1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

78 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 698,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những điểm bất cập đó là công tác quản lý nhà nước QLNN ở một số địa phương còn lỏng lẻo; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có lúc chưa chặt chẽ, việc hướng dẫn địa phương

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI HẢI YẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS: TRẦN MINH ĐỨC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

MAI HẢI YẾN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG 6

1.1 Sự cần thiết của hoạt động công chứng trong đời sống xã hội 6

1.2 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về công chứng 10

1.3.Vai trò của quản lý nhà nước về công chứng 14

1.4 Nội dung, phương thức quản lý nhà nước về công chứng 18

1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng 28

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến quản lý nhà nước về công chứng 32

2.2 Tình hình tổ chức và hoạt động công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh 36

2.3 Tình hình quản lý nhà nước về công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh 43

2.4 Đánh giá tình hình: Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh 50

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNGTỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 55

3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 57

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 59

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Dân số TPHCM từ 2011-2015

Bảng 2.2.Tình hình tổ chức hành nghề công chứng TP.Hồ Chí Minh từ năm

Biểu đồ 2.2 Lượng công chứng hợp đồng, giao dịch tại TP.Hồ Chí Minh

Biểu đồ 2.3 Tổng số tiền các tổ chức hành nghề công chứng nộp vào Ngân sách

Nhà nước hoặc nộp thuế

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ thương mại ngày càng nhiều dẫn đến sự gia tăng của các giao dịch dân sự Do đó, Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp quản

lý hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân

Kể từ khi ra đời, hoạt động công chứng đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Có thể nói, công chứng là công

cụ đắc lực hỗ trợ cho cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc tạo lập hành lang pháp lý an toàn, đảm bảo cho các giao dịch diễn ra thuận lợi, tránh những hành

vi vi phạm pháp luật và hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra

Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa nhân văn sâu sắc của hoạt động công chứng, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-

NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định “Hoàn thiện chế định công chứng Xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng Xây dựng mô hình QLNN về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp

để từng bước xã hội hóa công việc này”

Thể chế hóa chủ trương trên, vào ngày 19/01/2006, tại kỳ họp thức 10, khóa XI, Luật công chứng 2006 đã được Quốc hội thông qua (có hiệu lực ngày 01/07/2007), được coi là văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực công chứng, đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng cho tổ chức

và hoạt động công chứng Những kết quả bước đầu đạt được đã khẳng định chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng là hết sức đúng đắn, tạo điều kiện cho phát triển tổ chức và hoạt động công chứng của Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp hoá và trở thành một trong những dịch vụ công quan trọng, tạo ra những bảo đảm pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức phù hợp

Trang 6

với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa rủi ro, tranh chấp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đã bộc lộ một số khó khăn, bất cập Một trong những điểm bất cập đó là công tác quản lý nhà nước (QLNN) ở một số địa phương còn lỏng lẻo; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có lúc chưa chặt chẽ, việc hướng dẫn địa phương trong việc thi hành pháp luật công chứng có lúc chưa kịp thời, đôi khi còn chồng chéo giữa các Bộ, ngành liên quan dẫn đến lúng túng cho địa phương khi thực hiện; Công tác kiểm tra, thanh tra về tình hình tổ chức, hoạt động công chứng của cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương còn chưa chặt chẽ, thường xuyên nên dẫn đến việc tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, phát hiện, chấn chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đôi khi còn chưa hiệu quả, việc xử lý vi phạm có nơi, có lúc chưa kịp thời, chưa nghiêm

Xác định QLNN là một trong những nội dung quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hóa công chứng mạnh mẽ như hiện nay Đội ngũ Công chứng viên

và các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng phát triển, vì vậy vai trò của các

cơ quan có thẩm quyền phải được xác định, phân biệt rõ ràng, cụ thể để bảo đảm hiệu quả hoạt động Trên yêu cầu đó, ngày 20 tháng 06 năm 2014 Luật Công chứng

2014 đã được Quốc hội thông qua, đã khắc phục tình trạng không rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm giữa cơ quan QLNN như hiện nay

Với tư cách là một trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất của cả nước, cùng với vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông, vận tải, giao lưu hàng hóa thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành thị trường năng động nhất trong cả nước Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như sự gia tăng về quy mô dân số, nhu cầu hoạt động công chứng ngày càng gia tăng, vì vậy yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng là rất cấp thiết

Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN về công chứng trong giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa học, trên

cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý về công chứng phù hợp

Trang 7

với thực tiễn biến động của lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua ban hành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trong cả nước từ thực tiễn hoạt động công chứng tại Hồ Chí Minh Chính vì lý do trên tác giả

chọn đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí

Minh” làm đề tài luận văn cho mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Liên quan đến vấn đề công chứng, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, như:

- Luận văn thạc sỹ “Công chứng Nhà nước- Những vấn đề lỹ luận và thực tiễn ở nước ta” của tác giả Trần Ngọc Nga

- Luận văn thạc sỹ “Phân cấp QLNN về công chứng, chứng thực qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008

- Luận văn thạc sỹ “Xã hội hóa công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ Thị Vân Anh năm 2014

- Luận văn tiến sỹ luật học “Tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Khánh năm 2002

- Luận án tiến sĩ luật học “Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”của tác giả Tuấn Đạo Thanh năm 2008

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận xây dựng và hoàn thiện

tổ chức và hoạt động công chứng Việt Nam” năm 2002

Tuy nhiên các đề tài trên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về công chứng gắn với thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Do đó, việc

nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là không trùng lặp với các công trình đã công bố, có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLNNvề tổ chức và hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ lý luận – pháp lý về QLNN về công chứng như khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương thức các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng

- Phân tích tình hình hoạt động công chứng, vai trò QLNN về công chứng trên văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, đánh giá những ưu điểm, hạn chế QLNN đối với tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;

- Đề xuất nhu cầu, xây dựng phương hướng nâng cao và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đối với QLNN về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Những vấn đề lý luận về QLNN về công chứng và thực tiễn QLNN về công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu QLNN về tổ chức và hoạt động công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian: Vấn đề QLNN về công chứng từ 2011 đến nay

Về không gian: Thực trạng QLNN về công chứng trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như

Trang 9

phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, nhằm làm sáng

tỏ và nội dung nghiên cứu của đề tài Dựa trên quan điểm đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về QLNN về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, luận văn có một số đóng góp khoa học mới sau:

- Đưa ra khái niệm, chỉ ra đặc điểm, vai trò, phân tích nội dung quản lý,

QLNN về công chứng

- Phân tích và chỉ ra được ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của

thực trạng QLNN đối với tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất được hệ thống giải pháp nhằm nâng cao QLNN về công chứng

từ thực tiễn Hồ Chí Minh trong thời gian tới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của QLNN về công chứng Chương 2: Thực trạng QLNN về công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ CÔNG CHỨNG 1.1 Sự cần thiết của hoạt động công chứng trong đời sống xã hội

Hiểu một cách đơn giản nhất “công chứng” chính là việc “công” quyền đứng ra làm “chứng” Nói cách khác, thay vì để cá nhân tự đứng ra làm chứng

cho nhau trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại,… thì Nhà nước, bằng việc đạo tạo, bổ nhiệm đã trao cho một số cá nhân (hoặc tổ chức) nhất định một phần quyền năng để những người này thay mặt Nhà nước, đứng ra làm chứng (hoặc chứng kiến) các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại,… đó.[44,tr.7]

Công chứng có nguồn gốc Latinh là “Notarius” nghĩa là ghi chép, viết Công chứng là một nghề đã tồn tại hàng trăm năm nay Ở nước ta, vào những năm 30 của thế kỷ XX, trong quá trình xâm lược nước ta của thực dân Pháp, công chứng lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam Đến năm 1987, lần đầu tiên công chứng được chính thức đề cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp thì công chứng

nhà nước được hiểu là “một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện”

Luật công chứng 2006 đã được thay thế bằng Luật Công chứng năm 2014,

theo đó công chứng được hiểu “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp không trái đạo đức, xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật công chứng hoặc cá nhân,

tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Như vậy, chủ thể công chứng được

Trang 11

khẳng định là cá nhân công chứng viên, mục đích công chứng là hướng đến là

chứng nhận không chỉ đơn thuần là “tính xác thực” mà bao gồm cả “tính hợp pháp” của các hợp đồng, giao dịch, “tính chính xác” của bản dịch, giấy tờ, phạm vi công chứng được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản là “theo quy định của pháp luật công chứng” và “cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”

Từ đây có thể rút ra, công chứng là một dạng hành vi pháp luật tích cực, là hoạt động có ý thức của công chứng viên theo quy định pháp luật có liên quan

Qua đó, có thể thấy công chứng có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, chủ thể của hoạt động công chứng bao gồm công chứng viên và

Người có thẩm quyền công chứng - những cá nhân được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động công chứng Cả hai chủ thể này thực hiện công chứng với những quyền hạn được trao trực tiếp theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia Dù họ là công chứng viên chuyên nghiệp hay những cá nhân được phép thực hiện công chứng kiêm nhiệm, họ đều phải thỏa mãn những điều kiện theo pháp luật, cả hai loại chủ thể này đều bình đẳng ngang nhau về trách nhiệm, nghĩa vụ, đồng thời khi giải quyết một yêu cầu công chứng cụ thể, cả hai chủ thể này đều phải triệt để tuân thủ những thủ tục theo trình tự về quy định của pháp luật

Thứ hai, phạm vi công chứng bao gồm hai bộ phận: Hợp đồng, giao dịch

và các bản dịch mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng và hợp đồng, giao dịch và các bản dịch do đương sự tự nguyện yêu cầu

Luật Công chứng 2014 đã tái khẳng định hai yếu tố cơ bản cấu thành phạm vi công chứng (a) yếu tố bắt buộc, (b) yếu tố tự nguyện Yếu tố thứ nhất khẳng định quan điểm điều tiết, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với một số hợp đồng, giao dịch trong một số lĩnh vực nhất định, nó thể hiện vai trò quản lý nhà nước về công chứng Yếu tố thứ hai xác định cơ sở pháp lý vững chắc cho người yêu cầu công chứng nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ

Trang 12

khi xảy ra tranh chấp đối với những giao dịch mà họ tham gia hoặc với tư cách

là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Thứ ba, mục đích của công chứng chính là chứng nhận “tính xác thực” và

“tính hợp pháp” của hợp đồng, giao dịch Công chứng viên có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch được luật công chứng quy định trong trình tự thủ tục công chứng Công chứng viên không chỉ xác lập hợp đồng, giao dịch về mặt hình thức phù hợp pháp luật mà còn phải giải thích về pháp luật và tư vấn cho các bên về quyền và nghĩa vụ của họ phù hợp với pháp luật, làm cho nội dung của hợp đồng, giao dịch phù hợp theo quy định của pháp luật và đạo đức xã hội

Qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm của công chứng, có thể thấy sự cần thiết của công chứng trong đời sống xã hội ngày nay đó là:

Thứ nhất,công chứng là nhân tố, công cụ nhằm bảo vệ cho cá nhân, các tổ chức,trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại Công chứng được ví như một lá

chắn hỗ trợ, bảo vệ cho công dân, các tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại thông qua việc xác lập văn bản công chứng, có giá trị pháp lý Công chứng đảm bảo sự bình đẳng, khách quan trong việc tự nguyện thỏa thuận, cam kết giữa các bên về các điều khoản, về tính trung thực của văn bản, giao dịch

Thứ hai, công chứng là nhân tố, công cụ nang cao ý thức thận trọng cho

cá nhân, tổ chức trong các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại Thông qua hoạt động công chứng, công dân được nâng cao ý thức thận trọng có trách nhiệm hơn khi tham gia các hoạt động dân sự, kinh tế, thể hiện ý chí của mình nhưng vẫn tôn trọng các quy định của pháp luật, các chuẩn mực đạo đức, xã hội

Thứ ba, công chứng góp phần thức đẩy các giao dịch dân sự, kinh tế,

thương mại Trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa, các hoạt động giao dịch diễn ra đi cũng với các quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt, công chứng càng khẳng định vai trò của mình trong việc ổn định trật tự xã hội, bảo đảm quyền dân chủ, làm cho các hoạt động dân sự rõ ràng, minh bạch hơn,

Trang 13

tạo niệm tin và thúc đẩy công dân ngày càng tham gia mạnh mẽ vào các hoạt động dân sự Với chủ trương xây dựng Nhà nước theo hướng dân chủ xã hội hóa, nỗ lực hoàn thiện công chứng theo hướng xã hội hóa là một nhu cầu tất yếu

Thứ tư, công chứng góp phần bổ trợ cho các hoạt động QLNN Mặc dù

công chứng không phải là một trong những nội dung QLNN nhưng công chứng

có vai trò rất lớn trong việc bổ trợ cho các hoạt động quản lý của Nhà nước Đây

là yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng quy định của pháp luật Các quan

hệ giao dịch nếu không có sự hướng dẫn, QLNN sẽ lộn xộn, các tranh chấp, vi phạm sẽ xảy ra nhiều, gây khó khăn thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức Hoạt động công chứng tạo môi trường pháp lý lành mạnh để các giao lưu dân sự, kinh

tế thương mại phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

Thứ năm, công chứng tạo chứng cứ hỗ trợ cho hoạt động của các cơ quan tài phán Văn bản công chứng là “vũ khí” có hiệu lực, có giá trị pháp lý, là

chứng cứ tin cậy giúp trọng tài và tòa án giải quyết công bằng, khách quan các tranh chấp dân sự, thương mại trong thực tiễn Đồng thời văn bản công chứng là

cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, bên cạnh việc có giá trị là chứng cứ, văn bản công chứng có giá trị thực hiện

Mặc dù có vai trò quan trọng như trên nhưng công chứng chỉ có thể phát huy vai trò khi được tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, với bản chất

xã hội - nghề nghiệp và với khuynh hướng phát triển chung của công chứng Xu hướng phát triển của công chứng trên thế giới hiện nay là chuyển đổi từ công chứng bao cấp sang công chứng hoạt động trong khuôn khổ một nghề tự do (Ba Lan, Trung Quốc), phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường

Trang 14

1.2 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về công chứng

Khái niệm QLNN chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước

Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy

nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, QLNN là hoạt động của cả

ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp QLNN có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, chủ thể QLNN là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà

nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền

tư pháp

Thứ hai, đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức

sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Thứ ba, QLNN có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã

hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…

Mục tiêu của QLNN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội

Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ

thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc

bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ QLNN theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản

lý hành chính nhà nước với các đặc điểm sau đây:

Trang 15

Thứ nhất, Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện

ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản

lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước

Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp

Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản

lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước

Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ

Trang 16

Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được

sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên,

do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương

Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và điều hành

Tính chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản

lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật

Như vậy QLNN là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chức cao, và có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu, hơn cả là QLNN ở Việt Nam mang nguyên tắc tập trung dân chủ QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức

Từ khái niệm, đặc điểm về QLNNnhư đã phân tích ở trên, tác giả đưa ra khái niệm về QLNN về công chứng như sau:

Trang 17

QLNN về công chứng là việc Nhà nước sử dụng các biện pháp, công cụ

có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống tổ chức công chứng hoạt động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn

Từ khái niệm quản lý nhà nước về công chứng như trên, ta có thể rút ra đặc điểm quản lý nhà nước về công chứng như sau:

Thứ nhất, chủ thể của quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng là

cơ quan Nhà Nước, mang tính quyền lực Nhà nước

Ở cấp trung ương đó là Chính phủ thống nhất quản lý chung về công chứng, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý công chứng cả nước, ở địa phương

có UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp

Quyền lực Nhà nước trong quản lý hành chính Nhà nước được thể hiện thông qua việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí Nhà nước bằng các công cụ, phương tiện của Nhà nước có được mà quan trọng nhất là ban hành cácvăn bản pháp luật Thông qua các văn bản pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước thể hiện ý chí của mình, thể hiện các chủ trương, chính sách nhằm định hướng cho các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn, cũng thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, mà cụ thể hóa các quy định của cơ quan Nhà nước và của cơ quan cấp trên thành những quy định chi tiết, cụ thể để triển khai thực hiện

Thứ hai, khách thể của quản lý nhà nước về công chứng đó là việc Nhà

nước bảo đảm cho các giao dịch, dân sự được diễn ra an toàn, bằng việc công chứng viên được nhà nước ủy quyền chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch được thể hiện qua văn bản công chứng có giá trị chứng cứ không cần chứng minh

Thứ ba, mục tiêu của quản lý nhà nước về công chứng là để nhằm phòng

ngừa, hạn chế những tranh chấp, bảo đảm an toàn cho cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế thương mại, đồng thời bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân

Trang 18

Thứ tư, phương pháp quản lý nhà nước về công chứng mang tính thuyết

phục vừa mng tính mệnh lệnh hành chính Chủ thể quản lý nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, vận động người dân hiểu về vai trò, ý nghĩa của việc công chứng, bên cạnh đó chủ thể nhà nước ban hành các quy định pháp luật cụ thể buộc cá nhân, tổ chức phải tuân theo đó là khi thực hiện các giao dịch, hợp đồng mua bán, tặng cho, thế chấp, cá nhân, tổ chức buộc phải thực hiện công chứng

để được pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mình Nếu không thực hiện đúng quy định pháp luật về công chứng sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định

Thứ năm, quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng có nội dung đa

dạng như: Xây dựng và ban hành các quyết định quản lý nhà nước chủ đạo như Luật công chứng, Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng; quản lý

tổ chức hành nghề công chứng, bổ nhiệm, miễn nhiệm đội ngũ công chứng viên; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, tố cáo khiếu nại đối với tổ chức hành nghề công chứng,…

1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về công chứng

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển hiện nay, công chứng rất cần thiết và không thể thiếu trong các hoạt động, giao dịch của cá nhân, tổ chức trong xã hội, do vậy vai trò QLNN đối với tổ chức và hoạt động công chứng đóng vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện:

Thứ nhất, QLNN về công chứng góp phần điều tiết, điều chỉnh hoạt động

công chứng phát triển lành mạnh, bảo đảm an toàn pháp lý cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công chứng trong điều kiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp Có thể có thể thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng theo mô hình mới đang hình thành, vị trí, vai trò và hoạt động của công chứng viên mới tạo được tạo lập, xây dựng nên không tránh khỏi những lúng túng, bất cập, vì vậy Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng

Trang 19

trong việc định hướng cho hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng phát triển đúng định hướng đã đề ra

Thứ hai, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của

các tổ chức hành nghề công chứng theo định hướng xã hội hóa

Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao Không giống như

sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong một quy hoạch, nhất là sau khi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa Chính vì vậy, việc quy hoạch phát triển các mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng rất quan trọng, cũng như thực hiện QLNN về công chứng trên toàn quốc để bảo đảm các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và phân bố một cách hợp

lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng của nhân dân một cách đầy đủ và thuận tiện

Mục tiêu của xã hội hóa công chứng là phát triển rộng mạng lưới công chứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công Cải cách xã hội gắn liền với cải cách hoạt động tư pháp là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Nếu nhà nước buông lỏng quản lý, hậu quả sẽ là vô cùng nghiêm trọng Điều đó thêm một lần nữa khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của công chứng trong sự nghiệp phát triển ổn định kinh tế xã hội tại Việt Nam hiện nay Đặc biệt mô hình Văn phòng công chứng đã truyền tải ý chí đổi mới của nhà nước, góp phần thiết thực vào hoạt động xây dựng chính sách công về công chứng theo tinh thần

Nghị quyết Đại hội X của Đảng: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân”

“Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”,

“Phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn

Trang 20

xã hội để cùng nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng”

Việc xã hội hóa dịch vụ công chứng cũng đồng nghĩa với việc cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan QLNN đối với hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này QLNN đối với hoạt động công chứng sau khi hệ thống các Văn phòng công chứng được thành lập có những điểm mới thay đổi căn bản, theo đó, đối tượng của hoạt động QLNN hiện nay ngoài các Phòng Công chứng còn bao gồm các

Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền với đời sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đến mọi hoạt động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được phát triển an toàn, bền vững Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng

Trang 21

Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi

vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro tranh chấp xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình chứng nhận, vì thế, nó có hiệu lực thi hành đối với các bên

Thứ tư, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động cho các tổ chức hành nghề công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội

QLNN có vai trò định hướng sự phát triển của ngành theo lĩnh vực công chứng, xuất phát từ bản chất của hoạt động công chứng là một hoạt động công quyền của nhà nước, công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch Vì thế, việc xác định phạm vi, ranh giới các việc công chứng, nói cách khác là xác định thẩm quyền của các tổ chức hành nghề công chứng được làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nước trong quản lý về công chứng, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực này

Việc xác định phạm vi công chứng ở các nước không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước và do nhà nước lựa chọn, nhưng thông

thường có 2 cách: Cách thứ nhất, nhà nước liệt kê các việc công chứng: được áp dụng ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây; cách thứ hai, nhà nước xác định

phạm vi (khung pháp lý), sau đó các văn bản pháp luật sẽ quy định những việc bắt buộc phải công chứng (Anh, Pháp, Đức)

Trang 22

1.4 Nội dung, phương thức quản lý nhà nước về công chứng

1.4.1 Nội dung quản lý nhà nước về công chứng

Luật công chứng 2014 đã dành riêng một chương quy định về QLNN về công chứng Trong đó quy định riêng biệt trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành và trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp trong công tác QLNN về công chứng, nội dung QLNN đối với tổ chức và hoạt động công chứng bao gồm các mặt hoạt động chủ yếu sau:

Thứ nhất, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng

Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng QLNN, các chủ thể quản lý sử dụng nhiều hình thức hoạt động khác nhau, nhưng hình thức cơ bản và quan trọng nhất là hoạt động xây dựng và ban hành quyết định QLNN Hoạt động ban hành quyết định QLNN chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý, bởi vì hầu hết mọi hình thức hoạt động quản lý khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục

vụ cho hoạt động xây dựng và ban hành các loại quyết định QLNN, hoặc là để

tổ chức thực hiện các quyết định đó Quyết định QLNN là phương tiện không thể thiếu và chủ yếu mà các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện hầu hết các nhiệm vụ, chức năng quản lý

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một đặc điểm quan trọng của QLNN, thể hiện tính chất chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN nói chung, trong đó có QLNN đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng Để cụ thể hóa các quy định của Luật công chứng 2014, các cơ quan QLNN ở Trung ương cũng như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện trong thực tế chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chuyên môn hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng Những văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành cùng với Luật công chứng 2006, Luật công chứng 2014 là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng

Trang 23

cho để các cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý tổ chức và hoạt động của các văn phòng công chứng ở địa phương, thực hiện đúng nguyên tắc hiến

định“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” như Điều 12 Hiến pháp hiện

hành nước ta đã xác định

Thứ hai, QLNN về đội ngũ công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng bao gồm: Bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, quyết định cho phép thành lập các tổ chức hành nghề công chứng, cấp giấy đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề công chứng

Trong QLNN về đội ngũ công chứng viên được thể hiện bằng các nội dung sau:

Một là, về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên

Một trong những nội dung quan trọng của QLNN về công chứng là việc

bổ nhiệm công chứng viên Luật công chứng 2014 quy định cụ thể về các tiêu chuẩn công chứng viên, về việc bổ nhiệm công chứng viên;những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên [36]…

Để được bổ nhiệm công chứng viên, người yêu cầu bổ nhiệm phải công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn theo Luật thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên [36]:

Việc bổ nhiệm công chứng viên sẽ do Bộ Tư pháp quyết định, cụ thể là

Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm khi người yêu cầu bổ nhiệm công chứng viên bảo đảm các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định pháp luật Luật công chứng 2014 đã quy định Giám đốc Sở Tư pháp là người sẽ cấp thẻ cho Công chứng viên thay vì Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp thẻ theo Luật công chứng 2006

Hai là, về thành lập và cấp giấy đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề công chứng

Trang 24

Đối với Phòng công chứng: Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp thuôc

Sở Tư pháp, do UBND ra quyết định thành lập trên cơ sở căn cứ vào Đề án thành lập Phòng công chứng của Sở Tư pháp.Theo Luật công chứng 2014 Phòng công chứng chỉ được thành lập mới ở những địa bàn chưa có điều kiện phát triển các Văn phòng công chứng UBND tỉnh và Sở Tư pháp có quyền quyết định sự

ra đời của Phòng công chứng Bên cạnh đó, Luật cũng quy định tên gọi của Phòng công chứng Tên Phòng công chứng đơn giản gồm có số thứ tự thành lập

và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập Trưởng Phòng công chứng là người đại diện theo pháp luật và là chủ tài khoản của Phòng công chứng Chủ tịch UBND tỉnh có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trưởng phòng Công chứng

Đối với Văn phòng công chứng: Luật công chứng là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ra đời của Văn phòng công chứng Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc theo loại hình công

ty hợp danh Để thành lập Văn phòng công chứng, công chứng viên phải có hồ

sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Trong đề án thành lập Văn phòng công chứng, Công chứng viên phải nêu rõ sự cần thiết, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện Bên cạnh đó, sau khi nhận quyết định thành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương Tuy vậy, Văn phòng công chứng sẽ bị Sở

Tư pháp thu hồi giấy đăng ký hoạt động nếu Văn phòng công chứng không hoạt động trong thời gian sáu tháng, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, hoặc không hoạt động liên tục từ ba tháng trở lên Ủy ban nhân dân tỉnh có thể thu hồi quyết định cho phép thành lập nếu Văn phòng công chứng không đăng

ký hoạt động trong vòng 90 ngày, kể từ ngày có phép thành lập hoặc bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động.[36]

Trang 25

Chế độ tài chính theo nguyên tắc tự chủ bằng nguồn kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu nhập khác

Ba là, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng

Công tác chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực công chứng thực chất là một trong những hoạt động quản lý chuyên ngành Hoạt động này có tầm quan trọng trong việc áp dụng và thực hiện thống nhất pháp luật, tránh những sai sót xảy ra trong quá trình thực hiện công chứng, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chứng viên và nhân viên của các tổ chức hành nghề công chứng

Ngoài ra, việc chỉ đạo điều hành đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng từ Trung ương đến địa phương cũng là một trong những yếu tố cơ bản thể hiện chức năng, vai trò QLNN của cơ quan chính phủ,

Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được pháp luật quy định, đặc biệt vai trò điều hành chỉ đạo của những người đứng đầu hệ thống cơ quan này là Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng

Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp

Việc đào tạo nghề công chứng được giao cho cơ sở đào tạo nghề công chứng gồm Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp và cơ sở khác Hiện nay Học viện tư pháp là cơ quan duy nhất của cả nước thực hiện đào tạo nghề công chứng

Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên và nhân viên của các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan QLNN sẽ cung cấp kiên thức, kinh nghiệm trong hoạt động công chứng, phổ biến những quy định pháp luật và các hướng dẫn nghiệp vụ về công chứng nhằm giúp cho công chứng viên nắm bắt được toàn bộ hệ thống các quy định pháp luật về công chứng, về kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động công chứng…để từ đó có cách

Trang 26

giải quyết phù hợp quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội trong việc thực hiện hành vi công chứng

Việc bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên đối với công chứng viên giúp đội ngũ này nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động công chứng góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên

Bốn là, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật của tổ chức hành nghề công chứng

Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo, QLNN là nhiệm vụ không thể thiếu của cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo; là một trong ba việc phải làm của cơ quan Đảng và chính quyền các cấp, là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nước: Quyết định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đó

Thanh tra nhằm kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời phát hiện những vướng mắc bất cập khó khăn để có giải pháp phù hợp đối với các tổ chức hành nghề công chứng Theo quy định, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý thống nhất về công chứng trong phạm vi cả nước Ban hành và hướng dẫn sử dụng hệ thống sổ công chứng, chứng thực, mẫu hợp đồng, giao dịch, mẫu lời chứng, đào tạo nghề công chứng Sở Tư pháp giúp Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quản lý công chứng, chứng thực như: Bồi dưỡng nghiệp

vụ cho người thực hiện công chứng, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng

Bằng những kết luận thanh tra đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đối với các tổ chức hành nghề công chứng, ở ngành hoặc ở những đơn vị cơ quan được thanh tra, kiểm tra với những nhận xét

ưu, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân, có kiến nghị sửa chữa, khắc phục những

Trang 27

khuyết điểm, thiếu sót mà thanh tra đã phát hiện, trong đó có những sơ hở, khiếm khuyết của chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… giúp cho

cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước không những nắm được tình hình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, chỉ thị, mệnh lệnh… mà còn có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… đã ban hành hoặc ban hành chính sách mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập khu vực và thế giới

Năm là, tổ chức tổng kết hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng và một số mặt hoạt động khác

Tổ chức tổng kết, đánh giá hoạt động công chứng là một phần rất quan trọng trong công tác QLNN đối với tổ chức hành nghề công chứng.Việc tổng kết nhằm nắm bắt các thông tin, số liệu thực tế về tình hình tổ chức và hoạt động các tổ chức hành nghề công chứng, qua đó giúp các cơ quan QLNN kịp thời xây dựng, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển, chính sách pháp luật trong lĩnh vực công chứng

Thông qua báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động công chứng của các

tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan QLNN mới biết được điều kiện tổ chức

và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, cũng như cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ lưu trữ, số lượng việc công chứng, thu chi tài chính, lợi nhuận, nhưng thuận lợi khó khăn, vướng mắc để từ đó có những chỉ đạo phù hợp nhằm giúp cho Văn phòng công chứng phát triển tốt hơn

Để cho việc tổng kết, đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề đạt hiệu quả, cần có sự chấp hành nghiêm về công tác báo cáo và sự phối hợp thực hiện báo cáo, tổng kết của các cơ quan QLNN ở địa phương và trung ương, từ đó mới có cái nhìn tổng quát, chính xác về sự hình thành và phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng trong thời gian vừa qua Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách phát triển công chứng ở nước ta

Trang 28

nói chung, sự ổn định và phát triển của Phòng công chứng và Văn phòng công chứng nói riêng trong thời gian sắp tới

1.4.2 Phương pháp QLNN về công chứng

Phương pháp quản lý hành chính nhà nước đó chính là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi

đó phương pháp giáo dục, thuyết phục là phương pháp chủ yếu được sử dụng để thực hiện những nhiệm vụ trong hoạt động QLNN nói chung và đối với QLNN

về công chứng nói riêng

Bản chất của phương pháp thuyết phục đó là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết là tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện nhưng hành vi nhất định Thông qua thuyết phục, các chủ thể của quản lí nhà nước giáo dục cho mọi công dân nhận thức đúng đắn kỉ cương xã hội, kỷ luật nhà nước, động viên họ thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và xã hội Các tổ chức xã hội là chỗ dựa vững chắc của cơ quan hành chính nhà nước trong việc nâng cao ý thức pháp luật của công dân, trong việc đảm bảo mở rộng dân chủ

Cá nhân, tổ chức là đối tượng trực tiếp trực tiếp tham gia vào hoạt động công chứng, có quyền lợi ảnh hưởng trực tiếp trong việc công chứng giao dịch, hợp đồng Vì thế cơ quan, cá nhân được Nhà nước giao quyền quản lý công chứng trước hết phải tuyên truyền, giáo dục cho cá nhân, tổ chức hiểu rõ những

Trang 29

quyền và nghĩa vụ mà họ phải thực hiện khi tham gia vào công chứng, để họ tự giác chấp hành chứ không phải ép buộc thực hiện.Việc sử dụng phương pháp thuyết phục hướng đối tượng quản lý đến việc không bị xem là đối tượng có lợi ích đối nghịch với Nhà nước mà là một chủ thể ngang bằng với Nhà nước.Vì vậy, ngay từ khi Luật Công chứng có hiệu lực, Chính phủ và các bộ ngành, việc đầu tiên trong xây dựng Kế hoạch triển khai đó là mở hội nghị tập huấn, tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng đến người dân, tổ chức, những đối tượng sẽ tham gia vào công chứng Việc tuyên truyền thực hiện đồng bộ từ trung ương đến địa phương bằng nhiều hình như in tờ rơi, phát thanh, in sách tuyên truyền, tổ chức các buổi phổ biến luật mới, nhằm đưa hoạt động công chứng đến gần với người dân, giúp người dân, cơ quan, tổ chức hiểu rõ vai trò của công chứng, sự ảnh hưởng của công chứng trong việc giải quyết các giao dịch dân sự,

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Việc tuyên tryền, phổ biến các quy định về công chứng giúp cho người dân có cái nhìn toàn diện và sự hiểu biết về công chứng Thông qua phương pháp thuyết phục bằng cách thức tổ chức tuyền truyền, phổ biến luật công chứng, cơ quan nhà nước có thể bảo vệ quyền

và nghĩa vụ của người dân, từ đó tạo sự tin tưởng để đưa công tác công chứng ngày càng phát triển

Thứ hai, phương pháp cưỡng chế:

Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự do thân thể

Trong phương pháp cưỡng chế có bốn loại cưỡng chế nhà nước gồm: cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự, cưỡng chế kỉ luật và cưỡng chế hành chính Trong QLNN về công chứng, nhà nước đã sử dụng cưỡng chế kỉ luật và

Trang 30

cưỡng chế hành chính để áp dụng đối với các hành vi vi phạm của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng

Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi vi phạm kỷ luật nhà nước

Cường chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan

và người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành

vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa các vi phạm pháp luật…

Sử dụng phương pháp cưỡng chế trong QLNN về công chứng đó là việc Nhà nước ban hành áp dụng các quy định buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện hoặc không được thực hiện những quy định của Luật công chứng và các văn bản liên quan khi tham gia vào công chứng

Trong công tác QLNN về công chứng, sử dụng biện pháp cưỡng chế có vai trò vô cùng quan trọng để giúp cơ quan nhà nước điều tiết được hoạt động công chứng đi đúng chiều hướng, giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong hoạt động công chứng

Thứ ba, phương pháp hành chính:

Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng, nhằm đưa hoạt động công chứng vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương

Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương

án hành động của đối tượng quản lý Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định Tóm lại, phương pháp hành chính là phương pháp tác động đến cá nhân, tổ chức

Trang 31

thuộc đối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh và sự phục tùng

Phương pháp hành chính là phương pháp được sử dụng chủ yếu để QLNN

về công chứng Bằng phương pháp này, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về công chứng tác động trực tiếp lên tổ chức hành nghề công chứng bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương án hành động của tổ chức hành nghề công chứng Các tổ chức hành nghề công chứng chỉ được hoạt động trong khuôn khổ Luật công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành Đó là việc quy định phạm vi hành nghề công chứng, trình

tự thủ tục bổ nhiệm công chứng viên, trình tự thủ tục thành lập Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, trách nhiệm nghĩa vụ của công chứng viên, quyền, nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng, các đối tượng bị cấm hành nghề công chứng Bên cạnh đó, để ngăn ngừa hành vi vi phạm và nhằm răn

đe các hành vi vi phạm trong hoạt động công chứng, Chính phủ đã ban hành các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, quy định các hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính bắt buộc các tổ chức hành nghề công chứng phải thực hiện nếu

vi phạm

Thứ tư, phương pháp kinh tế:

Phương pháp kinh tế là phương pháp QLNN hữu hiệu bằng phương thức tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ

Thực chất của phương pháp kinh tế là đặt người tham gia công chứng vào những điều kiện kinh tế nhất định để họ có khả năng lựa chọn và đảm bảo hợp pháp, đúng đắn lợi ích của cá nhân với gia đình, với lợi ích của tổ chức cho pheps người tham gia công chứng lựa chọn con đường có hiệu quả nhất để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện công chứng Luật công chứng

2014 đã mở rộng phạm vi công chứng, cho phép người tham gia công chứng có

Trang 32

quyền lựa chọn công chứng hoặc chứng thực để thực hiện quyền lợi của mình Qua đó, Luật cũng yêu cầu các tỉnh xây dựng ban hành mức trần thù lao công chứng và mức chi phí chứng thực cho mỗi tỉnh, do đó người dân có thể lựa chọn cho mình cách thực hiện hiệu quả nhất

1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng

Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng bao gồm:

Thứ nhất,yếu tố chính trị:

Những quy định về pháp luật công chứng chính là thể chế hóa đường lối quan điểm của Đảng về công tác tư pháp Có thể nói, đây là một trong những đảm bảo hàng đầu quyết định hiệu quả hoạt động công chứng, thể hiện

nhận thức chính trị, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Điều này có nghĩa là các chủ thể liên quan có nhận thức một cách sâu sắc về chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách,luật của Nhà nước về công chứng Nói cách khác, các nghị quyết, văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp cận là lĩnh hội đầy đủ một cách chính xác để từ đó xác định được mục tiêu chung trong việc phát triển nghề công chứng

Thứ hai, yếu tố pháp lý:

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng thì yếu tố pháp lý đóng vai trò hết sức quan trọng, sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý đến QLNN về công chứng thể hiện ở khía cạnh sau:

Một là, nếu hệ thống pháp luật về công chứng được ban hành mang tính

hệ thống, toàn diện, phù hợp với thực tiễn và mang tính khả thi thì đây sẽ là điều kiện tiên quyết để hoạt động công chứng được thực thi có hiệu quả Nhưng nếu

hệ thống pháp luật không đầy đủ, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc xa rời thực tế sẽ dẫn đến hoạt động công chứng không hiệu quả và ảnh hưởng đến QLNN về công chứng Hoạt động công chứng sẽ bị gián đoạn, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên giao dịch sẽ không được đảm bảo

Trang 33

Hai là, nếu quy định về công chứng một cách chặt chẽ, có sự phối hợp đồng bộ với các lĩnh vực khác nhau như đất đai, nhà ở, sẽ tạo điều kiện để cho các cơ quan tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ, từ đó đảm bảo cho an toàn giao dịch, đảm bảo quyền lợi cho cá nhân, tổ chức, khắc phục tình trạng lừa đảo, vấn nạn giấy tờ giả để chiếm đoạt tài sản khi tham gia công chứng

Thứ ba, yếu tố kinh tế:

Công chứng ra đời và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế nhất định, kinh tế phát triển kéo theo các giao dịch dân sự, thương mại càng nhiều do đó cần đến

công chứng để “gác cổng” cho các giao dịch này được diễn ra an toàn, đảm bảo về

mặt pháp lý Ở nước nào có nền kinh tế phát triển ổn định thì cũng kéo theo hoạt động công chứng phát triển, ngược lại nếu kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu thì cũng ảnh hưởng đến hoạt động công chứng Muốn vậy, Nhà nước quản lý về công chứng cần chú trọng tới điều kiện kinh tế Sự tác động của yếu tố kinh tế đối với QLNN về công chứng thể hiện ở góc độ khi kinh tế khủng hoảng điển hình là thị trường bất động sản trầm lắng, dẫn đến các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, thế chấp, sẽ giảm đi kéo theo các tổ chức hành nghề công chứng sẽ không có việc làm ảnh hưởng đến nguồn thu, lợi nhuận

Thứ tư, yếu tố văn hóa – xã hội:

Văn hóa - xã hội là điều kiện đảm bảo đóng vai trò nền tảng trong QLNN

về công chứng Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực thì đã bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế như: sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, trình độ dân trí chưa cao, vấn đề

an sinh xã hội chưa được đảm bảo, tất cả những điều này ảnh hưởng đến QLNN về công chứng

Như đã phân tích, nếu các bên cá nhân sống trong môi trường dân trí cao, phong tục tập quán và những quy phạm xã hội được thống nhất, hài hòa với mặt bằng dân trí cao, xã hội phát triển, người dân biết điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những quy định của pháp luật về công chứng, qua đó việc thực hiện

Trang 34

đúng các quy định về công chứng sẽ dễ dàng, thuận lợi mà hiệu quả Ngược lại, trình độ dân trí thấp, các bên do không hiểu biết pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng thực hiện công chứng không đúng quy định dẫn đến việc làm sai, vi phạm

Thứ năm, yếu tố hội nhập quốc tế:

Trong điều kiện hội nhập quốc tế mạnh mẽ, và đặc biệt là khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các nước đều mong muốn có sự đảm bảo trong giao dịch quốc tế Vì vậy cũng như các lĩnh vực khác, công chứng cũng không nằm ngoại lệ về hội nhập quốc tế Hiện nay nhu cầu công chứng các loại giấy tờ trong lĩnh vực dân sự và thương mại của công dân Việt Nam để được công nhận ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài để được công nhận ở Việt Nam phát sinh rất lớn, đòi hỏi sự đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch và sự phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong hoạt động công chứng Chính vì vậy, yếu tố hội nhập có ảnh hưởng rất lớn đến QLNN về công chứng, đó là các cơ quan có thẩm quyền quản lý cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật công chứng của nước ta, trên cơ sở nghiên cứu, áp dụng các quy định pháp luật công chứng của các nước để từng bước hiện đại hóa hoạt động công chứng, góp phần nâng cao vị thế công chứng Việt Nam trên bình diện quốc tế

Kết luận chương 1

Dựa trên sự phân tích khái niệm của công chứng qua từng thời kỳ phát triển của pháp luật công chứng Việt Nam, qua đó làm rõ đặc điểm của công chứng và thấy được vai trò quan trọng của công chứng trong việc bảo vệ ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích của các bên hữu quan, thúc đấy giao dịch dân sự, thương mại đồng thời hỗ trợ cho hoạt động xét xử của các cơ quan tài phán

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công chứng hiện nay trong đời sống

xã hội, vấn đề QLNN về công chứng có nội dung rất phong phú và đa dạng, trong đó quan trọng và chủ yếu là các nội dung ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng, quản lý đội ngũ công chứng viên và tổ chức hành nghề

Trang 35

công chứng cũng như vấn đề thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, tố cáo, khiếu nại trong lĩnh vực công chứng QLNN về công chứng nhằm để đạt được mục đích của hoạt động công chứng Trong đó phải sử dụng các phương thức QLNN về công chứng để đảm bảo hoạt động công chứng tuân theo khuôn khổ pháp luật đó

là phương pháp thuyết phục và phương pháp hành chính

Bên cạnh đó, để làm rõ vấn đề QLNN về công chứng còn cần phải xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng đó là yếu tố chính trị,pháp luật, kinh tế, văn hóa, đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến QLNN về công chứng góp phần thúc đẩy hoạt động công chứng diễn ra theo đúng định hướng, mang lại lợi ích cho toàn xã hội

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến quản lý nhà nước về công chứng

* Đặc điểm tự nhiên:

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10°22’33"- 11°22’17" vĩ độ bắc

và 106°01’25" - 107°01’10" kinh độ đông với điểm cực bắc ở xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực tây ở xã Thái Mỹ (Củ Chi) và điểm cực đông ở xã Tân An (huyện Cần Giờ) Chiều dài của thành phố theo hướng tây bắc - đông nam là 150 km, còn chiều tây - đông là 75 km Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 59 km đường chim bay Thành phố có 12 km bờ biển, cách thủ đô Hà Nội 1.730 km (đường bộ) về phía Nam

Diện tích toàn Thành phố là 2.095,06 km2, trong đó nội thành là 140,3km2, ngoại thành là 1.916,2km2 Độ cao trung bình so với mặt nước biển: nội thành là 5 m, ngoại thành là 16 m

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế-

xã hội của miền Nam và cả nước Với 19 quận và 5 huyện, địa giới hành chính chung với các tỉnh Bình Dương ở phía Bắc, Tây Ninh ở phía Tây Bắc, phía Đông và Đông Bắc giáp Đồng Nai, phía Đông Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp Long An và Tiền Giang, phía Nam giáp biển Đông Đây được coi là vị trí trng tâm của các khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh được coi là thành phố cảng lớn nhất trong

cả nước

Ngoài ra hệ thống giao thông trong đường bộ, cảng hàng không, cảng biển quốc tế hội tụ đầy đủ điều kiện để góp phần thúc đẩy giao thương giữa các nước trong khu vực ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) nói riêng và toàn

Trang 37

thế giới nói chung Do nhu cầu ngày càng nâng cao trong hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế, tiềm năng để phát triển các ngành như Công nghệ - thông tin, tài chính ngân hàng,…cộng với lượng lao động tập trung lớn và tăng đều qua từng năm nên thành phố Hồ Chí Minh có sức hút mạnh mẽ với các nhà đầu tư

*Đặc điểm kinh tế- xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu cả nước về quy mô dân số

và mức độ đô thị hóa, là đầu tàu kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và hoạt động kinh tế năng động nhất; thành phố còn là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất nước, cùng với sự phát triển của nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn, thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế trong nước

và ngoài nước

Với xu thế phát triển theo hướng ngày càng hội nhập đã tạo động lực cho các doanh nghiệp mới dễ dàng tham gia vào nền kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh trở thành một thị trường hấp dẫn, thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước, đây là một yếu tố thuận lợi giúp cho hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua luôn phát triển ở mức cao và

sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới

Trong giai đoạn 2011 – 2015, tổng số doanh nghiệp được cấp phép thành lập mới đạt 132.582 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 835.882,7 tỷ đồng, so với giai đoạn 2006 - 2010 tăng 29,8% về số lượng doanh nghiệp và giảm 2,5% về vốn đăng ký Tổng số lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh là 202.848 lượt doanh nghiệp, trong đó vốn điều chỉnh bổ sung tăng là 718.148,5 tỷ đồng; so với cùng kỳ tăng 22,2% về số lượt doanh nghiệp và giảm 9,3% về vốn thay đổi Tính chung tổng vốn đăng ký và bổ sung là 1,65 triệu tỷ đồng, giảm 5,8% so với cùng kỳ Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch – Đầu tư, sau 5 tháng thực hiện Luật Doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng ở mức kỷ lục Trong năm 2015, số doanh nghiệp thành lập mới đạt khoảng 94.000 doanh nghiệp - đây là con số kỷ lục so với những năm trước đây Tính

Trang 38

chung từ đầu năm đến 15/9/2016, Thành phố có 25.981 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 16,98% so với cùng kỳ năm trước [55] Như vậy với sự gia tăng đang kể của các doanh nghiệp đi cùng với việc các hợp đồng giao dịch kinh

tế, dân sự ngày càng nhiều Điều này dẫn đến nhu cầu công chứng hợp đồng cũng tăng mạnh mẽ hơn, đòi hỏi việc đáp ứng cung cấp dịch vụ công chứng lớn hơn Sự gia tăng số lượng của doanh nghiệp, làm phát sinh hợp đồng giao dịch kinh tế, dân sự cần công chứng cùng nhu cầu công chứng tài sản đảm bảo ngày càng nhiều đã thúc đẩy lớn đến sự phát triển và hoạt động của các tổ chức công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Thêm vào đó, sau giai đoạn suy thoái trước đây, hiện nay thị trường bất động sản của Thành phố Hồ Chí Minh đang hồi phục và phát triển chóng mặt Bước vào năm 2016, nhiều doanh nghiệp bất động sản đã khởi động hàng loạt

dự án mới, đặc biệt là loại hình chung cư Trong năm 2015, thị trường bất động sản TPHCM đã chào bán 41.787 căn hộ từ 78 dự án đa số tập trung ở phía Đông

và phía Nam của thành phố, tăng 122% so với những năm trước Đây cũng là năm ghi nhận lượng căn hộ được chào bán nhiều nhất, với lượng giao dịch cao nhất trong năm tiêu thụ 36.180 căn hộ, tăng 98% so với năm trước[50]

Theo Quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, hầu hết các giao dịch chuyển nhượng có liên quan đến bất động sản cần phải công chứng để đảm bảo tính hợp pháp cũng như bảo vệ được quyền lợi của cá nhân, tổ chức khi có tranh chấp, rủi ro liên quan đến bất động sản xảy ra Tuy nhiên, khi kinh tế phát triển, các hoạt động diễn ra sôi động, đa dạng thì những tranh chấp phát sinh từ những giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại cũng xuất hiện ngày một nhiều Vì vậy, xuất phát từ nhu cầu công chứng của người dân ngày một lớn đòi hỏi sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng để góp phần phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, phòng ngừa tranh chấp, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, xét xử, giải quyết tranh chấp Hiện nay, các quy định pháp luật về việc công chứng các hợp đồng liên quan đến đất đai ngày càng

Trang 39

hoàn thiện, chặt chẽhơn, hành vi công chứng xuất phát từ nhu cầu quản lý của nhà nước đã góp phần cho hoạt động công chứng mở rộng phạm vi hoạt động, là

cơ sở để duy trì các hoạt động công chứng được diễn ra trong xã hội

Kinh tế phát triển, kéo theo sự phát triển của dân số, thành phố Hồ Chí Minh là một trong 02 thành phố đông dân nhất trong cả nước, đứng sau Hà Nội Với tổng số hơn 9 triệu dân trên thành phố Dân số ở thành phố Hồ Chí Minh tăng lên theo từng năm, đây là địa bàn kinh tế trọng điểm vì vậy dân cư từ các tỉnh khác đổ về rất đông và đủ mọi thành phần Có thể thấy lượng dân cư Thành phố Hồ Chí Minh tăng theo từng năm từ 2011 đến 2015 qua biểu đồ sau:

Bảng 2.1: Dân số TPHCM từ 2011-2015

Dân số 7.590.138 7.791.789 7.939.752 8.072.129 8.247.829

(Theo niên giám của Cục thống kê thành phố Hồ Chi Minh năm 2011-2015)

Sự gia tăng dân số trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vừa là cơ hội vừa

là thách thức cho quá trình quản lý Mức độ đô thị hóa tại thành phố Hồ Chí Minh ở mức cao, dân số các tỉnh khác ồ ạt di cư đến, với trình độ đa dạng, họ tham gia vào nhiều công việc khác nhau, qua đó khẳng định thị trường lao động

ở thành phố Hồ Chí Minh là thị trường “béo bở” thu hút người dân di cư đến để

lao động, tìm kiếm công việc Với trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất cùng với lượng dân số đông sẽ dẫn đến nhu cầu về giao dịch cũng tăng lên.Trong đó

có giao dịch về công chứng diễn ra sôi nổi và phát sinh tranh chấp là điều tất yếu Thời gian qua, tại thành phố Hồ Chí Minh thường xảy ra các vụ lừa đảo công chứng tinh vi như giả mạo giấy tờ giả, người công chứng giả,…hòng qua mắt công chứng viên để chuộc lợi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các

tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên Vì vậy, việc ra đời của các

tổ chức hành nghề công chứng là để đáp ứng được nhu cầu xã hội, góp phần đảm bảo an toàn giao dịch, là công cụ giúp Nhà nước quản lý xã hội

Ngày đăng: 19/12/2017, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp (2014), Công văn số 500/BTP-BTTP ngày 24/02/2014về “việc phối hợp thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công chứng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 500/BTP-BTTP ngày 24/02/2014về “việc phối hợp thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công chứng
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
2. Bộ Tư pháp (2014), Đề cương giới thiệu Luật Công chứng 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương giới thiệu Luật Công chứng 2014
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
4. Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính (2008), Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT/BTC-BTP ngày 17/10/2008, hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí công chứng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT/BTC-BTP ngày 17/10/2008, hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí công chứng
Tác giả: Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính
Năm: 2008
5. Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính (2012), Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT- BTC-BTP ngày 19/01/2012, hướng dẫn vềmức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí công chứng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012, hướng dẫn vềmức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí công chứng
Tác giả: Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính
Năm: 2012
13. Minh Hà (2015), Quyền và nghĩa vụ của công chứng viên theo Luật công chứng năm 2014, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), tr 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ của công chứng viên theo Luật công chứng năm 2014
Tác giả: Minh Hà
Năm: 2015
15. Lê Thị Bích Hạnh (2010), Tạp chí Dân chủ và pháp luật,(Số chuyên đề), tr. 23 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lê Thị Bích Hạnh
Năm: 2010
16. Hoàng Xuân Hoan(2012), Cơ chế minh bạch hóa thông tin về tài sản phục vụ cho giao dịch công chứng, Nghề luật (số 5), tr 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế minh bạch hóa thông tin về tài sản phục vụ cho giao dịch công chứng
Tác giả: Hoàng Xuân Hoan
Năm: 2012
17. Vũ Việt Hoàn (2012), Vai trò của hoạt động công chứng trong lĩnh vực tư pháp, Nghề luật (số 5),tr 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của hoạt động công chứng trong lĩnh vực tư pháp
Tác giả: Vũ Việt Hoàn
Năm: 2012
18. Học viện hành chính (2012), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính), Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính)
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2012
19. Học viện Tư pháp (2003), Nghiệp vụ công chứng viên, NxbThống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công chứng viên
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 2003
20. Hoàng Ngọc Lan (2015), Nâng cao chất lượng công chứng viên theo yêu cầu của Luật công chứng năm 2014, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), tr 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công chứng viên theo yêu cầu của Luật công chứng năm 2014
Tác giả: Hoàng Ngọc Lan
Năm: 2015
21. Thanh Nga (2015), Những vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), tr 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng
Tác giả: Thanh Nga
Năm: 2015
22. Đặng Văn Khanh (2000), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đặng Văn Khanh
Năm: 2000
23. Quốc hội (2006), Luật Công chứng năm 2006 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công chứng năm 2006 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
24. Quốc hội (2014), Luật Công chứngnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công chứngnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2014
25. Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệpnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệpnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2014
26. Quốc hội (2013), Luật Đất đainăm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đainăm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
27. Quốc hội (2014), Luật Nhà ởnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhà ởnăm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2014
31. Tuấn Đạo Thanh (2012), Pháp luật công chứng, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật công chứng, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Tuấn Đạo Thanh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2012
33. Tuấn Đạo Thanh (2008), Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Tuấn Đạo Thanh
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w