1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)

104 401 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 600,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN ANH DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN ANH DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ VĂN DƯƠNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện Hành chính quốc gia, với sự tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức của quý Thầy, Cô đã giúp tôi có thêm những kiến thức mới phục vụ cho công tác chuyên môn Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, quý Thầy, Cô, Khoa Sau Đại học Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Hành chính phân viện Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình

Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS

Đỗ Văn Dương đã dành nhiều thời gian và công sức truyền đạt kinh nghiệm, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tư pháp Lâm Đồng, Phòng Tư pháp huyện Di Linh, UBND các thị trấn, xã trên địa bàn huyện Di Linh, Công an huyện Di Linh, Hạt kiểm lâm và ban quản lý rừng Tân Thượng… bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát, tìm hiểu thực tế nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng với khả năng và thời gian còn có những hạn chế nhất định, nên chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Anh Dũng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

TrangTrang phụ bìa

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN

PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 101.1 Tổng quan về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu

số 101.2 Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số 271.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số 35Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 2012 - 2016 412.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động tới quản lý nhà nước

về phổ biến giáo dục pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện

Di Linh 412.2 Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh từ 2012 - 2016 452.3 Một số kinh nghiệm rút ra từ hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến

Trang 6

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN DI LINH,TỈNH LÂM ĐỒNG

HIỆN NAY 66

3.1 Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh 66

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Di Linh hiện nay 67

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm pháp luật giao thông đường bộ từ năm 2012 đến 2016 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật (PBPL) đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) có tầm quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước, đặc biệt là giai đoạn hiện nay trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội dân công bằng, dân chủ, văn minh Trong những năm qua hoạt động thông tin, tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung và các chính sách Dân tộc luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các cơ quan, ban, ngành trong hệ thống chính trị

đã triển khai tích cực qua rất nhiều kênh từ Trung ương đến địa phương, thông qua các chương trình, kế hoạch, các đợt tổ chức tuyên truyền pháp luật hàng năm, tuyên truyền qua hệ thống Báo chí, Đài phát thanh, Truyền hình, các tạp chí, tập san về công tác Dân tộc, chính sách cấp báo tạp chí không thu tiền cho vùng đặc biệt khó khăn, Biên giới, Hải đảo, chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo DTTS, đề án tuyên truyền pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số… theo đó hệ thống thông tin truyền thanh công cộng, xây dựng các câu lạc bộ pháp luật ở cụm dân cư

và tổ chức các hình thức hoạt động thông qua các diễn đàn với chủ đề dân tộc miền núi, các hội thi tìm hiểu pháp luật dành cho người dân nông thôn

và đồng bào DTTS với nội dung phong phú đa dạng được nhiều cấp, nhiều địa phương triển khai… đã góp phần nâng cao nhận thức cho đồng bào các DTTS, củng cố lòng tin của đồng bào DTTS vào Đảng, chính quyền, nâng cao ý thức chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng nông thôn mới, tiếp cận với các tiến

bộ khoa học kỹ thuật, đưa cây, con giống mới có năng xuất, chất lượng vào sản xuất, học tập làm theo các gương sản xuất giỏi phấn đấu vươn lên xóa

Trang 10

Trong thành quả đạt được, hoạt động phổ biến pháp luật đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng luôn được thực hiện bằng nhiều hoạt động tập trung hướng về cơ sở, đưa thông tin đến với đồng bào DTTS thông qua nhiều hình thức như chương trình phát thanh tiếng dân tộc, các

ấn phẩm, báo, tạp chí chuyên đề phản ánh về lĩnh vực công tác dân tộc miền núi, đưa các hoạt động trợ giúp pháp lý trực tiếp đến cơ sở phục vụ cho nhân dân, xây dựng các câu lạc bộ tuyên truyền pháp luật, tổ chức tốt các hội nghị tuyên truyền pháp luật dành cho người dân nông thôn và đồng bào DTTS theo tiểu đề án 2, Quyết định số 554/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/05/2009 về phê duyệt Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2008 đến năm 2012” và Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/04/2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW cho phép kéo dài Đề án đến hết năm 2016, tham gia và đạt giải cao hội thi tìm hiểu pháp luật dành cho người dân nông thôn và đồng bào DTTS do địa phương tổ chức

Trong những năm qua, chính quyền và ngành tư pháp của huyện đã nghiêm túc triển khai thực hiện Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về PBPL được kiện toàn, củng cố, ngày càng đảm bảo về số lượng và chất lượng Hình thức và phương pháp tuyên truyền ngày càng phong phú không ngừng được cải tiến phù hợp với địa phương Góp phần đẩy lùi các

tệ nạn xã hội, từng bước ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”

Tuy nhiên hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào DTTS cũng bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, do trình độ dân trí thấp, tình trạng người dân không biết chữ, không thạo tiếng phổ thông ở vùng

Trang 11

cao, vùng sâu, vùng xa còn khá phổ biến, do ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào, mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền trong vùng dân tộc còn thiếu và yếu cả về kiến thức, kỹ năng truyền đạt, chưa am hiểu phong tục tập quán đồng bào và do bất đồng ngôn ngữ… các hình thức tổ chức tuyên truyền nhiều khi còn cứng nhắc, tài liệu cung cấp thông tin tuyên truyền nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tế từng vùng, không thu hút được sự quan tâm của đồng bào, kinh phí cho hoạt động tuyên truyền còn hạn hẹp, điều kiện cơ sở vật chất như tủ sách pháp luật, nhà văn hóa, hệ thống thông tin truyền thanh công cộng để người dân tiếp cận với các thông tin ở vùng DTTS còn thiếu thốn và kém hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu về việc phổ biến pháp luật cho đồng bào DTTS mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay

Với các lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về

phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Công tác PBPL là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự quan trọng đó được thể hiện ở việc Chính phủ triển khai thành Chương trình PBPL và đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 02-212 về

“Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư” (2006 - 2008) Tiếp theo đó ngày 12/3/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết số 37/2008/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ 2008 - 2012 Mục tiêu chung của giai đoạn này là “…đổi mới phương thức tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền kịp thời, thường xuyên nội dung

Trang 12

pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn…” Đặc biệt là Quyết định

số 554/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/05/2009 về phê duyệt

Đề án “Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nông thôn

và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2008 đến năm 2012” và Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/04/2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW cho phép kéo dài Đề án đến hết năm 2016

Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật, nhiều địa phương trong cả nước đã có nhiều nghiên cứu và triển khai hoạt động nghiên cứu dưới nhiều hình thức, như xây dựng các đề

án, đề tài, biên soạn tài liệu phục vụ PBPL cho nhân dân hay các bài nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về hoạt động PBPL, cụ thể như:

- Công trình nghiên cứu “Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở cơ sở” năm 2008 của Sở

Tư pháp tỉnh Tiền Giang

- Công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý cho nhân dân ở cơ sở tại Quảng Nam”

năm 2008 của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Quảng Nam

- Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng nhận thức của cán

bộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định và giải pháp nâng cao công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân” năm 2008 của Sở Tư pháp Bình

Trang 13

- Đề tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật” năm 2010 của Bộ Tư pháp.

- Đề tài “Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” năm 2010 của tác

giả Lê Thị Thu Giang đi sâu nghiên cứu hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (phổ biến, giáo dục pháp luật) trên địa bàn quận Đống Đa để từ đó xây dựng luận cứ cho các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và quản lý nhà nước đối với hoạt động này trên địa bàn quận Đống Đa [14]

- Đề tài “Giáo dục pháp luật ở đô thị qua thực tiễn thành phố Hải Dương” năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đi sâu nghiên cứu thực

trạng giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương từ đó đề ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương trong giai đoạn mới [34]

- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay” (năm 2013) do PGS.TS Lê Thiên Hương, Trưởng khoa Nhà nước

và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia làm chủ nhiệm Đề tài đã nêu lên những nội dung cần giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng như: Phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên trong trường đại học, cao đẳng: khái niệm, nguyên nhân, hậu quả của tham nhũng, ý nghĩa, tầm quan trong của công tác phòng, chống tham nhũng, trách nhiệm của công dân, đồng thời đưa ra các phương pháp cụ thể như: giảng viên thuyết trình chủ đề trên lớp thông qua slide bài giảng; cung cấp những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng và phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tìm hiểu và nghiên cứu [16]

- Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao

Trang 14

công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2020” năm 2013 do Thạc sĩ

Lê Duy An, làm chủ nhiệm, trong đó đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tìm ra những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số [1]

- Nguyễn Quốc Sửu (2014), “Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tỉnh Đắk Lắk”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 223 (8/2014)

- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” năm 2014 của Nguyễn Văn Khoa, chuyên ngành Quản

lý công, Học viện Hành chính quốc gia

- Đề tài “Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” năm 2014 của Châu Ngọc Lương lớp Cao

học 17M chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia

- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk” năm 2015 của Chế Vũ Chí

An, chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia

- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán

bộ, công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk” năm

2015 của Trần Tuấn Anh, chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia

Bên cạnh đó, còn nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp luật hay các cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức,

cơ quan nhà nước… được đăng trên các báo, tạp chí

Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu để triển khai thực hiện công tác PBPL cho nhiều đối tượng khác nhau và đạt được những

Trang 15

thành tựu khoa học nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu của các ngành, các cấp, các học viện, các địa phương Song, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề hoạt động quản lý Nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng Đây cũng là lý do để

đề tài này được lựa chọn bởi sự không trùng lặp của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS huyện

- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng Luận văn tập trung nghiên cứu: những thuận lợi, khó khăn, kết quả đạt được,nguyên nhân của hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Trên cơ sở thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý nhà

Trang 16

nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào DTTS trong điều kiện xây

dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: địa bàn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2012 đến 2016

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về PBPL; chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hoạt động PBPL; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBPL; thống kê, tổng kết về PBPL

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Nội dung nghiên cứu của đề tài được xem xét luận giải dựa trên cơ

sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta

về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và công tác PBPL, đặc biệt là các đề án về PBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử, lôgíc, hệ thống, thống

kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đây là đề tài nghiên cứu tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về PBPL, đồng thời rút ra những kinh nghiệm quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào

Trang 17

DTTS ở huyện Di Linh

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào dân tộc ít người ở huyện Di Linh

- Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, PBPL cho người dân nói chung và đồng bào DTTS ở huyện Di Linh nói riêng

Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về công tác pháp luật và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng từ năm 2012

- 2016

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước

về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN

PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Tổng quan về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm phổ biến pháp luật

“Dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia

đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là

“dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số”

ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm

tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh

về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới [40]

Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản

Trang 19

về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2 - Điều 4 “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Khoản 3 - Điều 4: “Dân tộc đa số

là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia” Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia

2009, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó

có 53 dân tộc thiểu số với số dân 12,253 triệu người (chiếm 14,3%)

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra quan niệm chung về “đồng bào dân tộc thiểu số như sau: “Đồng bào dân tộc thiểu số là những dân tộc có

số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Phổ biến pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Với tư cách là một khái niệm pháp lý, PBPL được hình thành trong khoa học pháp lý cũng như được tiến hành trong thực tế ở nước

ta rất muộn so với nhiều nước trên thế giới Vì vậy, ở nước ta hiện nay chưa

có một khái niệm chính thức về PBPL Và, để làm rõ vấn đề này cần phải xuất phát từ khái niệm “phổ biến” và khái niệm “giáo dục”

Theo Từ điển Tiếng Việt, “phổ biến” là hoạt động truyền đạt rộng khắp làm cho nhiều người cùng biết [50], còn theo Từ và ngữ Hán Việt thì

“Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến” Còn “giáo dục” là sự tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [4]

Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành

Trang 20

nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để Nhà nước dùng để trị dân Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn…

Về giáo dục pháp luật là khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng, bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương,

ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành của đối tượng [23]

So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính

Tóm lại, phổ biến pháp luật hiểu theo nghĩa rộng là quá trình bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến,

Trang 21

giáo dục pháp luật) Hiểu theo nghĩa hẹp là truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành [9].

Từ những phân tích nói trên có thể đưa ra định nghĩa PBPL như sau:

Phổ biến pháp luật bao gồm cả tuyên truyền và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng được phổ biến pháp luật nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật.

Từ khái niệm về phổ biến pháp luật chúng ta có thể thấy rằng: Phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm cả tuyên truyền

và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật.

PBPL đối với đồng bào DTTS là một trong những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc chăm lo đời sống của đồng bào DTTS nhằm giúp họ hình thành tri thức pháp luật, tạo niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

1.1.2 Đặc điểm của phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.2.1 Đặc điểm chung phổ biến pháp luật

Thứ nhất, phổ biến pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Trang 22

Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của nhân dân Chính sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước đã xác lập sự gắn bó hữu cơ giữa đường lối, chính sách của đảng với pháp luật Vì vậy, thực hiện pháp luật cũng là góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị Khi thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu biết nhất định về chính trị Ngược lại, trong quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng có sự đan xen những nội dung, quan điểm pháp lý nhất định.

Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân

đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng” [13].

Thứ hai, phổ biến pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật.

Phổ biến pháp luật có quan hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật Trong mối quan hệ này, xây dựng pháp luật là cơ sở cho việc hình thành, đẩy mạnh phổ biến pháp luật; phổ biến pháp luật là một phương tiện quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống Hoạt động phổ biến pháp luật còn là một “kênh” để các cơ quan xây dựng pháp luật nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, đề xuất từ phía người dân và các tổ chức trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật; đánh giá được tính khả thi, hiệu quả của quy định, văn bản pháp luật trong đời sống thực tế từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật

Trang 23

Thứ ba, phổ biến pháp luật nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng.

Đối tượng của phổ biến pháp luật là những cá nhân công dân hoặc những nhóm cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận tác động của các hoạt động phổ biến pháp luật Họ là những người có nhu cầu và cả những người cho rằng mình không có nhu cầu tìm hiểu pháp luật

Một trong những đặc điểm không thể thiếu của phổ biến pháp luật là truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến đối tượng phổ biến pháp luật thông qua các hình thức, phương tiện, biện pháp thích hợp, giúp cho đối tượng hiểu biết, nắm bắt thông tin, nội dung pháp luật mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập Nội dung pháp luật được truyền đạt tới đối tượng thường

là các văn bản pháp luật, các nội dung hướng dẫn công dân thực hiện pháp luật, các thông tin về xây dựng và thi hành pháp luật

Phổ biến pháp luật không chỉ thuần túy là truyền tải, cung cấp thông tin pháp luật mà quan trọng hơn là nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, từ

đó hình thành ý thức tôn trọng, tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng tác động Đây là mục đích cuối cùng của phổ biến pháp luật

Thứ tư, phổ biến pháp luật được tổ chức, thực hiện bởi những chủ thể xác định.

Chủ thể phổ biến pháp luật được hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức thực hiện công tác phổ biến pháp luật tùy thuộc vào nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng phổ biến pháp luật

Phổ biến pháp luật có nội dung rộng, hình thức đa dạng, phong phú, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đối tượng; do đó, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước đều xác định thực hiện phổ biến pháp luật là

Trang 24

trách nhiệm của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội

và toàn dân Hiện nay, các chủ thể tham gia phổ biến pháp luật rất đa dạng; tuy nhiên, chủ thể có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện phổ biến pháp luật là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có chức năng trong hoạt động này, cụ thể:

- Chính phủ: Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật

- Các bộ, cơ quan ngang bộ: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tácphổ biến các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của bộ Tổ chức pháp chế của các bộ, các cơ quan ngang bộ có trách nhiệm giúp lãnh đạo bộ, ngành tổ chức thực hiện công tác phổ biến pháp luật trong phạm vi quản lý

Các chủ thể cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình

tổ chức thực hiện phổ biến pháp luật để không chồng chéo hay bỏ sót đối tượng, địa bàn, nội dung giáo dục pháp luật nhằm đạt được hiệu quả chung cao nhất

PBPL có những đặc điểm chung của nó Nhưng PBPL cho đối tượng

cụ thể là đồng bào DTTS lại là hình thức PBPL đặc thù, nghĩa là ngoài những đặc điểm của PBPL nói chung, PBPL cho đồng bào DTTS còn có

Trang 25

những đặc điểm riêng Đặc điểm riêng đó được phản ánh qua các yếu tố chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức PBPL.

1.1.2.2 Đặc điểm về đối tượng và chủ thể phổ biến pháp luật

- Đối tượng được PBPL chính là đồng bào người dân tộc thiểu số

huyện Di Linh - tỉnh Lâm Đồng là một địa phương có tới 29 dân tộc anh

em sống đan xen nhau Ngoài các dân tộc bản địa chiếm số đông trong cộng đồng các dân tộc như: K’ho, RaGlai, Châu Mạ, Di Linh còn có các dân tộc ít người khác ở miền Bắc và miền Trung di cư vào như: Tày, Nùng, Mường

Vì vậy đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán và bản sắc của từng dân tộc hoàn toàn khác nhau Tâm lý dân tộc ít người thường hay tự ti, bảo thủ và cả tâm lý trông chờ, ỷ lại, bao gồm cả tư tưởng cục bộ địa phương, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, dòng họ có phong tục tập quán riêng biệt Nhân dân các dân tộc ít người vẫn còn sử dụng hệ thống luật tục Luật tục có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của đồng bào dân tộc: Có những luật tục tiến bộ, tích cực được Nhà nước thừa nhận nhưng bên cạnh

đó vẫn còn có những hủ tục nặng nề, lạc hậu cần phải loại bỏ dần như tang

ma, cưới xin…

Những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, con em của đồng bào DTTS được đi đào tạo ở nhiều trình độ và các bậc học khác nhau nhưng nhìn chung trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc ít người là tương đối thấp Đa số đồng bào các dân tộc ít người đều biết tiếng Kinh nhưng có người biết không nhiều, thậm chí là không biết Đây là hạn chế rất lớn khi tiếp thu những tri thức văn hóa nói chung, trong đó có tri thức

về pháp luật, kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, anh ninh, khoa học kỹ thuật, y tế Cuộc sống của đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn, ít có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật và sử dụng phương tiện, công cụ pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình Điều đó đòi hỏi

Trang 26

phải có những hình thức, biện pháp phù hợp để hỗ trợ một cách thiết thực cho đối tượng này hiểu biết và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Đó chính là cách cụ thể hóa những đường lối của Đảng ta về các chính sách xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào DTTS trong lĩnh vực pháp luật để thực hiện được điều đó thì hoạt động quản lý Nhà nước về tuyên truyền truyền pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số phải được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả

Mặt khác, đồng bào DTTS có tâm lý rất dễ tin, nói là nghe nhưng niềm tin đó cũng dễ dàng bị thay đổi nếu không được chứng minh bằng việc làm cụ thể Bởi vậy, hiệu quả của hoạt động PBPL cho đồng bào DTTS không chỉ là việc làm cho họ hiểu đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước quy định như thế nào mà quan trọng hơn là việc đường lối

đó, pháp luật đó có được minh chứng đúng đắn bằng thực tiễn hay không Điều này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò của chủ thể PBPL là rất quan trọng

- Về chủ thể PBPL: Các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xác

định có hai loại chủ thể PBPL là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp

+ Chủ thể chuyên nghiệp được hiểu là người có chức năng, nhiệm

vụ chủ yếu, trực tiếp, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ PBPL Đó là các giáo viên giảng dạy pháp luật trong các nhà trường; các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; các biên tập viên, ban biên tập các tạp chí, sách báo

có liên quan đến PBPL; các cá nhân, tổ chức quản lý về hoạt động PBPL, hoạt động bảo vệ pháp luật, tổ chức trợ giúp pháp lý Chủ thể chuyên nghiệp là lực lượng nòng cốt trong hoạt động PBPL

+ Chủ thể không chuyên nghiệp là những người mà tuy chức năng chính không phải là PBPL nhưng một trong các nhiệm vụ của họ là thông

Trang 27

qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện mục đích PBPL Họ làm việc ở nhiều lĩnh vực, cơ quan khác nhau như các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các cán bộ cơ quan hành pháp, tư pháp, các luật gia, luật sư, công chứng viên Chủ thể không chuyên nghiệp tuy không giữ vị trí nòng cốt nhưng có vai trò rất quan trọng Nhờ những chủ thể này mà công tác PBPL được triển khai rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân Điều đó tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ cho hoạt động PBPL.

Chủ thể PBPL cho đối tượng là đồng bào DTTS cũng chính là những chủ thể nói trên Nhưng thực tiễn cũng cho thấy rằng trong cộng đồng các DTTS anh em ở Di Linh, mỗi dân tộc có những cá nhân đứng đầu có vị trí

và uy tín rất lớn Họ là già làng, trưởng bản Các già làng, trưởng bản là đối tượng “kép”- vừa là đối tượng được PBPL nhưng đồng thời cũng là chủ thể PBPL Ưu thế của những người này là gần gũi dân, rất am hiểu phong tục tập quán, tiếng nói, chữ viết của bà con dân tộc mình hoặc của bà con đồng bào DTTS nói chung sống trên địa bàn thôn, buôn Tiếng nói của họ

có ảnh hưởng mạnh mẽ và thậm chí quyết định đến tư tưởng và hành động của bà con trong cộng đồng trước nhiều vấn đề xảy ra Với vị trí và uy tín của mình, họ có khả năng giác ngộ, tập hợp những người khác và giải quyết những tranh chấp, những mối bất đồng phát sinh hàng ngày trong cộng đồng Theo đó, những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được họ triển khai áp dụng kết hợp với phong tục tập quán của dân tộc khi giải quyết sự việc

Tại điều 17- Khoản 3 - Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 qui định:

Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, già làng, trưởng bản, người

có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tham gia phổ biến,

Trang 28

giáo dục pháp luật tại địa phương; tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tình nguyện phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng DTTS, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân [22]

Vì vậy, để công tác PBPL cho đồng bào DTTS có hiệu quả, ngoài các chủ thể nói trên cần thu hút thêm đội ngũ già làng, trưởng bản, tranh thủ

sự ủng hộ, giúp đỡ của họ trong việc PBPL cho đồng bào Nếu họ là chủ thể PBPL, được trang bị kiến thức pháp luật đầy đủ thì chắc chắn hiệu quả sẽ rất cao, góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, loại trừ những hủ tục lạc hậu Thông qua những con người này mà pháp luật được tác động tới nhận thức của người dân, giúp họ hiểu và có hành vi xử sự phù hợp với qui định của pháp luật, thực hiện tốt các qui ước, hương ước của thôn, buôn, làng xã, xây dựng đời sống văn hóa mới

1.1.2.3 Đặc điểm về nội dung, hình thức phổ biến pháp luật

- Về nội dung phổ biến pháp luật

Nội dung PBPL là một “đại lượng động” hay thay đổi cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử nhất định để đạt được mục đích và hiệu quả mong muốn Tùy thuộc vào trình độ nắm bắt thông tin của đối tượng PBPL mà quy định mức độ nội dung truyền tải tri thức về pháp luật một cách phù hợp Khoản 1 - Điều 17- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật nhấn mạnh:

Việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân căn cứ vào đặc điểm của từng đối tượng mà tập trung vào các quy

Trang 29

định pháp luật về dân tộc, tôn giáo, trách nhiệm tham gia bảo vệ, giữ gìn an ninh, quốc phòng, biên giới, chủ quyền quốc gia, biển, đảo, tài nguyên, khoáng sản và các lĩnh vực pháp luật khác gắn liền với đời sống, sản xuất của người dân [22]

PBPL cho đồng bào DTTS nói chung, đồng bào DTTS ở Di Linh nói riêng với những đặc điểm đặc thù về đối tượng như đã trình bày ở trên cho nên nội dung PBPL cũng có những nét đặc thù riêng tương ứng với khả năng tiếp nhận tri thức pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể là:

+ Nội dung PBPL là những vấn đề bức xúc đặt ra từ cơ sở, những vấn

đề đồng bào quan tâm liên quan trực tiếp, thiết thân đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như đất đai, hôn nhân gia đình, pháp luật về hộ tịch, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với đồng bào DTTS, PBPL về bảo vệ và phát triển rừng

+ Bên cạnh việc phổ biến nội dung đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cần hướng dẫn cho đồng bào DTTS thực hiện, phát huy luật tục, các tập quán sinh hoạt tốt đẹp, phù hợp với pháp luật của Nhà nước, đồng thời phải chỉ ra cho họ thấy được những hủ tục lạc hậu, nặng nề trái với lợi ích cộng đồng, trái với pháp luật của Nhà nước cần phải loại bỏ trong điều kiện đổi mới hiện nay

+ Mặt khác, nội dung PBPL cũng phải đan xen, lồng ghép với nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức Bởi lẽ như đã trình bày ở trên, đồng bào DTTS có tâm lý rất dễ tin nhưng niềm tin đó cũng dễ dàng bị thay đổi nếu bị tác động bởi các yếu tố khách quan Các thế lực thù địch đã lợi dụng điểm yếu này của đồng bào để chia rẽ dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng ở nước ta Vì vậy, PBPL cho đồng bào DTTS phải kết hợp với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nhằm làm cho họ ý thức được đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân

Trang 30

- Về hình thức phổ biến pháp luật

Theo qui định tại Điều 11- Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm

2013, thì PBPL được thực hiện dưới nhiều hình thức rất phong phú, cụ thể là:

1 Họp báo, thông cáo báo chí

2 Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật

3 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư

4 Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật

5 Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở

6 Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở

7 Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân

8 Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả [22]

Khoản 2 - Điều 17- Luật phổ biến giáo dục pháp luật qui định PBPL

cho một số đối tượng đặc thù, trong đó có đồng bào DTTS như sau:

Trang 31

Hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân được chú trọng thực hiện thông qua hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý lưu động; tư vấn pháp luật, cung cấp miễn phí thông tin, tài liệu pháp luật bằng tiếng dân tộc cho đồng bào DTTS; lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật trong các hoạt động văn hóa truyền thống [22]

Như vậy PBPL cho đồng bào DTTS có nhiều hình thức rất phong phú song đòi hỏi chủ thể phải biết lựa chọn hình thức phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ học vấn, khả năng nhận thức và điều kiện sinh hoạt của đồng bào DTTS từng vùng thì mới đem lại hiệu quả

1.1.3 Mục đích của phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc

- Thứ nhất, mục đích tri thức: PBPL nhằm trang bị tri thức pháp luật,

từng bước mở rộng và làm sâu sắc hơn hệ thống tri thức pháp luật cho đối tượng Đây là mục đích đầu tiên, quan trọng nhất của công tác PBPL, bởi lẽ đối tượng được PBPL có tình cảm, niềm tin và hành vi xử sự phù hợp với qui định của pháp luật hay không trước hết phải có tri thức, có sự hiểu biết pháp luật Sự hiểu biết pháp luật là yếu tố quan trọng đối với việc hình thành

Trang 32

và phát triển ý thức pháp luật của đối tượng

Đối với đồng bào DTTS, việc trang bị tri thức về pháp luật là hết sức cần thiết Bởi lẽ như đã trình bày ở trên, đồng bào DTTS có trình độ văn hóa tương đối thấp Do cuộc sống còn nghèo, họ quan tâm đến cái ăn, cái mặc hơn là học tập để có tri thức, trong đó có tri thức về pháp luật Do đó đã có pháp luật rồi mà họ không biết hoặc biết mà không hiểu hoặc hiểu mà chưa đến nơi đến chốn dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật xảy ra ở bà con đồng bào DTTS rất nhiều Vì vậy mà phải tiến hành PBPL cho họ biết và hiểu để

có các hành vi xử sự phù hợp với các qui định của pháp luật

- Thứ hai, mục đích cảm xúc: PBPL không chỉ nhằm trang bị tri thức

về pháp luật cho đối tượng biết, hiểu mà còn thông qua sự hiểu biết đó làm hình thành ở đối tượng tình cảm, lòng tin đối với pháp luật Cụ thể là thông qua sự hiểu biết về pháp luật, đối tượng đánh giá được tính công bằng của pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự của cá nhân hay của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, từ đó làm cho đối tượng

có ý thức đấu tranh với mọi hành vi vi phạm pháp luật [10]

Đối với đồng bào DTTS, việc PBPL nhằm hình thành tình cảm, lòng tin đối với pháp luật là rất cần thiết Bởi lẽ đồng bào DTTS thường có tâm

lý rất dễ tin nhưng niềm tin đó cũng rất dễ dàng bị thay đổi nếu có những yếu tố tác động đến niềm tin của họ Ví dụ như bản thân pháp luật qui định không rõ ràng hoặc cán bộ công chức nhà nước không gương mẫu trong việc thực hiện pháp luật hoặc có những yếu tố vật chất, tinh thần khác như tiền bạc, niềm tin tôn giáo mà các thế lực thù địch đã lợi dụng để cám dỗ, mua chuộc đồng bào thì việc làm cho đồng bào DTTS có tình cảm, lòng tin vào pháp luật là vô cùng khó khăn Vì vậy phải tiến hành PBPL cho họ hiểu được bản chất tốt đẹp của pháp luật nước ta

- Thứ ba, mục đích hành vi: là mục đích làm hình thành động cơ và

Trang 33

hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật.

Có thể nói kết quả cuối cùng mà chủ thể PBPL mong đợi là thói quen

xử sự theo pháp luật của con người Nếu thiếu mục đích này thì hoạt động PBPL cũng trở nên vô nghĩa Việc cung cấp tri thức pháp luật, xây dựng lòng tin đối với pháp luật là những yếu tố quan trọng để hình thành động cơ, hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật của đối tượng Muốn vậy phải tiến hành PBPL thường xuyên bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau để mọi cá nhân nhận thức được vai trò quan trọng của pháp luật đối với xã hội, làm hình thành ở họ thói quen xử sự theo yêu cầu của pháp luật Hành vi hợp pháp của con người sẽ trở thành thói quen nếu người đó có tri thức pháp luật, có lòng tin đối với pháp luật, thường xuyên có ý thức sống và làm việc theo pháp luật Thói quen của hành vi hợp pháp do hoạt động PBPL mang lại thường tồn tại ở các dạng là: thói quen tuân thủ pháp luật, thói quen chấp hành pháp luật (thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình), thói quen sử dụng pháp luật và thói quen áp dụng các tri thức pháp luật và các quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, của Nhà nước và của xã hội

Tóm lại, PBPL nhằm các mục đích tri thức, mục đích cảm xúc và mục đích hành vi Giữa chúng có mối quan hệ qua lại, đan xen với nhau Do đó, khi tiến hành PBPL phải hướng hoạt động này vào tất cả các mục đích đã

đề ra

1.1.4 Vai trò của việc phổ biến pháp luật

Vai trò của việc PBPL bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Vai trò quan trọng đó của công tác PBPL được thể hiện như sau:

Thứ nhất, PBPL là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện

pháp luật

Trang 34

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể Muốn thế thì trước tiên phải PBPL nhằm cung cấp cho đối tượng biết quyền và nghĩa vụ của mình về những việc mà pháp luật quy định được phép làm và những việc mà pháp luật không cho phép làm hoặc nghiêm cấm, về cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại Khi đã được trang bị tri thức về pháp luật rồi thì đối tượng mới biết để thực hiện cho đúng Do đó, việc đầu tiên là phải tiến hành phổ biến pháp luật cho đối tượng biết, hiểu để làm theo.

Một địa phương có nhiều đồng bào DTTS như huyện Di Linh với nhiều nét phong tục tập quán khác nhau và luật tục chi phối mạnh mẽ đến đời sống người dân thì việc tạo lập niềm tin vào pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người dân và cả cộng đồng các dân tộc đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBPL để mọi người hiểu biết về pháp luật Do đó, PBPL là khâu đầu tiên của quá trình thực hiện pháp luật

Thứ hai, PBPL tác động vào ý thức đối tượng, góp phần hình thành

và nâng cao ý thức pháp luật cho công dân

PBPL là một trong những biện pháp có vai trò quan trọng tác động đến đối tượng được PBPL góp phần hình thành và nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân nói riêng và của xã hội nói chung

Trước hết, PBPL tác động đến ý thức của đối tượng hình thành chu trình: Không để ý đến pháp luật - để ý - biết - hiểu - thực hiện Từ chỗ người được PBPL không có ý thức về sự tồn tại của pháp luật đến việc bắt đầu dành sự quan tâm của mình đối với pháp luật, rồi từ sự quan tâm đến pháp luật là sự tiếp cận, tìm hiểu và hành động, nhờ đó không chỉ nâng cao về hiểu biết pháp luật mà còn định hướng hành vi xử sự đúng với quy định của

Trang 35

pháp luật, từ đó nâng cao ý thức pháp luật, có động cơ đúng đắn trong việc thực hiện pháp luật và đấu tranh tích cực với các hành vi vi phạm pháp luật

Đối với đồng bào DTTS nói chung, đồng bào DTTS ở huyện Di Linh nói riêng, với những đặc điểm đặc thù về đối tượng thì việc PBPL để nâng cao ý thức pháp luật cho đồng bào càng có vai trò quan trọng Trong điều kiện dân trí chưa cao, đời sống kinh tế của đa số đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn thì hơn ai hết họ là những công dân chịu nhiều thiệt thòi nhất, khó có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu và sử dụng công cụ pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Hoạt động của việc PBPL đã hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào, giúp họ nhận thức được những giá trị cao đẹp của pháp luật và biết sử dụng hữu hiệu công cụ đó trong cuộc sống

1.2 Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của quản lý nhà nước về

phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Theo quan niệm của C Mác:

Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự

Trang 36

quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động

cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [12].Tức theo C Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây C Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý” Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý

đã nói rõ về cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Về khái niệm “quản lý nhà nước” Theo giáo trình Lý luận hành chính nhà nước:

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [15]

Trang 37

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn

bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp; theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều hành, chủ thể của hành hính nhà nước là các cơ quan, các nhân có thẩm quyền trong hệ thống hành chính nhà nước Trong phạm vi nghiên cứu, nội dung của đề tài này chỉ đánh giá theo nghĩa hẹp của công tác quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một hoạt động được diễn ra trong nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động của xã hội như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng… Trong đó, quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật là một bộ phận trong tổng thể quản lý nhà nước đó

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên có thể hiểu: Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền (chủ yếu là

cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân có thẩm quyền) trên cơ sở Hiến pháp

và luật, để thi hành các quy định của Hiến pháp, luật về PBPL, nhằm PBPL, cung cấp tri thức, hình thành, bồi dưỡng tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật cho cơ quan, tổ chức và cá nhân [15]

1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật

Thông qua khái niệm như trên về quản lý nhà nước từ đó ta thấy những đặc điểm của quản lý nhà nước như sau:

- Quản lý nhà nước là những hoạt động, tác động mang tính tổ chức

và điều chỉnh, tức là sự tác động này nhằm đặt con người vào một mối quan

hệ nào đó, trong một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội Đây là đặc trưng

Trang 38

cơ bản nhất của quản lý Tổ chức không phải là những hoạt động mà chỉ tạo

ra điều kiện cho hoạt động thực tiễn; còn để cho quan hệ đã được tổ chức hoạt động, phải thực hiện những tác động điều chỉnh

- Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước Toàn bộ các hoạt động tổ chức và điều chỉnh của quản lý nhà nước được tiến hành dựa trên

cơ sở quyền lực nhà nước Giữa quản lý và quyền lực có mối quan hệ chặt chẽ, như hai mặt của một bàn tay Bản thân quản lý là một quan hệ có tính quyền uy Quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề, còn quản lý lấy quyền uy làm điều kiện tồn tại Quyền uy của quản lý nhà nước chính là quyền lực nhà nước Và hệ thống các quy phạm pháp luật là điều kiện đảm bảo cho các tác động quản lý và ngược lại, thực hiện các tác động quản lý, chính là sự đảm bảo quy phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế cuộc sống

- Quản lý nhà nước là sự quản lý có tính khoa học và tính kế hoạch Quản lý là sự biểu hiện khả năng của con người tổ chức và điều chỉnh cuộc sống của mình Con người nhận thức thế giới xung quanh, tổ chức nhau lại

và trong các quan hệ xã hội và điều chỉnh các quan hệ ấy để tác động vào thế giới xung quanh nhằm đem lại lợi ích cho mình Đây là một hoạt động mang tính chủ quan của con người Tính khoa học và kế hoạch là khả năng tồn tại một cách khách quan của quản lý nhà nước

- Quản lý nhà nước là những tác động quản lý mang tính liên tục Bản chất các quá trình phát triển xã hội là những quá trình liên tục từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ đơn giản đến phức tạp Vì thế để tạo ra một quá trình liên tục của sự phát triển xã hội, các tác động tổ chức

và điều chỉnh cũng phải là những tác động liên tục

Đặc điểm của quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật:

Một là, quản lý nhà nước về PBPL là hoạt động mang tính quyền

lực nhà nước Quyền lực nhà nước thể hiện ở các chủ thể có thẩm quyền

Trang 39

thể hiện ý chí của nhà nước thông qua các phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng là sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người.

Hai là, quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động

được tiến hành bởi những chủ thể trong bộ máy nhà nước (chủ yếu là các cơ quan trong bộ máy hành pháp)

Ba là, quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm cung

cấp tri thức, hình thành, bồi dưỡng tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật cho

cơ quan, tổ chức và cá nhân

Như đã nêu ở trên, quản lý nhà nước về PBPL là một bộ phận trong tổng thể quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS là một bộ phận trong quản lý nhà nước về PBPL nói chung, là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện (hoặc các tổ chức xã hội nếu được nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên

cơ sở và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà nước đối với hoạt động PBPL nói chung và PBPL đối với đồng bào DTTS nói riêng

Cho nên, quản lý nhà nước về PBPL đối vối đồng bào DTTS cũng

có những đặc điểm chung của quản lý nhà nước, đó là tính tố chức và điều chỉnh, tính quyền lực nhà nước, tính khoa học và tính kế hoạch, tính liên tục Tuy nhiên, quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS cũng có những đặc điểm riêng, đó là:

Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS

được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như: ở cấp tỉnh

là UBND cấp tỉnh (giao cho Sở Tư pháp chủ trì và chịu trách nhiệm chính)

và cấp huyện là UBND huyện (giao cho phòng Tư pháp chủ trì thực hiện)

Thứ hai, khách thể quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS

Trang 40

là trật tự quản lý nhà nước về PBPL đối với nhân dân nói chung và đồng bào DTTS nói riêng được thiết lập bởi các quy định của pháp luật.

Thứ ba, Nhà nước quản lý hoạt động PBPL bằng nhiều hình thức khác

nhau bao gồm các hoạt động mang tính pháp lý, các hoạt động ít mang tính pháp lý, trong đó hình thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thức mang tính chất pháp lý, tức là ban hành các quyết định quản lý

Thứ tư, mục tiêu của quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào

DTTS là để bảo vệ tốt hơn quyền và nghĩa vụ hợp pháp của những người tham gia hoạt động PBPL, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của đồng bào DTTS; góp phần vào việc phổ biến pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

Thứ năm, quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS có nội

dung đa dạng như: xây dựng và ban hành các quyết định quản lý nhà nước chủ đạo, quyết định quản lý nhà nước quy phạm, quyết định quản lý nhà nước cá biệt; quản lý đội ngũ người thực hiện công tác PBPL; thanh tra, kiểm tra về quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS và tổng kết hoạt động PBPL đối với đồng bào DTTS

1.2.1.3 Nguyên tắc của quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo

Trước hết Ðảng lãnh đạo trong quản lý nhà nước về PBPL bằng việc

đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về hoạt động về PBPL Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ

đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được hiện thực hóa trong quản lý hành chính nhà nước

Ðảng lãnh đạo trong quản lý nhà nước về PBPL thông qua công tác

Ngày đăng: 19/12/2017, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Duy An (2013), Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2020, Đề tài cấp tỉnh, Trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt, Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2020, Đề tài cấp tỉnh, Trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt
Tác giả: Lê Duy An
Năm: 2013
2. Chế Vũ Chí An (2015), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Chế Vũ Chí An
Năm: 2015
3. Trần Tuấn Anh (2015), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Trần Tuấn Anh
Năm: 2015
4. Nguyễn Văn Bảo (2010), Từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và ngữ Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Bảo
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2010
5. Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp (2010), Quy định rõ về việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định rõ về việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp
Năm: 2010
6. Bộ Tư pháp (2008), Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
7. Bộ Tư pháp (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Đề tài cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
8. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
9. Bộ Tư pháp (2012), Đặc san tuyên truyền pháp luật, chuyên đề Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san tuyên truyền pháp luật, chuyên đề Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
10. Bộ Tư pháp (2012), Tìm hiểu Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật giám định tư pháp và Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật giám định tư pháp và Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
12. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân, Chỉ thị số 32-CT/TW, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
14. Lê Thị Thu Giang (2010), Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Thị Thu Giang
Năm: 2010
15. Học Viện Hành chính (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước
Tác giả: Học Viện Hành chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2010
16. Lê Thiên Hương (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thiên Hương
Năm: 2013
19. Nguyễn Văn Khoa (2014), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Khoa
Năm: 2014
20. Đỗ Hồng Kỳ (2009), Phổ biến, giáo dục pháp luật của xã, phường trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ biến, giáo dục pháp luật của xã, phường trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Đỗ Hồng Kỳ
Năm: 2009
21. Châu Ngọc Lương (2014), Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Tác giả: Châu Ngọc Lương
Năm: 2014
23. Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn (2008), Sổ tay nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2008
24. Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang (2008), Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở cơ sở, Đề tài khoa học cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở cơ sở
Tác giả: Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm