tịch UBND cấp

xã ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng công trình buộc chủ đầu tư thực hiện các nội dung trong biên bản ngừng thi công xây dựng

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ban hành Quyết định đình chỉ thi công Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lực lượng cấm các phương tiện vận chuyển vật liệu, vật tư, công nhân vào thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị Đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền ký kết hợp đồng dịch vụ điện nước và các dịch vụ liên quan ngừng cung cấp các dịch vụ đối với công trình vi phạm

Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ và tổ chức thực hiện phá dỡ

Trang 40

* Đối với các công trình xây dựng vi phạm mà do Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc do Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng trong thời hạn 24 giờ kể từ khi UBND cấp xã ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng,

Uỷ ban cấp xã có trách nhiệm gửi toàn bộ hồ sơ liên quan lên Chủ tịch UBND cấp huyện để ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Đối với trường hợp đình chỉ thi công buộc chủ đầu tư phải xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ thì thẩm quyền và thời hạn ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ theo quy định tại Khoản 2 Điều

12 của Nghị định này [3]

1.7.3 Quy trình xử lý vi phạm trật tự xây dựng của UBND cấp huyện

Chủ tịch UBND huyện hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng và quyết định cưỡng chế phá dỡ đối với công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng đô thị sau khi nhận được hồ sơ và báo cáo đề xuất xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị do Đội trưởng Đội Thanh tra xây dựng hoặc UBND xã chuyển đến

Ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ đối với công trình xây dựng vi phạm do Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy phép xây dựng hoặc Sở xây dựng cấp phép xây dựng công trình đó đã bị Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định đình chỉ thi công xây dựng

Ngày đăng: 19/12/2017, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Xây Dựng (2014), Thông tư số 02/2014/TT- BXD ngày 12/02/2014, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2014/TT- BXD ngày 12/02/2014
Tác giả: Bộ Xây Dựng
Năm: 2014
2. Chính Phủ (1977), Điều lệ về phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 6/7/1985, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ về phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 6/7/1985
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 1977
3. Chính Phủ (2007), Nghị định 180/2007/NĐ- CP ngày 7/12/2007 về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 180/2007/NĐ- CP ngày 7/12/2007 về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2007
5. Chính Phủ (2009), Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2009
7. Chính Phủ (2013), Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2013
8. Chính Phủ (2014), Hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2014
9. Chính Phủ (2014), Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2005), Nghị định số 37/2005/NĐ-CP qui định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 37/2005/NĐ-CP qui định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
11. Chính phủ (2007) Quyết định số 89/2007 / QĐ-TTg về việc thí diểm thành lập Thanh tra xây dựng quận, huyện và thanh tra xây dựng xã, phường, thị trấn tại thành phố Hà Nội và Thành phổ Hồ Chí Minh, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 89/2007/QĐ-TTg về việc thí diểm thành lập Thanh tra xây dựng quận, huyện và thanh tra xây dựng xã, phường, thị trấn tại thành phố Hà Nội và Thành phổ Hồ Chí Minh
12. Chính phủ (1977) (1985), Điều lệ về phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 6/7/1985 của Hội đồng Bộ trưởng, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ về phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 6/7/1985 của Hội đồng Bộ trưởng
Tác giả: Chính phủ (1977)
Năm: 1985
13. Đặng Thanh Sơn - Hà Thị Nga (1996), Hỏi đáp về Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Đặng Thanh Sơn - Hà Thị Nga
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Hoàng Xuân Hoan - Nguyễn Trí Hòa (1993), Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Hoàng Xuân Hoan - Nguyễn Trí Hòa
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
15. Nguyễn Ngọc Tản (2007), Một số vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thanh tra, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thanh tra
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tản
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Kim (2007), Hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng, Luận văn thạc sĩ luật học
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2007
17. Nguyễn Cửu Việt (2008). Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2008
18. Phạm Dũng - Hoàng Sao (1998), Tìm hiểu về xử phạt vi phạm hành chính, NXB Pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Phạm Dũng - Hoàng Sao
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1998
19. Quốc Hội (2003), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2003
23. Quốc Hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2012
27. Quốc Hội (2015), Luật tổ chức Tổ chức chính quyền địa phương, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2015
28. UBND huyện Cư Kuin (2015), Báo cáo số tình hình quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện giai đoạn 2010-2015, Cư Kuin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số tình hình quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện giai đoạn 2010-2015
Tác giả: UBND huyện Cư Kuin
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm