1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

133 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

MÃ SỐ: 60 34 04 03

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuyên

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn thạc sĩ này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu đƣợc sử dụng trong Luận văn này hoàn toàn trung thực

và chính xác Tất cả sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã đƣợc cảm

ơn và các thông tin trong Luận văn đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của tập thể các Thầy, Cô giáo thuộc Học viện Hành chính Quốc gia – Phân viện Tây Nguyên Tôi xin ghi nhận và biết

ơn sự đóng góp quý báu của các Thầy, Cô

Tôi xin trân trọng cám ơn Lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk, Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Đắk Lắk đã nhiệt tình hợp tác và giúp đỡ tôi thực hiện Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình, đã luôn kịp thời động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành Luận văn thạc sĩ của mình

BMT, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

BẢNG VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

TÊN SƠ ĐỒ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÔNG NGHIỆP 8

1.1 Phát triển bền vững cây công nghiệp 8

1.2 Quản lý nhà nước về cây công nghiệp 18

1.3 Một số kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 42

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk 42

2.2 Tình hình phát triển cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 49

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 61

Trang 7

2.4 Nhận xét và đánh giá 83

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 89

3.1 Quan điểm và mục tiêu của tỉnh về phát triển cây công nghiệp 89

3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 93

3.3 Kiến nghị giải pháp thực hiện 113

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 121

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Sản lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông sản

chủ lực của nước ta giai đoạn 2012-2015

Bảng 2.6 Thống kê các Quy hoạch, Đề án của ngành nông nghiệp

đã được UBND tỉnh phê duyệt và đang thực hiện giai

đoạn 2005 - 2015

61

Bảng 2.7 Rà soát các chỉ tiêu cây trồng theo các quy hoạch đã được

UBND tỉnh phê duyệt năm 2015

65

Trang 9

TÊN SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nên sự phát triển bền

Sơ đồ 2.4 Những khó khăn chính của hộ sản xuất cà phê khi vay vốn 78

Sơ đồ 3.1 Các yếu tố tác động đến công tác lập quy hoạch CCN bền

vững

103

Sơ đồ 3.2 Các kênh chuyển giao công nghệ cho nông dân 106

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đắk Lắk nằm ở Trung tâm cao nguyên Trung bộ với toạ độ địa lý: Từ

12o10’00” đến 13o24’59” Vĩ độ Bắc và 107o20’03” đến 108o59’43” Kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia Diện tích tự nhiên là: 13.125 km2, dân số gần 1,8 triệu người gồm 47 dân tộc anh em sinh sống, phân bố trong 15 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện [31] Với tài nguyên đất đai, thủy văn phong phú đa dạng, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đặc biệt với hơn 298.365,4 ha đất đỏ Bazan, chiếm 22,73% diện tích tự nhiên toàn tỉnh đây là lợi thế quan trọng để Đắk Lắk trở thành một trong những tỉnh trọng điểm về sản xuất cà phê, cao su của cả nước (Theo Phạm Thế Trịnh, 2016) Điều này không những góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc, đẩy mạnh chương trình nông thôn mới mà còn đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh và ồ

ạt về cả sản lượng và diện tích cây công nghiệp không theo quy hoạch trong những năm gần đây đã dẫn tới sự suy thóa trầm trọng của đất trồng và các loại giống cây trồng, diện tích rừng suy giảm nhanh chóng, trữ lượng nước ngầm

có nguy cơ cạn kiệt, sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp và công nghệ chế biến lạc hậu Thêm vào đó, sự bất ổn về sinh kế của dân di cư, đặc biệt là

di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào Đắk Lắk phát nương, làm rẫy một cách tự phát đã và đang gây nên những tác động tiêu cực cả về khía cạnh môi trường

và xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự phát triển yếu kém và thiếu bền vững của cây công nghiệp như biến đổi khí hậu, áp lực gia tăng dân số, quy hoạch và khai thác tài nguyên (đất và nước) không hợp lý và yếu tố con người…, trong đó, việc thiếu quản lý chặt chẽ và định hướng lâu dài của nhà

Trang 11

nước được xem là nguyên nhân chủ yếu bởi suy cho cùng con người là yếu tố trung tâm và là căn nguyên đặt ra yêu cầu bức thiết phải đảm bảo phát triển bền vững cây công nghiệp Mặc dù, chính quyền địa phương tỉnh Đắk Lắk đã

có những bước triển khai, thực hiện các chính sách nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây công nghiệp và đã đạt được nhiều kết quả khả quan, song vẫn còn nhiều hạn chế như: sự thiếu bền vững trong công tác định hướng

và triển khai các chính sách, công tác quản lý quy hoạch các vùng cây chuyên canh còn chưa hợp lý, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác

quản lý nhà nước còn hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà

nước về phát triển bền vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện việc quy hoạch và phát triển các sản phẩm cây công nghiệp có giá trị cao và bền vững ở tỉnh Đắk Lắk

2 Tình hình nghiên cứu

Là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có nhiều điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp giá trị cao, có rất đề tài trong và ngoài nước đã chọn cây công nghiệp làm đối tượng nghiên cứu theo những cách tiếp cận khác nhau

Các công trình quốc tế thường tiếp cận lĩnh vực cây công nghiệp dựa trên giá trị kinh tế và môi trường mà nó mang lại cho xã hội, đặc biệt là vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống cho người dân và tác động của các loại cây trồng này đối với tài nguyên đất

Vì vậy, các giải pháp, kiến nghị của các nghiên cứu quốc tế thường đứng trên góc độ nhà tư vấn, đề xuất các kiến nghị cho chính phủ và chính quyền địa phương hơn là nghiên cứu trực tiếp về cách thức quản lý nhà nước Một số công trình nghiên cứu như:

- Deutsche Gesellschaft fürTechnische Zusammenarbeit (GTZ) GmbH

(2006), Báo cáo khảo sát thực tế “Hỗ trợ phát triển ngành điều ở Đắk Lắk”,

Trang 12

Hà Nội Báo cáo đã chú trọng đến chuỗi cung ứng điều hiện có của tỉnh và đề xuất các cơ chế, chính sách để làm cơ sở cho việc phát triển một chiến lược phát triển ngành điều của tỉnh

- Institute for studies of society, economy and environment Cocoa tree in

Đắk Lắk (2012), “Main barriers to development in local ethnic minority

groups”, Hà Nội Nghiên cứu đã chỉ ra những thách thức trong hoạt động

trồng và sản xuất ca cao bền vững của người dân tộc M’nông ở hai huyện của tỉnh Đắk Lắk và một huyện ở Lâm Đồng, trong đó nghiên cứu nhấn mạnh việc khuyến khích trồng ca cao chưa được chuẩn bị kĩ lưỡng về công tác quy hoạch, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và cơ chế cung cấp thông tin

đa chiều cho người dân là những rào cản chính trong việc phát triển cây ca cao trở thành nguồn thu nhập chính của người dân địa phương Điều này dẫn

đến việc “nhiều người dân chưa đủ điều kiện trồng và chăm sóc và chưa được

tham gia các cơ chế hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ca cao nhưng vẫn được khuyến khích trồng” [30]

Ở Việt Nam, quản lý nhà nước về phát triển bền vững liên quan đến nông nghiệp cũng là một đề tài được nhiều nghiên cứu sinh quan tâm Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Về vấn đề phát triển bền vững cây công nghiệp

- Trần Đức Viên (2009), “Phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam

trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Trong bài viết

của mình, tác giả đã nêu lên thực trạng về tình hình phát triển của ngành cao

su Việt Nam sau 2 năm tham gia WTO, đánh giá những chính sách hiện hành

có liên quan đến ngành cao su Việt Nam, những ảnh hưởng của hội nhập kinh

tế và gia nhập WTO đến ngành cao su Việt Nam và đưa ra những giải pháp phát triển bền vững ngành cao su trong xu thế hội nhập

- Nguyễn Thanh Liêm (2003), “Một số giải pháp kinh tế nhằm phát triển

Trang 13

cà phê bền vững vùng Tây Nguyên”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học kinh tế

Quốc dân Bài nghiên cứu đã nêu lên vai trò của lĩnh vực kinh doanh cà phê đối với đời sống kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển kinh doanh cà phê trên địa bàn Tây Nguyên theo quan điểm phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh các giải pháp phát triển

cà phê bền vững luôn gắn chặt với đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn của Đảng và Nhà nước

- Từ Thái Giang (2012), “Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền

vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn tiến sĩ Kinh tế nông nghiệp,

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Trong Luận án, tác giả cho rằng “phát

triển cà phê bền vững” là “sự phát triển, hợp lý, hài hòa và gắn kết chặt chẽ

giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện tốt các vấn đề xã hộivà môi trường trong sản xuất cà phê” [8] Dựa trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường

và bài học kinh nghiệm của các nước như Brazil, Ấn Độ, Kenya, Colombia, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp để phát triển cà phê bền vững phù hợp với quan điểm phát triển cà phê bền vững của tỉnh, định hướng dịch chuyển

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

- Nguyễn Văn Hóa (2014), “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh

Đắk Lắk”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học kinh tế, Đại học Huế Trong bài

nghiên cứu của mình tác giả đánh giá về tính bền vững của sự phát triển cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ở 3 khía cạnh là kinh tế (tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, ổn định, chất lượng, tăng sức cạnh tranh), xã hội (thu nhập, bình đẳng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo) và môi trường (khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường), từ đó đưa ra các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Về quản lý nhà nước liên quan đến nông nghiệp

Trang 14

- Hoàng Sỹ Kim (2007), “Đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp

trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ Quản lý kinh tế, Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Trong bài nghiên cứu, tác giả đã làm rõ những lý luận chung về quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, trong đó khẳng định vai trò và sự cần thiết phải đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả cho rằng mặc dù đã

có nhiều thành tựu nhưng nông nghiệp Việt Nam vẫn là ngành phát triển chậm, năng suất và khả năng cạnh tranh thấp, do đó việc đổi mới trong cách thức sản xuất và quản lý là yếu tố tất yếu và then chốt Xuất phát từ vai trò

của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tác giả nhấn mạnh “vai

trò quản lý nhà nước là nhân tố quyết định thành công trong từng bước tiến tới mục tiêu chiến lược” [13]

Ngoài ra, về vấn đề quản lý nhà nước về nông nghiệp còn có các nghiên

cứu liên quan như: Trần Thị Thu Hà (2015),“Quản lý nhà nước về Nông

nghiệp tại thành phố Buôn Ma Thuột”, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học

viện Hành chính Quốc gia; Bùi Thanh Tuấn (2014), “Quản lý nhà nước về

nông nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang”, Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại học

kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Các nghiên cứu đã nêu lên cơ sở lý luận về

quản lý nhà nước và một số vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước đối với nông nghiệp hiện nay và khẳng định vai trò không thể thiếu của nhà nước trong việc định hướng và phân bổ nguồn lực địa phương nhằm đảm bảo sự phát

triển bền vững của ngành nông nghiệp

Tuy nhiên, đối với vấn đề quản lý nhà nước đối với cây công nghiệp nói chung của tỉnh Đắk Lắk lại chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể

Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển bền

vững cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” không trùng lặp với các

công trình và bài viết khoa học đã công bố

Trang 15

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích nghiên cứu: thông qua phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, bài học kinh nghiệm của một số quốc gia để đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của `quản lý nhà nước về cây công nghiệp chủ lực theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển cây bền vững công nghiệp và nội dung về quản lý nhà nước đối với cây công nghiệp theo hướng bền vững, thông qua các kinh nghiệm của một số quốc gia thành công trong việc sử dụng công cụ quản lý nhà nước để định hướng phát triển cây công nghiệp theo hướng bền vững để rút ra bài học phù hợp với tình hình thực tiễn

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về phát triển cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Các quan điểm và định hướng của Đảng và nhà nước về

Trang 16

phát triển cây công nghiệp; các quan điểm về phát triển bền vững cây công

nghiệp của các tổ chức tiến bộ và khoa học trên thế giới

- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lí luận: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phát triển bền vững cây công nghiệp, quản lý nhà nước về cây công nghiệp theo nghĩa hẹp, nội dung và yêu cầu về quản lý nhà nước đối với sự phát triển bền vững của cây công nghiệp

- Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích thực trạng về quản lý nhà nước đối với cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk làm cơ sở cho việc đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước hiện nay Trên cơ sở đó, Luận văn cũng có những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hoạt động quản lý nhà nước của địa phương về cây công nghiệp theo hướng bền vững trong giai đoạn hiện nay và định hướng đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp

Chương 2: Thực trạng phát triển cây công nghiệp và quản lý nhà nước về cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT

TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÔNG NGHIỆP 1.1 Phát triển bền vững cây công nghiệp

1.1.1 Định nghĩa và phân loại cây công nghiệp

1.1.1.1 Định nghĩa

Hiện nay, vẫn chưa có văn bản nào của chính phủ đề cập một cách chính thức về định nghĩa của cây công nghiệp (CCN) Trong Thông tư Số 18/2012/TT-BNNPTNT ngày 26 tháng 4 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN & PTNN) về “Quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh giống cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm” có đề cập đến định nghĩa về cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm nhưng không đề cập đến định nghĩa về cây công nghiệp Theo đó, CCN và cây ăn quả lâu năm là

“những loài cây công nghiệp, cây ăn quả có thời gian kiến thiết cơ bản và

thời gian kinh doanh trong nhiều năm” [4] Cách định nghĩa phổ biến nhất

được sử dụng trong các giáo trình hiện nay là dựa trên mục đích sử dụng các sản phẩm của CCN là cho sản phẩm dùng để làm nguyên liệu cho ngành

công nghiệp chế biến Theo đó, có thể định nghĩa về CCN như sau: “Cây

công nghiệp là cây cho sản phẩm chủ yếu dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như mía, bông, cà phê, ca cao, chè, cao su…” [15, tr.16] 1.1.1.2 Phân loại

- Dựa vào giá trị sử dụng kinh tế, bao gồm: cây lấy đường (mía, củ cải đường, thốt nốt… ), cây lấy sợi (bông, lanh,…), cây lấy dầu (đậu tương, ôliu…), cây lấy nhựa (cao su, thông,…), cây cho chất kích thích (cà phê, ca cao, thuốc lá…)

- Xét theo chu kì phát triển:

Trang 18

Cây công nghiệp ngắn ngày (hay nhóm cây công nghiệp hàng năm)

là nhóm cây công nghiệp có thời gian sinh trưởng, phát triển và cho thu hoạch trong thời gian dưới một năm như mía, bông, lạc, đậu tương…

Cây công nghiệp dài ngày (hay nhóm cây công nghiệp lâu năm) có chu kì kinh doanh dài, trồng một lần cho thu hoạch (nhựa, lá, quả) nhiều năm như cà phê, cao su, thông, sơn, ca cao, hồi…

Trong phạm vi của đề tài, tác giả sẽ chỉ tập trung vào đối tượng là cây công nghiệp lâu năm, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Đắk Lắk bao gồm: cà phê, cao su, tiêu, ca cao và điều

1.1.2 Vai trò của cây công nghiệp

Là quốc gia có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp nói chung, CCN lâu năm nói riêng, CCN đã có những đóng góp không nhỏ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường

Cây công nghiệp giúp tận dụng lợi thế cạnh tranh của khu vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia

Cây công nghiệp đóng góp vào nền kinh tế quốc dân và tận dụng lợi thế cạnh tranh thông qua các khía cạnh sau:

Sử dụng hợp lí tài nguyên: nước ta có nhiều điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc trồng và phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị cao như: khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hệ thống thủy văn phong phú và diện tích đất nông nghiệp dồi dào, đặc biệt là ở các khu vực miền núi và trung du Việc phát triển cây công nghiệp dựa trên các điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ giúp khai thác thế mạnh tự nhiên của các khu vực này, đồng thời phá thế độc canh trong sản xuất nông nghiệp của các khu vực đồng bằng Bên cạnh đó, nguồn lao động trẻ, dồi dào, nhiều kinh nghiệm cũng là một trong những thế mạnh của quốc gia Vì vậy, việc phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị cao như mía, lạc, chè, cà phê, ca cao, cao su… sẽ giúp Việt Nam tận dụng được

Trang 19

những lợi thế này để phát triển kinh tế

Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng: sản phẩm từ cây công nghiệp là nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng và đa dạng, góp phần tạo nên sự phong phú trong cơ cấu ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng nước ta Sự đa dạng và chất lượng cao của các sản phẩm nông sản không chỉ giúp cho ngành công nghiệp chế biến có được nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định mà còn mở rộng khả năng cung ứng hàng hóa trên thị trường với mẫu mã, hình thức đa dạng, kích thích nhu cầu mở rộng khả năng tiêu dùng của xã hội Bên cạnh đó, hiện tại giá trị sản phẩm nông sản xuất khẩu của nước ta chưa cao và vẫn có thể tiếp tục được chế biến sâu, tạo sản phẩm có giá trị cao hơn, đem lại nguồn thu lớn (các sản phẩm cà phê chế biến sâu mới chỉ chiếm tỷ lệ 4,1-6% trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu hàng năm) Vì vậy, đây là lĩnh vực còn rất nhiều tiềm năng để tạo thêm việc làm và mở rộng công nghiệp chế biến cho quốc gia.Tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng: sản phẩm từ CCN ở nước ta không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của quốc gia Các sản phẩm từ cây cà phê, chè, cao su đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, xuất khẩu ra nhiều thị trường trên thế giới, đặc biệt là mặt hàng cà phê được đánh giá có chất lượng cao và ổn định Giai đoạn 2012-2015, cà phê liên tục là mặt hàng đứng thứ 2

về sản lượng xuất khẩu nông sản (chỉ đứng sau mặt hàng gạo) (năm 2012, sản lượng cà phê xuất khẩu đạt 1.736 nghìn tấn, năm 2015 là 1.293 nghìn tấn) Sản lượng xuất khẩu của các loại sản phẩm khác như tiêu, điều, cao su liên tục tăng và tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn (Bảng 1.1) Điều này đã góp phần tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 20

Bảng 1.1: Sản lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông sản

chủ lực của nước ta giai đoạn 2012-2015

Đơn vị: Sản lượng: nghìn tấn Trị giá: triệu USD

Tỉ trọng (trị giá) lượng Sản Trị giá Tỉ trọng (trị giá) lượng Sản Trị giá Tỉ trọng (trị giá)

Cây công nghiệp thuộc nhóm thực vật, phát triển dựa vào nền tảng của

hệ sinh thái nên có sự phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường và ngược lại những tác động của cây công nghiệp đến môi trường là rất lớn Sự phát triển hợp lí cây công nghiệp trên lãnh thổ sẽ giúp khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên như sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất, chống xói mòn rửa trôi, điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn, điều hòa khí hậu…, từ đó góp phần quan trọng bảo vệ môi trường

Đảm bảo ổn định xã hội, an ninh quốc phòng

Phát triển cây công nghiệp có vai trò quan trọng đối với xã hội và an ninh quốc phòng bởi nó không chỉ góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân mà còn phân bổ lại dân cư và lao động trên

cả nước Các vùng chuyên canh quy mô lớn được hình thành góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập người dân, nhất là khu vực trung du, miền núi, hạn chế nạn du canh du cư, giảm khoảng cách chênh lệch và tạo sự bình đẳng giữa các dân tộc Bên cạnh đó, cây công nghiệp không chỉ giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông nghiệp mà còn tạo điều kiện cho

Trang 21

người lao động trong các ngành công nghiệp khác bởi nó là nguồn nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp quan trọng như công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng….Vai trò quan trọng của cây công nghiệp, cụ thể là cây cà phê đối với sự ổn định xã hội và an ninh quốc phòng cũng được Tỉnh ủy Đắk Lắk đề cập trong Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 08 tháng 10

năm 2008 về “Phát triển cà phê bền vững trong thời kì mới” như sau:

Cà phê là cây trồng chỉ thích nghi đối với những vùng nhất định, có thể trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Nghệ An nhưng đặc biệt phù hợp với các tỉnh Tây Nguyên Các tỉnh này có chung đường biên giới với nhiều quốc gia láng giếng, an ninh - quốc phòng khá phức tạp Dân cư sống ở vùng này chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số và dân di cư từ mọi miền đất nước.Nhận thức và sự hiểu biết của các tộc người rất khác nhau, dân tộc thiểu số thường trình độ dân trí thấp, trình độ canh tác lạc hậu, mức sống thường thấp hơn so với người kinh di cư từ nơi khác đến Do vậy, họ dễ bị

kẻ xấu kích động gây mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Phát triển cà phê bền vững, nhất là ở các tỉnh thuộc vùng biên giới thì bên cạnh các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường cũng cần phải quan tâm đặc biệt đến việc ổn định trật tự an ninh - quốc phòng biên giới phía Tây nước ta [22]

1.1.3 Phát triển bền vững cây công nghiệp

1.1.3.1 Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm “phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện đầu tiên vào năm

1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” (công bố bởi Hiệp hội Bảo

tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF)) Theo đó, “phát triển bền vững” ban đầu được định nghĩa khá đơn

Trang 22

giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh

tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” [6]

Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu được quan tâm khi quá trình sản xuất ngày càng phát triển, những bất ổn trong xã hội và thảm họa thiên nhiên ngày càng gia tăng đã dẫn tới sự ra đời của nhiều tổ chức quốc tế về các vấn

đề môi trường nhằm kêu gọi sự hành động của các quốc gia trong việc giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường Vì vậy, Hội nghị thượng đỉnh

về Môi trường và Phát triển năm 1992 của Liên Hợp Quốc (UNCED) được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên “Chương trình Nghị sự 21” (Agenda 21) Trong Chương trình này, khái niệm “phát

triển bền vững” được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu

của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” Kế thừa nội dung này, tại Hội nghị Johannesburg năm

2002, khái niệm này đã được bổ sung một cách đầy đủ hơn: “Phát triển bền

vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [6] Như vậy, ba trụ cột của phát triển bền vững được xác định:

thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế hay phát triển kinh tế, tức phát triển nhanh

và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội

và phát triển con người, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa và văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống

Ở Việt Nam, chủ đề PTBV cũng nhận được nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu và các nhà hoạch định đường lối, chính sách Năm 1992, đoàn đại

Trang 23

biểu Chính phủ Việt Nam đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường ở Brazil và ký Tuyên bố chung của thế giới về môi trường và phát triển Để thực hiện các cam kết của mình, thủ tướng Chính phủ đã ban hành

Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 về“Định hướng

chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn gọi là Chương trình nghị sự

21 của Việt Nam), nêu bật những vấn đề đang đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế,

xã hội và môi trường, những thách thức mà nước ta đang phải đối phó và xây dựng Chiến lược khung, bao gồm các cơ sở pháp lý để các Bộ, địa phương, tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước trong thế kỉ XXI Đặc biệt, trong Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, PTBV càng được chú trọng hơn, nhấn mạnh nhiều lần trên nhiều góc độ tiếp cận và đã trở thành cơ

sở để định hướng phát triển: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng

trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học" [1]

Nếu xét về khía cạnh mục tiêu của PTBV được đề cập trong Văn kiện thì mục tiêu tổng quát là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần

và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên, mục tiêu cụ thể là phải đảm bảo kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể, mục tiêu PTBV về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau; mục tiêu PTBV về xã hội là đạt được kết quả cao

Trang 24

trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao, giảm tình trạng đói nghèo và khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc; mục tiêu PTBV về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu

dự trữ sinh quyển và bảo tồn đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường Như vậy, nhìn chung “phát triển bền vững” theo quan điểm và đường lối của Đảng cũng thống nhất với mục tiêu của “phát triển bền vững” do các tổ chức thế giới đề cập, đó là sự cân bằng và hài hòa giữa 3 yếu tố: kinh tế, môi trường và xã hội

Đối với định nghĩa về PTBV được đề cập đến trong văn bản chính thức thì trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2005, đã đưa ra định nghĩa thể hiện đầy đủ mục tiêu và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV

phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam, theo đó “Phát triển bền vững

là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [14] Đây cũng là khái niệm tác giả có cùng quan điểm và sử

dụng trong luận văn này

1.1.3.2 Khái niệm về phát triển bền vững cây công nghiệp

Dựa trên khái niệm “phát triển bền vững”, có thể hiểu “phát triển bền vững cây công nghiệp” là việc khai thác và sử dụng nguồn lực hiện tại (tài nguyên, nhân lực, vật lực…) để phát triển các loại cây công nghiệp phục vụ

Trang 25

nhu cầu quốc gia hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng các nguồn lực đó của thế hệ tương lai, đảm bảo sự phát triển của cây công nghiệp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia và bảo vệ môi

trường

Như vậy, việc phát triển bền vững cây công nghiệpphải đảm bảo được kiến tạo một hệ thống bền vững về ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó, về kinh tế, phát triển nền sản xuất sản phẩm cây công nghiệp bền vững phải đảm bảo góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của địa phương

và người nông dân Điều này đòi hỏi các hoạt động sản xuất phải đạt hiệu quả cao, ổn định, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nguồn nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế Về xã hội, một lĩnh vực cây công nghiệp phát triển bền vững phải đảm bảo cho người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao Về khía cạnh môi trường là không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách hợp lý, bền vững; bảo vệ môi trường sinh thái và giữ nguồn nước ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trường Kết hợp ba yếu tố này sẽ giúp giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực

về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh

tế, xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu sản phẩm cây công nghiệp ổn định, chấtlượng cao cho thế hệ hôm nay và mai sau Mối quan hệ của phát triển bền vững cây công nghiệp đối với ba yếu tố nêu trên có thể được khái quát hóa qua mô hình bên dưới:

Trang 26

Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nên sự phát triển

bền vững cây công nghiệp

Nguồn: Mô hình của tác giả 1.1.3.3 Tại sao phải phát triển bền vững cây công nghiệp

Thế giới bước sang thế kỷ XXI với sự phát triển vượt bậc của các nền kinh tế Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng, vai trò của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng lớn và liên tục phát triển về quy mô Điều này đã tạo nên một thị trường quốc tế rộng khắp với chủng lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng quá nhanh cùng với sự gia tăng các khu đô thị và khu công nghiệp đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học ngày càng trở nên nghiêm trọng Đặc biệt, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một vấn đề cấp thiết, đe dọa đến sự PTBV của tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa giữ được sự tăng trưởng kinh tế cao, vừa bảo vệ được môi trường, vừa ứng phó có hiệu quả với tác động của BĐKH để đảm bảo phát triển bền vững như Văn kiện

Trang 27

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra Là một lĩnh vực đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội quốc gia, đồng thời giúp bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên (như đã đề cập ở mục 1.1.2), nhóm cây công nghiệp lâu năm đã và đang được Nhà nước chú trọng đầu tư và định hướng là một trong số những sản phẩm chủ chốt trong lĩnh vực xuất khẩu Không ít loại cây như cà phê, hồ tiêu, điều đã góp mình vào việc xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân, đảm bảo an ninh - quốc phòng, đồng thời phát triển cây công nghiệp theo hướng bền vững còn góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu….Vì vậy, phát triển bền vững cây công nghiệp là xu hướng tất yếu không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các quốc gia có nền kinh tế cây công nghiệp phát triển

1.2 Quản lý nhà nước về cây công nghiệp

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về cây công nghiệp

Tùy theo các cách tiếp cận khác nhau thì thuật ngữ “quản lý” được hiểu theo những cách khác nhau và mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về “quản lý” dưới góc độ riêng Nếu tiếp cận theo góc độ khoa học nghiên cứu về quản

lý thì “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối

tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu dự kiến” [10, tr 9]

Quản lý nhà nước (QLNN) là khái niệm có tính lịch sử - xã hội Tùy vào điều kiện kinh tế - lịch sử xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau thì định nghĩa và mức độ quản lý nhà nước đối với xã hội là khác nhau Xét về quan niệm

QLNN của Việt Nam thì “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều

chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc” [16, tr 407]

Trang 28

Như vậy, QLNN là dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đây cũng là một hoạt động của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của mình và là một trong những chức năng quan trọng nhất để thực hiện chức năng giai cấp Quản lý nhà nước có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước từ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp

Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp

Quản lý nhà nước được đề cập trong Luận văn là khái niệm QLNN theo

nghĩa hẹp tức là hoạt động hành pháp, “thực thi Hiến pháp và pháp luật,

hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, tổ chức thực hiện phân bổ ngân sách, quản lý và phát huy tất cả các nguồn lực của quốc gia” [12]

Hoạt động QLNN theo nghĩa hẹp sẽ được thực hiện chủ yếu và trước hết bởi tất cả các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.Các

tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng nhân dân và nhân dân có thể trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước ủy quyền và trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật Dựa theo tiêu chí lãnh thổ hành chính, có thể phân thành: Quản lý nhà nước ở trung ương và quản lý nhà nước ở địa phương Trong Luận văn, tác giả sẽ chỉ nhấn mạnh đến hoạt động QLNN ở địa phương, bao gồm hoạt động triển khai thực hiện các quy định do

cơ quan quản lý cấp trung ương ban hành, ban hành các văn bản quy định về

cơ chế chính sách liên quan, tổ chức triển khai và hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát đối với các hoạt động cần quản lý theo thẩm quyền sao cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Với vai trò là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, QLNN về cây công nghiệp là một bộ phận của QLNN về kinh tế Vì vậy, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm “QLNN về cây công nghiệp” từ góc độ QLNN về kinh tế Theo giáo

Trang 29

trình “Quản lý nhà nước về kinh tế” của Học viện Hành chính Quốc Gia,

Quản lý nhà nước về kinh tế là: “Sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền và

thông qua một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra trên

cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế”[26, tr 30]

Từ những lát cắt khác nhau về “phát triển bền vững” và “quản lý nhà nước” có thể đưa ra định nghĩa về “quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp” (theo nghĩa hẹp) là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương đối với sự phát triển của cây công nghiệp trên địa bàn quản lý theo thẩm quyền nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, tận dụng các cơ hội

có thể đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội,

sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên và bảo vệ môi trường

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về cây công nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp vì những lí do sau:

Thứ nhất, vai trò của cây công nghiệp đối với phát triển KT-XH

Trong lĩnh vực nông nghiệp, các cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê, tiêu, điều ngày càng có vai trò quan trọng đối với kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường (như đã trình bày ở mục1.1.2) và tiềm năng xuất khẩu còn rất lớn, trong đó, cà phê là ngành có triển vọng phát triển hơn cả vì sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn tăng trưởng trong nhiều năm qua

và chất lượng cà phê của Việt Nam luôn được đánh giá cao Cụ thể, Việt Nam

là quốc gia đứng hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê robusta, đứng thứ hai thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân với diện tích trên

Trang 30

641.700 ha, sản lượng mỗi năm đạt từ 1,3 triệu tấn cà phê nhân trở lên (giai đoạn 2012-2015) Cây cao su được đánh giá là loại cây đem lại hiệu quả kinh

tế khá tốt bởi giá trị sử dụng toàn diện (từ mủ đến gỗ đều có giá trị kinh tế) Gần đây, xu hướng sử dụng cao su thiên nhiên tăng cao, giá cao su vì thế cũng tăng làm cho sản xuất và xuất khẩu cao su đã đem lại lợi nhuận lớn và trở thành một trong ba sản phẩm nông sản có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1

tỷ USD (bao gồm gạo, cà phê và cao su) Các sản phẩm khác như tiêu, điều,

ca cao có giá trị xuất khẩu ngày càng tăng (Bảng 1.1), góp phần không nhỏ tới việc xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường Với tầm quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng tới kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường, quản

lý nhà nước đối với cây công nghiệp là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của quốc gia

Thứ hai, tính tất yếu của sự điều tiết kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và vai trò của nền kinh tế nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền

kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước, “đó là nền kinh tế thị trường hiện

đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [12] Sự QLNN đối với nền kinh tế thị

trường là khách quan và cần thiết bởi: thứ nhất, kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm vượt bậc, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt trái và khuyết tật và vai trò của Nhà nước là khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Thứ hai, Nhà nước đóng vai trò giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên và cơ bản trong nền kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo sự ổn định của xã hội thông qua quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình Thứ ba, do tính chất phức tạp của nền kinh tế

Trang 31

quốc dân - sự vận hành của nền kinh tế trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn với nhiều thành phần và mục đích kinh tế khác nhau Chỉ có Nhà nước mới đủ điều kiện để can thiệp nhằm hỗ trợ các thành phần kinh tế khác và đảm bảo sự thống nhất về cách thức hoạt động và mục tiêu chung nhằm đạt được mục tiêu

đề ra Với định hướng phát triển kinh tế - xã hội là kết hợp phát triển kinh tế thị trường với xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, hoạt động sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của cây công nghiệp cũng không nằm ngoài xu hướng chịu tác động của nền kinh tế thị trường Vì vậy, QLNN về cây công nghiệp

sẽ đảm bảo đồng bộ với các hệ thống kinh tế khác của quốc gia

Thứ ba, yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước về phát triển bền vững

Phát triển bền vững hiện nay không chỉ là yêu cầu trong quá trình hội nhập, mà quan trọng hơn là xuất phát từ yêu cầu phát triển nội tại của quốc gia Nền kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập như: sức cạnh tranh yếu; chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp; tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư và khai thác tài nguyên thô; sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chưa thật chặt chẽ và bền vững; tình hình an ninh lương thực, an sinh xã hội, dịch bệnh diễn biến phức tạp; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn lãng phí, chưa hiệu quả và bền vững; một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường gia tăng; nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân Trong hoạt động canh tác, trồng trọt và sản xuất cây công nghiệp, không phải lúc nào các bên tham gia cũng chú trọng đến yếu tố môi trường, yếu tố xã hội mà đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình Vì vậy, sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết để đảm bảo hài hòa được mục tiêu môi trường và xã hội

Trang 32

1.2.3 Yêu cầu của quản lý nhà nước về phát triển bền vững cây công nghiệp

Như đã đề cập ở trên, QLNN về cây công nghiệp là rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế, nhất là đối với một quốc gia có nhiều điều kiện để phát triển cây công nghiệp Với các công cụ quản lý bao gồm: kế hoạch hóa, tài chính, pháp luật…Nhà nước sẽ thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của mình để đạt được mục tiêu quản lý là đảm bảo bền vững về cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Muốn đạt được mục tiêu này, đòi hỏi công tác QLNN phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của đối tượng quản lý, với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của quốc gia Là một lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế của địa phương, công tác QLNN phải được thực hiện

và triển khai phù hợp với định hướng phát triển của địa phương nhằm đảm bảo sự phát triển đồng bộ với các ngành và lĩnh vực khác, đồng thời, công tác QLNN không bị mâu thuẫn, chồng chéo

Phải có được sự ổn định tương đối để hoạt động QLNN không bị gián đoạn trong bất kì tình huống nào, đồng thời có tính linh hoạt nhất định nhằm đảm bảo cho lĩnh vực CCN có được sự thích ứng tối thiểu đối với những sự thay đổi của quốc gia và quốc tế Với xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển của CCN không chỉ chịu tác động của sự thay đổi trong nội tại khu vực, quốc gia mà còn của thị trường quốc tế Điển hình như sự khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 có nguồn gốc từ Mỹ đã không chỉ ảnh hưởng sâu sắc kim ngạch xuất khẩu cà phê, cao su mà còn tác động công tác quản lý quy hoạch của cơ quan nhà nước ở địa phương Vì vậy, hoạt động QLNN phải có sự linh hoạt tương đối để đảm bảo sự phát triển bền vững của CCN

Hướng tới mục tiêu quản lý là thúc đẩy sự phát triển của cây công nghiệp theo hướng hiện đại hiệu quả và bền vững Cụ thể, đó là đưa nhanh

Trang 33

tiến bộ KH - KT vào các quy trình sản xuất và chế biến sản phẩm của các cây công nghiệp nhằm mục tiêu đạt mức độ trung bình tiên tiến của khu vực về mức độ áp dụng KH - KT, năng suất và chất lượng trên một đơn vị diện tích; đẩy mạnh sản xuất sản phẩm chất lượng cao, chế biến sâu, giúp các sản phẩm của CCN trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, phát triển phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và thị trường quốc tế; đảm bảo nâng cao mức sống cho người dân, phát triển hài hòa giữa kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa nguồn lực địa phương và chú trọng bảo vệ môi trường

Đảm bảo tính hệ thống và nhất quán trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương Tính hệ thống và nhất quán ở đây không chỉ về mặt chính sách ban hành mà còn cơ chế hoạt động và cơ cấu tổ chức của bộ máy cũng cần phải được thống nhất

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển cây công nghiệp theo hướng bền vững

Vai trò quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh về cây công nghiệp theo hướng bền vững được thể hiện với các nội dung cơ bản sau:

Xây dựng chiến lược, định hướng và kế hoạch phát triển cây công nghiệp theo hướng bền vững Dựa trên định hướng phát triển về kinh tế, xã hội của địa phương, cơ quan QLNN xây dựng các định hướng phát triển CCN phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương nhằm tận dụng tối

đa các nguồn lực của khu vực để đạt được mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường

Tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho cây công nghiệp phát

triển Thứ nhất, Nhà nước thông qua các công cụ và phương pháp quản lý phù

hợp, tạo lập môi trường chính trị xã hội ổn định, xây dựng và thực thi các chính sách liên quan theo hướng đổi mới và nhất quán, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn, một sân chơi chung, cạnh tranh

Trang 34

lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Thứ hai, Nhà nước điều tiết sự hoạt

động của thị trường, khuyến khích đầu tư, “kích cầu”, xây dựng nông thôn mới nhằm đảm bảo cơ sở vật chất hạ tầng, đầu tư phát triển nguồn lực trong lĩnh vực cây công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Mặc dù nền kinh tế thị trường có khả năng tự điều tiết các hành

vi kinh tế, các hoạt động kinh tế theo các quy luật khách quan của nó, tuy nhiên, các hành vi kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất, trồng trọt, kinh doanh các sản phẩm CCN nói riêng lại chịu tác động của nhiều nhân tố và các nhân tố này lại không ổn định Vì vậy, Nhà nước với công cụ của mình, vận dụng các quy luật kinh tế khách quan, thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp (tiền tệ, thu hút đầu tư, ưu đãi tín dụng, ứng dụng công nghệ,…) nhằm đạt mục tiêu ổn định, kích thích thị trường phát triển theo định hướng đề ra, xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ việc phát triển CCN theo hướng hiện đại Ban hành và triển khai các chính sách hỗ trợ Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch phát triển của Trung ương và địa phương, chính quyền cấp tỉnh ban hành và triển khai các chính sách nhằm hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của cây công nghiệp theo đúng định hướng đề ra như: chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách khoa học công nghệ, công tác khuyến nông, xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư…

Xây dựng hệ thống cơ quan quản lý, đội ngũ cán bộ công chức quản lý

về lĩnh vực cây công nghiệp hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phối hợp giữa các cấp, ngành liên quan Lĩnh vực CCN là một lĩnh vực rộng và quan trọng, liên quan đến sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác (xuất khẩu, chế biến, …) Vì vậy, cơ quan QLNN cần xây dựng hệ thống cơ quan tổ chức từ trung ương tới địa phương một cách khoa học, gọn nhẹ, ít tầng nấc, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành khác để hoạt đông quản lý diễn ra nhịp

Trang 35

nhàng, hiệu quả Ngoài ra, đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc bên trong có vai trò quan trọng và tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý của cơ quan quản lý nhà nước Vì vậy, cơ quan QLNN cần xây dựng các kế hoạch liên quan đến tuyển dụng, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển CCN theo hướng bền vững và hiện đại

Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến sản xuất, trồng trọt và kinh doanh CCN

là theo dõi, xem xét sự hoạt động của các chủ thể được thực thi đúng pháp luật, chính sách đề ra, đồng thời đảm bảo sự phát triển diễn ra theo đúng định hướng đã được cơ quan quản lý nhà nước cấp trên phê duyệt

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về cây công nghiệp theo hướng bền vững

Để đánh giá tính bền vững của cây công nghiệp, cần thiết phải xem xét trên ba khía cạnh môi trường, xã hội và kinh tế Vì vậy, công tác quản lý nhà nước đối với cây công nghiệp theo hướng bền vững cũng chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên, yếu tố kinh tế - xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về cây công nghiệp Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của KHCN cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

1.2.5.1 Điều kiện tự nhiên

Là một bộ phận của tự nhiên, sự phát triển của cây công nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn… Đối với những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, địa hình bằng phẳng sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng tác động vào sự phát triển của cây trồng vì điều kiện tự nhiên ít có sự biến đổi thất thường Với những khu vực không có được sự thuận lợi của tự nhiên, công tác quản lý sẽ mang tính đặc trưng của

Trang 36

khu vực do cần phải tập trung khắc phục những khó khăn do đặc điểm tự nhiên gây ra (thiên tai, địa hình chia cắt, ) Mặc dù với sự phát triển của KH

- KT, sự tác động của các yếu tố này có xu hướng giảm dần nhưng với trình

độ phát triển KH - KT như Việt Nam hiện nay và khả năng áp dụng KH - KT của tỉnh Đắk Lắk thì quá trình canh tác, trồng trọt vẫn còn phụ thuộc và gắn liền chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên Vì vậy, để làm tốt công tác quản lý, quy hoạch và hỗ trợ, nhà quản lý phải có những chính sách linh hoạt, phù hợp với từng điều kiện cụ thể nhằm khắc phục và tận dụng tối đa các yếu tố tự nhiên của khu vực đó Ví dụ, Tây Nguyên có khí hậu đặc thù 2 mùa với mùa khô kéo dài và hanh khô, việc điều tiết nguồn nước đảm bảo cho việc tưới tiêu gặp nhiều khó khăn hơn, đòi hỏi công tác quản lý hệ thống thủy lợi phải đáp ứng được nhu cầu của người dân Một ví dụ điển hình khác đó là chất lượng đất ở khu vực Tây Nguyên phù hợp với sự phát triển của các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao,… trong khi ở khu vực Tây Bắc thích hợp trồng các loại cây lấy dầu, vì vậy, các chính sách quy hoạch phát triển, chính sách thủy lợi, chính sách khuyến nông,…ở khu vực Tây Nguyên là khác so với khu vực Tây Bắc

1.2.5.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Nhân tố kinh tế, xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, cơ cấu và

sự phát triển kinh tế, đặc điểm dân cư, trình độ lao động, Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và về cây công nghiệp nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi yếu tố kinh tế, xã hội Thứ nhất, phương hướng quy hoạch và định hướng phát triển của cơ quan nhà nước đối với cây công nghiệp được quyết định bởi định hướng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương theo từng thời kì và các định hướng này được xây dựng dựa trên thực trạng và tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Dựa trên định hướng này, các cơ quan QLNN

về CCN sẽ cụ thể hóa các nhiệm vụ của mình để đạt được mục tiêu đã được

Trang 37

phê duyệt bởi cơ quan nhà nước cấp trên Thứ hai, điều kiện tự nhiên cho phép xác định loại cây trồng thích hợp, còn canh tác và hoạt động sản xuất như thế nào lại được quyết định bởi các kĩ năng của con người và các điều kiện kinh tế, xã hội, kĩ thuật hiện có Do đó, khi xây dựng, ban hành chính sách, các nhà quản lý cần nhìn vào điều kiện kinh tế - xã hội của một địa phương có thể đánh giá được tiềm năng phát triển của địa phương đó, khả năng áp dụng khoa học sản xuất, để có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương (ví dụ công tác khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa bàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau) Thứ ba, đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, phong tục tập quán và trình độ lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý nhà nước, đặc biệt là ở các khu vực vùng sâu, vùng xa nhiều đồng bào dân tộc sinh sống

Vì vậy, các chế độ, chính sách cũng phải có sự điều chỉnh linh hoạt chứ không thể áp dụng một cách rập khuôn máy móc Đơn cử Tây Nguyên là khu vực có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống với nét đặc trưng trong truyền thống canh tác nông nghiệp là du canh Đây là hệ canh tác hoàn toàn dựa vào các quá trình tự nhiên, không có sự bổ sung chất dinh dưỡng (bón phân, cải tạo đất); khu vực canh tác (nương rẫy) là một mảnh rừng được phát dọn, thường

là bằng lửa để trồng cây một vài vụ, rồi bỏ hóa để chuyển sang phát một mảnh rừng khác; điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý của nhà nước trong vấn đề quy hoạch vùng chuyên canh để bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng

Như vậy, điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước đối với sự phát triển của cây công nghiệp có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ Điều kiện kinh

tế, xã hội tác động trực tiếp tới công tác QLNN và là yếu tố cần xem xét trước tiên khi tiến hành công tác QLNN nói chung ở bất kì địa phương nào Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý cần phải có những phương pháp, cách thức và

Trang 38

chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực

1.2.5.3 Khoa học - Kĩ thuật

Cùng với sự phát triển vượt trội của công nghệ và xu thế hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng, khoa học - kĩ thuật (KH - KT) không chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước nói riêng mà còn tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Thực tế cho thấy các nước có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới đều có được lợi ích vượt bậc trong việc áp dụng KH - KT vào hoạt động trồng trọt như mô hình tưới nhỏ giọt, các giống cây trồng mới cho năng suất cao, chịu hạn tốt, giúp cho hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng tăng lên nhanh chóng Vì vậy, để có tận dụng được lợi thế của KH - KT, cơ quan quản

lý cần có những chính sách kịp thời nhằm đuổi kịp các tiến bộ công nghệ trên thế giới, khuyến khích áp dụng vào thực tiễn và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để công nghệ trở thành công cụ đắc lực trong sản xuất nông nghiệp nói chung và cây công nghiệp nói riêng Ví dụ, để đẩy mạnh ứng dụng KH - KT trong nông nghiệp của tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk

đã xây dựng “Đề án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đến năm 2020” nhằm mục tiêu phát triển một hệ thống nông nghiệp hiện đại, bền vững

và ít chịu tác động của BĐKH Bên cạnh đó, sự phát triển liên tục của KH -

KT còn đặt ra yêu cầu bản thân nhà nước cũng cần liên tục cập nhật, nâng cao trình độ nhân lực và cơ cấu tổ chức của mình để có thể điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ trên thế giới và bắt kịp với xu thế toàn cầu hóa

1.2.5.4 Chất lượng nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

về cây công nghiệp

Nguồn nhân lực là yếu tố tác động trực tiếp tới chất lượng hoạt động QLNN về cây công nghiệp bởi nó là nguồn lực để đảm bảo tính hiệu lực và

hiệu quả của công tác quản lý nhà nước

Trang 39

Đội ngũ nhân sự có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của hoạt động công vụ Chỉ có thông qua những hoạt động cụ thể của đội ngũ cán bộ công chức mà hệ thống pháp luật được đưa vào quản lý xã hội Phần lớn các thất bại của những công việc là do những người tham gia vào công việc đã và đang hoặc không có đủ năng lực hoặc không có động cơ

làm việc tốt [9, tr 51]

Như vậy, cán bộ, công chức là những người trực tiếp thực thi các hoạt động QLNN, cụ thể hóa các định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước vào trong thực tế Nếu đội ngũ nhân lực trong cơ quan nhà nước có trình độ chuyên môn vững vàng, trong sạch, nghiêm túc thực hiện các quy định và chính sách của nhà nước sẽ giúp cho công tác QLNN nói chung và đối với cây công nghiệp nói riêng đạt được hiệu quả cao

Ngoài ra, tất cả các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước đều được thực hiện thông qua một bô máy hành chính từ cấp trung ương đến địa phương.Việc thiết kế một cơ cấu tổ chức tốt, tinh gọn, không chồng chéo, ít tầng nấc sẽ giúp cho các hoạt động của cơ quan QLNN diễn ra một cách có hệ thống, tránh tình trạng trùng chéo chức năng, nhiệm vụ, đội ngũ nhân lực phát huy được năng lực của mình, từ đó giúp cho cơ quan nhà nước thực hiện hiệu quả các chức năng của mình

Ở cấp địa phương, cơ quan chính thực hiện quản lý nhà nước các vấn đề liên quan đến quy hoạch, trồng trọt và định hướng phát triển cây công nghiệp cho UBND tỉnh là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (TT & BVTV), dưới

sự chỉ đạo của Sở NN & PTNN Ngoài ra, lĩnh vực cây công nghiệp là lĩnh vực khá rộng và liên quan đến nhiều Sở, ban ngành khác, do đó, để thực hiện tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình, Chi cục TT & BVTV, cũng cần phối hợp với các chi cục và sở khác để hoàn thành nhiệm vụ của mình

Như vậy, bốn yếu tố bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, chất

Trang 40

lượng nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy quản lý và khoa học - kĩ thuật đều

có những tác động ở các mức độ khác nhau đến công tác quản lý nhà nước về cây công nghiệp Với những đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức bộ máy, công tác quản lý nhà nước về cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk dưới sự tác động của các yếu tố này cũng mang những đặc trưng khác biệt so với những vùng miền khác và sẽ được đề cập chi tiết hơn trong Chương 2 của Luận văn

1.3 Một số kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm thực tiễn

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Israel

Israel là quốc gia có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, gần như không được thiên nhiên ưu đãi để phát triển nông nghiệp, tuy nhiên, Israel lại được biết đến là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sạch và áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Để có sự phát triển vượt bậc này Chính phủ Isarel đã có những đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện triển khai chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao Cụ thể:

Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- cơ quan cao nhất chỉ đạo mọi hoạt động của ngành nông nghiệp

Đây là đơn vị chỉ đạo, kiểm tra, khuyến khích các hoạt động nông nghiệp nói chung và công nghệ nông nghiệp nói riêng Chính phủ Israel đã xây dựng các chức năng rất cụ thể cho cơ quan này nhằm phát huy được hiệu quả và hiệu lực hoạt động của Bộ Nhiệm vụ chính của Bộ NN & PTNT là đảm nhiệm mọi hoạt động liên quan đến nông nghiệp, bao gồm: Hướng dẫn và đào tạo nghề (cung cấp những kiến thức cập nhật về nông nghiệp cho nông dân, cung cấp những khóa đào tạo chuyên nghiệp, tập trung xây dựng những nền

Ngày đăng: 19/12/2017, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 vềtăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 vềtăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1998
4. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2012), Thông tư số 18/2012/TT-BNNPTNT về quy định về quản lý SXKD giống cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 18/2012/TT-BNNPTNT về quy định về quản lý SXKD giống cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Năm: 2012
5. Chi cục Trồng trọt & Bảo vệ thực vật, Báo cáo số 474/BC-TTBVTV- TTPC, ngày 12 tháng 12 năm 2016, Báo cáo công tác kiểm tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2016, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 474/BC-TTBVTV-TTPC, ngày 12 tháng 12 năm 2016, Báo cáo công tác kiểm tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2016
6. Cục Bảo vệ Môi trường (2003), 10 năm phát triển bền vững chặng đường từ Rio de Janeiro 1992 đến Johannesburg 2002,Hội thảo vì sự phát triển bền vững của Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm phát triển bền vững chặng đường từ Rio de Janeiro 1992 đến Johannesburg 2002,Hội thảo vì sự phát triển bền vững của Việt Nam
Tác giả: Cục Bảo vệ Môi trường
Năm: 2003
7. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2015), Niên giám thống kê năm2010- 2015, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm2010-2015
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015
8. Từ Thái Giang (2012), “Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn tiến sĩ Kinh tế nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Từ Thái Giang
Năm: 2012
9. Nguyễn Hữu Hải (chủ biên) (2010), Giáo trình “Lý luận hành chính nhà nước”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận hành chính nhà nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
10. Nguyễn Hữu Hải (chủ biên) (2014), Giáo trình “Quản lý học đại cương”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
13. Hoàng Sỹ Kim (2007), “Đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ Quản lý kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Hoàng Sỹ Kim
Năm: 2007
15. Lê Tề Lương (chủ biên) (2011), Giáo trình “Bệnh cây công nghiệp, nông nghiệp”, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cây công nghiệp, nông nghiệp
Tác giả: Lê Tề Lương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2011
16. Đinh Văn Mậu, Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn (2010), Giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước”, tập 1, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước”
Tác giả: Đinh Văn Mậu, Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2010
17. Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk (2013), Dự án quy hoạch phát triển cây công nghiệp dài ngày vàc ây ăn quả chủ yếu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án quy hoạch phát triển cây công nghiệp dài ngày vàc ây ăn quả chủ yếu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020
Tác giả: Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2013
18. Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk (2015), Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020
Tác giả: Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015
19. Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk (2016), Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2016
20. Thủ tướng chính phủ (2004), Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2004
21. Thủ tướng chính phủ (2017), Bài phát biểu tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ 4, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ 4
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2017
22. Tỉnh ủy Đắk Lắk (2008), Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 08 tháng 10 năm 2008 về phát triển cà phê bền vững trong thời kì mới, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 08 tháng 10 năm 2008 về phát triển cà phê bền vững trong thời kì mới
Tác giả: Tỉnh ủy Đắk Lắk
Năm: 2008
23. Tổng cục thống kê (2015), Niên giám thống kê 2015, Nxb Thống kê Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2015
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà
Năm: 2015
24. Phạm Thế Trịnh (2016), Sử dụng tài nguyên đất tỉnh Đắk Lắk , Hiện trạng và tiềm năng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tài nguyên đất tỉnh Đắk Lắk , Hiện trạng và tiềm năng
Tác giả: Phạm Thế Trịnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2016
25. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk (2015), Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông 2015, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông 2015
Tác giả: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm