1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

106 510 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM QUỐC CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐĂK LĂK - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM QUỐC CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN DUY THỤY

ĐĂK LĂK - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng

đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã trích dẫn rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Quốc Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về giảm nghèo

bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk”, bản thân tác giả đã cố gắng cùng với sự giúp đỡ của thầy, cô và

bạn bè

Tác giả xin chân thành được bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô Học viện Hành chính Quốc gia đã hết lòng truyền đạt kiến thức cho tác giả trong suốt khóa học vừa qua Đặc biệt là TS Nguyễn Duy Thụy, người thầy hướng dẫn khoa học đã ân cần chỉ bảo và giúp đỡ tác giả vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy – Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân thị xã Buôn Hồ, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, phòng Nội vụ, phòng Dân tộc thị xã và Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đã nhiệt tình tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu, khảo sát thực trạng để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Phạm Quốc Cường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 11 1.1 Một số vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững 11 1.2 .Hệ thống văn bản pháp luật của quản lý nhà nước về giảm nghèo 27 1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số của một số địa phương và bài học kinh nghiệm 33 Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO

BỀN VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 42 2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk 42 2.2 Thực trạng nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk 45 2.3 Đánh giá về vấn đề quản lý nhà nước đối với giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk 50 2.4 Những ưu điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần khắc phục giải quyết 61 Tiểu kết chương 2 68 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK 69 3.1 Quan điểm và định hướng về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu

số 69

Trang 6

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số của thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk

Lăk 80

3.3 Đề xuất kiến nghị về giải pháp thực hiện giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số 90

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước luôn xác định giảm nghèo bền vững là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng, được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Phát triển kinh tế được gắn với giảm nghèo bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với cải thiện đời sống nhân dân, ổn định xã hội, bảo đảm quyền con người Tại vùng dân tộc thiểu số (DTTS), vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vấn đề giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và thường trực của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể cùng toàn thể các tầng lớp nhân dân Giảm nghèo bền vững ở những nơi này còn chính là quá trình phát huy bản sắc truyền thống văn hóa của các dân tộc, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững trật tự an ninh quốc phòng

Tây Nguyên nói chung, thị xã Buôn Hồ nói riêng là một trong những địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc anh em Tỉ lệ hộ nghèo của thị xã hiện đang ở mức đáng báo động đặc biệt là ở các cộng đồng người DTTS; tình trạng chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn; đời sống cộng đồng người DTTS còn gặp nhiều khó khăn Một số chính sách giảm nghèo đã được các cấp chính quyền ban hành và thực hiện nhưng còn nhiều bất hợp lý, chưa có chính sách giảm nghèo đặc thù và phù hợp với từng nhóm

hộ nghèo, dẫn đến hạn chế hiệu quả các chính sách giảm nghèo tại địa phương Mặc khác, chất lượng đội ngũ cán bộ và thực tế quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo còn bộc lộ nhiều bất cập Thực tiễn quá trình giảm nghèo tại thị xã Buôn Hồ đòi hỏi cần có những nghiên cứu đánh giá quá trình, làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn

Trang 8

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận, nhằm góp phần làm cụ thể hóa hơn những chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, học

viên chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng

bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk” làm đề tài

luận văn của bản thân

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số thu hút sự quan tâm của đông đảo các học giả trong và ngoài nước Một số công trình nghiên cứu về giảm nghèo bền vững trên thế giới và trong nước đã được công bố rộng rãi:

Về các công trình nghiên cứu giảm nghèo bền vững của thế giới:

Từ những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (UNRID), Ủy ban giảm nghèo của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), … đã thực hiện nhiều nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Tại hội nghị về chống đói nghèo do

Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) (NĂM 1993) đã đưa ra khái niệm, định nghĩa, tiêu chí đánh giá đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Năm 1995, Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã đề

cập trong cuốn “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” một định nghĩa rất rộng về nghèo,

phân tích tình hình các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá tác động của đổi mới đối đến người nghèo gắn liền các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế… và đưa ra một số quan điểm có tính chiến lược cần xem xét trong giảm nghèo ở Việt Nam

Trong bài viết “Kinh nghiệm giảm nghèo và phát triển hệ thống an sinh

xã hội của Trung Quốc” (Tạp chí Lao động và Xã hội, số 276/2005), tác giả

Trang 9

Nguyễn Hữu Hải tìm hiểu nhận thức và quan điểm của Trung Quốc về nghèo đói với tư cách là một cột trụ trong hệ thống an sinh xã hội Đó là các kinh nghiệm như: chọn trọng điểm và lập kế hoạch giảm nghèo, thiết lập bộ máy chỉ đạo điều hành, giám sát và đánh giá nghèo đói các cấp, nâng cao tố chất người nghèo, phát huy vai trò của trưởng thôn trong công tác giảm nghèo Có thể nói, bài viết đã đề cập khá toàn diện đến XĐGN với tư cách là một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc; các nhận xét, đánh giá của tác giả về thành công, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong XĐGN ở Trung Quốc là những gợi mở tốt cho Việt Nam đối với XĐGN và tránh tái nghèo

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về XĐGN trên thế giới còn có nhiều

công trình khoa học khác như: Word Bank (1998) với tác phẩm “Việt Nam –

Provety Assesment and strategy”; Cling, J.P, Razafindrakoto, M., Roubaud,

F (eds) 2003), New International Poverty Reduction Strategies, Routledge,

London/New Yor,…

Về các công trình nghiên cứu giảm nghèo bền vững trong nước:

Các công trình nghiên cứu về nghèo đói, giảm nghèo bền vững trên phạm vi toàn nước như:

Trong cuốn “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam”của nhóm

tác giả Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến và Lê Xuân Đình (Nxb Nông nghiệp, 2001) đã đưa ra những vấn đề lý luận về nghèo đói, Thực trạng nghèo đói; Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay Cuốn sách cũng đề ra các giải pháp đối với xóa đói giảm nghèo như: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế; Tăng cường mọi nguồn lực cho công tác XĐGN; Cụ thể hóa về chủ trương chính sách của Nhà nước trong công tác XĐGN; Coi trọng nguồn lực con người nhằm thay đổi cục diện đói nghèo tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nhằm tạo nên những bước đột phá trong công tác XĐGN…Trên nền tảng phân tích những yếu tố căn bản, chi

Trang 10

phối thành bại của XĐGN, nhóm tác giả đề xuất cấc giải pháp tăng cường hiệu quả XĐGN như: chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế; tăng cường các nguồn lực cho các chương trình XĐGN; tạo điều kiện thích hợp cho các hộ nghèo tự vươn lên; các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho các

hộ nghèo…

Cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo – thực trạng và giải pháp”

của tác giả Lê Quốc Lý (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), là chuyên khảo luận giả về XĐGN với các nội dung như: Một số vấn đề lý luận về XĐGN; những chủ trương đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước

về XĐGN; thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, chính sách XĐGN ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010; một số chương trình XĐGN điển hình của Việt Nam; đánh giá tổng quát thực hiện chính sách XĐGN của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; định hướng và mục tiêu XĐGN ở Việt Nam trong thời gian tiếp theo; một số cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách XĐGN ở Việt Nam

Bài viết “Công tác xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, thực

trạng và giải pháp” đăng trên tạp chí Mặt trận số 79, (5/2010) của PGS, TS

Lê Ngọc Thắng - Ủy ban Dân tộc, Tổng thư ký Hội dân tộc học và Nhân học Việt Nam – bài viết đề cập đến tình hình thực hiện chính sách, chương trình,

đề án… xóa đói giảm nghèo và đưa ra những nhận định và khuyến nghị đổi mới về hoạt động xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào DTTS ở nước ta

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “Hoàn thiện quản lý nhà nước về xóa

đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc”, năm 2011, của tác giả Hà Chí Công đã

làm rõ một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo và đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh vùng sâu, vùng xã, vùng khó khăn của Tây Bắc

Trang 11

Cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo – Thực trạng và giải pháp”

(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013) do tác giả Lê Quốc Lý chủ biên đã đánh giá một cách tổng quan về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chủ trương đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về các chương trình XĐGN điển hình, đánh giá tổng quát việc thực hiện chính sách XĐGN của Việt Nam giai đoạn

2001 – 2010; nêu ra những định hướng mục tiêu XĐGN cùng những cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách XĐGN ở Việt Nam thời gian tới

Nhóm các công trình nghiên cứu về đói nghèo và giảm nghèo bền vững ở các địa bàn vùng Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng:

Cuốn sách Vấn đề phát triển kinh tế xã hội các dân tộc thiểu số Đắk

Lắk (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1990) do Ủy ban Khoa học xã hội Việt

Nam phối hợp với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk biên soạn Trên cơ sở đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế xã hội của các DTTS ở Đắk Lắk, cuốn sách đã phân tích một số vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản cần phải giải quyết đó là ĐCĐC, phát triển kinh tế vườn, quy hoạch lại các điểm dân cư, lao động và ngành nghề; phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ; xây dựng nếp sống văn hóa mới

Tác giả Nguyễn Trọng Xuân với bài viết “Thực trạng kinh tế và xóa

đói giảm nghèo ở 3 tỉnh Tây Nguyên” (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4, năm

2002), đã phân tích thực trạng kinh tế xã hội của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk; làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn, thách thức về phát triển nguồn nhân lực, về mức sống, về sản xuất, về các chương trình, dự

án và nêu lên một số kiến nghị về quy hoạch, phát triển tổng thể Tây Nguyên,

về nâng cao việc tiếp cận các dịch vụ

Cuốn sách Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xoá đói giảm

nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên (Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội 2005) do tác giả Bùi Minh Đạo chủ biên Trên cơ sở khái quát về các

Trang 12

DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên như về môi trường cư trú, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội; tác giả đã làm rõ các chính sách giảm nghèo, kết quả thực hiện chính sách XĐGN, nguyên nhân và đặc điểm đói nghèo đối với các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Cuốn sách cũng đã làm rõ quan điểm và một số giải pháp XĐGN đối với các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Theo các tác giả, thực hiện XĐGN đối với các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên cần quán triệt các quan điểm: XĐGN là một cuộc cách mạng toàn diện; XĐGN gắn với thực hiện chính sách dân tộc, bảo vệ an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái; XĐGN trên cơ sở xem xét thiết chế xã hội truyền thống, xem xét đặc điểm tộc người và phù hợp với đặc điểm tộc người; XĐGN gắn với bảo tồn đa dạng văn hóa tộc người; XĐGN trên cơ sở coi trọng và kế thừa tri thức bản địa của người dân về cách quản lý nguồn tài nguyên Để XĐGN đối với các DTTS tại chỗ ở Tây nguyên, theo tác giả cần thực hiện các nhóm giải pháp: nâng cao năng lực, phát triển sản xuất, xã hội Đây là cuốn sách tham khảo có giá trị, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề đói nghèo ở Tây Nguyên

Bài viết “Đói nghèo, bất bình đẳng và những thách thức đối với quá

trình phát triển bền vững vùng Tây Nguyên” đăng trên tạp chí Khoa học xã

hội Tây Nguyên số 1 (9) 2013, của ThS Nguyễn Đình Hòa và Nghiên cứu sinh Đặng Hoàng Giang đã phân tích về thực trạng đói nghèo cũng như những thách thức cho vấn đề này, qua đó góp phần tìm ra các hướng khắc phục nhằm thúc đẩy Tây Nguyên phát triển theo hướng bền vững

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về công tác giảm

nghèo đối với đồng bào thiểu số trên địa bàn tỉnh Đăk Nông”, năm 2013, của

tác giả Trần Thị Diễm Thúy Đề tài đi sâu nghiên cứu về vai trò, thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

Trang 13

Bài viết “Về công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Đăk Lăk thời kỳ đổi mới”

đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên số 3 (15) 2014, của TS Nguyễn Duy Thụy đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và đặc điểm đói nghèo; cũng như những kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo ở thời kỳ đổi mới của tỉnh Đăk Lăk

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công “Quản lý nhà nước về

giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum”, năm 2015,

của tác giả Bùi Tiến Lý đã phân tích đánh giá những kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo, các nguyên nhân dẫn đến nghèo và đưa ra những nội dung nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum

Có thể thấy, đã có rất nhiều công trình chi tiết, đa dạng liên quan đến thực hiện XĐGN ở vùng Tây Nguyên được nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Mặc dù vậy, các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về giảm nghèo bền vững từ góc nhìn quản lý nhà nước tại một địa bàn cụ thể là thị xã Buôn

Hồ vẫn còn bỏ trống Vì vậy, tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả sẽ đóng góp, bổ sung thêm vào những kết quả đã có một số khía cạnh về quản lý nhà nước, đồng thời, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích:

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk, luận văn đề xuất một số giải pháp để đổi mới quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững và quản

lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

Hai là, phân tích, đánh giá được thực trạng nghèo đói ở vùng dân tộc

thiểu số và công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn thị xã

Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả

quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ở vùng dân tộc thiểu số

trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

- Về thời gian

+ Mốc đánh giá thực trạng: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản

lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 – 2015

+ Mốc đề xuất giải pháp: Đề tài đề xuất giải pháp cho giai đoạn sắp tới

Trang 15

điểm của Đảng và Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo và quản lý nhà nước đối với giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk trong thời gian qua

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và tổng hợp, đặc biệt chú trọng đến phương pháp tổng kết thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn ở thị

xã Buôn Hồ trong công tác giảm nghèo bền vững Từ đó tạo ra cơ sở lý luận

để đổi mới công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số Qua đó, hình thành cách tiếp cận mới, cách giải quyết mới về vai trò của nhà nước trong công cuộc giảm nghèo bền vững

- Về mặt thực tiễn: Làm rõ thực trạng nghèo; vai trò quản lý nhà nước trong giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn

Hồ thể hiện qua trong cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy, quản lý và quy trình vận hành…

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập cũng như giúp người đọc hiểu thêm về những vấn đề lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk Đồng thới luận văn cũng có thể là nguồn tài liệu giúp nhà nước quản lý đưa ra những chính sách đúng đắn và hiệu quả trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số

7 Kết cấu của luận văn

Trang 16

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia ra làm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

Chương 3 Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu

số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO

BỀN VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm nghèo

Từ rất lâu ở trên thế giới, “Nghèo” là khái niệm để chỉ mức sống thấp hơn của một người, nhóm dân cư, một cộng đồng, một quốc gia so với mức sống của một cộng đồng hay các quốc gia khác Không có một chuẩn mực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia Chuẩn mực nghèo đói cũng thay đổi theo thời gian

Quan niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay chỉ tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục, tập quán của từng vùng, từng quốc gia

Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng:

"Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn

những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" [ 3, tr.1] Từ khái niệm đưa ra có

thể thấy rằng không có một chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó

Trang 18

thay đổi theo thời gian và không gian

Nghèo được nhận diện trên hai khía cạnh: Nghèo tuyệt đối và nghèo

tương đối

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không

được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở,

được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà những nhu cầu đó đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình

độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Một cách diễn đạt khác, một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập

của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định

bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định

- Nghèo tương đối: là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình

thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm

cụ thể và thời gian nhất định [15, tr186-189]

Như vậy, sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối là: nghèo tuyệt đối đề cập đến các tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu của một con người, trong khi đó, nghèo tương đối lại nói đến vị trí ở dưới mức sống phổ biến trong một cộng đồng

1.1.1.2 Khái niệm giảm nghèo

Xóa hộ đói: Là hộ cơ bản giải quyết được cái ăn hàng ngày, không để

bị đứt bữa, hạn chế dần việc vay nợ cộng đồng (vay nóng, vay đứng lãi suất

cao); xóa hộ đói là không còn hộ nghèo có mức thu nhập bình quân đầu người

dưới 1 triệu đồng/năm tại địa phương (Sau năm 2000 thì Việt Nam không còn

hộ đói)

Giảm hộ nghèo: Tiếp tục lo cái ăn, giải quyết được việc làm thường

xuyên và từng bước đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống gia đình

Hộ vượt chuẩn nghèo: Giải quyết được việc làm ổn định, có tích lũy;

Trang 19

có mức thu nhập bình quân đầu người/năm vượt qua chuẩn giới hạn nghèo

(theo chuẩn nghèo quy định cho từng giai đoạn)

Như vậy, giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà

nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập thấp, không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia

1.1.1.3 Khái niệm giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là

ở khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

1.1.1.4 Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo quốc tế

Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người, trước hết người ta tính mức chi tiêu cho nhu cầu lương thực thực phẩm - gọi là đường nghèo lương thực thực phẩm; tiếp đến người ta tính mức chi tiêu cho các nhu cầu phi lương thực, thực phẩm Tổng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được gọi là đường

nghèo hay chuẩn nghèo (đó là đường nghèo chung)

Để tiện cho việc điều tra khảo sát, tính toán đánh giá người ta chuyển

từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo, còn ai có mức thu nhập thấp hơn mức chi tiêu lương thực thực phẩm (đường nghèo lương thực thực phẩm) thì được xếp vào nhóm nghèo về lương thực thực phẩm

Trang 20

Hiện nay, có khá nhiều chuẩn nghèo được áp dụng trên thế giới vì những mục tiêu và lý do khác nhau Tuy nhiên chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới (WB) được khuyến nghị áp dụng chung phổ biến và được chia làm 4 nhóm nước là chậm phát triển, đang phát triển, phát triển và các nước công nghiệp phát triển Do WB có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai và thực hiện các chiến lược giảm nghèo và tăng trưởng, cũng như định hướng các nguồn lực vì mục tiêu giảm nghèo trên toàn cầu - trong hệ thống Liên hiệp Quốc

Chuẩn nghèo do WB được xây dựng khá đơn giản, dễ áp dụng phổ biến

và thỏa mãn đồng thời được nhiều nguyên tắc về xây dựng chuẩn nghèo, cụ thể như sau:

- Đối với các nước chậm phát triển: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi

có thu nhập dưới 0,5 USD/ ngày

- Đối với các nước đang phát triển thu nhập là 1 USD/ngày; Các nước thuộc châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày; Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày; Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày [3, tr 1]

Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn nghèo đói riêng của nước mình, thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà WB đưa ra

1.1.1.5 Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam

Chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước; nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh

tế – xã hội từ năm 1993 đến năm 2016, Việt Nam đã 7 lần công bố tiêu chuẩn

cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Các chuẩn nghèo của Bộ Lao động – Thương

Trang 21

binh và Xã hội ban đầu được quy đổi ra thóc, nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào Chi phí cho những Nhu cầu Cơ bản đa

dạng hơn

Chuẩn nghèo 1993 - 1995, phương pháp xác định chuẩn nghèo đã bước

đầu dựa trên cơ sở phương pháp tiếp cận của quốc tế, nhưng thời kỳ đầu chính sách thực hiện của Việt Nam tập trung vào XĐGN nghĩa là giải quyết vấn đề

ăn cho người nghèo (nghèo lương thực, thực phẩm hay đói) Phương pháp

tiếp cận cũng dựa trên nhu cầu dinh dưỡng và được xác định như sau:

- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn [3, tr 1]

Chuẩn nghèo 1995 - 1997, lúc này chuẩn nghèo được điều chỉnh nâng

lên và tăng tỷ lệ chi tiêu phi lương thực, thực phẩm nhưng cơ bản vẫn tập trung vào giải quyết vấn đề ăn cho người nghèo Nhu cầu chi tiêu lương thực, thực phẩm chiếm khoảng 75 - 80% và thêm chuẩn nghèo cho đối tượng nghèo

ở miền núi, hải đảo Mức chuẩn nghèo được xác định bằng cả giá trị (tiền) và quy ra lương thực (gạo) Theo đó:

Hộ nghèo: là hộ có thu nhập: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng; Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng; Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng [3, tr 1]

Chuẩn nghèo 1997 - 2000,

- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng); Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng); Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng) [3,tr 1]

Chuẩn nghèo 2001 – 2005, Chính phủ Việt Nam bỏ chuẩn nghèo cho

đối tượng đói và khuyến khích các tỉnh, thành phố có điều kiện, có thể nâng

Trang 22

chuẩn nghèo cao hơn Năm 2000, Bộ LĐTB-XH công bố Quyết định số

1143/QĐ-LĐTBXH về điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 của nước ta, bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2001, theo đó:

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng

- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng

- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng

Chuẩn nghèo 2006 - 2010, theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ, những người có mức thu nhập như sau sẽ

được xét vào hộ nghèo:

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000đồng/người/tháng

Chuẩn nghèo 2011 - 2015, Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì có thêm tiêu chí xác định hộ cận

nghèo Theo đó, hộ nghèo và hộ cận nghèo được xác định như sau:

- Hộ nghèo:

+ Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống

+ Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống

- Hộ cận nghèo:

+ Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 401.000 – 520.000 đồng/người/tháng

+Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 501.000 – 650.000 đồng/người/tháng

Chuẩn nghèo 2016 – 2020, theo Quyết định số 50/2015/QĐ-TTg ngày

Trang 23

19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 đã đưa ra thêm các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều cụ thể như sau:

- Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

+ Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;

+ Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

- Hộ nghèo:

+ Khu vực nông thôn: là hộ có một trong hai tiêu chí sau: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng trở xuống; thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

+ Khu vực thành thị: là hộ có một trong hai tiêu chí sau: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

1.1.2 Nguyên nhân của nghèo và ảnh hưởng của nghèo đối với sự phát triển xã hội

Trang 24

1.1.2.1 Nguyên nhân của nghèo

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo Những nguyên nhân

cơ bản nhất bao gồm:

Nguồn lực hạn chế: Người nghèo thường thiếu các nguồn lực để phát

triển Họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì thiếu nguồn vốn nhân lực và vốn tài chính để đầu tư Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi đói nghèo

Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng tăng lên Việc thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp Họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lại lợi nhuận cao hơn Do vậy, giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường Điều này lại đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó

Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới…

Bên cạnh đó, việc thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường đã làm cho người nghèo càng trở nên nghèo hơn

Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu hoặc việc làm không ổn định:

Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học

Trang 25

vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… đến không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn

Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Người nghèo, dân tộc thiểu số và các đối

tượng có hoàn cảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao

Các nguyên nhân về nhân khẩu học: Quy mô hộ gia đình có ảnh

hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của hộ

Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác: Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng

ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe…) Các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệmsản xuất Với khả năng kinh

tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột

Trang 26

biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ Khả năng khắc phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém, thậm chí còn có thể gặp rủi ro hơn nữa do nguồn thu nhập hạn hẹp

Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em: Bất bình đẳng giới làm ảnh hưởng sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên

tất cả các mặt Những bất công mà các thành viên trong gia đình là phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng còn có những tác động bất lợi đối với toàn gia đình

Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và

bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn

Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói: Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến

thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp Chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy

họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo Trong khi

đó, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế…) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ

Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách đến đói nghèo: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một

trong những nhân tố ảnh hưởng lớn tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạt

Trang 27

được những thành tích giảm nghèo đói rất ấn tượng trên diện rộng Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo

Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thủy lợi; các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, thu hút nhiều vốn, chưa chú trọng đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú ý khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp (lãi suất tín dụng, trợ giá, trợ cước…) không đúng đối tượng làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa

Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu kém Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động

1.1.2.2 Ảnh hưởng của nghèo và sự cần thiết phải giảm nghèo bền vững

Nói đến nghèo là nói về con người, liên quan đến sự phát triển con người Vì vậy, nhận thức của nhân loại về phát triển xã hội coi nghèo là một trong những bất công lớn nhất trong các bất công xã hội Nghèo có nghĩa là không có cơ hội phát triển, không được bảo vệ trong cuộc sống và không có

vị thế trong xã hội Người nghèo, đặc biệt là nghèo tuyệt đối, gắn liền với sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế (kỹ thuật, công nghệ, vốn, các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhất là đất đai …) Vốn nhân lực của người nghèo thường rất hạn chế, khả năng cạnh tranh trong kinh tế thị trường yếu kém, được hưởng lợi ít hơn từ các kết quả tăng trưởng Người nghèo khó có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, kể cả dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch sinh hoạt …) và đặc biệt là dịch vụ xã hội chất

Trang 28

lượng cao, do người nghèo khó có khả năng thanh toán các chi phí Vị thế, địa

vị xã hội của người nghèo thấp, người nghèo thường ít có tiếng nói và rất hạn chế tham gia vào các quyết định có tính chất cộng đồng

Ở Việt Nam, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước khi bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hóa giàu - nghèo diễn ra rất nhanh, nếu không tích cực giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại

Hiện nay, giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để giảm nghèo

về văn hóa, xã hội Vì vậy, việc giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ cần tiến hành thông qua các biện pháp phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao động ở nông thôn vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn vùng dân tộc thiểu số được xem như

là một giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoặt cho phát triển ở nông thôn nước ta hiện nay

Phát triển kinh tế nông thôn ở vùng dân tộc thiểu số còn là nền tảng, là

cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước Hơn thế nữa, nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị - xã hội Giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu và người nghèo,

Trang 29

giữa các vùng miền, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có niềm tin vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế, xóa bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

1.1.3.1 Khái niệm cơ bản

Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích họat động chung và phù hợp với quy luật khách quan [18, tr 586]

Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [26, tr 62]

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách, chủ trương, đề án liên quan đến người nghèo nhằm đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước là giảm tỷ lệ hộ nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [18, tr 589]

Ở nước ta hiện nay, hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững có những đặc điểm sau:

Một là, quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đây là hoạt động

vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành Tính chấp hành được thể hiện ở sự thực hiện chính sách giảm nghèo trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp, cơ quan dân cử Tính điều hành thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính Nhà nước phải tiến hành càc hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp việc thực hiện các chính sách, chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền

Trang 30

Hai là, quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững được đặt ra trong bối

cảnh toàn cầu hóa, quá trình xây dựng và đưa ra các hoạch địnhvề chính sách, chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ba là, Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là hoạt động mang

tính nhạy cảm, phức tạp liên quan trực tiếp tới tài chính, ngân sách nhà nước

và yếu tố con người nên đòi hỏi phải có sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cấp ban ngành và địa phương

Thực tiễn chứng minh rằng, nội dung chủ yếu nhất của quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là hoạch định chính sách và quản lý các nguồn lực trong một khuôn khổ pháp luật rõ ràng

Như vậy, quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở nước ta chủ yếu

là hoạt động hoạch định cơ chế, chính sách, điều phối, phân bổ các nguồn lực, được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc về tổ chức, pháp luật và thủ tục thi hành chính sách, pháp luật có hiệu lực, trong một thời hiệu nhất định, cho đến khi được thực hiện xong hoặc được thi hành hay miễn thi hành, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội

1.1.3.2 Bộ máy quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

- Cấp Trung ương:

+ Bộ LĐTB&XH: Là cơ quan thường trực giúp Chính phủ trong việc phối hợp các bộ, ngành có liên quan và các địa phương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp

và nhu cầu kinh phí thực hiện chương trình gửi Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ; Xây dựng cơ chế, chính sách hướng dẫn thực hiện chương trình; đề xuất cơ chế hỗ trợ hộ, xã mới thoát

Trang 31

nghèo trình Thủ tướng Chính phủ

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chỉ đạo hướng dẫn thực hiện dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề; phối hợp với các bộ, ngành chỉ đạo đầu tư các công trình cơ sở

hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và

hộ nghèo, xã nghèo

+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Có trách nhiệm cân đối và phân bổ nguồn lực cho chương trình; phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách quản lý thực hiện chương trình

+ Bộ Tài chính: Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí ngân sách cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện chương trình theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước; chủ trì, hướng dẫn cơ chế tài chính đối với các chính sách, dự án của chương trình; phối hợp với Bộ LĐTB&XH xây dựng văn bản hướng dẫn kiểm tra, giám sát chi tiêu tài chính thực hiện chương trình; tổng hợp quyết toán kinh phí chương trình

+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách của Ngân hàng Chính sách Xã hội

+ Ủy ban Dân tộc: Chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ đất

ở, đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo dân tộc thiểu số và phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện các chính sách liên quan đến vùng dân tộc thiểu số

+ Bộ Xây dựng: Phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và nước sinh hoạt

+ Bộ Y tế: Chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo + Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

Trang 32

+ Bộ Nội vụ: Chỉ đạo thực hiện việc bố trí cán bộ làm công tác giảm nghèo ở các cấp

+ Bộ Tư pháp: Chỉ đạo thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo

+ Các cơ quan thông tin tuyên truyền: Có trách nhiệm tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa của chương trình XĐGN; tuyên truyền các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả về giảm nghèo, tuyên truyền về kết quả hoạt động của chương trình XĐGN, thông qua đó nâng cao trách nhiệm về thực hiện công tác giảm nghèo

Hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại cấp trung ương được Chính phủ quy định rõ ràng trong các quyết định về quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia Theo tinh thần quyết định số 05/1998/QĐ-TTg ngày 14/4/1998 thay thế quyết định số 531/1996/QĐ-TTg, ngày 8/8/1996, quy định thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình XĐGN; các

bộ, ngành là chủ dự án có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể trong việc tổ chức, triển khai thực hiện chương trình Quyết định số 42/2002/QĐ-TTg, ngày 19/3/2002 quy định mỗi chương trình gồm nhiều dự án khác nhau; đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo từng dự án Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg, ngày 10/10/2016 Ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, đề cao sự giám sát của cộng đồng đối với chương trình, kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 5 năm của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được lập trong thời hạn 5 năm, cùng với kế hoạch phát triển - kinh tế xã hội

để tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

- Tại cấp địa phương:

Các đơn vị chủ chốt tham gia thực hiện Chương trình XĐGN không

Trang 33

phải là các cơ quan trung ương mà là chính quyền các địa phương, cụ thể là Tỉnh ủy và UBND tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng chỉ tiêu, tổ chức, hướng dẫn và điều phối quá trình thực hiện Chương trình XĐGN tại địa phương và các nguồn lực của Chương trình Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg, ngày 10/10/2016, quy định Ủy ban nhân dân xã là đơn vị trực tiếp xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện trên địa bàn xã

1.2 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện giảm nghèo bền vững

Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hóa giàu - nghèo diễn ra rất nhanh Nếu không tích cực giảm nghèo bền vững

và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại

Việt Nam còn là một nước đang phát triển, có điểm xuất phát rất thấp, chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề; là đất nước thường xuyên bị thiên tai… nên vấn đề giảm nghèo bền vững càng trở nên quan trọng và là sự nghiệp cách mạng trọng đại của toàn Đảng, toàn dân Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền (năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như là một thứ “giặc”, cũng như giặc dốt, giặc ngoại xâm

Người dạy, cần phải “làm thế nào cho đời sống của nhân dân ta vật chất

được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” [17, tr.5] Người cũng chủ

trương khuyến khích mọi người làm giàu với mục đích: Làm cho người nghèo

thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” [17, tr.65]

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương,

Trang 34

chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, nhất là trong thời kỳ đổi mới Ngay từ Đại hội VI (1986), quan điểm của Đảng là phải tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, đồng thời phải thực hiện công bằng xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân Đặc biệt, chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Đại

hội VI hướng vào giải quyết một cách căn bản vấn đề lương thực: phải đạt

cho được mục tiêu bảo đảm nhu cầu ăn của toàn xã hội và bước đầu có dự trữ” [7, tr.154] Đây là một chủ trương cực kỳ quan trọng, có tính chất đột

phá, liên quan đến an ninh lương thực và tấn công vào đói nghèo, nhất là đói nghèo “về lương thực, thực phẩm” (đói nghèo tuyệt đối) khá phổ biến ở nước

ta những năm đầu đổi mới

Quan điểm nhất quán của Đảng trong đổi mới là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển được quán triệt rất rõ trong chủ trương giảm nghèo bền vững Nghị quyết Đại hội VII (giai đoạn 1991 - 1995) của Đảng đã chỉ rõ, một mặt:

“khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động

và hiệu quả kinh tế”, mặt khác: “Bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” [8, tr.73] Tư tưởng chỉ đạo ở đây vẫn là tập trung vào giải quyết cơ bản

vấn đề “đói nghèo tuyệt đối”, đói nghèo về “lương thực, thực phẩm”

Đến Đại hội IX (2000), nhận thức của Đảng về giảm nghèo được nâng lên tầm cao mới, đặt giảm nghèo bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội thời kỳ 2001 - 2010 và nhấn mạnh làm tốt công tác giảm nghèo bền vững sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, tích cực phát triển và bảo vệ môi trường, góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước, từng bước hội

nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Đảng ta luôn chủ trương “Khuyến

khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo” [10, tr.163]

Trang 35

Như vậy là đến Đại hội IX, nhận thức của Đảng ta về giảm nghèo chuyển dần sang hướng giảm nghèo bền vững và gắn với phát triển

Có thể nói rằng, chủ trương, quan điểm của Đảng ta về giảm nghèo bền vững thể hiện rất rõ quan điểm có tính chất chiến lược, xuyên suốt và nhất quán là tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

Hoạch định chiến lược và chính sách giảm nghèo bền vững phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

- Hoạch định các chiến lược để giảm nghèo bền vững theo từng giai đoạn: 5 năm, 10 năm, 20 năm dựa trên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

+ Năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã có Quyết định số 133/1998/QĐ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm nghèo giai đoạn

1998 - 2000

+ Năm 2002, Chính phủ Việt Nam công bố Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS); Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg, ngày 27 /9/ 2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005; Quyết định 135 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa

+ Năm 2007, Chính phủ Việt Nam công bố Quyết định số TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2006 - 2010

20/2007/QĐ-+ Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 755/2013/QĐ-TTg về Phê duyệt Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước

Trang 36

sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

Hoạch định các chính sách chủ chốt để giảm nghèo bền vững, bao gồm các nhóm chính sách:

+ Chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và người nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số nhằm cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo có sức lao động, có nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tự vượt nghèo

+ Chính sách khuyến nông - lâm – ngư, hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề nhằm hỗ trợ người nghèo về kiến thức và kỹ năng xây dựng

kế hoạch, bố trí sản xuất hợp lý, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững

+ Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu

số nhằm hỗ trợ đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số nghèo để có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo

+ Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích hỗ trợ các hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững

+ Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo và miễn phí cho hộ nghèo là người dân tộc thiểu số nhằm hỗ trợ người nghèo đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau thuận lợi hơn, bình đẳng hơn; giảm thiểu khó khăn, rủi ro cho người nghèo

+ Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo nhằm hỗ trợ con em

hộ nghèo người dân tộc thiểu số được tới trường học tập bình đẳng như các trẻ em khác, góp phần nâng cao trình độ văn hoá của người nghèo ở từng

Trang 37

vùng miền khác nhau

+ Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo là người dân tộc thiểu

số nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, góp phần đảm bảo công lý và công bằng cho người nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật; nâng cao hiểu biết pháp luật cho người nghèo để họ thực hiện pháp luật, tham gia phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững thực hiện dân chủ ở cơ sở

Xây dựng các dự án cấp quốc gia:

+ Dự án dạy nghề cho người nghèo là người dân tộc thiểu số: nhằm trợ giúp lao động nghèo là người dân tộc thiểu số có tay nghề cần thiết để tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập, thông qua các hình thức dạy nghề phù hợp để

họ tự tạo việc làm tại chỗ, việc làm ngoại tỉnh, việc làm tại các doanh nghiệp, các nông trường, khu kinh tế quốc phòng, đặc biệt là các doanh nghiệp quy

mô vừa và nhỏ; tham gia lao động xuất khẩu góp phần giảm nghèo bền vững

+ Dự án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số nhằm hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh, góp phần đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo bền vững ở các xã này

+ Dự án nâng cao năng lực cho cán bộ là người dân tộc thiểu số làm công tác giảm nghèo các cấp nhằm đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ là người dân tộc thiểu số làm công tác giảm nghèo vững

Tổ chức điều tra, quản lý hộ dân tộc thiểu số về giảm nghèo bền vững

và đối với phường, xã nghèo:

+ Công tác ghi phiếu điều tra, phúc tra, bổ sung hộ giảm nghèo bền vững được thực hiện trực tiếp tại cấp xã UBND các xã tổ chức công khai danh sách hộ dân tộc thiểu số giảm nghèo bền vững để được xem xét dân chủ Đây là bước đầu tiên xác nhận danh sách hộ thực tế để tiến hành điều tra, phúc tra

Trang 38

+ Danh sách hộ chương trình giảm nghèo bền vững được lưu giữ đầy

đủ, chính xác tại UBND xã để quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả

+ Định kỳ hàng năm, Ban giảm nghèo cấp xã thực hiện công tác kiểm tra và phân loại mức sống của hộ chương trình Kết quả kiểm tra và phân loại mức sống của hộ thuộc chương trình là cơ sở chủ yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động chương trình giảm nghèo tại địa phương

Công tác tạo nguồn, quản lý và s dụng vốn cho việc giảm nghèo bền vững:

+ Quỹ chương trình giảm nghèo bền vững được lập ra nhằm mục đích trợ giúp cho những hộ dân nghèo, cũng như những hộ nghèo người dân tộc thiểu số nằm trong đối tượng chương trình giảm nghèo bền vững mượn vốn sản xuất, kinh doanh và hoạt động dịch vụ giải quyết cuộc sống, hoặc học nghề để có việc làm, tạo điều kiện thiết thực đạt được mục tiêu giảm nghèo một cách bền vững và nâng dần mức sống hộ nghèo, góp phần tích cực vào sự nghiệp dân giàu nước mạnh

+ Quỹ giảm nghèo bền vững được tạo lập ở 4 cấp: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Nguồn quỹ huy động trên cơ sở tự nguyện đóng góp bằng hình thức ủng hộ hoặc mượn từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong

và ngoài nước Quỹ giảm nghèo bền vững ở các các cấp được phân bổ bằng hai hình thức: trực tiếp hoặc hợp đồng ủy thác vốn qua các tổ chức Mặt trận

tổ quốc, đoàn thể, hội nghề nghiệp

Đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo bền vững

ở vùng người dân tộc thiểu số

+ Cấp Ủy và UBND các cấp tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ làm công tác giảm nghèo bền vững bảo đảm các tiêu chuẩn: có chuyên môn phù hợp, có đạo đức, năng lực, có tâm huyết trong công tác giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số

Trang 39

+ Cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp thường xuyên được tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững; được bố trí tham gia sinh hoạt tại các tổ chức đoàn thể chính trị để rèn luyện, phát triển kỹ năng phục vụ cho công tác giảm nghèo bền vững; được tập huấn, bồi dưỡng về chủ trương, chính sách, các kỹ năng nghiệp vụ quản lý, điều hành thực hiện công tác giảm nghèo bền vững

Tùy theo khối lượng, tính chất công việc, hàng tháng, cán bộ làm công tác chuyên trách giảm nghèo bền vững được trả lương, thù lao, phụ cấp và được hưởng các chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo giảm nghèo bền vững

1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN

VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số tại các địa phương trên toàn quốc sẽ là những bài học kinh nghiệm thực tiễn có giá trị đối với thị xã Buôn Hồ Trong phạm vi luận văn, chúng tôi lựa chọn 02 địa phương có khoảng 50% số dân là người dân tộc thiểu số, trong đó 01 địa phương là huyện miền núi, 01 địa phương là huyện đồng bằng, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm tham khảo cho hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số ở thị xã Buôn Hồ

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

Hướng Hóa là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây tỉnh Quảng Trị; là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh Diện tích tự nhiên của huyện là 115.715 ha, dân số 78.763 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm gần 50% (gồm các dân tộc Pa

Kô, Vân Kiều) [26, tr 1]

Trang 40

Hiện nay, Hướng Hóa là huyện có tỉ lệ hộ nghèo cao (chiếm 25,1% theo tiêu chí mới) với 11 xã đặc biệt khó khăn, chủ yếu là vùng dân tộc thiểu số Tuy số hộ vượt nghèo năm sau cao hơn năm trước nhưng thu nhập còn thấp

và không ổn định, nguy cơ tái nghèo cao; cơ sở hạ tầng đã được đầu tư song chưa đáp ứng yêu cầu; trình độ dân trí thấp, đồng bào chưa có nhiều kiến thức khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất và canh tác

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, các cấp ủy Đảng từ huyện đến cơ

sở luôn quan tâm lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo, chỉ đạo chính quyền các cấp tổ chức thực hiện tốt các chính sách của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo Thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” và Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về

“Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở”, đến nay, cơ bản huyện đã xóa xong nhà tạm cho đồng bào vùng khó khăn

Từ nguồn vốn 43.560 triệu đồng của Chương trình 135 giai đoạn II, đã xây dựng 138 công trình cơ sở hạ tầng tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, trong đó, đường giao thông thôn, bản có 26 công trình (chiếm 18,84%), thủy lợi 6 công trình (chiếm 4,35%), trường, lớp học có 35 công trình (chiếm 25,36%), nước sinh hoạt 11 công trình (chiếm 7,97%), điện 13 công trình (chiếm 9,42%), trạm y tế 5 công trình (chiếm 3,62%), nhà sinh hoạt cộng đồng 42 công trình (chiếm 30,44%) [26, tr 1]

Về chính sách hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số: Thực hiện Chương trình 134,135, từ 2005-2008, huyện đã hỗ trợ khai hoang 850 ha đất sản xuất cho các hộ nghèo; bình quân mỗi hộ được cấp 0,5 ha để trồng màu;

đã hỗ trợ các loại giống cây trồng, vật nuôi, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tập huấn khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, khuyến công cho

Ngày đăng: 19/12/2017, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ansel M. Sharp, Charles A. Register & Paul W. Grimes (1996), “Kinh tế học trong các vấn đề xã hội”, Phan Đặng Cường, Trần Thị Phương Mai, Hoàng Bằng Giang, Nguyễn Ngọc Hùng dịch, NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế học trong các vấn đề xã hội”
Tác giả: Ansel M. Sharp, Charles A. Register & Paul W. Grimes
Nhà XB: NXB. Lao động
Năm: 1996
2. Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Đăk Lăk (2015), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011 - 2015 (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả: Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Đăk Lăk
Năm: 2015
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2005) Báo cáo số 21/LĐTBXH – BTXH, ngày 25/4/2005 “Báo cáo Chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo Chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008), “Tài liệu về cẩm nang giảm nghèo dành cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã”, NXB.Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu về cẩm nang giảm nghèo dành cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã”
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB. Lao động Xã hội
Năm: 2008
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UNDP (2004), “Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135”, NXB. Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135”
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UNDP
Nhà XB: NXB. Lao động – Xã hội
Năm: 2004
6. Đại học Kinh tế Quốc dân (2010), “Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo”, NXB. Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo”
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB. Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2010
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”, NXB. Sự thật, Hà Nội, tr.154-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII”, NXB. Sự thật, Hà Nội, tr.73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Đinh Đăng Định (2004), “Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Đinh Đăng Định
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2004
14. Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng (2006), “Kinh tế phát triển: lý thuyết và thực tiễn”, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.186-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển: lý thuyết và thực tiễn”
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
15. Đình Thiên (2001) “Đổi mới và phát triển con người ở Việt Nam”, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới và phát triển con người ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
16. Đức Quyết (2002), “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo”, NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo”
Tác giả: Đức Quyết
Nhà XB: NXB. Lao động
Năm: 2002
17. Hồ Chí Minh (2000), “Toàn tập”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.5, 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn tập”
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Học viện hành chính (2012), “Tài liệu chuyển đổi cao học chuyên ngành hành chính công” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện hành chính (2012), "“Tài liệu chuyển đổi cao học chuyên ngành hành chính công
Tác giả: Học viện hành chính
Năm: 2012
19. Hoàng Sỹ Kim (2007), “Thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam”, Quản lý nhà nước, tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam”, "Quản lý nhà nước
Tác giả: Hoàng Sỹ Kim
Năm: 2007
20. ILO, SIDA, UNDP (2004), “Thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững và vì người nghèo nhằm đạt mục tiêu thiên niên kỷ ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững và vì người nghèo nhằm đạt mục tiêu thiên niên kỷ ở Việt Nam”
Tác giả: ILO, SIDA, UNDP
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm