Bán hay nắm giữ Ở ví dụ trên, chúng ta đều thấy rằng vấn đề quyết định bán hay nắm giữ chiếc iphone X của bạn sẽ quyết định lợi nhuận/mức tăng về giá trị quy đổi có thể thực hiện được củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-o0o -TIỂU LUẬN LÍ THUYẾT KẾ TOÁN
Niên khóa: 2017-2019
HÀ NỘI 12/2017
Trang 2Câu 2: Vận dụng lí thuyết thông tin bất cân xứng để phân tích đặc điểm hoạt dộng của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cơ sở xây dựng các chính sách cho vay và bảo đảm của ngân hàng
Trả lời:
A KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
I Khái quát thông tin bất cân xứng:
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó Không có sự cân bằng trong việc nắm giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch Khi đó giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường mà nó có thể thấp hơn hoặc cao hơn dẫn tới thị trường không đạt hiệu quả
Việc này thể hiện thông qua 2 khía cạnh :
Việc lựa chọn xe để mua trong trường hợp này thể hiện khía cạnh Sự lựa chọn bất lợi
(adverse selection) vì họ có thể trả giá cao hơn đối với xe xấu và người bán lại không thể bán được
do giá bán thấp hơn chất lượng xe tốt Lựa chọn bất lợi sẽ gây bất lợi cho bên có ít thông tin hơn tronggiao dịch Lựa chọn bất lợi làm cho giao dịch trở nên rủi ro hơn và ở mức độ nghiêm trọng nó sẽ làm thị trường sụp đổ hoàn toàn
Trang 3Bên cạnh đó, ở một khía cạnh khác là Tâm lý ỷ lại : xảy ra sau khi các bên đã chính thức tham gia vào
giao dịch: một bên trong giao dịch có chủ định che đậy hành vi của mình và bên đối tác rất khó hoặc không thể kiểm soát được hành vi của bên kia Bảo hiểm y tế là ví dụ điển hình của tâm lý ỷ lại Khi
đã mua bảo hiểm y tế toàn bộ, người mua thường có tâm lý muốn đi khám bệnh thường xuyên hơn Nếu công ty bảo hiểm có thể giám sát được hành vi của người mua, khi đó người mua có thể phải chịumức phí cao hơn Nhưng nếu công ty không thể giám sát được hành vi của khách hàng thì công ty có thể phải trả các khoản đền bù nhiều hơn dự kiến Khi xuất hiện tâm lý ỷ lại, các công ty bảo hiểm buộcphải tăng phí bảo hiểm hay thậm chí là từ chối bán bảo hiểm Tâm lý ỷ lại cũng xuất hiện trong các thịtrường tín dụng, thị trường bảo hiểm tiền gửi
II Hoạt động tín dụng Ngân hàng:
Ngân hàng Thương mại (NHTM), bên cạnh các hoạt động như huy động vốn, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ Ngân hàng cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Trang 4Việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên
có ít thông tin hơn Đây chính là vấn đề bất cân xứng về thông tin trong các hoạt động của nền kinh
tế
III Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng Ngân hàng:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra vấn đề thông tin bất cân xứng trong lĩnh vực hoạt
động tín dụng của ngân hàng như:
1 Sự lựa chọn bất lợi:
Khi nhận được hồ sơ vay vốn của khách hàng, trước khi ra quyết định, ngân hàng phải
thực hiện việc thẩm định các thông tin liên quan đến khách hàng, dự án vay vốn và tài sản
bảo đảm tiền vay Trong cả ba khâu thẩm định này, vấn đề lựa chọn bất lợi đều có thể gây ra rủi ro choquyết định đầu tư của ngân hàng
1.1 Đánh giá uy tín của khách hàng:
Đánh giá uy tín của khách hàng luôn là vấn đề khó khăn của các ngân hàng Ngân hàng thông thường chủ yếu dựa vào quan hệ trong quá khứ: khách hàng vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với khách hàng mới quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ nghiệp vụ khitiếp xúc với khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được từ các khách hàng có quan hệ với khách hàng mới này Đánh giá còn sơ sài chưa có tiêu chuẩn chủ yếu là do việc cung cấp thông tin trên thị trường còn chưa phát triển và ý thức cung cấp phát tín hiệu trên thị trường của doanh nghệp còn chưa cao Điều này dẫn đến việc thu thập thông tin để đánh giá đối với khu vực kinh tế trên là rất khó khăn
1.2 Đánh giá năng lực của khách hàng:
a Năng lực quản trị: đánh giá về nguồn nhân lực, vì nguồn nhân lực góp phần vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và liên quan đến hiệu quả đồng vốn của ngân hàng Tuy nhiên việc đánh giá này phần lớn còn dựa vào chủ quan của cán bộ ngân hàng
b Đánh giá năng lực tài chính: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng có thể có nhiểu rủi ro khi doanh nghiệp có thể cố tình gia tăng lợi nhuận hơn thực tế để được ngân hàng đánh giá năng lực tài chính tốt và kinh doanh hiệu quả nhằm vay vốn dễ dàng; còn thực chất như thế nào thìchỉ có bản thân công ty biết
1.3 Đánh giá dự án vay:
Đánh giá hiệu quả dự án vay vốn là khâu quan trọng, ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng Thực tế cho thấy ở hầu hết các nước đang phát triển thì nghiệp vụ thẩm định, các tiêu
Trang 5chuẩn thẩm định, thông tin từ các tổ chức, các công ty nghiên cứu thị trường… còn nhiều yếu tố chưa chính xác Trình độ cán bộ và công nghệ, kỹ thuật cũng còn non kém
1.4 Đánh giá tài sản bảo đảm:
Ngân hàng áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp tài sản và bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba chính là một giải pháp để ngân hàng hạn chế rủi ro xảy ra do việc lựa chọn ngược
Xét về phía ngân hàng, tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra khi ngân hàng hiểu biết về khách hàng
và dự án kinh doanh của khách hàng ít hơn khách hàng Việc khách hàng che đậy những thông tin liênquan đến họ và dự án đã gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc xác định được những khách hàng thực sự tiềm năng, và những dự án thực sự có hiệu quả để đảm bảo khả năng thu hồi nợ
2 Tâm lý ỷ lại
Hiện tượng tâm lý ỷ lại xảy ra sau khi ký kết hợp đồng tín dụng Khách hàng vay vốn có nghĩa vụ sử dụng vốn đúng mục đích đã xác định trong hợp đồng tín dụng Để đảm bảo khả năng thu hồi vốn, ngân hàng phải thường xuyên tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng Tuy nhiên, việc giám sát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng là rất khó khăn và tốn kém
+ Hành vi sử dụng vốn vay không đúng mục đích - vi phạm hợp đồng tín dụng
+ Người vay không nỗ lực tối đa để sử dụng vốn vay hiệu quả
B THỰC TRẠNG XỬ LÝ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG VN HIỆN NAY:
I Một số gói cho vay tiêu biểu của một số ngân hàng Việt Nam hiện nay:
a Khách hàng cá nhân: _ Cho vay có tài sản đảm bảo: vay trả góp mua nhà, nền nhà Vay mua căn hộ, BĐS thế chấp bằng chính TS định mua, vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng…
_ Cho vay tín chấp: thấu chi tài sản
b Khách hàng doanh nghiệp: _Tài trợ vốn lưu động: Cho vay SXKD trong nước, cho vay bổ sung vốn kinh doanh trả góp, Thấu chi tài khoản
_Tài trợ xuất nhập khẩu: cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu từ bộ chứng từ hàng xuất khẩu, tài trợ xuất nhập khẩu trọn gói…
_Tài trợ mua TSCĐ, dự án: Tài trợ mua TSCĐ, xây dựng nhà xưởng, văn phòng…
Trang 6II Những quy định trong quy trình cho vay của các NHTM ở VN hiện nay để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng:
1 Sự lựa chọn bất lợi:
1.1 Đánh giá uy tín của khách hàng:
Nhìn chung, việc đánh giá uy tín của khách hàng hiện nay của các ngân hàng dựa nhiều vào cảm tính
và ý chủ quan của cán bộ nghiệp vụ, chưa có một căn cứ khoa học Ngoài ra, chúng ta còn thiếu các thể chế hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức trong việc cung cấp thông tin về quá trình hoạt động, định hướng phát triển của các công ty và trong việc đánh giá xếp loại công ty
1.2 Đánh giá năng lực của khách hàng:
Các yêu cầu về thông tin phục vụ phân tích tín dụng vẫn chưa được đáp ứng
đáng tin cậy, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời Các thông tin về báo cáo tài chính của DN chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán do vậy độ chính xác của báo cáo chưa cao Việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn, tình trạng thông tin bất cân xứng là phổ biến (cán bộ tín dụng chủ yếu lấy thông tin từ chính
sự khai báo của khách hàng) Thiếu các trung tâm dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình, DNVVN (Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN mới chỉ cung cấp thông tin về DN)
1.3 Đánh giá dự án vay:
Đây là những thông số, nhưng tiêu chuẩn vô cùng cần thiết như hệ số chiết khấu, mức độ rủi ro … Thực tế tại các tổ chức đang làm là lấy lãi suất cho vay trung dài hạn của chính tổ chức tín dụng đó cộng (+) thêm một tỷ lệ nữa để có được suất chiết khấu Với phương thức này có thể tạm chấp nhận được vì dù sao cũng có cơ sở Nhưng cở sở này là rất cảm tính
1.4 Đánh giá tài sản bảo đảm:
Có thể phân tích ở hai khía cạnh Thứ nhất, ngân hàng không thể từ chối cho vay nên việc thẩm định khoản vay, đánh giá năng lực khách hàng chỉ mang tính thủ tục Thứ hai, do có sự can thiệp của các cấp chính quyền trong việc cấp tín dụng cho một đối tượng nào đó mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước nên ngân hàng có tâm lý ỷ lại, vì khi có rủi ro xảy ra thì nhà nước cũng có cơ chế xử lý Tâm
lý trên đã làm giảm chất lượng thẩm định cho vay, khoản vay mang nhiều rủi ro, làm tăng nợ xấu
2 Tâm lý ỷ lại (Moral Hazard):
Trang 7ngân hàng nên một số khoản sử dụng rất khó kiểm soát, việc sử dụng vốn vay chồng chéo giữa các ngân hàng là rất phổ biến mà ngân hàng rất khó có thể phát hiện Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngânhàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
2.2 Người vay không nỗ lực tối đa để sử dụng vốn vay hiệu quả
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạng đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho
bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
Trang 8C GIẢI PHÁP XỬ LÝ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG
I Về phía nhà nước
1 Xây dựng và phát triển các tổ chức hỗ trợ thông tin
Tích cực xây dựng và có các biện pháp khuyến khích việc phát triển các thể chế nhằm hỗ trợ thông tin cho thị trường Nhà nước có thể đưa ra các ưu đãi để phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thông tin, tài chính như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đánh giá xếp hạng doanh nghiệp, định giá tài sản, tư vấn tài chính, kiểm toán… Đây là một lĩnh vực khá mới, cần có sự hỗ trợ của nhà nước trong giai đoạn đầu tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin; dần dần các doanh nghiệp mới thấy được sự cần thiết khi sử dụng các dịch vụ này
2 Xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch và hiệu quả:
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và từng bước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.Pháp luật về thuế ở Việt Nam đang là một tồn tại lớn Hiện tượng nhiều hệ thống sổ sách nhằm trốn thuế, lách luật chỉ có thể khắc phục khi các quy định pháp luật về thuế, các chế tài xử lý vi phạm được quy định chặt chẽ, nghiêm minh và một hệ thống cơ quan thuế được quản lý và kiểm soát để tránh những hiện tượng tiêu cực xảy ra tràn lan
II Về phía các Ngân hàng thương mại:
1 Phải tách bạch việc thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân và thu hồi nợ: nhằm tạo ra cơ chế kiểm soát chéo, tránh tình trạng một người làm mọi việc sẽ dẫn đến sự lạm quyền Bộ phận thẩm định,cho vay thì không được trực tiếp giải ngân và tương tự, bộ phận giải ngân lại không được trực tiếp theo dõi thu hồi nợ; điều này sẽ tạo nên tính minh bạch trong việc quản lý và thu hồi nợ đối với dự án hay khoản vay
2 Quản trị rủi ro:
a Sàng lọc: Để hạn chế sự lựa chọn bất lợi của mình, các ngân hàng thường áp dụng hạn mức tín dụngkhác nhau đối với mỗi đối tượng vay, dự án vay và thời hạn vay Đối với tổ chức bảo hiểm, cơ chế sàng lọc được thể hiện qua việc chỉ bảo hiểm một phần, điều này cho thấy ngay cả đối với nhóm bất cẩn cũng phải có trách nhiệm một phần của mình trong sự cố bồi thường có thể xảy ra
b Quy định về việc xét duyệt cho vay:
Xây dựng quy trình xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ tráchnhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng
3 Vấn đề tài sản hình thành từ vốn vay:
+ Đối với tài sản hình thành không dùng làm tài sản bảo đảm: sau từng lần giải ngân, ngân hàng phải
Trang 9kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của ngân hàng thông qua chứng từ và thực tế, nhằm đảmbảo khách hàng sử dụng đúng mục đích, hiệu quả
+ Đối với tài sản hình thành là tài sản bảo đảm: Ngân hàng kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay, đồng thời yêu cầu khách hàng hoàn tất thủ tục theo đúng quy định về thực hiện bảo đảm tiền vay như đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản có quyền sở hữu và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định
4 Tài sản đảm bảo:
Đây được xem là những điều kiện quan trọng nhất khi cho vay tại ngân hàng, nhất là khi ngân hàng không tin cậy hoặc gặp khó khăn trong việc đánh giá mức độ tín nhiệm, năng lực tài chính của khách hàng, thẩm định hiệu quả của các dự án đầu tư, phương án kinh doanh, gồm những giấy tờ gì và thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý để đảm bảo cho khoản vay
III Về phía các công ty:
Phải thực hiện phát tín hiệu: Thông thường người đi vay là người nắm rõ thông tin về mình nhất thế nên họ sẽ được lợi nhiều hơn trong giao dịch Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không dễ dàng cho vay nếu như họ không biết rõ về khách hàng của mình Thế nên, người đi vay phải phát tín hiệu rằng mình là người có khả năng trả được nợ tốt
Câu 1: Sử dụng lí thuyết người đại diện để phân tích ảnh hưởng của kế hoạch trả lương, thưởng bằng
cổ phiếu cho người điều hành tới việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp
Trả lời:
Trong kinh tế có một lý thuyết rất nổi tiếng về mối quan hệ chủ - tớ đó là lý thuyết người đại diện Các nhà nghiên cứu cũng đã lý giải hàng loạt nguyên nhân dẫn đến vấn đề của người đại diện , khi người đại diện làm việc ngắn hạn thì sẽ thu cố gắng thu lợi ích lớn nhất Cách hành xử của doanh nghiệp ở nước ngoài thường hay làm đó là tuyên bố trước về các gói lợi ích và các quyền lợi mà người điều hành sẽ được hưởng theo thời hạn, có thể một năm, vài năm hoặc đến khi nghỉ hưu, theo
đó người điều hành sẽ nỗ lực làm việc cho đến cùng và thúc đẩy người điều hành làm việc tốt hơn
Việc xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các
cổ đông (những người chủ -principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người đại diện -agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả haibên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhấtcho người chủ, tức các cổ đông Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản
Trang 10lý cấp cao với nhà quản lý các cấp thấp hơn trong hệ thống phân quyền, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của tổ chức.
Xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị,giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị DN (và chủ DN) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài Những hợp đồng này thường yêu cầu DN phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống KTQTnhư: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị DN có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong DN và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết hệ thống KTQT cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong DN, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các DN Việt Nam
Kế hoạch trả lương, thưởng bằng cổ phiếu tác động đến người điều hành như sau:
1 Lợi ích của chính người điều hành
Xét về phía người điều hành, việc nhận một phần lương bằng cổ phiếu đem lại lợi ích khá rõ
Thứ nhất, người điều hành sẽ tiết kiệm được một số tiền không nhỏ sau vài năm Trong điều kiện
DN kinh doanh tăng trưởng tốt và bền vững, cổ phiếu được nắm giữ hứa hẹn sẽ đem lại mức giá cao gấp nhiều lần mệnh giá
Thứ hai, trong thời kì chưa được phép sang nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư vẫn được Cty trả mức cổ tức khá cao, giả sử mức trung bình là 20%/năm thì mức này vẫn cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm (kể cả
so với mức lãi suất huy động trong thời điểm hiện nay)
Thứ ba, khi đã là chủ sở hữu thực sự, người điều hành sẽ có kỷ luật và năng suất điều hành tốt hơn cùng với ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài sản chung Điều này rất dễ hiểu bởi khi đã là người chủ sở hữu của DN, bất kì thiệt hại nào đối với DN cũng chính là thiệt hại đối với bản thân người chủ sở hữu
Thời gian khống chế không sang nhượng cổ phiếu không phải là rào cản lớn đối với người điều hànhbởi vì đây là khoảng thời gian cần thiết để duy trì sự ổn định và tâm lý gắn bó trong đội ngũ Bởi
Trang 11DN cần mọi người gắn bó hơn bằng sức lực của mình chứ không phải là đem lại cho họ một cơ hội làm giàu siêu tốc theo kiểu được mua cổ phiếu ưu đãi rồi bán ngay Không những vậy, nhiều giám đốc DN cho rằng lợi ích là khi cùng chung sức với Cty là trong thời gian dài hạn.
2 Song hành cùng lợi ích DN
Phương pháp trả lương bằng cổ phiếu cũng có tác dụng rất rõ đối với DN Trước hết phải kể đến lượng tiền mặt không phải dùng để trả lương và có thể sử dụng vào mục đích kinh doanh Giả sử
DN tiết kiệm được khoảng 10% tổng lương của 500 nhân viên, mức lương trung bình của một người
là 2,5 triệu đồng, suy ra mỗi tháng DN đã có thể sử dụng hàng trăm triệu tiền mặt sử dụng vào mục đích phát triển kinh doanh "Tiền mặt là vua" giúp tăng tính thanh khoản và khả năng trả nợ ngắn hạn của DN Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi ngay cả "kho chứa tiền" của nền kinh tế là các ngân hàng cũng không thừa tiền mặt, thì những đồng tiền tự có lại càng đáng quý
Ngoài khoản tiền mặt quý giá, DN còn có được sự gắn bó của đội ngũ nhân viên do lúc này họ đã trở thành chủ sở hữu thực sự của DN Đội ngũ nhân lực là tài sản quý giá nhất của DN vì vậy không còn gì may mắn hơn khi người điều hành đang làm việc vì lợi ích và tương lai của chính bản thân
họ Ngoài ra, mâu thuẫn lợi ích thường thấy trong các Cty đại chúng - giữa chủ sở hữu và đội ngũ quản lí - cũng được tháo gỡ, do lúc này đội ngũ quản lí cũng đã trở thành chủ sở hữu của DN
Quyền chọn mua cổ phiếu, về bản chất là việc một Cty cấp cho nhân viên của mình quyền được mua
cổ phiếu của chính Cty đó tại một thời điểm xác định trước, với mức giá xác định tại thời điểm phát hành quyền chọn đó Ví dụ, ngày 31/10/2007 Cty ABC công bố thưởng cho giám đốc điều hành quyền được mua 10.000 CP của ABC vào ngày 30/9/2010 với mức giá 700.000 đồng/CP Nếu tại ngày 30/9/2010 giá cổ phiếu ABC là 800.000 đồng/CP, người giám đốc điều hành này có thể mua 10.000 CP với mức giá 700.000 đồng sau đó bán ra thị trường với giá 800.000 đồng và được lời 1 tỷđồng
3 Rủi ro và lợi nhuận
Ít nhất về mặt nguyên tắc, ban quản trị của công ty cố gắng dùng thù lao hậu hỉnh để khích lệ các giám đốc điều hành (CEO) hành động phù hợp với lợi ích của công ty Ý tưởng ở đây là thành tích của một CEO giúp tạo ra giá trị cho tổ chức “Trả lương cao để có thành tích tốt” là câu thần chú được hầu hết các công ty sử dụng khi họ cố gắng giải thích những kế hoạch trả lương của họ
Mọi người có thể sẽ ủng hộ ý tưởng trả thù cao để có thành tích tốt nhưng ý tưởng này ngầm đặt các CEO vào tình huống rủi ro: tài sản của họ sẽ tăng hoặc giảm cùng với tài sản của công ty Khi xem xét chính sách trả lương của các công ty, bạn nên xem xem các CEO có lợi ích đến đâu khi làm lợi
Trang 12cho nhà đầu tư Chúng ta hãy cùng xem cách các hình thức trả lương khác nhau tạo ra rủi ro cho các CEO nếu họ không đạt được thành tích tốt.
Hiệu quả công việc có thể được đo lường bằng nhiều yếu tố, như lợi nhuận hay tăng trưởng doanh thu, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần, hoặc tăng giá cổ phiếu Tuy nhiên, dùng những cách đơn giản
để xác định mức thù lao trả cho thành tích có thể sai lầm Các số liệu tài chính và mức tăng giá cổ phiếu hàng năm không phải lúc nào cũng đo lường được hiệu quả công việc của một nhà điều hành Các CEO có thể bị phạt một cách không công bằng vì những sự kiện ít khi xảy ra cũng như những lựa chọn khó khăn làm giảm thành tích hoặc tạo ra phản ứng tiêu cực từ thị trường Hội đồng quản trị có trách nhiệm đặt ra một bộ đo lường để đánh giá mức độ hiệu quả của giám đốc điều hành
Tóm lại, đánh giá mức thù lao của CEO cũng cần một chút cân nhắc Việc diễn giải các con
số không đơn giản chút nào Dẫu sao, thì các nhà đầu tư cũng cần có ý niệm về cách mà chế độ thù lao tạo ra hoặc làm mất đi động lực để các nhà điều hành cấp cao làm việc vì lợi ích của cổ đông
Trang 13Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện Sau đại học
Học thuyết kế toán
Đề bài: Đề số 01
Câu 1: Phân tích cơ sở của khái niệm lợi nhuận nắm giữ theo mô hình giá hiện hành Việc ghi nhận
lợi nhuận nắm giữ ảnh hưởng thế nào tới báo cáo tài chính và mô hình ra quyết định
Trả lời:
a Phân tích cơ sở của khái niệm lợi nhuận nắm giữa theo mô hình giá hiện hành
Theo mô hình giá hiện hành, “Lợi nhuận nắm giữ” (Hoặc “lãi lỗ do nắm giữ”) hay “khoản tiếtkiệm chi phí có thể thực hiện” được hiểu là phần tăng lên của giá hiện hành của tài sản được doanhnghiệp nắm giữ trong kỳ hiện hành1
Hãy đi từ ví dụ đơn giản nhất về tài chính của một người cụ thể Giả sử ngày đầu tháng bạn cótrong tay 3 chiếc iphone X được mua với giá 30 triệu đồng/chiếc và không có ý định dùng mà chỉ giữvới mục đích để bán nó Với kỳ kế toán của bạn là 1 tháng và bạn luôn muốn chắc chắn rằng mình sẽduy trì 3 chiếc iphone X trong tay Đến cuối tháng, giá trị của 1 chiếc iphone X tăng lên 35 triệu đồng/chiếc Ở ngày cuối tháng, nhờ khả năng tiếp thị sản phẩm tốt và uy tín của bản thân, bạn bán được 1chiếc iphone X với giá 41 triệu đồng 2 chiếc còn lại bạn vẫn chưa bán Như vậy, tới cuối tháng, hãy
cùng tính toán lại những gì bạn đang có: (i) 2 chiếc iphone X bạn đang còn đó với giá khi mua là 30
triệu đồng/chiếc Giờ giá thị trường là 35 triệu đồng/chiếc, vậy là nếu chốt ở cuối tháng, 2 chiếc
iphone X này đã tăng giá trị lên 5 triệu đồng mỗi chiếc cho bạn; (ii) Bạn luôn muốn chắc chắn rằng
1 Tham khảo tại cuốn “Những vấn đề cơ bản của Lý thuyết kế toán” – tác giả Vũ Hữu Đức
Trang 14bạn sẽ có sẵn sàng trong tay 3 chiếc iphone X nên bạn chắc chắn sẽ mua 1 chiếc khác thay cho chiếc
đã bán để đảm bảo có 3 chiếc trong tay, vậy nên bạn xác định rằng với 41 triệu bán được, lợi nhuậnkinh doanh của bạn ở thời điểm cuối tháng được để ra, cất riêng ra là 6 triệu (40 triệu – 35 triệu để
mua iphone X khác); (iii) Khi bạn mua bổ sung chiếc iphone X mới với giá 35 triệu để đảm bảo rằng
bạn luôn sở hữu 3 chiếc iphone, lúc này, so với đầu tháng chiếc iphone X này giá trị hơn 5 triệu Haynói cách khác việc bạn giữ chiếc iphone từ đầu tháng đến cuối tháng, ngay liền trước khi bán chiếciphone X đó, thì nó đã mang lại cho bạn khoản lợi nhuận là 5 triệu (35 triệu giá iphone X mới – 30triệu giá iphone X cũ)
Qua ví dụ ở trên, có thể thấy, bằng việc sử dụng giá tại thời điểm hiện hành (cuối tháng) giúpchúng ta xác định được giá trị hiện hành của tài sản hiện có cũng như lợi nhuận phát sinh trong kỳ từcác tài sản này Về cơ bản, xét ở trường hợp đơn giản, việc này mang đến đánh giá phù hợp về tài sản,lợi nhuận thu được ở thời điểm cuối tháng với điều kiện như đề ra ban đầu
Bây giờ, hãy cùng phân tích lại ví dụ trên tương ứng với các vấn đề mà mô hình giá hiện hành đưara:
1 Bán hay nắm giữ
Ở ví dụ trên, chúng ta đều thấy rằng vấn đề quyết định bán hay nắm giữ chiếc iphone X của bạn
sẽ quyết định lợi nhuận/mức tăng về giá trị quy đổi có thể thực hiện được của tài sản bạn nắm giữ.Trong doanh nghiệp cũng vậy, người quản lý thường sẽ phải lựa chọn việc quyết định bán đi hay nắmgiữ (đối với tài sản), thanh toán hay tiếp tục duy trì công nợ Ngoài ra, nhà quản lý cũng phải đưa racác quyết định hoạt động liên quan đến việc sử dụng nguồn lực và tài trợ cho doanh nghiệp
Trong mô hình giá hiện hành, để đánh giá các quyết định của nhà quản lý nêu trên, Edward et al
đề xuất một khái niệm lợi nhuận gọi là “lợi nhuận kinh doanh”, bao gồm: (i) Lợi nhuận hoạt động
kinh doanh hiện hành (current cost profit) là phần chênh lệch giữa giá bán của đầu ra và giá hiện hành
của đầu vào liên quan (thay vì theo giá quá khứ trong hệ thống giá gốc); và (ii) Lãi lỗ (hay lợi nhuận)
do nắm giữ hoặc khoản tiết kiệm chi phí có thể thực hiện (realisable cost savings) là phần tăng lên củagiá hiện hành của tài sản được doanh nghiệp nắm giữa trong kỳ hiện hành Như vậy, nó bao gồm cảphần thay đổi giá đã thực hiện và chưa thực hiện
Với lý thuyết trên đây, ta thấy phần Lợi nhuận hoạt động kinh doanh hiện hành được xác định “là phần chênh lệch giữa giá bán của đầu ra và giá hiện hành của đầu vào liên quan (thay vì theo giá quá khứ trong hệ thống giá gốc)” Phần này chính là 6 triệu đồng mà bạn xác định ở ví dụ ban đầu, phần
chênh lệch giữa giá bán 41 triệu và giá ở thời điểm cuối tháng là 35 triệu do bạn xác định bạn sẽ luôn
Trang 15muốn phải nắm giữ 3 chiếc iphone X Việc xác định này chính là do Quan điểm bảo toàn vốn hiện vật 2
hay Khái niệm bảo toàn năng lực vật chất của vốn (phisycal capital maintenance) 3 sẽ được đề cập ởphần sau đây
Trong khi đó, phần lợi nhuận nắm giữ đã thực hiện chính là giá trị 5 triệu ở ý (iii) phần ví dụ dochênh lệch giá hiện hành và giá gốc của chiếc iphone X đã bán Còn phần lợi nhuận nắm giữ chưathực hiện là giá trị 10 triệu ở ý (i) do việc giữ lại 2 chiếc iphone X có giá gốc 30 triệu, nay trên thịtrường giao dịch với giá 35 triệu đồng
2 Khái niệm bảo toàn năng lực vật chất của vốn (phisycal capital maintenance)
Khác với khái niệm bảo toàn vốn về mặt tài chính được đề cập ở kế toán mức giá chung, bảo toànvốn về mặt năng lực vật chất yêu cầu vốn phải được bảo toàn dưới góc độ tái tạo nguồn lực cho việctiếp tục kinh doanh4
Hãy cùng xem lại ví dụ ở trên với 1 cá nhân sở hữu 3 chiếc iphone X và luôn muốn duy trì lúc nàocũng sẵn sàng 3 chiếc iphone X để thấy rõ hơn điều này Rõ ràng, nếu xét theo phương pháp giá gốc,khi bạn bán được 1 chiếc iphone X với giá 41 triệu đồng, so với giá mua ban đầu là 30 triệu đồng, bạnđang có lãi 11 triệu đồng Nhưng lúc này, trên thị trường, giá để mua 1 chiếc iphone X không còn là
30 triệu đồng nữa mà đã là 35 triệu đồng Do vậy, xét trên quan điểm bảo toàn vốn theo năng lực sản xuất hay bảo toàn năng lực vật chất của vốn thì lợi nhuận mà bạn thu được từ hoạt động kinh doanh
(bán 1 chiếc iphone X) chỉ là 6 triệu (41 triệu đồng giá bán – 35 triệu đồng giá ở cuối tháng của chiếciphone X, hay chính là chi phí để bạn bảo toàn rằng bạn duy trì có sẵn 3 chiếc iphone X)
Đó là góc độ của 1 cá nhân, còn với doanh nghiệp thì sao? Việc bảo toàn vốn theo năng lực sảnxuất này có ý nghĩa như thế nào? Hãy phân tích ví dụ sau để thấy được sự cần thiết của việc xem xétquan điểm bảo toàn vốn này: Giả sử một Công ty có vốn đầu tư ban đầu là 5.000 USD Công ty này bỏtoàn bộ số tiền này ra để mua 50 đơn vị hàng hóa Cuối kỳ, công ty này bán được 40 đơn vị hàng hóavới giá 120 USD/đơn vị Cũng ở cuối kỳ, giá loại hàng hóa này trên thị trường là 110 USD/đơn vị.Với giả định không có chi phí nào khác ngoài giá vốn hàng bán Chúng ta sẽ xác định lợi nhuận củacông ty theo phương pháp giá gốc và giá hiện hành qua bảng sau:
Đơn giá hiện hành mua bán trên thị trường (USD/đơn vị) 110
2 Bài viết Mô hình giá hiện hành trong kế toán: Nhìn từ góc độ kinh tế học của ThS Nguyễn Tuấn Duy – Công ty Thẩm định giá và Đại lý thuế Việt Nam đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 7/2016
3, 4 Tham khảo cách dịch tại cuốn Những vấn đề cơ bản của Lý thuyết Kế toán – tác giả Vũ Hữu Đức
Trang 16Doanh thu (USD) 4.800 4.800
Bây giờ, hãy tiếp tục xem xét vấn đề tài chính của Công ty này khi ra quyết định phân phối lợi nhuận.Giả sử, Công ty sẽ thực hiện phân phối hết số lợi nhuận có được từ hoạt động kinh doanh Theophương pháp giá gốc, Công ty sẽ tiến hành chia cổ tức toàn bộ 800 USD thu được Lúc này, về mặt tàichính, giá trị công ty sẽ được xác định như sau:
Chia cổ tức = lợi nhuận hoạt động kinh doanh (USD) 800
Hàng tồn kho còn lại (=10 đơn vị hàng hóa x 100 USD/đơn vị) (USD) 1.000
Tuy vậy, khi xem xét dưới góc độ bảo toàn vốn theo năng lực vật chất: Ở thời điểm cuối kỳ, với
số tiền 4.000 USD, Công ty sẽ không thể mua được 40 đơn vị hàng hóa như đã bán đi bởi lúc này giáhiện hành trên thị trường của hàng hóa đã là 110 USD/đơn vị Tức là với 4.000 USD thì Công ty chỉ
có thể mua được 4.000/110 ≈ 36 đơn vị Hay nói cách khác, Công ty đang bị mất vốn nếu xét theo góc
độ bảo toàn vốn theo năng lực vật chất Theo quan điểm bảo toàn năng lực vật chất của vốn này, đểđảm bảo mua lại hàng hóa với số lượng như đầu kỳ, Công ty A sẽ chỉ chia cổ tức theo lợi nhuận hoạtđộng kinh doanh tính theo phương pháp giá hiện hành là 400 USD mà không tính đến lợi nhuận donắm giữ (cả đã thực hiện và chưa thực hiện)
3 Giả định đơn vị hoạt động liên tục
Như đã phân tích ở các ví dụ ở trên, để áp dụng phương pháp giá hiện hành, một giả định phảiđược duy trì xuyên suốt đó là giả định đơn vị hoạt động liên tục Trường hợp của cá nhân là việc cánhân này sẽ tiếp tục duy trì nắm giữ 3 chiếc iphone X để bán hay với doanh nghiệp thì là doanh nghiệpnày sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai và với mục tiêu duy trì lượng hàng hóa để tiếp tục hoạt động.Nếu bỏ giả định này, các phân tích xác định lãi lỗ sẽ không còn ý nghĩa nữa
Tóm lại, ở mô hình giá hiện hành, với giả định đơn vị hoạt động liên tục, cơ sở để hình thành nên
khái niệm lợi nhuận nắm giữ là: (i) Sự biến động về giá hiện hành của tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ; và (ii) Khái niệm bảo toàn năng lực vật chất của vốn
b Việc ghi nhận lợi nhuận nắm giữ ảnh hưởng thế nào tới báo cáo tài chính và mô hình ra quyết định
Trang 17Với Báo cáo tài chính: Một số nội dung có thể dễ dàng nhận thấy sẽ ảnh hưởng tới việc trình bàybáo cáo tài chính như chỉ tiêu lợi nhuận sẽ có sự khác biệt khi giờ đây, lợi nhuận kinh doanh sẽ baogồm (i) Lợi nhuận kinh doanh hiện hành và (ii) Lợi nhuận do nắm giữ (đã thực hiện và chưa thựchiện) Việc phân tách rõ ràng lợi nhuận kinh doanh theo hướng này sẽ đi vào bản chất của khoản lợinhuận tạo ra là do quá trình kinh doanh trong kỳ hay do biến động tăng/giảm của giá hiện hành của tàisản được nắm giữ Theo đó, nếu ở thời điểm lập báo cáo, giá hiện hành của tài sản tăng lên đồng nghĩavới việc lợi nhuận nắm giữ của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên làm cho lợi nhuận kinh doanh tính theophương pháp giá hiện hành sẽ cao hơn so với phương pháp giá gốc và ngược lại Do đó, nếu không có
sự nhanh nhạy với biến động thị trường, doanh nghiệp hoàn toàn có thể phải chịu lỗ do việc nắm giữtài sản nếu giá hiện hành giảm so với giá gốc ban đầu Một người quản lý tốt, nắm bắt được biến độngthị trường sẽ tạo ra tổng lợi nhuận kinh doanh gồm cả lợi nhuận kinh doanh hiện hành và lợi nhuận donắm giữ tối ưu nhất Điều này khác biệt tương đối lớn với việc chỉ đơn thuần nhìn vào chênh lệchdoanh thu – giá vốn ban đầu của mô hình giá gốc Do vậy, khi nhìn vào các chỉ tiêu này, cùng với cácthông tin về biến động giá, người sử dụng báo cáo tài chính cũng có thể có cái nhìn tổng quan và phùhợp hơn đối với việc ra quyết định của người quản lý doanh nghiệp để từ đó quyết định đầu tư/quyếtđịnh tài chính phù hợp
Với mô hình ra quyết định: Nhà quản lý thường phải đứng trước hai loại quyết định : (i) quyếtđịnh nắm giữ liên quan đến việc giữ hay bán đi (đối với tài sản)/thanh toán (đối với nợ phải trả) và (ii)quyết định hoạt động liên quan đến việc sử dụng nguồn lực và tài trợ cho doanh nghiệp4
Mô hình giá hiện hành sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định có nắm giữ hay không của doanhnghiệp Nhà quản lý sẽ phải căn cứ vào biến động của thị trường cũng như dự báo trong tương lai đểđưa ra quyết định phù hợp nhất nhằm tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp cả đối với tài sản và công
nợ Trường hợp giá có biến động tăng và xu hướng được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong bối cảnh chi phí
sử dụng vốn không biến động đột biến, nhà quản lý sẽ có xu hướng nắm giữ tài sản cũng như tươngứng với việc chưa thanh toán ngay các khoản công nợ và chờ tới thời điểm thích hợp để đạt được lợinhuận tốt nhất Ngược lại, khi giá hiện hành tăng nhưng dự báo sẽ nhanh chóng quay đầu, nhà quản lýcũng sẽ có quyết định bán ra phù hợp để có được lợi nhuận tối ưu nhất
Trong khi đó, với việc xem xét lợi nhuận nắm giữ chưa thực hiện hay chính là dự báo về khảnăng sinh lời trong tương lai, nhà quản lý có thể dự kiến được khả năng sinh lời của hàng hóa trongtương lai để có quyết định có tiếp tục mở rộng, đầu tư hay không Tương tự, với các nhà đầu tư, ngânhàng khi tín hiệu kinh doanh trong tương lai có dấu hiệu khả quan thông qua xem xét chỉ tiêu lợi
4 Tham khảo cuốn Những vấn đề cơ bản của Lý thuyết kế toán – tác giả Vũ Hữu Đức
Trang 18nhuận nắm giữ chưa thực hiện và diễn biến, dự báo của thị trường, việc quyết định tiếp tục đầu tư,tăng cấp tín dụng sẽ được đưa ra cho doanh nghiệp.
Bên cạnh những vấn đề cốt yếu nêu trên liên quan tới việc ra quyết định của nhà quản lý haycác nhà đầu tư & các ngân hàng thì vấn đề trong cách thức xem xét, nhận định để ra quyết định củacác đối tượng này cũng sẽ có sự thay đổi Theo mô hình giá hiện hành, lợi nhuận nắm giữ được xácđịnh với tất cả các tài sản của doanh nghiệp, cả với tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Với tài sản dàihạn, việc xác định lợi nhuận nắm giữ có thể không phù hợp và nếu trong quá trình xem xét, ra quyếtđịnh, không có sự xem xét đối với lợi nhuận nắm giữa chưa thực hiện của tài sản dài hạn do biến độnggiá thì có thể dẫn tới quyết định sai lầm Lý do bởi các tài sản dài hạn như tài sản cố định của doanhnghiệp được đầu tư với mục đích sử dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, không nhằm mục đích để bán.Hơn nữa, do là các tài sản dài hạn, nên có thể một số trường hợp sẽ không có giá hiện hành trên thịtrường để tham chiếu Cùng với đó, giá trị hợp lý của các tài sản dài hạn đã qua sử dụng sẽ là kết quảtính toán của các ước tính kế toán Do vậy, trong quá trình xem xét, đánh giá lợi nhuận nắm giữ củadoanh nghiệp theo mô hình giá hiện hành cần hết sức lưu ý đối với các tài sản dài hạn này Thậm chí,ngay cả với trường hợp các tài sản không phải là tài sản dài hạn thì việc xác định giá hiện hành cũng
sẽ đòi hỏi sự đánh giá khách quan, từ thị trường tham chiếu dùng để xác định giá cho tới các cơ sở ướctính suy giảm giá trị… Tóm lại, lúc này, ngoài việc xem xét thông thường trong quá trình ra quyếtđịnh, người sử dụng thông tin sẽ cần xem xét một cách cụ thể việc xác định giá trị của lợi nhuận nắmgiữ trước khi đưa ra quyết định dựa trên thông tin đó
Câu 2: Vận dụng lí thuyết thông tin bất cân xứng để phân tích các vấn đề về chính sách bảo hiểm xã
hội của Việt Nam hiện nay?
Trả lời
Trước khi đi vào phân tích các vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là “BHXH”)của Việt Nam hiện nay, hãy cùng tìm hiểu thế nào là thông tin bất cân xứng Chúng ta đều biết rằng,một trong các yếu tố để tạo nên một thị trường cạnh tranh hoàn hảo đó là tính hoàn hảo của thông tin.Thông tin hoàn hảo là việc những người tham gia thị trường, bao gồm cả người bán và người mua, cóđầy đủ thông tin về điều kiện thị trường5 Do vậy, khi thông tin không hoàn hảo, mà phần lớn trongcác trường hợp xảy ra trong thực tế xuất phát từ việc bất cân xứng thông tin, sẽ dẫn đến thị trườngkhông còn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo nữa Khi đó, các vấn đề không thuận lợi với ngành hàngnói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ xuất hiện, thậm chí có thể dẫn tới sự đình trệ, sụp đổ Khái niệmthông tin bất cân xứng được dùng để đề cấp đến các tình huống mà trong đó, một số thành phần tham
5 Tham khảo “Economics principles v.1.1” – Libby Rittenberg, Tim Tregarthen
Trang 19gia trong giao dịch sở hữu thông tin trong khi các thành phần khác cùng tham gia lại không có thôngtin6 Cũng có quan điểm cho rằng bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch
cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trảgiá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa7 Như vậy, dù trong định nghĩa và cách hiểu nào thì thông tin bất cân xứng đều mô tả tình huống mà trong đó những người tham gia tương tác nắm giữ các thông tin
khác nhau về giá trị, chất lượng của tài sản, dịch vụ đang được giao dịch trên thị trường
Lý thuyết thông tin bất cân xứng đã được nghiên cứu từ khá lâu mà trọng tâm về vấn đề thông tinbất cân xứng trong kinh tế đã được George Akerlof chỉ ra trong bài viết năm 1970 với tựa đề “TheMarket Lemons” Với cụm từ “quả chanh” (lemon) để chỉ những chiếc xe hơi đã qua sử dụng Akerlof
đã bắt đầu lưu ý rằng người sở hữu chiếc xe hơi hiểu rõ hơn bất kỳ người mua nào khác về chiếc xecủa mình Và theo đó, thị trường xe hơi đã qua sử dụng không thể tránh khỏi sự mất cân xứng vềthông tin8 Ông đặt ra câu hỏi điều gì sẽ xảy ra với thị trường xe hơi đã qua sử dụng nếu người muakhông thể phân biệt được đâu là chiếc xe còn tốt Giả sử người mua sẵn sàng trả 1.000 USD cho mộtchiếc xe tốt (mà Akerlof gọi là quả đào) và 500 USD cho một chiếc xe hay gặp trục trặc (quả chanh).Nếu xe cũ và xe mới khác nhau một trời một vực như chanh và đào, đó là trạng thái thị trường minhbạch và không ai chịu thiệt Nhưng nếu không thể phân biệt đâu là chanh đâu là đào, người mua sẽhành động khác Họ trả 750 USD cho một chiếc xe mà họ không biết là chanh hay đào Vấn đề nằm ởchỗ người bán biết chắc chắn chiếc xe đó là gì, và sẽ từ chối không bán với giá 750 USD Người muathông minh sẽ suy diễn ngược lại: nếu người bán chấp nhận mức giá 750 USD thì chiếc xe đó chắcchắn chỉ là chanh, do đó lại giảm giá xuống còn 500 USD Cuối cùng chiếc xe cũng được bán với mứcgiá đúng thực tế, nhưng tình trạng bất cân xứng thông tin khiến chẳng có quả đào nào được bán ra.Đây là tình trạng lựa chọn bất lợi (adverse selection)9
Đó là khái niệm về thông tin bất đối xứng và ví dụ của Akerlof với thị trường xe hơi đã qua sửdụng Còn trong lĩnh vực BHXH của Việt Nam, việc bất cân xứng thông tin có xảy ra hay không?Trước tiên, hãy cùng xác định các đối tượng tham gia vào lĩnh vực này ở Việt Nam Để tập trung phântích, xin chỉ đi vào các đối tượng tham gia và có quyền lợi, nghĩa vụ trực tiếp nhất: (i) Cơ quan BHXH
và (ii) Người đóng BHXH – mà chủ yếu là người lao động
(i) Với cơ quan BHXH
6 Bài phân tích Asymmetric Information của Quy – Toan Do – The World Bank, đăng tải trên trang thông tin của worldbank.
7 Bài viết Lý thuyết bất cân xứng thông tin – thực trạng trên thị trường chứng khoán Việt Nam của tác giả Dương Ngân
Hà đăng tại Tạp chí Chứng khoán và trang web của Ủy ban chứng khoán Nhà nước
8 Theo A Nobel Prize for Asymmetric Information: The economic contributions of George Akerlof, Michael Spence, and Joseph Stiglitz – J Barkley Rosser, Jr James Madison University
9 Thông tin bất cân xứng: Đâu là chanh, đâu là đào? – Thu Hương – Cafef
Trang 201 Không có đầy đủ thông tin để xác định một cách đầy đủ các đối tượng tham gia BHXH cũng như đối tượng được bảo hiểm: Theo quy định hiện nay thì đối tượng tham gia đóng BHXH bao gồm
người lao động và người sử dụng lao động với tỷ lệ đóng BHXH lần lượt là 8% và 17,5% tiền lươngđóng bảo hiểm (Chỉ tính BHXH, chưa tính BHYT, BHTN)10 Còn đối tượng được bảo hiểm là thunhập của người lao động bị mất, giảm trong trường hợp có xảy ra các rủi ro trong quá trình lao độngnhư ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ hưu,… Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, BHXH ViệtNam thiếu thông tin đối với cả 2 nội dung này
Mặc dù đã có quy định rất cụ thể tại luật BHXH số 58/2014/QH13, nghị định 115/2015/NĐ-CP vàcác thông tư, quyết định hướng dẫn về đối tượng thuộc diện tham gia đóng BHXH cũng như đối tượngđược bảo hiểm (lương, thu nhập của người lao động), tuy nhiên, do thiếu hụt thông tin dẫn tới việc cơquan BHXH Việt Nam hiện nay vẫn chưa thể kiểm soát được cả về đối tượng tham gia cũng như đốitượng được bảo hiểm Điều này dẫn tới không ít trường hợp trong thực tế, nhiều doanh nghiệp nétránh, không tham gia đóng BHXH hoặc tham gia nhưng không đầy đủ cho tổng số lao động hiện cócủa doanh nghiệp thuộc đối tượng phải tham gia BHXH Hoặc có những trường hợp tham gia BHXHnhưng lại tham gia với mức lương làm căn cứ đóng BHXH (chính là đối tượng được bảo hiểm) thấphơn lương,thu nhập thực trả cho người lao động
Từ 1/1/2016, Chính phủ đã có sự điều chỉnh trong Luật BHXH cũng như các nghị định, thông tưhướng dẫn theo hướng quy định mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm sẽ bao gồm lương và cáckhoản phụ cấp lương theo quy định về lao động ghi trong hợp đồng lao động và từ 1/1/2018 là mứclương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật ghi trong hợp đồng laođộng Điều này nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp cố tình né tránh việc phải đóng BHXH bằngcách ghi giảm mức lương trên hợp đồng và tăng các khoản bổ sung, phụ cấp Mặc dù vậy, các quyđịnh hiện nay vẫn chưa thực sự triệt để Các doanh nghiệp vẫn tìm cách hạn chế tối đa mức tiền lươngđóng BHXH bằng cách chuyển các khoản thu nhập của người lao động thành các khoản bổ sung khácnhư tiền thưởng, các khoản trợ cấp không liên quan đến công việc, chức danh trong hợp đồng, haythậm chí là tăng thuê lao động thời vụ,…
2 Thiếu cơ sở dữ liệu quản lý tập trung: cơ quan BHXH Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế
trong việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm quản lý một cách tập trung dữ liệu của người tham giabảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm Việc thiếu cơ sở dữ liệu này không chỉ ảnh hưởng tới bản thân cơquan BHXH mà ảnh hưởng trực tiếp cả tới người lao động, người sử dụng lao động trong việc đốichiếu, kiểm tra Hiện nay, mới chỉ có một số đơn vị BHXH của một số tỉnh, thành phố lớn triển khai
10 QĐ 595QĐ-BHXH ngày 14/04/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trang 21việc khai báo dữ liệu tập trung và cho phép truy xuất thông tin Tuy nhiên, thông tin truy xuất còn rấthạn chế Trong khi việc quản lý lao động nói riêng cũng như quản lý dân cư ở Việt Nam nói chungcòn rất sơ khai, chủ yếu thực hiện thủ công thì với việc lao động thường xuyên thay đổi, biến động,việc kiểm soát thông tin đóng, hưởng bảo hiểm là rất khó khăn Thực tế đã có không ít trường hợp dựavào sự quản lý thiếu tập trung này để trục lợi cá nhân.
3 Không liên kết, trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước khác: Như đã đề cập ở
trên, cơ quan BHXH Việt Nam hiện nay chưa có dữ liệu, thông tin để kiểm soát được cả đối tượngtham gia bảo hiêm xã hội lẫn đối tượng được bảo hiểm Việc này một phần xuất phát từ sự rời rạc,thiếu liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước như giữa BHXH với cơ quan công an để liên kếtthông tin về người dân, người lao động, giữa BHXH với cơ quan thuế để kiểm soát thông tin liên quantới thuế TNCN, tới đối tượng được bảo hiểm là lương, thu nhập của người lao động,… Điều này cũngmột phần xuất phát từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Việt Nam còn hạn chế, thiếu đồng bộ vàkhông đầy đủ Ở các nước tiên tiến, với 1 mã số định danh cá nhân, các cơ quan quản lý nhà nước cóthể truy xuất được các thông tin liên quan tới cư dân của mình thì ở Việt Nam, việc này hầu như vẫnthực hiện thủ công thông qua việc xác nhận bằng giấy tờ
(ii) Người lao động
1 Thông tin, hiểu biết về BHXH của người lao động là vô cùng hạn chế: Ngoại trừ một bộ phận
nhỏ những người lao động được đào tạo bài bản thì đa phần lao động của Việt Nam là lao động thủcông, ít được đào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức liên quan tới BHXH Điều này dẫn tới việc người laođộng – đối tượng tham gia bảo hiểm thiếu hụt, thậm chí là không biết tới những thông tin về bản chất,mục đích của BHXH, về quyền lợi, nghĩa vụ, điều kiện, hồ sơ, thủ tục,… Hậu quả là người lao độngkhông nhận thức được ý nghĩa, sự quan trọng của BHXH và quyết định tham gia hay không tham gia,với họ, không còn quan trọng Điều này cũng dẫn tới việc đấu tranh để đảm bảo quyền lợi BHXH củangười lao động không nhiều khiến cho người sử dụng lao động càng có cơ hội để thỏa thuận, điềuchỉnh thông tin đóng BHXH theo hướng có lợi cho người sử dụng lao động Thậm chí, nhiều trườnghợp trốn đóng BHXH, sợ đóng BHXH làm giảm thu nhập Những điều này đều ảnh hưởng không tíchcực tới ý nghĩa và mục tiêu của BHXH
2 Người lao động thiếu công cụ để tra cứu, quản lý thông tin: Như đã đề cập ở trên về việc
thiếu cơ sở dữ liệu tập trung của BHXH Việt Nam hiện nay khiến cho việc truy xuất, kiểm tra dữ liệuliên quan tới quá trình tham gia BHXH của người lao động gặp phải nhiều hạn chế Khi việc tra cứuthông tin không thuận tiện, phải trải qua nhiều thủ tục hành chính rườm rà sẽ khiến cho người tham giabảo hiểm mất niềm tin vào việc đóng BHXH
Trang 22Ngoài các thông tin trực tiếp liên quan mỗi người lao động, thời gian gần đây, những thông tin vềviệc mất cân đối thu chi BHXH, về nguy cơ vỡ quỹ,… càng khiến cho người lao động thiếu hụt niềmtin Điều này một lần nữa xuất phát từ sự thiếu minh bạch thông tin quỹ BHXH, thông tin về tình hìnhthu chi quỹ tổng quan Trong khi hiện tượng tham nhũng, gian lận mang tính đạo đức của bộ phậnkhông nhỏ công chức thời gian qua cũng khiến người lao động cân nhắc trong quyết định tham giaBHXH.
3 Sự thiếu ổn định trong chính sách và việc triển khai công bố, tuyên truyền thông tin chậm:
Những năm gần đây, chính sách liên quan tới BHXH liên tục có sự thay đổi Từ việc điều chỉnh các tỷ
lệ đóng bảo hiểm, điều chỉnh mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm tới các đề xuất thay đổi cáchtính lương hưu,… khiến cho bộ phận không nhỏ người lao động không “bắt kịp” thông tin và cảmthấy thiếu yên tâm với việc tham gia BHXH Những thay đổi này khiến ngay cả những người thựchiện công tác tính toán tại các doanh nghiệp cũng gặp phải không ít khó khăn Trong khi đó, các thôngtin tuyên truyền, phổ biến về BHXH còn rất hạn chế, đặc biệt là với các đối tượng lao động phổ thông,lao động thủ công
Hậu quả của việc thông tin bất cân xứng trong thị trường BHXH, xuất phát từ những vấn đề
nêu trên, đó là:
(i) Sự lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi (Adverse selection – AS): Đặc thù của bảo hiểm là
sản phẩm vô hình, chỉ có thể đánh giá được chất lượng khi xảy ra rủi ro và khi đối tượng được bảohiểm được chi trả, chia sẻ rủi ro Do vậy, có thể xuất hiện nhiều sự lựa chọn bất lợi như người laođộng không tham gia BHXH hoặc tham gia với mức tiền lương thấp do không thấy được các lợi íchlâu dài của bảo hiểm Điều này dẫn tới việc khi xảy ra rủi ro, có thể, người lao động sẽ không nhậnđược trợ cấp hoặc nhận với mức thấp hơn Ở chiều ngược lại, phía cơ quan bảo hiểm cũng sẽ chịunhững tác động của sự lựa chọn ngược khi người lao động là người chủ động thông tin về đối tượngđược bảo hiểm Trong những trường hợp những rủi ro, sự kiện có thể dự đoán trước được, người laođộng có thể có xu hướng hợp thức hóa hồ sơ tham gia BHXH với mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm
ở mức cao nhằm được hưởng mức bảo hiểm Bản chất của bảo hiểm là bù đắp từ những ngườikhông/chưa phát sinh rủi ro cho những người phát sinh rủi ro Việc lựa chọn không tham gia hoặctham gia với mức thấp của người lao động cùng với việc chủ động hợp thức hóa thông tin nhằmhưởng mức được bảo hiểm cao như ví dụ ở trên dẫn tới nhiều nguy cơ mất cân đối thu – chi của quỹbảo hiểm nếu cơ quan BHXH không có ứng xử phù hợp
(ii) Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại (moral hazard – MH): Về lý thuyết, BHXH là sản phẩm
không mong đợi do người tham gia bảo hiểm chỉ được hưởng trợ cấp khi xảy ra rủi ro Tuy nhiên, với
Trang 23những sự kiện không hoàn toàn mang tính rủi ro ngẫu nhiên như sinh con hoặc khi rủi ro đã xảy ra thìbên có nhiều thông tin hơn (người được hưởng lợi bảo hiểm) thường có xu hướng hợp thức hóa, tạo rabất lợi cho bên còn lại (cơ quan bảo hiểm) để trục lợi Đã có rất nhiều các trường hợp tận dụng sựthiếu hụt thông tin của cơ quan bảo hiểm nhằm trục lợi từ trợ cấp của bảo hiểm như cố tình đăng kýbảo hiểm ở nhiều nơi với mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm cao để hưởng trợ cấp cao khi sinhcon hay thông đồng với người sử dụng lao động để hưởng trợ cấp thất nghiệp,
(iii) Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành (principal – agent –PA): Khi ngưởi sử dụng lao
động bỏ qua lợi ích của người lao động để trục lợi khi vẫn trích tiền đóng BHXH của người lao độngnhưng không thực hiện nộp cho cơ quan BHXH Sự thiếu hụt thông tin để người lao động tra cứu,kiểm tra lại quá trình đóng bảo hiểm như đề cập ở phần trước khiến cho người lao động không có đầy
đủ thông tin để khiếu nại, khiếu kiện Hay trường hợp người sử dụng lao động đưa ra thỏa hiệp vớingười lao động về mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thấp hơn so với thu nhập thực tế trả chongười lao động nhằm giảm bớt chi phí của doanh nghiệp Do sự yếu thế của người lao động trong mốiquan hệ với người sử dụng lao động cùng với việc cơ quan bảo hiểm không có đầy đủ thông tin vềmức thu nhập, dẫn tới thực trạng này xảy ra khá phổ biến tại Việt Nam
Xuất phát từ thực trạng và hậu quả phân tích ở trên, để giảm thiểu ảnh hưởng do thông tin bất cân xứng mang lại, có thể áp dụng một số biện pháp:
(i) Cơ chế phát tín hiệu: Như phân tích ở trên, một trong những vấn đề chủ yếu của BHXH hiện
nay là việc đối tượng tham gia bảo hiểm – người lao động không nắm được các thông tin, ý nghĩa củaBHXH Do vậy, cơ quan BHXH cần đầy mạnh công tác thông tin, tuyền truyền các quyền lợi, ý nghĩacủa việc tham gia bảo hiểm tới những người lao động Bên cạnh đó, cơ chế minh bạch thông tin cũngnhư tạo ra cơ sở dữ liệu để người tham gia bảo hiểm có thể tra cứu, đối chiếu việc đóng, nộp bảo hiểm,các quy định bảo hiểm hiện hành cũng vô cùng cần thiết
(ii) Cơ chế sàng lọc: Các đối tượng tham gia vào thị trường bảo hiểm đều cần tăng cường thu
thập, sàng lọc thông tin liên quan để có thể ra quyết định đúng đắn Từ phía người tham gia bảo hiểm– người lao động cần có sự thu thập, tìm hiểu đầy đủ thông tin liên quan đến chính sách, chế độ, hồ sơ,điều kiện, thủ tục BHXH để có ứng xử, khiếu nại phù hợp nhằm tự bảo vệ quyền lợi của mình Trongkhi đó với cơ quan BHXH, việc thu thập thông tin liên quan đến đối tượng tham gia bảo hiểm, đốitượng được bảo hiểm từ các nguồn dữ liệu khác như cơ quan quản lý dân cư, lao động, cơ quan quản
lý thuế thu nhập cá nhân hay qua các hoạt động thanh kiểm tra, là vô cùng cần thiết để đảm bảo kiểmsoát được thông tin từ đó có ứng xử phù hợp
Trang 24(iii) Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tính ổn định của khuôn khổ pháp luật và công tác thanh kiểm tra: Bên cạnh những nỗ lực của bản thân những đối tượng trực tiếp tham gia vào thị
trường BHXH thì cần thiết có những giải pháp mang tính vĩ mô của chính phủ, các cơ quan nhà nước.Việc đầu tiên là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quốc gia về quản lý con người Việc này sẽgiúp cho việc truy xuất, quản lý dữ liệu được chính xác, rút ngắn được thời gian hành chính và giúpcho các bên tham gia có thông tin xem xét nhiều chiều hơn hiện tại Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lýcần được duy trì mang tính ổn định, tránh sự thay đổi quá đột ngột và thường xuyên để người tham giabảo hiểm có thể yên tâm với việc đóng bảo hiểm Cuối cùng là tăng cường công tác thanh kiểm tra,bao gồm cả thanh kiểm tra đối với người tham gia đóng bảo hiểm – người lao động và người sử dụnglao động và thanh kiểm tra đối với tính hình quản lý quỹ, thu chi, cơ quan bảo hiểm Từ đó minhbạch thông tin và có biện pháp xử lý với những vấn đề phát sinh một cách kịp thời, phù hợp
ĐỀ BÀI KIỂM TRA MÔN LÍ THUYẾT KẾ TOÁN
1 Phân tích cơ sở của khái niệm lợi nhuận nắm giữ theo mô hình giá hiện hành
Theo mô hình giá hiện hành đưa ra khái niệm lợi nhuận nắm giữ bao gồm hai bộ phận cấu thànhchủ yếu: Lợi nhuận hoạt động hiện hành và các khoản tiết kiệm chi phí đã thực hiện trong đó:
- Lợi nhuận hoạt động hiện hành: được xác định bằng chênh lệch giữa giá hiện hành của hànghóa, dịch vụ đầu ra trừ đi giá hiện hành của các yếu tố đầu vào tương ứng
- Các khoản tiết kiệm chi phí đã thực hiện: là các khoản gia tăng giá hiện hành của tài sản khidoanh nghiệp nắm giữ các tài sản này trong kỳ hiện tại bao gồm cả phần thực hiện và phần chưa thựchiện
Mô hình giá hiện hành nhằm mục đích duy trì vốn của một doanh nghiệp kinh doanh về khả nănghoạt động.Mô hình giá hiện hành chủ yếu đề cập đến việc điều chỉnh và ghi nhận biến động giá hiệnhành của tài sản Nội dung của mô hình giá hiện hành bao gồm:
- Xác định giá trị ban đầu của Tài sản: Theo mô hình giá hiện hành, các tài sản được ghi nhậnban đầu theo giá gốc
Trang 25- Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu của tài sản: Sau ghi nhận ban đầu, tài sản của đơn vịđược đánh giá theo giá hiện hành (current cost) Giá hiện hành (còn được gọi là giá thay thế/replacement costs) là số tiền, các khoản tương tương tiền mà đơn vị phải chi ra để mua sắm, để đầu
tư hoặc sản xuất các tài sản tương tự như những tài sản doanh nghiệp hiện đang nắm giữ…
- Ghi nhận biến động giá hiện hành: Giá hiện hành của tài sản/nợ phải trả được xác định mỗikhi lập báo cáo kế toán nói chung và báo cáo tài chính nói riêng Biến động của giá hiện hành đượcghi nhận vào lợi nhuận kinh doanh như một yếu tố được trình bày một cách riêng biệt trên báo cáotài chính
2 Ảnh hưởng của việc ghi nhận lợi nhuận nắm giữ tới báo cáo tài chính và mô hình ra quyếtđịnh
Việc ghi nhận lợi nhuận nắm giữ theo mô hình giá hiện hành có ảnh hưởng tới báo cáo tàichính và mô hình ra quyết định
- Lợi nhuận hoạt động hiện hành: là lợi nhuận thực tế từ hoạt động có thể giúp doanh nghiệptiếp tục duy trì khả năng hoạt động Tuy nhiên tài sản hoạt động ròng được sử dụng để chỉ khả nănghoạt động của một công ty có thể được tài trợ bởi các khoản vay Do đó, ảnh hưởng của các khoảnvay được xem xét trong khi xác định lợi nhuận có thể phân phối cho các cổ đông Việc ghi nhận lợinhuận theo giá hiện hành của doanh thu và chi phí sẽ giúp cho doanh nghiệp có những thong tin hữuích hơn so với các tài khoản có sẵn trong quá khứ để hướng dẫn quản lí doanh nghiệp, các cổ đông
và những người khác về những vấn đề như khả năng tài chính của doanh nghiệp, lợi tức đầu tư…
- Các khoản tiết kiệm chi phí đã thực hiện: bao gồm điều chỉnh khấu hao, chi phí điều chỉnhdoanh thu và điều chỉnh vốn lưu động tiền tệ
Thứ nhất, Điều chỉnh khấu hao tài sản: Điều này phản ánh sự khác biệt giữa khấu hao tính trên
chi phí hiện tại của TSCĐ và khấu hao tính trên thu nhập trước thuế Khoản khấu hao trong thờigian chờ đợi phát sinh từ việc gia tăng chi phí hiện tại có thể tính vào khoản dự phòng chung Điềunày sẽ đảm bảo rằng doanh nghiệp duy trì vốn hoạt động của mình
Thứ hai, chi phí điều chỉnh doanh thu: là phần chênh lệch giữa giá vốn hàng tồn kho hiện tại tại
ngày bán và số tiền là chi phí bán hàng để tính lợi nhuận trước thuế Về mặt lý thuyết, chi phí bánhàng hiện tại cần được xác định trên cơ sở từng mặt hàng Thặng dư đánh giá lại được chuyển sangtài khoản dự phòng hiện tại trên báo cáo tài chính
Thứ ba, Điều chỉnh vốn lưu động tiền tệ
Trang 26Như vậy, Việc ghi nhận lợi nhuận nắm giữ theo mô hình giá hiện hành có ảnh hưởng trực tiếptới báo cáo tài chính và mô hình ra quyết định Phương pháp này nhằm duy trì khả năng của doanhnghiệp trong thời kì lạm phát.
Câu 2:
Vận dụng lí thuyết thông tin bất cân xứng để phân tích các vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội của Việt Nam hiện nay
Bài làm
1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
- Khái niệm thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại
- Hậu quả của thông tin bất cân xứng: Thông tin bất cân xứng là một thất bại của thị trường vì
nó gây ra: Sự lựa chon ngược; rủi ro đạo đức ( Tâm lý ỷ lại); Vấn đề người ủy quyền- người thừa hành
+ Sự lựa chọn ngược: Đây là rủi ro do bất cân xứng thông tin gây ra trước khi nhà đầu tư tiến
hành giao dịch Lựa chọn đối nghịch được hiểu là những quyết định sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà nguyên nhân là do thông tin không cân xứng
+Rủi ro đạo đức ( Tâm lý ỷ lại): Khác với lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau
giao dịch khi một bên thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại Trên thực tế, rủi ro đạo đức xuất hiện rất nhiều và có một số đặc điểm chính như: một bên tham gia giao dịch không thể giám sát hoạt động của bên kia - bên có hành động ẩn giấu; Bên có hành động ẩn giấu dù vô tình hay cố ý sẽ làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu
+ Vấn đề người ủy quyền- người thừa hành
2. Vận dụng lí thuyết thông tin bất cân xứng để phân tích các vấn đề về chính sách bảo hiểm xã
hội của Việt Nam hiện nay
2.1 Bất đối xứng thông tin trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Một là, cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) thiếu thông tin về đối tượng tham gia BHXH.
Chưa xác định thông tin chính xác về đối tượng thuộc diện tham gia BHXH và đối tượng củaBHXH Đối tượng tham gia BHXH bao gồm người lao động và người sử dụng lao động Đối tượngđược bảo hiểm là thu nhập của người lao động bị giảm, mất khi xảy ra các rủi ro trong quá trình laođộng như ốm đau, sinh con, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động,chết Như vậy, lợi ích của đối tượng tham gia BHXH gắn với đối tượng của BHXH Nói cách khác,người tham gia BHXH sẽ có nhiều thông tin hơn về đối tượng bảo hiểm hơn là cơ quan BHXH
Trang 27Cơ quan BHXH thiếu thông tin về đối tượng thuộc diện tham gia và đối tượng bảo hiểm làmột trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng hiện nay DN không tham gia BHXH; thamgia không đầy đủ cho tổng số lao động hiện có của DN thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắtbuộc; hoặc tham gia với mức lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn mức lương thực trả cho ngườilao động.
Theo quy định được áp dụng trước ngày 1/1/2016, tiền lương đóng BHXH đối với người laođộng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là mức tiền lương, tiền côngghi trong hợp đồng lao động, không bao gồm các khoản phụ cấp Vì vậy, trong thực tế, các DN đãlợi dụng quy định này bằng cách hạ thấp tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, bổ sung thêm cáckhoản phụ cấp và trợ cấp; hoặc tăng các khoản phụ cấp chưa tính đóng BHXH theo quy định củaLuật BHXH 2014
- Thiếu cơ sở dữ liệu tập trung về người tham gia BHXH Ở cấp quản lý vĩ mô, cơ quanBHXH chưa có cơ sở dữ liệu tập trung toàn quốc Dữ liệu cần thiết để quản lý bao gồm quá trìnhtham gia, sổ BHXH và xét hưởng BHXH, chi trả chế độ BHXH còn phân tán ở các địa phươngtrong khi người lao động thường xuyên di chuyển, biến động Điều này dẫn đến tình trạng người laođộng trục lợi Quỹ BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau như làm nhiều sổ BHXH và đề nghịhưởng ứng ở nhiều địa phương
- Thiếu sự liên kết giữa các ban ngành liên quan để chia sẻ thông tin Xét ở phạm vi rộng hơn,thông tin bất cân xứng còn thể hiện ở sự khác biệt và không thống nhất thông tin giữa BHXH và các
cơ quan liên quan Để thực hiện thu BHXH cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức BHXH và các
cơ quan liên quan như cơ quan thuế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
cơ quan này sẽ xác định được chính xác, đầy đủ số lượng lao động thuộc diện tham gia BHXH, tạo
cơ sở để thu BHXH được hiệu quả
Hai là, người lao động thiếu thông tin về BHXH.
Người lao động thiếu thông tin về bản chất, mục tiêu của BHXH, về quyền lợi và nghĩa vụ;điều kiện tham gia; Hồ sơ, thủ tục tham gia BHXH có thể do các nguyên nhân sau:
Trang 28- Công tác tuyên truyền, phổ biến về BHXH mặc dù đã được triển khai rộng rãi song còn chưahấp dẫn và thu hút đối tượng Do đối tượng tham gia BHXH đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh
tế, nhiều ngành nghề, lĩnh vực, độ tuổi, giới tính, trình độ dân trí… khác nhau nên các hình thức phổbiến pháp luật về BHXH chưa tiếp cận tới từng người lao động
- Hiểu biết của người lao động về chính sách BHXH còn hạn chế Điều này ảnh hưởng trựctiếp đến quyết định có hay không tham gia BHXH, tham gia như thế nào của người lao động Nếukhông hiểu biết hoặc hiểu biết không đầy đủ về BHXH, người lao động thuộc diện tham gia BHXHbắt buộc sẽ tìm cách trốn đóng; người lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện sẽ quyết địnhkhông hoặc không tiếp tục tham gia BHXH
- Người lao động còn thiếu công cụ để quản lý quá trình tham gia và hưởng BHXH của mình.Theo quy định hiện hành, hàng tháng người sử dụng lao động sẽ trích tiền đóng BHXH của ngườilao động cùng với phần đóng góp của mình nộp cho cơ quan BHXH Điều này giúp quá trình quản
lý thuận tiện hơn vì điều kiện để người lao động tham gia BHXH bắt buộc là phải có quan hệ laođộng Tuy nhiên, quy định này dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị sử dụng lao động trích tiền đóngBHXH của người lao động nhưng không nộp cho cơ quan BHXH
2.2 Hậu quả của bất thông tin đối xứng trong lĩnh vực BHXH
Một là, lựa chọn bất lợi: Với sản phẩm bảo hiểm vốn có đặc tính vô hình, chất lượng sản phẩm
chỉ có thể đánh giá hoàn chỉnh khi xảy ra rủi ro và người tham gia BHXH được nhận các khoản trợcấp từ cơ quan BHXH Vì thế, những lựa chọn bất lợi của người lao động có thể là không tham giaBHXH, tham gia với mức tiền lương thấp hơn mức tiền lương thực nhận từ người sử dụng laođộng…
Các lựa chọn này khiến người lao động không được nhận trợ cấp, hoặc được nhận trợ cấp vớimức thấp tương ứng với mức đóng Lợi thế thông tin về đối tượng được bảo hiểm giúp người laođộng lựa chọn mức tiền lương, tiền công (đối với BHXH bắt buộc) và mức thu nhập (đối với BHXH
tự nguyện) giúp họ tối đa hóa lợi ích
Nếu một người có xác suất xảy ra rủi ro lớn, đặc biệt với những sự kiện bảo hiểm có thể dựđoán trước thời điểm phát sinh như sinh con, họ sẽ hợp thức hóa hồ sơ để tham gia BHXH với mứclương cao Ngược lại, họ đăng ký tham gia BHXH với mức lương thấp để tiết kiệm chi phí tronghiện tại Nếu cơ quan BHXH không kiểm soát được mức lương làm căn cứ đóng BHXH thực tế củangười lao động sẽ là nguyên nhân dẫn đến mất cân đối thu - chi
Trang 29Bên cạnh đó, BHXH tự nguyện trong trường hợp thực hiện cả các chế độ ngắn hạn như ốmđau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp còn phải đối mặt với sự lựa chọn ngược nghĩa làtình huống những người tham gia BHXH là những người có khuynh hướng rủi ro cao bởi thông tinbất đối xứng còn thể hiện qua hiểu biết của người tham gia bảo hiểm về rủi ro của mình.
Người lao động sẽ không tham gia bảo hiểm nếu nhận thấy mức độ thỏa dụng thấp khi thamgia một sản phẩm bảo hiểm nào đó, ví dụ những người khỏe mạnh có xu hướng không tham gia bảohiểm chăm sóc sức khỏe, những người đã qua độ tuổi sinh đẻ không có nhu cầu tham gia chế độ thaisản… Trong tình huống đó, số lượng người tham gia thấp làm tăng phí bảo hiểm và giảm độ baophủ của BHXH
Hai là, tâm lý ỷ lại (rủi ro đạo đức): Cụ thể, sau khi đã tham gia BHXH, bên có nhiều thông
tin hơn, tạo ra bất lợi cho bên còn lại để trục lợi là người lao động, người sử dụng lao động, bệnhviện Về lý thuyết, BHXH là sản phẩm không mong đợi, nghĩa là người tham gia bảo hiểm khôngmuốn được hưởng trợ cấp vì điều đó đồng nghĩa với rủi ro xảy ra với họ Tuy nhiên, với những sựkiện không hoàn toàn mang tính rủi ro như sinh con hoặc khi rủi ro đã xảy ra người lao động tìmcách gia tăng số tiền trợ cấp
Hình thức trục lợi BHXH đa dạng và xuất hiện ở tất cả các loại hình BHXH bao gồm BHXH,bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và ở tất cả các chế độ bao gồm chế độ ốmđau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất Với BHXH bắt buộc, đối tượng
có thể bị tai nạn ngoài giờ làm việc nhưng được hợp lý hóa là tai nạn lao động trong giờ làm việc đểhưởng chế độ; có thể đăng ký tham gia BHXH tại nhiều nơi với mức tiền lương làm căn cứ đóngBHXH cao hơn mức lương thực tế để được hưởng nhiều khoản trợ cấp khi sinh con; có thể báo ốmxin hưởng BHXH để giải quyết việc của cá nhân…
Với BHTN, người lao động tranh thủ nhảy việc để hưởng khoản bảo hiểm này hoặc chủ sửdụng lao động chứng nhận thất nghiệp để hưởng BHTN Với BHYT, lợi thế về thông tin liên quanđến đặc thù chuyên môn khiến tình trạng trục lợi dưới nhiều hình thức như lạm dụng các dịch vụ kỹthuật đắt tiền; các xét nghiệm sinh hóa được làm nhiều lần, trùng lặp nhau; lạm dụng thuốc, kê đơnthuốc một cách rộng rãi, tốn kém và bất hợp lý… trở nên phổ biến và khó kiểm soát xuất phát từ cảphía cơ sở khám chữa bệnh và người tham gia BHYT
Ba là, vấn đề người ủy thác và người đại diện: Xảy ra khi người đại diện (giám đốc công ty)
làm việc vì lợi ích của mình bất chấp lợi ích của người ủy thác BHXH quản lý đối tượng tham gia
Trang 30theo danh sách đơn vị sử dụng lao động Trong việc đóng phí BHXH, chủ sử dụng lao động chính làngười đại diện, người lao động là người ủy thác.
Trong khi đó, bên có lợi thế về thông tin hơn là người sử dụng lao động; điều này dẫn đến tìnhtrạng người sử dụng lao động hàng tháng vẫn trích tiền đóng BHXH của người lao động từ tiềnlương, tiền công của họ; nhưng không nộp cho cơ quan BHXH làm ảnh hưởng đến quyền lợi củangười lao động Người lao động vốn yếu thế hơn trong mối quan hệ lao động, lại thiếu thông tin vàkhông có đầy đủ công cụ để giám sát quá trình đóng góp của người sử dụng lao động dẫn đến người
sử dụng lao động mưu cầu lợi ích cá nhân bất chấp lợi ích của người lao động bị ảnh hưởng
2.3.Biện pháp khắc phục
Một là, cơ chế phát tín hiệu: Mặc dù, bên có lợi thế thông tin hơn là người lao động, song việc
không tham gia BHXH cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động khi gặp rủi ro
Do đó, để trang bị cho người lao động những kiến thức, hiểu biết cơ bản về BHXH, từng bước tạo ra
sự chuyển biến trong nhận thức, BHXH cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đến các đốitượng thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú: bằng các phương tiện thông tin đại chúng(tivi, báo, đài…), pano, áp phích, tờ rơi; Lồng ghép nội dung BHXH vào các buổi sinh hoạt tại thôn,
xã, các hội, đoàn thể, các DN, cơ quan Ngoài ra, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của trang thông tinđiện tử của BHXH nhằm giúp tổ chức BHXH tiếp cận với từng người lao động với chi phí thấp hơnrất nhiều so với hình thức tuyên truyền trực tiếp
Hai là, cơ chế sàng lọc: Với vai trò là người mua, đối tượng tham gia BHXH có thể tìm hiểu
thông tin về chế độ chính sách, hồ sơ thủ tục tham gia BHXH; Điều kiện, thủ tục hưởng BHXH… từkênh thông tin chính thức của BHXH hoặc các kênh thông tin độc lập khác, chẳng hạn như chuyênmục hỏi đáp của các báo, chuyên mục hộp thư bạn đọc trên truyền hình… Trong khi đó, với vai trò
là người bán, cơ quan BHXH có thể nắm bắt thông tin về người tham gia một cách chủ động thôngqua công tác thống kê, điều tra; hoạt động thanh tra, kiểm tra; hoặc phối hợp với các cơ quan liênquan như cơ quan thuế
Bên cạnh đó, thông qua việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiệnBHXH, cơ quan BHXH có thể thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung cho toàn Ngành và tạo điều kiện chongười lao động công cụ để cùng với BHXH quản lý tốt hơn việc thực hiện trách nhiệm của người sửdụng lao động
Trang 31ĐỀ BÀI KIỂM TRA
LÍ THUYẾT KẾ TOÁN
ĐỀ SỐ 02 Câu 1:
Sử dụng lí thuyết người đại diện để phân tích ảnh hưởng của kế hoạch trả lương, thưởng bằng cổ phiếucho người điều hành tới việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp
1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết người đại diện nghiên cứu mối quan hệ giữa người chủ, người ủy quyền (principal)
và người làm, người đại diện (agent) Người ủy quyền thuê hoặc cử người đại diện thực hiện công việccho người ủy quyền Nếu ưu đãi của người đại diện không phù hợp với người ủy quyền hay người ủyquyền không thể giám sát hành động của người đại diện, người đại diện sẽ có động cơ và khả nănghành động làm ảnh hưởng đến lợi ích của người ủy quyền mà không bị phát hiện Vấn đề này gọi tên
là Học thuyết chủ- thợ
Trong giai đoạn đầu của lịch sử kinh tế, các nhà nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hành vi củangười tham gia thị trường trên một mức độ tổng hợp Ronald Coase ghi nhận với việc phân tích mộtmức độ sâu hơn vào những năm 1930 với việc nghiên cứu cụ thể 1 công ty Vào những năm 1950 và
1960, các nhà kinh tế bắt đầu nghiên cứu sự khác biệt giữa sự khích lệ giữa các thành viên của mộtnhóm nào đó khiến cho các thành viên khác nhau hành động khác nhau
Trang 32Đồng thời, một nhóm các nhà kinh tế, bao gồm Robert Wilson và Kenneth Arrow, đã khámphá bản chất của rủi ro có thể xảy ra trong các nhóm khi các bên tham gia vào hợp đồng đại diện đượcgọi là "lý thuyết người đại diện".
Lý thuyết đại diện ra đời vào đầu những năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phânchia rủi ro giữa người ủy quyền (chủ sở hữu) và người đại diện (người làm thuê) do họ có mục tiêu và
sự phân công lao động khác nhau Người ủy quyền giao phó công việc cho người đại diện thông quamột hợp đồng
* Mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty và lý thuyết về đại diện (agency theory)
Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity),
tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụthể - những người quản lý công ty Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch đểxác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Từ giữa thế kỷ 19, các án lệ của các nước theo
truyền thống thông luật (common law) đã khẳng định rằng, công ty chỉ có thể hành động thông qua các giám đốc (directors) - tức những người quản lý công ty, và hành động của cá nhân cổ đông sẽ không
ảnh hưởng gì, không ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân công ty – với tư cách là một thực thể pháp
lý độc lập Bởi lẽ đó, luật công ty của các nước theo truyền thống common law, cả luật thành văn
(statutory law) và luật án lệ (case law) - đã phát triển nhiều nguyên tắc pháp lý về người quản lý công
ty, đặc biệt là xác định ai là người quản lý công ty và các nghĩa vụ pháp lý của họ (directors’ duties).
Trong tác phẩm Của cải của các Dân tộc (The Wealth of Nations), nhà kinh tế học nổi tiếng
Adam Smith đã cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tintưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xuhướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họhơn là cho các cổ đông và công ty Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith đã dự đoán xu hướngphát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty
(separation of ownership and control).Trong nghiên cứu nổi tiếng được công bố năm 1932, Berle và
Means khẳng định rằng với sự phát triển của phương tiện truyền thông hiện đại, việc tổ chức tốt củacác thị trường chứng khoán và sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các nhà đầu tư, vấn đề sở hữu vốntrong các công ty ngày càng bị phân tán và cổ phần sẽ được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng hơn.Haiông cũng cho rằng, mô hình công ty hiện đại ngày nay là đại diện của một hình thức mới về tài sản,
mà tài sản đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm thuê)
Trang 33hơn là các cổ đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản) Từ đó, các học giả này cũng kết luận rằng,
có sự phân tách giữa sở hữu và quản lý, kiểm soát trong các công ty hiện đại
Sự phát triển của các công ty hiện đại và sự phân tách giữa sở hữu và quản lý ở các nước tưbản phương Tây đã là tiền đề vật chất cho việc xuất hiện các lý thuyết về mối quan hệ giữa các cổđông và người quản lý công ty Trong nửa cuối của thế kỷ 20, nhiều học thuyết về mối quan hệ giữa
cổ đông và người quản lý công ty đã xuất hiện chẳng hạn như học thuyết về đại diện (agency theory) và học thuyết về người quản gia (stewardship theory), song, đáng chú ý nhất là học thuyết về
đại diện Các lý thuyết về đại diện xuất hiện trong nhiều nghiên cứu của các giáo sư luật, kinh tế, quảntrị ở phương Tây, đặc biệt là ở các nước theo mô hình luật công ty Anglo-American Theo học thuyết
về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện –hay quan hệ ủy thác Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông
(những người chủ - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy
- agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra
quyết định định đoạt tài sản của công ty.Theo luật về công ty ở khắp nơi trên thế giới, các cổ đông(đại hội đồng cổ đông) sẽ có quyền chọn lựa để bầu, bổ nhiệm các vị trí quản lý quan trọng của công
ty Những người được bầu, bổ nhiệm như hội đồng quản trị hay tổng giám đốc(giám đốc điều hành),
sẽ được trao thẩm quyền ra các quyết định nhất định (theo qui định trong điều lệ công ty) để hànhđộng cho và vì công ty, cũng như định đoạt tài sản của công ty
Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản
lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽkhông luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công ty Với vị trí củamình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và
có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ không phải cho công ty.Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các cổ đông cần thường xuyên giámsát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình Học thuyết về đại diện nhấnmạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích
giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, và (ii) thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms)
hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Như đã nói ở trên, với bản chất của quan hệ đại diện, người quản lý công ty luôn có xu hướngtìm kiếm lợi ích cá nhân cho họ hơn là luôn hành động vì lợi ích chung của công ty và các cổ đông
Trang 34Bởi vậy, cùng với một chế độ tiền lương và thù lao thích hợp, cơ chế thông tin và giám sát hiệu quảhoạt động của người quản lý công ty là một yếu tố rất quan trọng để hạn chế bớt khả năng tư lợi củangười quản lý công ty và để họ biết giữ thái độ trung thành và hành động vì lợi ích của công ty Cũng
vì thế, luật công ty của các quốc gia đều đề cao cơ chế giám sát trong các công ty có nhiều cổ đông,đặc biệt là các công ty niêm yết
Để hạn chế sự bất đồng về lợi ích, người chủ có thể đưa ra những khích lệ thích hợp cho ngườiđại diện hoặc gia tăng chi phí giám sát (monitoring cost) nhằm hạn chế những hành động sai lệch củangười quản lý Thêm vào đó, trong một vài trường hợp sẽ phải trả cho người quản lý một khoản tăngthêm (bonding cost) để đảm bảo rằng người quản lý không thực hiện một số hành động nhất định màlàm tổn hại đến người chủ sở hữu hoặc để chắc rằng người chủ sở hữu sẽ được bồi thường nếu ngườiquản lý hành động như vậy Tuy nhiên chúng ta sẽ không thể loại bỏ hết những bất đồng lợi ích giữangười quản lý và người chủ sở hữu Sự mất mát tài sản do sự bất đồng lợi ích trên mà người chủ sởhữu phải gánh chịu được xem là khoản “mất mát phụ trội” (residual cost) Một trong những lý thuyết
ra đời sớm nhất về chi phí đại diện là nghiên cứu của Jensen và Mackling (1976) Trong nghiên cứunày, chi phí đại diện được định nghĩa là tổng các chi phí: Chi phí giám sát (monitoring cost), Chi phígiao kèo (bonding cost) và Chi phí mất mát phụ trội (residual cost)
Lý thuyết người đại diện tập trung vào trả lời những câu hỏi sau đây: Làm thế nào để xây dựngmột hệ thống động viên và theo dõi khiến người đại diện có thể ứng xử với mục tiêu tối đa hóa lợi íchcủa người ủy quyền? Làm thế nào để giảm chi phí người đại diện trong điều kiện thông tin không hoànhảo bằng những cơ chế thị trường?
Lý thuyết người đại diện đã đi đến kết luận: “Chi phí người đại diện càng lớn, khi người đạidiện ít hoặc không sở hữu vốn của doanh nghiệp” Vậy muốn giảm xung đột lợi ích giữa người quản lý(người đại diện) với người ủy quyền (người chủ sở hữu) thì phải gắn kết lợi ích nhà quản lý với lợi íchcủa doanh nghiệp bằng cách: Người chủ sở hữu phải đưa ra những khuyến khích nhằm tạo ra nỗ lựccho người đại diện như:
- Chế độ lương, thưởng gắn liền với quy mô lợi nhuận mà nhà quản lý tạo ra cho doanhnghiệp nhằm khuyến khích nhà quản lý nỗ lực cao nhất;
- Biến nhà quản lý trở thành đồng sở hữu (cổ đông) bằng các chế độ thưởng bằng cổ phiếu;
- Chế độ ưu đãi quyền mua cổ phiếu cho nhà quản lý (Executive share option plans - ESOPs).Theo biện pháp này, nhà quản lý sẽ được cấp một số lượng quyền mua cổ phiếu Mỗi quyền cho phépngười nắm giữ được quyền sau một ngày nhất định có thể đăng ký mua cổ phiếu của công ty ở một
Trang 35mức giá cố định Giá trị của một quyền chọn sẽ tăng lên nếu công ty hoạt động hiệu quả và giá cổphiếu của nó tăng lên Do đó, các nhà quản lý có động cơ để đưa ra quyết định đúng đắn để làm tănggiá trị của công ty – hành động đồng nhất với lợi ích của các cổ đông.
- Tăng cường các biện pháp giám sát hoạt động của nhà quản lý bằng cách thiết lập hệ thốngkiểm toán nội bộ, hệ thống xử phạt minh bạch và nghiêm khắc (có thể sa thải hoặc kiện ra tòa) đối vớinhững nhà quản lý không hoàn thành trách nhiệm
Giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản lý và người chủ sở hữu với lợi ích đầu tư bênngoài là thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản lý dựa trên hợp đồng tối ưu Hợp đồng nàythường yêu cầu Doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống Kế toán quản trịnhư: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực… để nhà đầu tư đánh giá
sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị Doanh nghiệp có quản trị cácnguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Lý thuyết người đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trongDoanh nghiệp và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết hệ thống kế toán quản trị cần cung cấpnhững thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông Lý thuyết đại diện cũng là cơ
sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong doanh nghiệp, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với
hệ thống phân quyền trong các doanh nghiệp Việt nam
Câu 2:
Thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân gây nên thất bại thị trường, trạngthái
mà ở đó thị trường không đạt được sự phân phối các nguồn lực tối ưu
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vàonhữngnăm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiệnnăm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence vàJosephStiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế
Và ngày nay, vấn đề thông tin bất cân xứng gần như xuất hiện ở hầu khắp các thị trường vàđòihỏi mỗi thị trường cần có các cơ chế đặc thù riêng trong việc xử lý thông tin bất cân xứng nhằm hạnchế tác động của nó đến hoạt động của các bên tham gia cũng như hoạt động củatoàn bộ nền kinh tế
- Khái niệm về thông tin bất cân xứng:
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thông tin bất cân xứng:
Trang 36Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bênkhác Điểnhình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua hoặc ngượclại.
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì khôngbiết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó
Thông tin bất cân xứng là khái niệm mô tả các tình huống trong đó những người tham giatương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượngcủa một tài sản đangđược giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó Nói một cách khác,nếu như không tồn tại tình trạng bấtcân xứng đối với việc tiếp cận các thông tin về tài sản, thì các bên tham gia thị trường được hiểu là
"cân xứng" về thông tin
Tóm lại, thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối táchoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tinhơn cónhững quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng
sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và cáchoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngânhàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàngchính sách, ngânhàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ vàdịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung ứng các dịch vụ thanh toán
- Lí do các ngân hàng phải xử lý vấn đề thông tin bất cân xứng
Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Cấp tín dụng là mộttrong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng Có thể hiểu cấp tín dụng một cách đơngiản là việc ngân hàng cho khách hàng "vay" một khoản tiền hoặc uy tín của mình trong một khoảngthời gian nhất định Sau đó khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả "khoản vay" nên trên cho ngân hàng cộngvới khoản "lãi" kèm theo
Việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng Cũng giốngnhư các hợp đồng tài chính khác, hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng không hoàn chỉnh(incomplete contract) Để một hợp đồng được thực hiện đầy đủ thì các bên liên quan trong hợp đồngphải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, không giống như các hợp đồng hoàn chỉnh(complete contract), việc thực hiện các hợp đồng không hoàn chỉnh gặp nhiều khó khăn hơn vì có rất