Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THANH LONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THANH LONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ THỊ KIM TIÊN
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn này, em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, sự tận tụy giúp đỡ của quý thầy giáo, cô giáo, các anh chị và các bạn học viên của Học viện Hành chính
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Phân viện Tây nguyên, Khoa đào tạo và Bồi dưỡng thuộc Phân viện và ThS Nguyễn Thị Nghị là giáo viên chủ nhiệm lớp HC20.TN7 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành với tình cảm sâu sắc nhất đến TS
Đỗ Thị Kim Tiên đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các anh chị và các bạn học viên
Em xin chân thành cảm ơn và xin gửi lời chào kính trọng!
Học viên
Phạm Thanh Long
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Thị Kim Tiên
Các thông tin, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của Tôi
Người cam đoan
Phạm Thanh Long
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
1 Bảng 2.1 Tổng hợp khách du lịch và doanh thu du lịch, giai
2 Bảng 2.2 Tổng hợp các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
3 Bảng 2.3 Tổng hợp các dự án đã và đang đầu tư phát triển du lịch
Trang 7MỤC LỤC
TrangTrang phụ bìa
động du lịch tại tỉnh……… 35 1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh, thành
phố trong cả nước và những bài học rút ra cho tỉnh Đắk
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
2.1 Khái quát về tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Đắk
Trang 82.2 Tình hình hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, giai
đoạn 2011 – 2015……… ……… 57
2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2011 - 2015……… 62
2.4 Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2011 – 2015……… 75
Tiểu kết chương 2……… 84
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG……… 85
3.1 Phương hướng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Đắk Nông……… 85
3.2 Giải pháp quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Đắk Nông………… 91
3.3 Kiến nghị……… ……… ……… 104
Tiểu kết chương 3……… 106
KẾT LUẬN……… 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trên thế giới ngành du lịch đã trở thành hiện tượng kinh
tế - xã hội phổ biến và là cầu nối hữu nghị, là phương tiện gìn giữ hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc Trong những năm qua, ngành
du lịch Việt Nam đã khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trường kinh tế đất nước, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, thời kỳ toàn cầu hóa, ngành du lịch đứng trước những khó khăn thách thức, hoạt động du lịch tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước
Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía Nam Tây Nguyên, là đầu mối giao thương giữa các tỉnh Tây Nguyên với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
và khu vực duyên hải Nam trung bộ, các tuyến Quốc lộ 14, 14C, 28 chạy qua, nối Đắk Nông với các trung tâm du lịch lớn của cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Đà Lạt, Bình Thuận; hai cửa khẩu Bu Prăng
và Đắk Per nối với nước bạn Campuchia tạo cho Đắk Nông những điều kiện thuận lợi để hình thành các tour, tuyến du lịch liên vùng, miền, quốc gia Lợi thế vị trí cùng với sự đa dạng văn hóa và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú tạo cho Đắk Nông điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Vùng đất Đắk Nông lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc của 40 cộng đồng dân tộc cùng chung sống với những bản sử thi truyền đời, những di tích lịch sử, không gian nghệ thuật, văn hóa cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm tinh xảo; nơi đây cũng là vùng đất được thiên
hang động núi lửa được đánh giá là lớn nhất Đông Nam Á - di sản thiên nhiên độc đáo của quá trình phun trào núi lửa cách đây hàng triệu năm; giữa không
Trang 102
gian xanh mượt của thung lũng, núi, đồi xen kẽ những cánh rừng nguyên sinh trải bạt ngàn, những con sông, suối, hồ nước, hệ thống thác nước hùng vĩ và các khu bảo tồn thiên nhiên với hệ động thực vật phong phú tạo thành quần thể du lịch hấp dẫn
Tuy nhiên, theo đánh giá thì ngành du lịch Đắk Nông đang phát triển dưới mức tiềm năng rất xa, thậm chí là đang ở tình trạng kém phát triển Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ IX, X, XI đã xác định du lịch là mũi nhọn đột phá cần tập trung phát triển Mặc dù tỉnh đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực du lịch nhưng trên thực tế việc đầu tư cho ngành du lịch của tỉnh mới chỉ ở mức độ giới thiệu tiềm năng, mời gọi đầu tư và hình thành hệ thống các cơ sở lưu trú
du lịch tại thị xã Gia Nghĩa
Hiện tại cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch còn chưa hoàn thiện; doanh từ du lịch còn thấp; chưa tạo được sản phẩm du lịch gắn với đặc thù của địa phương, mang tính độc đáo có sức thu hút khách; việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trong tỉnh chưa được quan tâm đúng mức và thường xuyên; cộng đồng dân cư chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của phát triển du lịch và hưởng lợi từ du lịch mang lại; nguồn nhân lực cho phát triển du lịch còn thiếu
về số lượng và yếu về chất lượng; việc kết nối các tour, tuyến, điểm du lịch chưa tốt Một số điểm du lịch đang khai thác, chủ đầu tư chưa chú trọng đến tính bền vững còn buông lỏng quản lý, bảo vệ khiến cảnh quan môi trường đặc biệt là rừng bị tàn phá nghiêm trọng; tiến độ triển khai các dự án du lịch trên địa bàn còn chậm, một số nhà đầu tư không đủ năng lực, một số dự án phải thu hồi như điểm du lịch sinh thái hồ Trúc, điểm du lịch sinh thái Đắk Buk So, điểm du lịch sinh thái Cột Đá, khu
du lịch sinh thái thác Cô Tiên; tình trạng khách du lịch xả rác thải bừa
Trang 113
bãi, không được thu dọn, nhắc nhở,
Để khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, cần có sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước, công tác quản lý nhà nước đối với ngành du lịch của tỉnh cần được đổi mới một cách toàn diện, để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vừa góp phần tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững của ngành du lịch tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới
Với những lý do nêu trên, đề tài “Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của học viên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình khoa học công bố và nhóm tác giả, cá nhân nghiên cứu, Cụ thể:
- Trịnh Đăng Thanh (2004) “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch trước yêu cầu mới Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu toàn diện vấn
đề quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch nói chung và ở từng địa phương nói riêng [28]
- Nguyễn Minh Đức (2007), “Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình CNH, HĐH”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đây là một công trình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại,
du lịch ở một địa phương cụ thể Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và
Trang 124
thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ quản lý nhà nước về thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hóa và tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Sơn La - thuộc khu vực miền núi Tây Bắc có nhiều điểm khác biệt so với Đắk Nông – thuộc khu vực Tây Nguyên [14]
- Bùi Quang Mích (2016) ''Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông'' tại Hội nghị xúc tiến đầu tư và quảng bá du lịch tỉnh Đắk Nông Tham luận đã tập trung nêu bật tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch và thực trạng phát triển du lịch về giao thông, cơ sở lưu trú, ăn uống, lữ hành, vận chuyển, …, nêu ra được một số khó khăn hạn chế trong việc phát triển du lịch Tuy nhiên, nội dung công tác quản
lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh tác giả chỉ mới đưa ra một số nhiệm vụ và giải pháp về công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực và đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch trên địa bàn tỉnh [4]
Ngoài ra, còn một số bài viết liên quan đến vấn đề phát triển du lịch
và quản lý nhà nước về du lịch, cụ thể như:
- Hoàng Tuấn Anh (2007), “Du lịch Việt Nam - Thành tựu và phát
triển”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 133
- Trần Xuân Ảnh (2007), "Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước
về thị trường du lịch", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 132
- Nguyễn Văn Mạnh (2007), “Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh
và bền vững sau khi gia nhập WTO”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số
Trang 135
nhà nước đối với ngành du lịch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 98
- Trần Nguyễn Tuyên (2005), “Du lịch Việt Nam phát triển theo
hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số
114
Các công trình nghiên cứu nêu trên cơ bản đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, thực tiễn phát triển du lịch một số địa phương Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu quản lý nhà nước về du lịch
chưa nhiều, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu ''quản lý nhà
nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông'' Trên cơ sở nghiên cứu,
luận văn có sự kế thừa những thành quả khoa học của các công trình nghiên cứu đi trước và tiếp tục giải quyết những vấn đề còn để ngỏ, nhằm hoàn thiện lý luận quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đánh giá thực trạng để đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, nhằm thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xu hướng hội nhập
Trang 146
- Đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn tới năm 2030
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước
về du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Tỉnh Đắk Nông
Về thời gian: Quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011 – 2015
Về nội dung: Là các hoạt động kinh tế, văn hóa tương tác giữa các chủ thể tham gia vào các dịch vụ thuộc ngành du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, các chủ thể đó bao gồm các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ về du lịch; khách du lịch; các cơ sở lưu trú du lịch; các cơ sở nhà hàng, bán đồ lưu niệm; các khu, tuyến, điểm du lịch;
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, thể hiện trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; Các văn bản pháp luật đã ban hành, đặc biệt là Luật Du lịch, Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản luật khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tập hợp các tài liệu sẵn có ở các cơ
Trang 157
quan cấp tỉnh như: UBND tỉnh Đắk Nông, Sở VH,TT&DL tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thống kê tỉnh, các công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học, website, tư liệu trên internet,
- Phương pháp thống kê mô tả: Các nguồn số liệu thống kê phù hợp, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Được sử dụng nhằm nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở các tỉnh thành của Việt Nam, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Nông
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp đánh giá, dự báo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận
cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn một tỉnh, lấy Đắk Nông làm điển hình
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động
du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn từ 2011 đến nay, làm rõ những điểm tích cực, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản, có khả năng áp dụng trong thực tiễn, góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân trong việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển
du lịch nói chung và du lịch Đắk Nông nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về du lịch
Trang 17du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt
động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích
hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định”[28, tr.9]
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): "Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật,…"
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): “Du lịch là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên
Trang 1810
nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ “
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng
có thể ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tài nguyên du lịch, tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó,
du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết,… Chính
vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hóa khác
Như vậy, do quan điểm tiếp cận, dưới góc độ nghiên cứu khác nhau có thể đem đến nhiều cách hiểu và diễn giải khác nhau về du lịch Tuy nhiên, trong các quan điểm đã nêu đều thống nhất các yếu tố cơ bản như sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng
nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đều
đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình
Trang 1911
1.1.1.2 Hoạt động du lịch
Khác với khái niệm du lịch nói chung, hoạt động du lịch là khái niệm có liên quan đến các chủ thể là cá nhân hay tổ chức cụ thể Các chủ thể tham gia vào các khâu, các quá trình du lịch, tạo thành các hoạt động
du lịch Luật Du lịch của Việt Nam quy định: "Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch [28, tr.9] Hoạt động du lịch được nhìn nhận ở ba khía cạnh: Thứ nhất, “hoạt động của khách du lịch” là việc di chuyển và lưu trú tạm thời của người
đi du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, Thứ hai, “tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch”, tức là những người hoạt động tổ chức lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận Thứ ba, “cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”, tức là cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan tại địa phương du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của “khách du lịch” và “tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch” nhằm đảm bảo cho các đối tượng này thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình khi tham gia HĐDL theo đúng luật định
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động du lịch
- Hoạt động du lịch là hoạt động của ngành kinh tế dịch vụ, có tính liên ngành, liên vùng: Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học -
kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó, hoạt động du lịch trở thành một ngành kinh tế độc lập Ở các nước phát triển và đang phát
Trang 2012
triển, tỷ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, bởi vậy sản phẩm của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng mà các ngành dịch vụ khác không có Tính liên ngành, liên vùng trong hoạt động du lịch thể hiện để phát triển bền vững ngành du lịch ta phải đặt trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác như ngành giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, ngành kinh doanh, công tác liên kết hợp tác giữa
các địa phương trong xây dựng sản phẩm liên vùng và xúc tiến quảng bá
- Hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch: Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ dịch vụ du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân Dịch vụ du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của
du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về
ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người
- Việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian: Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ ) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà
Trang 2113
ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa Chính
vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những
đặc thù riêng
- Hoạt động du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế,
xã hội cho địa phương làm du lịch và người làm du lịch: Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội Tuy nhiên,
sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội Do đó, dịch vụ du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch
- Hoạt động du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định:
Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội
Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cũng
Trang 2214
làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải
có thời gian Ví dụ, vụ khủng bố 11/9 tại Mỹ, khủng bố tại đảo Bali - Indonêxia, sự kiện ‘‘đảo chính’’ ở Thái Lan đã làm cho ngành du lịch các nước này lao đao có thể nhiều năm mới phục hồi Mặt khác, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi trường cũng là những nhân tố rất quan trọng tác động đến khách du lịch
1.1.1.4 Các loại hình hoạt động kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là quá trình tổ chức sản xuất, lưu thông, mua, bán hàng hóa du lịch trên thị trường, là việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Kinh doanh
du lịch mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, bao gồm:
- Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế
- Kinh doanh lưu trú du lịch
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch
- Kinh doanh các khu du lịch, điểm du lịch
Du lịch sinh thái hay còn có nhiều tên gọi thường gặp khác nhau như
Du lịch thiên nhiên; Du lịch xanh; Du lịch môi trường; Du lịch bền vững nhưng đều được hiểu là loại hình “du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” (Hiệp hội Du lịch Sinh Thái -The Internatonal Ecotourism society);
Trang 2315
hay là loại hình du lịch “dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (Luật du lịch năm 2005)
Du lịch văn hóa: Theo UNESCO, du lịch văn hóa thông thường được phân thành hai loại: Du lịch văn hóa vật thể (Tangible) và Du lịch văn hóa phi vật thể (Intangible) Trong khi Du lịch văn hóa vật thể, bao gồm các công trình kiến trúc như đình chùa, miếu mạo, lăng mộ, nhà sàn thì di sản văn hóa phi vật thể như âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, phong tục, tập quán, các món ăn, các công nghệ thủ công truyền thống
+ Phân loại cụ thể các loại hình du lịch
Căn cứ nhu cầu đi du lịch: Căn cứ nhu cầu du lịch có thể chia ra thành nhiều loại hình du lịch như: Du lịch cộng đồng, du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch thể thao, giải trí, du lịch tôn giáo, du lịch khám phá,
du lịch thăm thân, du lịch MICE (M: meetings (hội, họp); I: Incentives (khen thưởng); C: Conferences (Thảo luận); E: Exhibitions (triển lãm)
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có du lịch quốc tế và du lịch nội địa
Căn cứ vào phương tiện di chuyển có loại hình du lịch bằng xe đạp; du lịch bằng tàu hỏa; du lịch bằng tàu biển; du lịch bằng ô tô, …
Căn cứ theo phương tiện lưu trú có loại hình du lịch ở khách sạn; du lịch ở Motel; du lịch nhà trọ; du lịch camping và du lịch resort
Căn cứ hình thức tổ chức du lịch có loại hình du lịch theo đoàn hay du lịch cá nhân
Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch có du lịch nghỉ biển hoặc leo núi, đi du lịch trong các khu đô thị và thành phố, tới các vùng quê để thỏa mãn nhu cầu du lịch của mình
Trang 24sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ
sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho đất nước, địa phương mà không phải mất tiền Du lịch làm phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua du khách, khi du khách hài lòng về các sản phẩm hàng hóa về nước sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân
1.1.2.2 Ý nghĩa về chính trị
Ý nghĩa chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ đề khác nhau, như "Du lịch là giấy thông hành của hòa bình" (1967), "Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người" (1983) các chủ đề này đã kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử,
Trang 2517
văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.1.2.3 Ý nghĩa về văn hóa, xã hội
Du lịch không chỉ góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế những vùng có hoạt động du lịch và giảm quá trình đô thị hóa Việc khai thác tài nguyên du lịch những vùng khó khăn đòi hỏi phải đầu tư về giao thông, bưu điện, kinh tế, …
Do vậy mà việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của vùng đó và làm giảm sự tập trung dân cư ở những trung tâm dân cư
Về phương diện xã hội: Là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục, tập quán nơi họ đã đến
Thông qua du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa
và thường tiếp xúc với dân cư địa phương Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, văn hóa của cả khách và người bản xứ được trao đổi và nâng cao Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình
Ngoài ra, việc phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác
và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các
Trang 2618
ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội
1.1.3.4 Ý nghĩa về môi trường sinh thái
Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân
tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động của con người
Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo
vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục
vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau
1.1.3 Các yếu tố tác động tới hoạt động du lịch
1.1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương như địa hình, rừng, biển, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực vật, động vật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành các trung tâm, khu, điểm đến du lịch và tính bền vững của các sản phẩm du lịch Thực tiễn cho thấy, một quốc gia, vùng và địa phương có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, có khí hậu ấm áp, có rừng, biển, động vật, thực vật phong phú…cùng với vị trí ở vào nơi có hệ thống giao thông thuận lợi thì luôn có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu Đồng thời, nơi đó cũng sẽ có khả
Trang 2719
năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các đối tượng khác nhau góp phần thúc đẩy mạnh HĐDL phát triển
1.1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Để giải quyết nhu cầu ăn, ở, đi lại nghỉ ngơi du lịch của con người, những cái thiết yếu nhất đối với khách du lịch như mạng lưới đường giao thông, phương tiện giao thông, khách sạn, nhà hàng khó có thể trông cậy vào một nền kinh tế yếu kém Công nghiệp phát triển kéo theo sự tập trung dân cư, tăng nhu cầu đi du lịch; du lịch không thể phát triển được nếu như không đảm bảo việc ăn uống cho du khách và mạng lưới giao thông cũng là một trong những tiền đề kinh tế quan trọng nhất
để phát triển du lịch
- Dân cư và lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế du lịch Số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư Việc nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch
- Điều kiện sống của dân cư: Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ nhất định Không có mức thu nhập cao thì khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi du lịch Cùng với việc tăng mức thu nhập thực tế, các điều kiện sống khác cũng phải liên tục được cải
Trang 2820
thiện Những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao tính bình quân theo đầu người, nhu cầu và hoạt động du lịch trên thực tế phát triển mạnh mẽ nhất
- Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Nhu cầu nghỉ ngơi
du lịch có tính chất KT-XH và là sản phẩm của sự phát triển xã hội Nhu cầu nghỉ ngời ra đời ở một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, là kết quả tác động tổng hợp của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, tăng mật độ và sự tập trung dân cư vào các thành phố, kéo dài tuổi thọ
- Thời gian rỗi: Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Nó thật sự trở thành một trong những nhân
tố quan trọng thúc đẩy HĐDL Thời gian rỗi là thời gian cần thiết cho con người để nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thành các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè, vui chơi giải trí…Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người
Một cách đầy đủ nhất, có thể hiểu thời gian rỗi là thời gian cần thiết cho việc hồi phục sức lực của con người đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm nào đấy trong điều kiện bình thường của sản xuất… và cả thời gian cần thiết cho việc phục hồi mở rộng để đảm bảo tiếp tục nâng cao năng suất lao động
Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian rỗi là giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ Nhiều nước đã thực hiện chế
độ tuần làm việc 5 ngày
1.1.3.3 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp việc
Trang 29tế của HĐDL Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn (văn hóa) có thể
sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Xét về cơ cấu, tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
Các tài nguyên thiên nhiên gồm: Địa hình, khí hậu, suối nước khoáng, biển, sông, hồ, thực vật, động vật, rừng, núi, Tài nguyên nhân văn: Các tượng đài kiến trúc, công trình văn hóa (viện bảo tàng, triển lãm trưng bày nghệ thuật, nhà hát, thư viện ), các di tích văn hóa, lịch sử, các loại hình văn hóa phi vật thể (lễ hội, âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật, )
Mặt khác, tài nguyên du lịch đa dạng, giàu bản sắc cả về thiên nhiên (bãi biển, hang động, suối nước nóng, nước khoáng, đảo, lớp phủ thực vật và thế giới động vật quý hiếm, nhiều cảnh quan tự nhiên độc đáo điển hình ) lẫn nhân văn (các di tích lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, những phong tục tập quán, các làng nghề và truyền thống văn hóa đặc sắc của các dân tộc ) tạo điều kiện cho chúng ta phát triển nhiều loại hình du lịch phong phú hấp dẫn như: Nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu khoa học, hội chợ, hội nghị, festival dài ngày và ngắn ngày
Trang 3022
1.1.3.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
Kết cấu hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh HĐDL Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Nó phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường
sá và phương tiện giao thông) Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì HĐDL mới được đẩy mạnh và trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mặt khác, các hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước cũng
là một phần quan trọng không thể thiếu trong KCHT phục vụ du lịch
Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch gồm: Tất cả các trang thiết bị kỹ thuật cần thiết để đón tiếp và phục vụ khách du lịch về lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung khác Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch cũng rất quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch
Nhìn chung, một quốc gia, một vùng, một địa phương sẽ không khai thác được tiềm năng phát triển du lịch nếu như không có điều kiện về KCHT và CSVC-KT du lịch thuận lợi
1.1.3.5 Yếu tố thị trường
Thị trường là một phạm trù của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa, trong đó phản ánh toàn bộ quan hệ giữa cung - cầu và các mối quan hệ như thông tin kinh tế, kỹ thuật, nảy sinh từ các mối quan hệ đó Thị trường du lịch
là một bộ phận cấu thành của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch Các mối quan hệ và cơ chế kinh tế này được hình thành trên cơ sở yêu cầu của các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa, tồn tại trong các hình thái KT-XH nhất định
Ngày nay, thị trường du lịch đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, phát triển
Trang 3123
năng động với tốc độ nhanh, hội tụ các yếu tố văn minh của nhân loại Do đó, thị trường du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế du lịch Thực tế cho thấy các quốc gia phát triển là các quốc gia có nền công nghiệp
du lịch phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu nền kinh tế quốc dân hợp lý và hiện đại
1.1.3.6 Yếu tố quản lý nhà nước
Quá trình phát triển HĐDL chịu sự tác động của quy luật khách quan trong nền sản xuất xã hội, đồng thời HĐDL cũng không thể thiếu sự quản lý của nhà nước Quản lý nhà nước đối với HĐDL là việc nhà nước xác định mục tiêu quản lý, xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý phù hợp với mục tiêu Chính sách, định hướng của nhà nước và quá trình tổ chức thực hiện phân công, phối hợp quản lý sẽ quyết định sự phát triển hay kìm hãm hoạt động du lịch phát triển Đối với những quốc gia quan tâm đến phát triển bền vững, chú trọng thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp không khói này, sẽ giúp hoạt động du lịch có cơ hội phát triển.Khi nói đến du lịch là nói đến con người đi tìm cái "chân, thiện, mỹ" để hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những sản phẩm, tài nguyên du lịch Để đảm bảo cho việc tìm kiếm, hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những tài nguyên này, nhà nước phải điều phối các thành viên, các nhóm xã hội khác nhau để
họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia HĐDL với tư cách là một chủ thể (người bán, người mua và người trung gian)
1.1.3.7 Các bên tham gia hoạt động du lịch
Các bên tham gia HĐDL bao gồm: khách du lịch; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch Các bên tham gia HĐDL có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời nhau và là một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến
Trang 3224
sự phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Muốn HĐDL phát triển, thì quốc gia đó, địa phương đó phải tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia cùng phát triển, không xem nhẹ bên nào Bởi vì, nếu thiếu một trong những bên tham gia thì HĐDL sẽ không hiệu quả, thậm chí không tồn tại
Ví dụ, không có khách du lịch thì sẽ không có hoạt động du lịch, hoặc để hoạt động kinh doanh du lịch tự phát không có sự quản lý của nhà nước sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực đối với thuần phong mỹ tục, an ninh quốc gia,
1.2 Quản lý nhà nước về du lịch
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Du lịch là hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
lữ hành và các dịch vụ liên quan Tuy nhiên, du lịch cũng là hoạt động
xã hội, giải quyết nhu cầu vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi của khách du lịch Quá trình thực hiện hoạt động du lịch, các chủ thể sẽ tạo ra những tác động khác nhau vào môi trường tự nhiên và xã hội Những tác động đó
có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt, được ra đời, tồn tại để thực hiện chức năng quản lý, định hướng các quan hệ xã hội đến mục tiêu tích cực cho xã hội Đó là lý do nhà nước không thể không thực hiện quản lý các hoạt động du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động du lịch, nhằm định hướng, duy trì và phát triển các hoạt động du lịch theo mục tiêu nhà nước đã đề ra
Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch: Quản lý nhà nước đối với du
lịch được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước Biểu hiện cụ thể của các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch là việc xây dựng công cụ quản lý (chính sách, pháp luật, kế hoạch) và tổ chức triển khai, thực hiện quản lý trong thực tiến Hoạt động quản lý này dựa
Trang 3325
trên cơ sở chính sách, pháp luật của Nhà nước Nếu Quản lý nhà nước về
du lịch được thực hiện bởi cả cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp thì quá trình triển khai các hoạt động quản lý lại chủ yếu được thực hiện bởi
cơ quan hành pháp Đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ Chính phủ thống nhất QLNN về du lịch và thực hiện phân công, phân cấp cho các cơ quan chức năng, từ Trung ương đến địa phương Trên thế giới, các Nhà nước thường chọn ra một cơ quan làm đầu mối, chủ trì, phối hợp các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch Ở Việt Nam, Chính phủ
đã trao quyền QLNN về du lịch cho Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch Trong đó, cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trên phạm
vi cả nước là Tổng cục du lịch Tổng cục du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đơn
vị trực thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND giúp UBND cấp tỉnh QLNN về du lịch và các hoạt động khác Trong cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng quản
lý du lịch là tổ chức tham mưu về chuyên môn cho Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
Đối tượng quản lý nhà nước về du lịch là hoạt động du lịch, do vậy
các tổ chức cá nhân tiến hành các hoạt động du lịch như các công ty lữ hành, các tổ chức du lịch, các cơ sở lưu trú, khách du lịch, các cơ sở kinh doanh dịch vụ … là đối tượng của QLNN Với tư cách là đối tượng quản lý, HĐDL phải được tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Mục tiêu QLNN về du lịch là tạo môi trường thông thoáng, ổn định,
Trang 3426
an toàn cho khách du lịch và doanh nghiệp hoạt động du lịch, thúc đẩy
du lịch phát triển bền vững, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về du lịch
Hoạt động du lịch được tiến hành bởi nhiều cá nhân, tổ chức, là những chủ thể có mục tiêu khác nhau Trong khi, Nhà nước đại diện cho lợi ích của đại đa số các giai tầng trong xã hội, hoạt động vì mục tiêu chung Chức năng của Nhà nước là đảm bảo hài hòa các loại lợi ích xã hội Do đó, Nhà nước cần phải thực hiện quản lý hoạt động du lịch, nhằm hướng hoạt động của các chủ thể đến mục tiêu chung Theo đó, một mặt Nhà nước phải hỗ trợ, bảo vệ khách du lịch, mặt khác phải bảo đảm cho các doanh nghiệp hoạt động du lịch phát triển trong sự khai thác tài nguyên du lịch hợp lý, gắn khai thác tài nguyên với phát triển bền vững Hoạt động QLNN về du lịch là đòi hỏi tất yếu khách quan mà các quốc gia không thể bỏ qua vì những lý do sau đây
Thứ nhất, định hướng hoạt động du lịch vận động theo hướng tích cực,
có lợi cho lợi ích chung
Quản lý nhà nước đối với du lịch là thực hiện vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước đối với tất cả các hoạt động trong lĩnh vực du lịch, giúp du lịch phát triển đúng định hướng, phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế, nếu không có sự quản lý của Nhà nước thì HĐDL sẽ vận động theo hai hướng vừa tích cực, vừa tiêu cực Nhà nước nắm quy luật vận động của nền kinh tế thị trường, định hướng cho HĐDL phát triển theo hướng tích cực, hạn chế tiêu cực để nhanh chóng đạt được các mục tiêu đã đề ra Nhà nước tạo cơ sở pháp lý, có chính sách khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia HĐDL; thông qua các công cụ quản lý nhằm thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển theo mục tiêu, định hướng và quy hoạch
Thứ hai, hỗ trợ các đối tượng tham gia hoạt động du lịch
Trang 3527
Trong quá trình tham gia HĐDL, các tổ chức và cá nhân không thể tự giải quyết những vấn đề vượt quá khả năng của mình như các vấn đề về môi trường, an ninh, an toàn cho du khách cũng như các vấn đề về hợp tác quốc tế
và vấn đề về thủ tục hành chính trong du lịch Do đó, cần phải có sự quản lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho HĐDL phát triển
Thứ ba, định hướng sử dụng tài nguyên du lịch và phát triển bền vững
Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên Vì thế, trong quá trình hoạt động, tổ chức và doanh nghiệp du lịch thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận riêng của mình mà không quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch Do vậy, Nhà nước phải tham gia vào việc phân phối và sử dụng tài nguyên bằng việc ban hành các quy định về duy trì và bảo vệ tài nguyên du lịch Chẳng hạn như cơ quan nhà nước tỉnh Đắk Nông đã giao cho doanh nghiệp kinh doanh
du lịch quản lý, bảo vệ hơn 65 ha rừng tự nhiên để tạo cảnh quan, sinh thái cho Điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly, tuy nhiên công ty chỉ tập trung vào lợi nhuận và đã không thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khiến cho nhiều diện tích rừng nơi đây bị tàn phá nghiêm trọng
Thứ tư, kiểm soát, bảo vệ lợi ích của Nhà nước
Quản lý nhà nước về du lịch thực chất cũng là để Nhà nước bảo vệ lợi ích của chính mình Bởi vì bất cứ một hoạt động KT-XH nào cũng có một phần tài sản của Nhà nước, đó là các doanh nghiệp du lịch của Nhà nước, KCHT, CSVC-KT của Nhà nước đầu tư cho HĐDL Du lịch là một ngành KT-XH liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác Để du lịch phát triển tốt, Nhà nước cần ban hành những quy định pháp luật nhằm điều hòa lợi ích cũng như đảm bảo sự hỗ trợ phát triển giữa du lịch với các ngành, lĩnh vực có liên quan
Thứ năm, tạo lập môi trường cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch hoạt động và phát triển
Trang 3628
Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý Hoạt động du lịch với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi
an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi lượng khách du lịch tăng cao Trong bối cảnh đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế
1.2.3 Chức năng quản lý nhà nước đối với du lịch
1.2.3.1 Chức năng định hướng
Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động du lịch, bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch, phân tích và xây dựng các chính sách du lịch, quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống luật pháp có liên quan tới du lịch Xác lập các chương trình, dự án cụ thể hóa chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch
Chức năng hoạch định giúp cho các doanh nghiệp du lịch có phương hướng hình thành phương án chiến lược, kế hoạch kinh doanh Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh du lịch trên thị trường
1.2.3.2 Chức năng tổ chức và phối hợp
Nhà nước tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ
Trang 3729
chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước, nhằm đưa chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển
Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý du lịch của trung ương, tỉnh (thành phố), và quận (huyện, thị xã)
Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế, thương mại du lịch trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa đa phương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch, đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết
Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động du lịch
1.2.3.3 Chức năng điều tiết các hoạt động du lịch
Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng, khuyến khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền Để thực hiện chức năng này, một mặt, Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra, mặt khác, Nhà nước phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Trong hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta hiện nay, cạnh tranh chưa bình đẳng, không lành mạnh là một trong những vấn đề gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển ngành
1.2.3.4 Chức năng giám sát
Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng
Trang 3830
như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về các mặt đăng ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế ), cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động du lịch; phát hiện những lệch lạc, nguy
cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của quản
lý nhà nước về hoạt động du lịch; kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý
du lịch của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản
lý nhà nước về hoạt động du lịch
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh
Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu để tự
nó phát triển, để thị trường tự phát phát triển, buông lỏng quản lý của Nhà nước, không có sự thống nhất các yếu tố liên ngành, liên vùng, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững Nhiều vấn đề như quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, trật tự an toàn
xã hội, liên kết hội nhập, những thỏa thuận đa phương hoặc song phương về tạo điều kiện đi lại cho du khách,… nếu không có vai trò của Nhà nước không thể giải quyết được
Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển mà xác định nội dung quản lý nhà nước về du lịch phù hợp Đồng thời, nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn được quy định bằng pháp luật,
nó mang tính pháp lý chặt chẽ buộc các cấp chính quyền và các doanh nghiệp phải tuân thủ
Để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo
Trang 3931
vệ môi trường, quản lý nhà nước về du lịch có các nội dung chủ yếu sau:
1.2.4.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch
Xây dựng và công khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn của chính quyền cấp tỉnh Nó giúp cho các cá nhân, tổ chức an tâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du lịch
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh là lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng
sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch, hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ Vì thế, chính quyền cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả nước Đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mới có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược và
kế hoạch phát triển chung của địa phương
1.2.4.2 Ban hành và phổ biến văn bản pháp luật, triển khai chính
sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động du lịch
Chính quyền cấp tỉnh phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực
Trang 4032
tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc Mặt khác, chính quyền cấp tỉnh phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật du lịch trên địa bàn tỉnh, xử
lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động du lịch
Chính quyền cấp tỉnh phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tín dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh du lịch Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cần thực hiện cải cách thủ tục hành chính, công khai minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả
Chính quyền cấp tỉnh cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch tại các khu, điểm du lịch như: mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ trong việc tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch Bên cạnh đó chính quyền cấp tỉnh cần phải đảm bảo bình ổn giá cả tiêu dùng và thị trường du lịch, có chính sách