1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)

114 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ)

Trang 2

ĐẮK LẮK - NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin can đoan rằng:

+ Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào

+ Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Đắk Lắk, tháng 7 năm 2017

Tác giả luận văn

Dương Tấn Lãnh

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất tới

thầy PGS.TS Ngô Thành Can, công tác tại Học viện Hành chính quốc gia,

người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Sau Đại Học, Phân viện Tây Nguyên cùng quý thầy giáo, cô giáo của Học viện hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giúp tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

và các ban, ngành, đoàn thể huyện Sông Hinh đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Đắk Lắk, tháng 7 năm 2017

Tác giả

Dương Tấn Lãnh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 10

VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm 10

1.2 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên 27

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp, giải quyết việc làm 32

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 39

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 39

VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 39

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN 39

Phú Yên 39

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực lao động tại huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên44

Trang 6

2.4 Hạn chế và nguyên nhân: 66

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 70

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 70

VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 70

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN 70

70

70

cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh 73

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Phụ lục 1 100

Phụ lục 2 103

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, Tỉnh Phú Yên có nhiều cơ hội

để phát triển nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn, trong đó

có vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và cho đối tượng

là thanh niên nói riêng Hơn lúc nào hết, nguồn nhân lực lao động thanh niên đang đứng trước nguy cơ gia tăng thất nghiệp do không đáp ứng được yêu cầu

về chất lượng, đặc biệt ở các lĩnh vực hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn,

kỹ năng nghề nghiệp cao do quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế…

Sông Hinh là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Yên, có thế mạnh về nông nghiệp và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, du lịch - thương mại và dịch vụ; nguồn nhân lực thanh niên dồi dào Tuy nhiên, do chất lượng lao động còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai Cũng tương đồng với các huyện khác trong tỉnh, Sông Hinh dư thừa sức lao động nông thôn ở lĩnh vực nông nghiệp, ngược lại ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ,

du lịch lại thiếu hụt lao động trầm trọng Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải điều tiết về quy luật cung cầu nguồn lao động trong xã hội nhằm hạn chế tình trạng lao động thất nghiệp trong khi nơi khác, ngành nghề khác lại thiếu hụt lao động, và ngược lại, doanh nghiệp thiếu hụt lao động nhưng người lao

động không tìm được việc để làm

Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm là loại hình quản lý đặc biệt

do Nhà nước tiến hành trên cơ sở nắm bắt mối quan hệ giữa dân số, lao động

và người sử dụng lao động Từ đó Nhà nước đưa ra những giải pháp và nội

cho Người lao động để công dân được thực hiện quyền lao động của mình theo quy định của pháp luật

Trang 8

Sông Hinh là vùng đất đầy tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình

độ, tay nghề cao với cơ cấu hợp l

ện nay, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn huyện phát triển còn hạn chế; nhận thức của các ngành và toàn xã hội về phát triển nguồn nhân lực chưa cao; quản lý nhà nước

về việc làm còn bất cập, một số cơ chế chính sách chưa phát huy hiệu quả…

ải quyết những vấn đề đặt ra và góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của huyện Sông Hinh trong thời gian tới, tác giả chọn đề tài nghiên cứu:

“Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học

chuyên ngành Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết trong bất kỳ xã hội nào Chính vì vậy đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên trong phạm

vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu sau:

Ngô Quỳnh An, Luận án tiến sĩ, bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học

Kinh tế Quốc Dân với đề tài “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho

thanh niên Việt Nam”, đề tài đã phân tích các ảnh hưởng tới khả năng có

được việc làm được trả lương cho toàn bộ dân số từ 10 tuổi trở lên trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ phải đạt từ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm của người lao động, yêu cầu về trình độ này

Trang 9

văn hóa, đào tạo nghề có ảnh hưởng lớn đến cơ hội có việc làm của người lao động Trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra rằng lao động là người thuộc các hộ gia đình nghèo có khả năng có được việc làm cao hơn ở những

hộ gia đình không nghèo Nguyên nhân có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên tìm kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống mạnh

mẽ hơn Ngoài ra nó cũng phù hợp với cơ cấu việc làm hiện nay đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay và việc làm trong khu vực phi kết cấu Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cũng cao hơn so với nam giới [1]

Phùng Ngọc Triều, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2007 tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Trong luận văn Thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp” đã xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội làm việc phi nghiệp của lao động nông thôn đó là: Giới tính của lao động có tác động nhiều đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động trong vùng Tác động của yếu tố này thể hiện nữ giới có khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp tại địa phương cao hơn nam giới, họ tham gia dưới các hình thức việc làm tự tạo như buôn bán, may, thuê hay việc làm hàng gia công tại nhà; Trình độ giáo dục ảnh hưởng đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp, xu hướng chung là trình độ giáo dục của lao động càng cao thì khả năng tham hoạt động phi nông nghiệp càng lớn Bên cạnh đó học nghề cũng có tác động rất lớn thúc đẩy lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp và đặc biệt đối với lao động nữ thì học nghề có tác động mạnh hơn lao động nam; Thông tin việc làm có tác động khá lớn đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động, nhưng là tác động ngược chiều Lao động có biết nguồn cung cấp thông tin

về việc làm phi nông nghiệp nhưng khả năng tham gia rất ít do chất lượng

Trang 10

nguồn thông tin kém và việc làm không phù hợp; Các nhà máy, tổ hợp sản xuất chưa thể hiện tác động rõ nét đối với vùng nghiên cứu trong hiện tại nhưng sự xuất hiện và phát triển của chúng sẽ có tác động tích cực đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của người lao động [25]

Nguyễn Trọng Vân, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Trong đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh” Tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng việc làm, các yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố về đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như các chính sách tạo việc làm cho thanh niên, hỗ trợ về vốn sản xuất, kỹ thuật, đào tạo nghề [28]

Bài viết “Giải pháp việc làm cho thanh niên hiện nay” của tác giả

Đoàn Nam Đàn được đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, (số 3) năm 2015 Trong bài viết này tác giả đã nêu lên một số nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên, đó là: Sự suy thoái của kinh tế thế giới và Việt Nam, dẫn đến nhiều doanh nghiệp hoạt động khó khăn; diện tích đất canh tác ở nông thôn, khu vực ven đô ngày một thu hẹp; Công tác tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, dẫn đến nhận thức về lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên chưa phù hợp Bên cạnh đó tác giả cũng đề ra một số giải pháp để như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tiếp tục hoàn thiện

Trang 11

việc làm cho thanh niên theo các nhóm đối tượng; hực hiện xã hội hoá công tác giải quyết việc làm cho thanh niên; tăng cường công tác tuyên truyền và xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về hướng nghiệp, tạo việc làm cho thanh niên [7]

Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Đề án

được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định (số 1956/QĐ-TTg) phê duyệt Đề án

đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới Mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho 17 triệu lao động nông thôn,

mở ra nhiều cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn [23]

Bài viết “Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện

nay của tác giả Đặng Cảnh Khanh, Phạm Bằng đăng trên cổng thông tin điện

tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tháng 7 năm 2012 Trong bài viết này tác giả đã nêu lên được cơ cấu lao động, việc làm trong thanh niên; phân tích rõ về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên hiện nay; đánh giá về hiệu quả việc nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên [15]

Bài viết “Chính sách việc làm: thực trạng và giải pháp” của tác giả

Nguyễn Thúy Hà đăng trên cổng thông tin điện tử của Viện Nghiên cứu lập pháp (vnclp.gov.vn) tháng 6 năm 2013 Trong bài viết này tác giả đã phân rõ việc làm và chính sách việc làm ở nước ta Hệ thống hoá khái niệm, vai trò của việc làm; phân tích thực trạng việc làm của nước ta và đưa ra các phương hướng giải quyết vấn đề việc làm như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, đảm bảo và thực hiện các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan tới thị trường lao động ở nước ta; mở rộng và phát

Trang 12

triển thị trường lao động ngoài nước, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề Đồng thời tác giả đã hệ thống chính sách việc làm, đánh giá chính sách việc làm và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm Tuy nhiên, tác giả chủ yếu đưa ra các số liệu thống kê năm 2011, ít có sự so sánh giữa các năm,

và chưa đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm và chính sách việc làm ở nước ta [9]

Luận văn thạc sỹ với đề tài “Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo

nghề cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ” được tác giả Nguyễn Thị Hoài Lan bảo

vệ thành công năm 2012 Kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đã làm rõ một số nội dung như: Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên; những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên

và đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho thanh niên [16]

Luận văn thạc sỹ “Giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc

thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc” của tác giả Vũ Thị Việt Anh Kết quả nghiên cứu

của luận văn, tác giả đã làm rõ một số nội dung như: hệ thống một số khái niệm cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động; những đặc điểm cơ bản của người dân tộc thiểu số; nêu lên tình hình phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Đắc Lắc ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số, qua đó tác giải cũng đề ra một số giải pháp để giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc [2]

Nhìn chung, những công trình và bài viết nói trên đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề việc làm, vấn đề tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến người lao động nói chung và đến vấn

đề việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên ở nhiều góc độ, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực ( nông thôn, thành thị, miền núi, đồng bằng…) khác

Trang 13

chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ những ưu điểm, hạn chế vấn đề quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên trong thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên một cách có hiệu quả từ nay đến năm 2020

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết các nhiệm vụ:

-

giải quyết vi

Yên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu

- Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

- Thanh niên từ 15 đến 30 tuổi đang sinh sống, lao động, sản xuất trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

Trang 14

- Những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết

việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

- Phạm vi không gian: Trong phạm vi địa giới hành chính của huyện

Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

- Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ năm

2012 đến 2016 Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn thanh niên, hộ gia đình thanh niên, mạng lưới việc làm, các cơ quan năm từ

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp hệ thống hóa, thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích, phương pháp khảo sát thực tế….Ngoài ra, Luận văn sử dụng số liệu sơ cấp, số liệu sơ cấp được thu thập từ số liệu thống kê về kết quả điều tra khảo sát, từ các báo cáo tổng kết và các văn bản quy phạm pháp luật; các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận

Trang 15

Luận văn làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên nói riêng

Về thực tiễn

Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với bộ máy quản lý nhà nước các cấp, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, hộ gia đình về giải quyết việc làm cho thanh niên, góp phần nâng cao hình ảnh của người thanh niên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm có 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm;

làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên;

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.1 Một số khái niệm cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm

1.1.1 Khái niệm việc làm

Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khao học, đầy đủ và đúng đắn hơn

- Dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của con người Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình

Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội Sở dĩ có sự phát sinh này là do con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân người lao động cũng quyết định được Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh

Trang 17

Tóm lại, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận

- Dưới góc độ pháp lí

+ Theo quan niệm quốc tế:

ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm: “Người có

việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” [16] Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội

nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO.1993) và được áp dụng ở nhiều nước Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc

ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)…

+ Theo quan niệm của Việt Nam:

Tại Khoản 1, Điều 35 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Công dân có

quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” [17] Từ

quan niệm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm

Trên cơ sở này, Điều 9 Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Việc làm là

hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [20]

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:

Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư

liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp Vì vậy người

Trang 18

có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định

Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu

nhập

Hoạt động hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái

pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc làm

- Trên bình diện kinh tế - xã hội

Về mặt kinh tế: việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả

của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế

Về mặt xã hội: bảo đảm việc làm có hiệu quả to lớn trong vấn đề

phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội Thất nghiệp và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội Các tệ nạn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp

- Trên bình diện chính trị - pháp lí

Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh và sự ổn định của mỗi

Trang 19

vấn đề gay cấn, nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình, đồng thời cũng

là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị

Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo

đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể

- Trên bình diện quốc gia - quốc tế

Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội

Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình Điều này giúp cân bằng lao động Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những người lao động mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn

Trang 20

Vấn đề việc làm - giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nước có nền kinh tế phát triển Và

để giải quyết vấn đề này, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau

Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động nhưng cũng có biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ Các biện pháp mang tính

hỗ trợ cho giải quyết việc làm như khuyến khích đầu tư, lập các chương trình việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng…Các biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm như đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng lao động và

tự do lao động Tất cả nhằm hướng tới mục đích làm giảm tình trạng thất nghiệp, mất cân bằng lao động…

1.1.3 Khái niệm giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có của từng đơn vị, từng địa phương và người lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định cho người lao động; những công việc đó phải đem lại thu nhập, đảm bảo thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động

Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành Giải quyết việc làm phải được xem ở cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của nhà nước

Vì vậy, “Giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh

tế, xã hội từ vi mô cho đến vĩ mô có tác động đến người lao động có thể có việc làm” [16]

Trang 21

1.1.4 Ý nghĩa của giải quyết việc làm

- Ý nghĩa về mặt kinh tế

Giải quyết việc làm là một trong những nhân tố đảm bảo cho nền kinh

tế phát triển ổn định, có mức tăng trưởng cao, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

Giải quyết việc làm và thực hiện chiến lược việc làm nhằm nâng cao khả năng phản ứng và điều chỉnh tình hình kinh tế Đồng thời nâng cao khả năng đổi mới và sáng tạo trong nội tại nền kinh tế Nâng cao tính linh hoạt về thời gian lao động, tiền công, chi phí, năng lực, đảm bảo an toàn lao động, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác

Giải quyết việc làm chính là giải quyết đầu vào cho quá trình sản xuất sức lao động chỉ được sử dụng hiệu quả khi giải quyết được việc làm đầy đủ cho người lao động

- Ý nghĩa về mặt xã hội

Giải quyết việc làm sẽ tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó chính là quyền được làm việc Thông qua việc làm con người thể hiện quyền được sống, quyền được làm việc và quyền mưu cầu hạnh phúc

Chính sách giải quyết việc làm là một công cụ của Đảng và Nhà nước

ta nhằm giải quyết và điều chỉnh các vấn đề xã hội như: phát huy khả năng sáng tạo của con người, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho họ, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội mà trước hết bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội

1.1.5 Thất nghiệp và nguyên nhân

Khái niệm thất nghiệp

Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp

Trang 22

Theo tổ chức quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một

số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành” [16]

Tại Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp

khẳng định “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực

làm việc” Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm” Ở Việt Nam, thất

nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế cơ chế

kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và

sẵn sàng làm việc Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam: “Thất nghiệp là

những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”[16]

- Một số nguyên nhân gây nên thất nghiệp:

+ Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi

Theo chu kỳ phát triển kinh tế, sau hưng thịnh đến suy thoái khủng hoảng Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động Ngược lại thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ, nhu cầu lao động giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bị dôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếu năng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng, thất nghiệp sẽ tăng lên 2%

Trang 23

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hóa quá trình sản xuất sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Chính vì thế, các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động vào sản xuất, máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư Số lao động này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp

+ Sự gia tăng dân số

Sự gia tăng dân số ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động và vấn đề giải quyết việc làm của mỗi địa phương Dân số tăng nhanh sẽ buộc ngân sách nhà nước nói chung và xã hội nói riêng giảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho đầu tư tiêu dùng Vì vậy đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động giảm xuống, cơ hội tìm việc làm càng khó khăn Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không gắng kết được lao động với các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên…khiến cho việc tạo việc làm mới ngày càng khó khăn, thất nghiệp tăng cao

Từ thực tế trên cho thấy, vấn đề đặt ra là cần hướng tới việc “Bảo tồn tính cân bằng, ổn định bên trong của sự phát triển dân số” nhằm đạt được mục tiêu ổn định tỷ lệ sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, trên cơ sở đó mà phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động

Phân loại thất nghiệp:

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

- Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp: Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề

Trang 24

nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

+ Thất nghiệp theo giới tính

+ Thất nghiệp theo lứa tuổi

+ Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ

+ Thất nghiệp chia theo ngành nghề

+ Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

- Phân loại theo lý do thất nghiệp: Trong khái niệm thất nghiệp, cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc Trong nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề, cấp bậc) Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ Vì thế xảy ra hiện tượng:

Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…) Thất nghiệp loại này thường tạm thời

Thất nghiệp không tự nguyện là: Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào

đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động…

Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động

Trang 25

Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác)

Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm Nó luôn biến động theo thời gian Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa

- Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp: Tìm hiểu nguồn gốc thất có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ta hướng giải quyết Có thể chia thành 4 loại:

Thất nghiệp tạm thời: là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động ( giữa các ngành nghề, khu vực…) Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc

là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải Chính vì vậy, thất nghiệp loại này còn gọi

là thất nghiệp công nghệ Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn Nếu tiền

Trang 26

lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên

Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường

nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề

Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này xảy ra khi tiền lương được ấn định không bỡi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động Vì tiền lương không chỉ quan

hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm

Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng) Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động

- Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là

Trang 27

xã hội của đất nước Vì vậy, cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế - xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp

+ Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội Thất nghiệp tăng lên cũng

có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái - suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách

vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến lạm phát

Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế - thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường Tốc độ tăng trưởng kinh tế mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng tăng Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế - xã hội

+ Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽ khó khăn Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…

+ Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội

Trang 28

Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động

1.1.6 Khái niệm thanh niên và những đặc điểm của thanh niên

Khái niệm thanh niên

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá

mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc, sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm

Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”

Trang 29

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì

có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên

Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi

Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi) Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30 Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên Theo Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh khoá X, nhiệm kỳ 2012-2017 thì Đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30 Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên

và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi [26]

Trang 30

Theo Điều 1, Luật Thanh niên năm 2005 thì “ Thanh niên là công

dân Việt Nam từ đủ mười sáu đến ba mươi tuổi” [19]

Với cách hiểu chung nhất về tuổi thanh niên như vậy nhưng do những điều kiện khách quan của công tác thống kê tập hợp số liệu nên trong đề tài này, tùy nội dung phân tích, khai thác và có chỗ phải sử dụng số liệu theo cách hiểu truyền thống, có chỗ phải sử dụng số liệu do các ngành cung cấp, hoặc có chỗ sử dụng số liệu tổng hợp của Đoàn, của Hội… nhưng tựu chung đều nhằm mục đích khắc họa được tình hình và diện mạo của thanh niên hiện nay một cách khách quan, khoa học

- Quan điểm của Đảng về thanh niên và những đặc điểm của lực lượng lao động thanh niên:

+ Quan điểm của Đảng về thanh niên

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương, quan điểm để lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên Những quan điểm ấy là

sự kế thừa có tính nhất quán, liên tục, xuyên suốt tư tưởng của Đảng và Hồ Chủ tịch ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Sự nhất quán đó thể hiện tư tưởng trước sau như một của Đảng, Nhà nước ta đối với chiến lược quốc gia phát triển nguồn lực thanh niên

Bác dạy: “Kiến thiết cần có nhân tài” Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người là nguồn lực chủ yếu và quyết định cho sự nghiệp cách mạng này thành công Đất nước đang và sẽ cần nhiều những nhà khoa học giỏi, những nhà doanh nghiệp, những nhà tư tưởng và chính khách tầm cỡ Để đáp ứng yêu cầu thực

tế này, chúng ta phải tin cậy, tin tưởng và dựa vào sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ cán bộ, sỹ quan, trí thức trẻ, những danh nhân trẻ của đất nước

Trang 31

Nghị quyết 25 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nêu rõ:

Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo, phát triển, thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước [3]

Vì vậy, Đảng đã đặt ra mục tiêu là:

Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hoá, vì cộng đồng;

có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những công dân tốt của đất nước Cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại Hình thành một lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành

và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần to lớn vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới Đảng, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; được học tập, có việc làm, nâng cao thu nhập, có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh [3]

Trang 32

Tại khoản 2, Điều 37 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, nói về thanh niên:“Thanh niên được Nhà nước, gia đình

và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” [17] Điều này nói lên rằng,

Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên được phát triển và trưởng thành, góp phần tích cực vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Những đặc điểm của lực lượng lao động thanh niên

Thanh niên có thể lực, đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ khoẻ, thậm chí trong các công việc dùng sức là chính

Đối với lao động qua đào tạo: trong thực tế tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu lao động được chia thành các cấu phần khác nhau

Có những công việc đồi hỏi kỷ năng, kinh nghiệm; có những công việc đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tố chất trẻ Người sử dụng lao động thường không đánh giá người lao động thanh niên và lao động lớn tuổi theo cùng một cách Đối với những công việc đòi hỏi những kỷ năng và kinh nghiệm thì những người lao động lớn tuổi chiếm ưu thế Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, mà còn các tố chất thuộc về sức khoẻ thì lao động thanh niên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề lại chiếm ưu thế

Đối với lao động phổ thông: trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm công việc đơn giản, yêu cầu có sức khoẻ là chính Nhu cầu về lao động loại này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng

Trang 33

cạnh tranh một vị trí làm việc của lao động thanh niên là cao hơn so với các nhóm lao động khác Rất nhiều phẩm chất của người lao động là thanh niên được doanh nghiệp đánh giá cao Đây là điểm mạnh để ổn định việc làm Trong số những phẩm chất này, đáng chú ý nhất là sức khoẻ, quan hệ với đồng nghiệp tại nơi làm việc Nhờ những phẩm chất này mà việc hội nhập vào môi trường làm việc của doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn Lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề còn có những phẩm chất khác nữa như mong muốn thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng tiến bộ trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp và dễ hoà nhập vào môi trường làm việc

1.2 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên

1.2.1 Quản lý

Quản lý ra đời trong hoạt động tập thể cần có sự phối hợp thống nhất giữa các cá thể, do đó mà cần có người đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, từ đó xuất hiện người quản lý và sự quản lý Nhìn nhận ở khía cạnh khoa học quản

lý, tư tưởng và các quan niệm về “quản lý” cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX được nghiên cứu một cách toàn diện

- Henry Fayol (1841-1925) quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu

- Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu nhất định của tổ chức

- Theo Hariparker Follit (1868-1933): Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác

Như vậy có thể nói quản lý gắn liền với tổ chức Tổ chức được hiểu như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung mà một con người riêng lẻ không thể đạt đến Do vậy, bất

Trang 34

luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của tổ chức đề ra

Vấn đề cốt lõi của quản lý là vấn đề tổ chức nên có thể hiểu quản lý là

“Tiến trình, hoạt động hay giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu

đã đề ra của tổ chức - đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nổ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó”

Mặt khác khi đề cập đến quản lý thì luôn phải trả lời các câu hỏi: Ai quản lý (Chủ thể quản lý?); quản lý ai, quản lý cái gì (Khách thể quản lý?); quản lý như thế nào (Phương thức quản lý?); quản lý bằng cái gì (Công cụ quản lý?); quản lý để làm gì (Mục tiêu quản lý?) Chính vì vậy, có thể định

nghĩa về quản lý một cách khái quát nhất: Quản lý là tác động có tổ chức, có

đích hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu định trước.[11]

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là một hoạt động có những chức năng sau:

- Chức năng kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý

- Chức năng tổ chức: Sự chuyển hóa các ý tưởng trong kế hoạch biến thành hiện thực

- Chức năng chỉ đạo, điều hành: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên

- Chức năng kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Trong một chu kỳ quản lý của tổ chức, cả bốn chức năng này phải được

Trang 35

nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý, đồng thời là cơ sở để đưa ra quyết định trong quản lý [11]

1.2.2 Quản lý nhà nước

ạt động chủ yếu của cơ quan chấp hành quyền lực nhà nư à sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân, là sự quản lý về chính trị - xã hội; trên một phương diện nhất định lại là tổ chức hành động và vì vậy quản lý là sự tác động có định hướng, có mục tiêu theo chủ đích đến toàn bộ tiến trình xã hội và hệ thống các hành vi bởi hoạt động của con người trong đời sống xã nhằm thúc đẩy và hư

vận động, phát triển của xã hội phù hợp với sự vận động và phát triển của quy luật khách quan

ột quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội phát triển càng cao thì nhu cầu quản lý càng lớn, nội dung quản lý càng tinh vi hiện đại, vì đối tượng tác động của nó là những khách thể phúc tạp, đó là hệ thống các hành vi con người (có ý chí và tư duy độc lập), thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức của con người và các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của đời sống xã hội mà nội dung bao trùm nhất là quản lý xã hội

Trong xã hội khi chưa có nhà nước, quyền lực đó mang tính chất xã hội được củng cố, bảo đảm bằng sự thống nhất có tính quy ước của cộng đồng và người đứng đầu có uy tín và sự tôn trọng của thành viên trong cộng đồng được thể hiện chủ yếu dưới các quy phạm xã hội Từ khi nhà nước xuất hiện thì bộ phận quản lý quan trọng nhất được Nhà nước đảm nhiệm Nhưng quản

lý xã hội không chỉ do Nhà nước với tư cách một tổ chức chính trị đặc biệt thực hiện mà còn do tất cả các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện Thậm chí ở góc độ khác, chủ thể quản lý xã hội còn là gia đình, các

Trang 36

tổ chức tư nhân trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội…tùy theo chế độ chính trị của nó

Quản lý xã hội theo nghĩa trên là một khái niệm rộng bao hàm hai lĩnh vực “quản lý các công việc của nhà nước (phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhiệm) và “quản lý các công việc có tính xã hội” (phần quản lý còn lại

do các tổ chức xã hội, gia đình thực hiện)

ợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, cũng

có khi do Nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu toàn dân hoặc

do các tổ chức xã hội thực hiện khi được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nư ông phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nư

à sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, đó là những tác động có tính pháp lý dựa trên căn cứ khoa học, được tiến hành một cách liên tục để thực hiện các quá trình phát triển xã

đến hành pháp và tư pháp; còn theo nghĩa hẹp đó là thực hiện cá ộng chấp hành và điều hành của các cơ quan quản lý hành có thể do các chủ thể khác tiến hành như các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng hoặc Nhân dân trực tiếp thực hiện nhưng phải do Nhà nước giao quyền, nhân danh trên cở sở quyền lực nhà nước [11]

1.2.3 Nội dung Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm

Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm bao gồm những nội dung chủ

yếu sau đây:

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giải

Trang 37

- Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu việc làm; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, dạy nghề, phát triển kỹ năng nghề, xây dựng khung trình độ nghề quốc gia, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội Quy định danh mục những nghề chỉ được sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;

- Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về giải quyết việc làm, thống kê, thông tin về việc làm và thị trường việc làm, về mức sống, thu nhập của Người lao động;

- Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ việc làm hài hòa, ổn định và tiến bộ;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm; giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật;

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi địa phương mình [20,tr66]

việc làm

Trang 38

phương

ra

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp, giải quyết việc làm

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp

Khi nghiên cứu thất nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản Các Mác cho rằng thất nghiệp là bệnh kinh niên không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản và thất nghiệp mang bản chất kinh tế xã hội Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy để kích thích nền kinh tế tăng trưởng cần phải duy trì một tỷ lệ thất

Trang 39

động xấu đến kinh tế-xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp Sau đây là một số nguyên nhân chủ yếu

Thứ nhất, nguồn nhân lực dư thừa

Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế phát triển chậm số chỗ làm việc ít, trong khi lực lượng lao động nhiều và tăng nhanh dẫn đến tình trạng mất cân đối về cung - cầu sức lao động, thất nghiệp

và thiếu việc làm là phổ biến

Thứ hai, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực chưa đáp

ứng nhu cầu của thị trường sức lao động

Trong quá trình đầu tư phát triển, do chuyển giao công nghệ mới với nước ngoài hoặc đưa những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, thị trường lao động chưa cung ứng đủ sức lao động cần thiết cho các doanh nghiệp Hoặc do những nguyên nhân khác, chẳng hạn việc đào tạo nhân lực chưa được chú trọng đúng mức, Người lao động không đủ kinh phí

để theo học các lớp đào tạo… nên chất lượng lao động chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường sức lao động, hoặc do cơ cấu ngành nghề thay đổi, một số ngành nghề cũ mất đi trong khi có những ngành nghề mới xuất hiện, cung về sức lao động chưa thích ứng kịp với sự thay đổi đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp không phải do thiếu chỗ làm việc

Thứ ba, cơ cấu tiêu dùng của thị trường hàng hóa, dịch vụ thay đổi

Sức sản xuất, dịch vụ bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội Cơ cấu tiêu dùng của xã hội luôn thay đổi đòi hỏi cơ cấu sản xuất, dịch

vụ cũng phải thay đổi theo Lúc đó, quy mô của một số lĩnh vực hoạt động tăng lên cần thêm nhu cầu về lao động; trong khi quy mô của một số lĩnh vực hoạt động khác phải thu hẹp dẫn đến có một lượng lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp do chưa được đào tạo đáp ứng yêu cầu mới về sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch vụ

Trang 40

Thứ tư, nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái

Hầu hết mọi nền kinh tế đều phát triển không liên tục, có tính chu kỳ Trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, quy mô sản xuất bị thu hẹp, nhiều người bị mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Minh chứng cho vấn đề trên

là cuộc khủng hoảng 1929-1933 của chủ nghĩa tư bản, cuộc khủng hoảng kinh

tế ở một số nước Châu Á vào cuối thế kỷ XX

Thứ năm, mức tiền công được ấn định cao hơn mức tiền công cân bằng

của thị trường sức lao động

Ở một số nước, Chính phủ và Công đoàn trong khi đấu tranh với giới chủ, đã đạt được mức tiền công thỏa thuận cao hơn mức tiền công cân bằng của thị trường sức lao động Trong trường hợp này, quy luật cung cầu hoạt động sẽ làm cho cầu về sức lao động giảm xuống, cung về sức lao động lại tăng lên, hiện tượng mất cân bằng cung cầu sức lao động xuất hiện gây nên tình trạng thất nghiệp Hiện tượng thất nghiệp này xảy ra ngay khi nền kinh tế

có thể vẫn còn chỗ làm việc

Thứ sáu, hệ thống thông tin về thị trường lao động còn yếu

Trong khi các quốc gia phát triển có đầy đủ các kênh thông tin về thị trường lao động để chắp nối cung - cầu lao động thì ở các nước đang phát triển, hệ thống này chưa hoàn chỉnh: Các thông tin về cung - cầu lao động được truyền tải chưa có hệ thống, mang tính chắp vá và chủ yếu là thủ công dẫn đến Người lao động vẫn thất nghiệp trong khi người sử dụng lao động vẫn không tuyển được người

Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến thất nghiệp như chính

sách của Quốc gia liên quan đến giải quyết việc làm, chất lượng của hệ thống giáo dục đào tạo, mức độ hội nhập kinh tế quốc tế,…

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm

Ngày đăng: 19/12/2017, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Quỳnh An (2012), Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam. Luận án tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam
Tác giả: Ngô Quỳnh An
Năm: 2012
2. Vũ Thị Việt Anh (2011), Giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc
Tác giả: Vũ Thị Việt Anh
Năm: 2011
3. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khoá X) (2008), Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nghị quyết số 25-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khoá X)
Năm: 2008
6. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Tác giả: Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2012
7. Đoàn Nam Đàn (2015), “Giải pháp việc làm cho thanh niên hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (03), tháng 3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp việc làm cho thanh niên hiện nay”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Đoàn Nam Đàn
Năm: 2015
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Văn phòng Trung ƣơng Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
9. Nguyễn Thúy Hà (2012), Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động, Trung tâm Nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu lập pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà
Năm: 2012
10. Hà Duy Hào (2010), Tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2015, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế lao động, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2015
Tác giả: Hà Duy Hào
Năm: 2010
11. Học viện hành chính (2010), Giáo trình quản lý học đại cương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý học đại cương
Tác giả: Học viện hành chính
Năm: 2010
13. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Tạo việc làm cho người lao động huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ quản trị nhân sự, trường Đại học lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm cho người lao động huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2015
14. Huyện uỷ Sông Hinh (2015), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VIII, Văn phòng Huyện uỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VIII
Tác giả: Huyện uỷ Sông Hinh
Năm: 2015
15. Đặng Cảnh Khanh, Phạm Bằng (2012), Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay, Viện Nghiên cứu Thanh niên, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Phạm Bằng
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Hoài Lan (2012), Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Lan
Năm: 2012
17. Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII (2013), Hiến pháp 2013, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 2013
Tác giả: Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
18. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII (2013), Luật Việt làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Việt làm
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII
Năm: 2013
19. Quốc Hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI (2005), Luật Thanh niên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thanh niên
Tác giả: Quốc Hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII (2012), Bộ Luật Lao động, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Lao động
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2012
22. Nguyễn Thị Thơm (2006), Thị trường lao động Việt Nam - thực trạng và giải pháp, Nxb. chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động Việt Nam - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Thơm
Nhà XB: Nxb. chính trị Quốc gia
Năm: 2006
23. Thủ tướng Chính phủ (2009), Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Quyết định số 1956/2009/TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án" đ"ào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
24. Tỉnh uỷ Phú Yên (2015), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XVI, Văn phòng Tỉnh uỷ Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XVI
Tác giả: Tỉnh uỷ Phú Yên
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm