1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)

125 211 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ HUỲNH LAI

BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ HUỲNH LAI

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU,

TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số : 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THÁI BÌNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thái Bình – Trường Chính trị tỉnh Gia Lai Các thông tin, số liệu và kết quả trong đề tài này hoàn toàn trung thực, nguồn gốc rõ ràng và xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai Tên luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố

Tác giả

Lê Huỳnh Lai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn

bè, gia đình và người thân

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Phân viện Hành chính khu vực Tây Nguyên, quý thầy, cô giáo giảng viên thuộc các ban, khoa, các tổ bộ môn của Học viện và Phân viện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy

TS Nguyễn Thái Bình (Trường Chính trị tỉnh Gia Lai) đã dành nhiều thời gian, công sức và sự tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, lãnh đạo và đồng nghiệp tại Khoa nhà nước và pháp luật trường Chính trị tỉnh Gia Lai, Sở Nội vụ Gia Lai, Phòng Nội vụ thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai đã cung cấp các tài liệu, số liệu cần thiết liên quan đến đề tài luận văn

Và cuối cùng, tôi cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn bên cạnh, tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất, thời gian để tôi hoàn thành khóa học này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn

Tác giả

Lê Huỳnh Lai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC

CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản 11 1.2 Vị trí, chức năng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam 22 1.3 Vị trí, vai trò của bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku 28 1.4 Một số vấn đề cơ bản của công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 30 1.5 Chính sách bồi dưỡng công chức của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 36

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI 44

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 44 2.2 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 49 2.3 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 5 năm qua (2011 - 2015) 57

Trang 6

2.4 Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố

Pleiku, tỉnh Gia Lai 74

Chương 3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI 78

3.1 Quan điểm định hướng và một số chính sách cần quán triệt để đề xuất giải pháp 78

3.2 Sự cần thiết phải bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 85

3.3 Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 87

3.4 Kiến nghị 95

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Phụ lục: 115

Trang 7

DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

Sơ đồ 1: Những thành tố cơ bản của quá trình ĐT,BD CBCC 33

Sơ đồ 5: Cơ sở vật chất, tài liệu, giáo trình 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [33, tr 269] Quốc gia nào quan tâm, chăm lo đến nguồn nhân lực, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực thì kinh tế đất nước đó phát triển nhanh chóng và bền vững Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc xây dựng một nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực

và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của việc quản lý nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cấp bách

Xuất phát từ việc quản lý công chức ở nước ta hiện nay từ mô hình chức nghiệp sang mô hình quản lý theo vị trí việc làm theo tinh thần của Luật cán bộ, công chức Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ Quy định những người là công chức Nghị định số 36/2013/NDD-CP ngày 22/4/2013 về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và Nghị định số 18/2010/NDD-CP ngày 5/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức Việc ban hành Chương trình tổng thể Cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 (kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng

9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo tinh thần của Nghị quyết 30c/NQ-CP, ngày 08 tháng 11 năm 2011 là những điểm mốc quan trọng của công cuộc đổi mới, một trong những điều kiện để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước Trong các Chương trình tổng thể này, chúng ta đã xác định mục tiêu của Cải cách hành chính là “xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất và

Trang 10

năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”[19]…

Để thực hiện mục tiêu chung đó, Chính phủ đã xác định các nội dung cơ bản của Cải cách hành chính Trong đó, nhận thức được tầm quan trọng của nhân

tố con người trong mọi hoạt động, việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức được đánh giá là một trong những nội dung cơ bản của quá trình cải cách

Hoạt động bồi dưỡng công chức trong những năm qua không chỉ là mối quan tâm chung của tất cả các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn vị; mà còn là mối quan tâm thiết thực của bản thân mỗi công chức Hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực làm việc cho đội ngũ công chức, đặc biệt là công chức các cơ quan chuyên môn; là con đường giúp họ không ngừng hoàn thiện

về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước Có thể nói, với tầm quan trọng của mình, hoạt động bồi dưỡng công chức thuộc các cơ quan chuyên môn luôn là vấn đề cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm ưu tiên hàng đầu

Nhưng thực tế hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Đó là, việc bồi dưỡng xưa nay chưa có lớp dành cho cấp huyện riêng, bồi dưỡng chưa theo nhu cầu thực tế, chưa xác định đúng đối tượng cần được bồi dưỡng; nội dung, chương trình bồi dưỡng còn nhiều trùng lặp, ít đổi mới; số học viên một lớp quá đông, tình trạng người học chạy theo bằng cấp còn khá phổ biến; kinh phí bồi dưỡng còn hạn chế và sử dụng chưa hiệu quả; kết quả bồi dưỡng còn chú trọng nhiều đến số lượng mà chưa coi trọng chất lượng; người dạy nặng về lý thuyết thuần tuý; giáo viên kiêm chức lại thiếu phương pháp sư phạm Hậu quả tất yếu là đội ngũ công chức còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được những yêu cầu của công việc, hiệu quả làm việc thấp; trình độ kiến thức và năng lực công tác

Trang 11

thực tiễn của đội ngũ công chức chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước

Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, có diện tích khoảng 261.99 km2, gồm 14 phường và 9 xã với dân số khoảng 21.9451 người Thành phố Pleiku có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước Thành phố Pleiku nằm trên trục giao thông giữa Quốc lộ 14, Quốc lộ 19 và đường

Hồ Chí Minh, gần cửa khẩu Lệ Thanh và cửa khẩu Bờ Y tiếp giáp Lào và Campuchia TP Pleiku vinh dự được Chính phủ công nhận đô thị loại II (2009)

Đặc biệt trong năm 2014, thành phố đã và đang triển khai lập điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP Pleiku đến năm 2030, tầm nhìn đến năm

2050 Đây là quy hoạch được đầu tư cơ bản, lâu dài và bền vững Trong đó nhấn mạnh việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng, năng lực thực thi công vụ để đủ điều kiện nâng cấp Pleiku thành đô thị loại I trước năm 2020 Chính vì vậy, vai trò của người công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku lại rất quan trọng, phải làm sao để gần dân, hiểu dân

và giải quyết các công việc cho nhân dân không chỉ đúng chức trách nhiệm vụ

mà còn đạt hiệu quả và có tính thuyết phục cao Để làm được điều đó, công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn lại càng trở nên cần thiết,

nó không chỉ giúp người công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, mà còn góp phần to lớn trong việc tập hợp nhân dân, giữ vững ổn định

an ninh chính trị của khu vực và cả quốc gia

Với các lý do nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn là nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, nhất là đối với công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại với đội ngũ công chức có chất lượng cao về mặt lý luận, đây là vấn đề ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và đăng tải kết quả dưới dạng đề tài khoa học, các bài báo, sách chuyên khảo, luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về đề tài khoa học, giáo trình và sách chuyên khảo:

- GS.TS Nguyễn Phú Trọng, GS.TS Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà

Nội Tác giả đã tổng kết thực tiễn, đưa ra các quan điểm lý luận tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

- Tác giả Ngô Thành Can (2014), “Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực khu vực công”, Nxb Lao động, Hà Nội Tác giả phân tích,

đánh giá về các nội dung: học tập và phát triển nhân lực; đào tạo và bồi dưỡng trong khu vực công; xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo; thực hiện kế hoạch đào tạo; đánh giá đào tạo, phương pháp đào tạo và trang thiết bị đào tạo

- Trần Văn Tùng (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng”, NXB Thế giới; Tác giả đã trình bày những kinh nghiệm trong

việc bồi dưỡng, sử dụng tài năng khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc công trình nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bồi dưỡng nhân lực, sử

Trang 13

dụng tài năng khoa học – công nghệ phục vụ công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ở các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã xác định rất rõ ràng hệ thống chính sách, luận cứ khoa học, phương pháp, cách thức để nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ công chức Nhưng, các công trình nghiên cứu này mang tính vĩ mô, bao quát, rộng lớn, chưa có tính vùng miền, địa phương cụ thể, đặc biệt là vùng Tây Nguyên

Thứ hai, có nhiều bài viết trên các tạp chí “Quản lý nhà nước”, “Tạp chí

Cộng sản” từng bước làm rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Ví dụ:

- TS Ngô Thành Can (2016), “Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ”, http://isos.gov.vn/ Trong bài viết này, tác giả tập đã trung làm rõ quan niệm

về đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, quy trình đào tạo bồi dưỡng và thực hiện cải cách trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức nhằm nâng cao hiệu

quả của hoạt động này

- Nguyễn Thị La (2015) (Học viện Hành chính quốc gia) “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính”, http://www.tapchicongsan.org.vn/ Trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh để xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục

vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnh khác nhau của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả

- Ths Lê Công Quyền (2009), Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa: “Nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu công tác”, Tạp chí cộng sản; Tác giả nêu: Mặc dù đã được đào tạo, bồi dưỡng, một

số cán bộ, công chức vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện nhiệm vụ, năng

Trang 14

lực lãnh đạo, quản lý, điều hành, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên đổi mới theo hướng đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác của người học

Thứ ba, các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp đại học, chẳng

- Trần Văn Tuấn, “Năng lực thực thi công vụ của công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông” (Luận

văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016) Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra bảy nhóm giải pháp chính như đổi mới công tác tuyển dụng công chức; đổi mới công tác bố trí; sử dụng công chức; đổi mới đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện công tác quy hoạch; đổi mới công tác đánh giá; đổi mới chế độ đãi ngộ; tạo môi trường làm việc

Những nghiên cứu này đã nêu rõ tính cần thiết của việc bồi dưỡng công chức hiện nay, nhìn chung những nghiên cứu này thể hiện những góc độ khác nhau và đã khắc họa những nét cơ bản về bồi dưỡng công chức, đưa ra những giải pháp, phương hướng nhằm nâng cao công tác bồi dưỡng công chức Cùng nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng công chức nhưng mỗi đề tài chọn một cách tiếp cận dưới những góc độ khác nhau Mặt khác, hoạt động bồi dưỡng ở các địa phương khác nhau và trong những thời gian khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau Trong khi đó, để công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan

Trang 15

chuyên môn đạt hiệu quả thực sự, phải có sự nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm

từ những địa phương cụ thể

Chính vì vậy, tác giả luận văn đã lựa chọn việc tìm hiểu công tác “Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu như là một cố gắng góp phần

tìm thêm những giải pháp thiết thực cho công tác bồi dưỡng công chức trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua phân tích đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng công chức các

cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBNB thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng công chức, góp phần xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và thực thi công

vụ trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như trên luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức và bồi dưỡng công chức cấp nhà nước;

- Khảo sát, thu thập các dữ liệu về công tác bồi dưỡng công chức, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện nay; đánh giá kết quả

đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku

Trang 16

- Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả, chất lượng về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn

thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015

- Không gian: Các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Nội dung: Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:

Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là một phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó Tác giả điều tra bằng bảng hỏi tại một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai Tác giả đã xây dựng phiếu khảo sát, điều tra những vấn đề có liên quan đến Luận văn Số lượng phiếu phát ra là 109 phiếu, thu về 72 phiếu

+ Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được từ kết quả điều tra bằng bảng hỏi

Trang 17

+ Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp nghiên cứu các tài liệu có liên quan để có những luận cứ khoa học cho việc bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ có một số đóng góp nhất định sau:

6.1 Ý nghĩa lý luận:

- Góp phần hệ thống một số khái niệm cơ bản về công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện làm cơ sở cho các nghiên cứu về vấn đề này

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Kết quả phân tích thực trạng có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý đánh giá thực tiễn công tác về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ở tỉnh Gia Lai

- Những giải pháp của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước tại địa bàn tỉnh Gia Lai hoặc các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương khác trong việc đẩy mạnh hiệu quả công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện

- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu có cùng đề tài liên quan sau này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục kèm theo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên

môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chương 2: Thực trạng hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan

chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Trang 18

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả

hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân

dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Trang 19

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Cấp huyện và công chức cấp huyện

Cấp huyện là cấp hành chính cấp hai của Việt Nam, thấp hơn (về thẩm quyền), và thông thường thì cấp này cũng có quy mô dân số, diện tích, kinh tế nhỏ hơn cấp tỉnh Đây là cấp hành chính cao hơn cấp xã, phường, thị trấn Cấp hành chính này có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp hành chính nó

trực thuộc, gồm "Huyện", "Quận", "Thị xã", "Thành phố trực thuộc tỉnh"

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung đi vào loại cơ quan hành chính Nhà nước Một đặc điểm nổi bật của cơ quan hành chính Nhà nước đó là có quan hệ trực thuộc dọc, ngang tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc chặt chẽ Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Trang 20

Ngoài bộ máy thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước ở Trung ương, bộ máy hành chính địa phương ở nước ta chia thành 3 cấp: cấp

tỉnh, cấp huyện và cấp xã Cụ thể, theo điều 110, Hiến pháp 2013 quy định:

“Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc

trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương

đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia

thành phường và xã; quận chia thành phường Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”

Hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương có vị trí, vai trò, chức năng rất quan trọng, đó là chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ Và trong mỗi cấp hành chính, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định

cụ thể trong pháp luật Có thể nhận thấy sự khác biệt tương đối rõ nét ở ba cấp chính quyền trong tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương nước ta Cụ thể là:

Chính quyền cấp tỉnh: thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ yếu thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các hoạt động diễn ra trong từng lĩnh vực Điều này được ghi trong luật Tổ chức Chính

quyền địa phương:

Đối với chính quyền cấp huyện: việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn thông qua cả hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách Đây là cấp trung gian trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước địa phương, là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp xã Do vậy, có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện vừa là những người trực tiếp triển khai, hướng dẫn thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội trên địa

Trang 21

bàn huyện, vừa là những người xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cho địa phương mình

Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn: là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ chức hành chính Nhà nước địa phương ở nước ta Đây là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, nội dung văn bản pháp luật tới người dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và thực hiện theo những chương trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng nên

Như vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tùy vào nhiệm vụ và quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức - những người có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ ấy cần phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về năng lực chuyên môn, tư tưởng chính trị, đạo đức công chức Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng cần được xét đến trong hoạt động bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, phù hợp với đặc thù từng cấp chính quyền Đối với từng cấp, từng đối tượng bồi dưỡng cần phải xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tương lai

1.1.1.2 Công chức, công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

* Công chức

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này [17]

Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến

Trang 22

công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đến đội ngũ công chức Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia

có khác nhau Có nhiều nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những thành viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia làm các dịch vụ công; hay hẹp hơn như tại Anh: công chức là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công việc công, nhất là tại Trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước và đã có thay đổi qua nhiều giai đoạn khác nhau:

Tháng 2 năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường

vụ Quốc hội khóa X ban hành Điều 1 của Pháp lệnh quy định: “cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” [58; tr 1] Quy định này khẳng định

quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức

Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11

năm 2008 Khoản 2, điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong

cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,

Trang 23

quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [41; tr 4]

Theo quy định, những người là công chức thì công chức các cơ quan hành chính cấp huyện bao gồm: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

* Công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện

Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, bao gồm: “1 Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên; 2 Cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của

Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên; 3 Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn; 4 Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.” [42]

Trang 24

Vì vậy, công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc trong các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.1.2 Bồi dưỡng công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện

1.1.2.1 Bồi dưỡng

Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với công chức đang giữ một chức danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định

Mục đích chủ yếu của bồi dưỡng là bổ sung kiến thức và kỹ năng Bồi dưỡng phải chuyên sâu, phải cập nhật những nội dung liên quan đến công tác

và năng lực quản lý hay chuyên môn của người công chức

Bồi dưỡng có thể hiểu là một quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao kiến thức, nâng cao năng lực, phẩm chất và nghiệp vụ trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó

Theo từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [61]

Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao ý thức, kỹ năng nghề nghiệp cho cá nhân hay tổ chức Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của công chức [27]

Trang 25

Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010

của Chính phủ thì cụm từ “bồi dưỡng” được hiểu: “đó là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [16; tr.8]

Một số cách hiểu khác thì bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với công chức đang giữ một chức danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định

Bồi dưỡng cũng có ý nghĩa là nâng cao trình độ nghiệp vụ, quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp

Bồi dưỡng cũng có thể được hiểu là việc: Hệ thống hóa lại kiến thức

mà công chức đã biết liên quan đến nội dung khóa học; Bổ sung những phần kiến thức mà công chức đã từng học nhưng đã quên theo thời gian; Cập nhật những kiến thức mới của ngành, lĩnh vực; Nâng cao được một phần sự thành thạo công việc thông qua sự rèn luyện, thực hành, trao đổi kinh nghiệm

Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm: bồi dưỡng công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là hoạt động của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở tiêu chuẩn, yêu cầu công việc nhằm cung cấp, trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc đối với đội ngũ công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Đặc điểm của bồi dưỡng:

Đó là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [16,tr.8]

Là một quá trình nhằm hoàn thiện kỹ năng, năng lực của người lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức; đó là cơ hội mà người quản lý tạo

Trang 26

ra cho người lao động nhằm hoàn thiện kỹ năng, kiến thức chuyên môn có liên quan đến công vụ hiện tại

Là quá trình hoạt động nhằm tăng thêm những kiến thức mới đòi hỏi với những người mà họ đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định

Như vậy bồi dưỡng là quá trình đào tạo nối tiếp, đào tạo liên tục trong khi làm việc nhằm cập nhật kiến thức còn thiếu hay đã lạc hậu, củng cố, mở mang và trang bị một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để có thể

Mục đích của bồi dưỡng là nhằm bổ sung kiến thức và kỹ năng cần thiết nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng, và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm

Thời gian của hoạt động bồi dưỡng thường ngắn hơn so với thời gian của hoạt động đào tạo Thời gian của một khóa bồi dưỡng là 1 đến 3 tháng, có khi là 1 hoặc 2 tuần, có khi là vài ngày Hoàn thành khóa bồi dưỡng, người học nhận chứng chỉ ghi nhận kết quả học tập

1.1.2.2 Phân biệt giữa bồi dưỡng và đào tạo

Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của quản

lý nguồn nhân lực nói chung và quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước nói riêng

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người

đó lĩnh hội và nắm vững tri thức kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì

và phát triển nền văn minh nhân loại

Trang 27

Thông thường hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục đào tạo như trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại các cơ sở sản xuất với nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc đào tạo khác nhau Cuối mỗi khóa đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp

Đào tạo công chức là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho công chức hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức phù hợp để thực thi công vụ

Đào tạo công chức là một hoạt động mang tính đặc thù, bởi đối tượng của đào tạo là những con người hoạt động trong bộ máy chính trị, bộ máy nhà nước, là những Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nhân danh quyền lực nhà nước là thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Hoạt động đào tạo cán bộ, công chức được thực hiện ở một số cơ sở của Đảng, nhà nước như: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trường cán bộ, trường chính trị của các tỉnh, các trung tâm chính trị huyện, một số trường Đại học và các trung tâm đào tạo khác

Bồi dưỡng giúp cho học viên gia tăng thêm những kiến thức mới và cần thiết cho nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để lao động hiệu quả hơn Học viên tham gia các khóa bồi dưỡng thường được xác nhận bằng chứng chỉ

Tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức Trong Nghị định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,

kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc

Trang 28

Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức, được xây dựng trên cơ

sở các quy định về tiêu chuẩn ngạch theo từng cấp độ khác nhau Nội dung, chương trình theo tiêu chuẩn ngạch được xây dựng đầy đủ theo các tiêu chuẩn nhất định để kịp thời bổ sung một số kiến thức cần thiết cho đội ngũ công chức

Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang

bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý

Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao Nội dung được xây dựng dựa trên cơ sở khung năng lực của từng chức danh, vị trí việc làm nhất định nhằm chuẩn hóa đội ngũ công chức theo từng vị trí việc làm công chức

đó đang đảm nhận

1.1.3 Nhu cầu công việc và chất lượng bồi dưỡng

1.1.3.1 Nhu cầu công việc

Khung năng lực của vị trí công việc đó là năng lực mà cá nhân đảm nhận công việc cần phải có để thực hiện công việc một cách có kết quả, đảm bảo được yêu cầu, mục tiêu của tổ chức

Các nhà nghiên cứu cho rằng năng lực của vị trí công việc gồm có các thành tố như kỹ năng, thái độ và kiến thức Cá nhân khi được tuyển dụng vào một vị trí công việc được đào tạo một số chuyên ngành hẹp nên chỉ có khả năng thực hiện một số công việc theo một số chức năng nhất định Vì vậy, trong quá trình làm việc thì mỗi cá nhân được cử đi bồi dưỡng hay tự học hỏi,

cá nhân đó sẽ bổ sung thêm những kỹ năng, thái độ và kiến thức

Tất cả những điều kiện đó tạo nên cho mỗi cá nhân có một năng lực riêng Chính vì vậy, luôn tồn tại sự chênh lệch giữa năng lực gồm kỹ năng,

Trang 29

thái độ và trình độ hiểu biết của cá nhân so với yêu cầu về năng lực phải có cho mỗi vị trí công việc

Vì vậy, năng lực là tổng hợp những tâm sinh lý độc đáo của cá nhân đó

là khả năng của một người làm được một việc gì đó, để xử lý hay để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định bảo đảm cho việc đó diễn

ra có kết quả tốt Hay, năng lực là khả năng sử dụng tiềm lực của một người như kỹ năng, thái độ và kiến thức để đạt được mục tiêu cụ thể trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Như vậy, mỗi cá nhân khi vào tổ chức cần bồi đắp để thỏa mãn khi được tuyển dụng, điều động, phân công, luân chuyển vào một vị trí công việc

cụ thể nhằm đảm bảo cá nhân đó đáp ứng đủ năng lực theo yêu cầu công việc được gọi là “Nhu cầu công việc”

1.1.3.2 Chất lượng bồi dưỡng

Thực tế cho thấy đang tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về từ “chất lượng” Chất lượng là một phạm trù phức tạp, tùy theo lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau sẽ đưa ra quan niệm về chất lượng khác nhau Như:

Chất lượng theo TCVN 5814-1994 thì “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”

Với nhiều khái niệm về chất lượng dựa trên những quan điểm khác nhau, chất lượng dù được hiểu theo nhiều cách dựa trên cách tiếp cận những đều có điểm chung, đó là sự phù hợp với yêu cầu Đó là mong muốn thỏa mãn những nhu cầu của mình và các yêu cầu mang tính kinh tế, kỹ thuật và tính chất pháp lý khác

Trong hoạt động bồi dưỡng thì làm sao để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các phòng chuyên môn cải cách nền hành chính nhà nước, phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chất lượng bồi dưỡng phải

Trang 30

thông qua các hoạt động đánh giá bồi dưỡng để có thể xác định được chất lượng của hoạt động bồi dưỡng công chức

1.2 Vị trí, chức năng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam

1.2.1 Vị trí, chức năng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.2.1.1 Vị trí

Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo

sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương

Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh [18]

1.2.1.2 Chức năng

Phòng Nội vụ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa

Trang 31

phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng

Phòng Tư pháp: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Phòng Tài chính - Kế hoạch: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về; Tài chính; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế tư nhân

Phòng Tài nguyên và Môi trường: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo (đối với các huyện

có biển, đảo)

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Việc làm; dạy nghề; lao động, tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội

Phòng Văn hóa và Thông tin: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục,

Trang 32

thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin

Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo

Phòng Y tế: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược;

mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình

Thanh tra huyện: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật

Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: Tham mưu tổng hợp cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân về: Hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện, chuyển hồ

Trang 33

sơ đến các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết

và nhận kết quả để trả cho cá nhân, tổ chức

Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ tiêu chí để thành lập cơ quan làm công tác dân tộc, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Đối với đơn vị hành chính cấp huyện có đường biên giới lãnh thổ quốc gia trên đất liền, trên biển và hải đảo, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác ngoại vụ, biên giới

Phòng Kinh tế: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối; tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại;

Phòng Quản lý đô thị: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật

đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông

Trang 34

Phòng Dân tộc: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc Việc thành lập Phòng Dân tộc do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định [18]

1.2.2 Vị trí, vai trò của công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy bân dân dân cấp huyện

Muốn có đội ngũ công chức có chất lượng cao thì chúng ta phải gắn xây dựng đội ngũ công chức cùng với việc chăm lo xây dựng tổ chức Xây dựng tổ chức phải đi đôi với xây dựng và phát triển con người, xây dựng con người phải gắn với xây dựng tổ chức Bộ máy hành chính Nhà nước có thể hiểu là hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở, do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, có nhiệm vụ thực hiện quản lí Nhà nước trên tất

cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong một tổ chức bộ máy, con người luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của tổ chức Trong hệ thống cơ quan nhà nước thì vai trò của con người mà trong đó cụ thể là đội ngũ công chức cũng không nằm

ngoài mối quan hệ này

Trên cơ sở nhiệm vụ được giao xác định con người, xác định công chức nào, tiêu chuẩn gì để thực hiện nguyên tắc từ công việc mà bố trí, sắp xếp công chức chứ không làm ngược lại Từ đó làm căn cứ mà lựa chọn, bố trí công chức phù hợp làm công chức luôn thích ứng với tổ chức Công chức là người thực thi công vụ, không có công chức là không có người thực thi công

vụ Ở đây, công vụ được hiểu là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý, đội ngũ công chức thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trong quá trình quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Trong bộ máy hành chính nhà nước, nếu có được đội công chức vững về tư tưởng, lập trường chính trị, có tinh thần đoàn kết tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, hết lòng phụng sự đất

Trang 35

nước, phụng sự nhân dân thì tổ chức ấy sẽ vững mạnh và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Khi nhiệm vụ của tổ chức tăng lên hoặc có sự thay đổi, thì công chức cũng phải được bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, nâng cao trình độ cho phù hợp với các chức năng, nhiệm vụ mới Bên cạnh đó, để chọn ra người có năng lực vào làm việc trong bộ máy hành chính Nhà nước, Luật cán bộ, công chức năm 2008 (trong quy định về tuyển dụng công chức) đã áp dụng nguyên tắc kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế để xác định người cần tuyển vào bộ máy công vụ [41] Có thể nói, quy định trên

là tiền đề trong quá trình chuyển đổi dần từ mô hình công vụ chức nghiệp với quan niệm làm việc suốt đời, sang mô hình công vụ việc làm mang tính năng động, xem công vụ là một việc làm

Đội ngũ công chức hành chính bao gồm những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính, công chức trong bộ máy hành chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển đất nước Đội ngũ này là người quyết định chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý đất nước, chất lượng của nền hành chính Chính vì vậy, một trong những mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 là Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn này là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công [19] Vì vậy, vị trí của công chức sẽ tùy thuộc vào vị trí công việc, do đó đòi hỏi công chức phải năng động, chú ý nhiều đến chất lượng giải quyết công việc và sẽ ít chú trọng đến bằng cấp hay

Trang 36

thâm niên công tác Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung được quyết định bởi phẩm chất, năng lực, hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức này

1.3 Vị trí, vai trò của bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku

Công chức luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động công vụ

và trong xây dựng hoàn thiện bộ máy Nhà nước Đội ngũ công chức có trình

độ, năng lực và phẩm chất tốt mới có thể giải quyết công việc một cách có hiệu quả Bồi dưỡng giúp tổ chức đạt được các mục tiêu nhằm nâng cao giá trị của con người là nguồn lực then chốt của một tổ chức Công chức cũng là người thực thi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó Do đó, công chức cũng chính là người đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo kỷ cương, phép nước và thực thi công vụ

Trong nền công vụ bồi dưỡng công chức là hoạt động quan trọng để công chức được bổ sung thêm về kiến thức, kĩ năng cần thiết, đáp ứng yêu cầu được đặt ra trong quá trình thực thi công vụ, nâng cao giá trị công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước Vì vậy, bồi dưỡng công chức chính quyền cấp huyện có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước hiện nay

Chất lượng đội ngũ công chức ngày càng được nâng cao nên công tác bồi dưỡng công chức hiện nay đang ngày càng được cải tiến và thực hiện nghiêm túc hơn Hiện nay, đại đa số công chức đã đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn ngạch và đang hướng tới thực hiện bồi dưỡng theo nhu cầu Vì vậy, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thời gian qua là một trong những yếu tố góp phần tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đảm bảo sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 37

Nhìn chung công tác bồi dưỡng công chức có thể xác định được vai trò,

vị trí như sau:

Một là, Qua công tác bồi dưỡng giúp công chức thường xuyên được

cập nhật bổ sung thêm những kỹ năng, thái độ và kiến thức thông qua các lớp ngắn hạn, trung hạn liên tục hoàn thiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng tiêu chuẩn đối với mỗi vị trí việc làm; đồng thời đáp ứng yêu cầu tự hoàn thiện bản thân tùy theo mức độ, yêu cầu của chức năng, nhiệm vụ được giao,

là yếu tố không thể thiếu được trong một nền công vụ

Hai là, công tác bồi dưỡng công chức hướng đến mục tiêu xây dựng

đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay

Ba là, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước

là tiền đề quyết định trong việc xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh

Bốn là, qua bồi dưỡng công chức giúp cho công chức biết được vị trí,

vai trò của mình trong hoạt động công vụ để hướng đến một nền hành chính hiện đại Qua đó phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn

Trong thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Gia Lai các huyện tăng cường công tác bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao với những chính sách khuyến khích để bồi dưỡng đội ngũ công chức có trình độ Vấn đề đặt ra

ở đây là với số lượng công chức được cử đi bồi dưỡng, thì cần bồi dưỡng loại hình nào để mang lại hiệu quả cao nhất, quan trọng nhất và không lãng phí nguồn nhân lực có trình độ cao Vì điều cốt yếu trong công tác bồi dưỡng công chức phải xuất phát từ nhu cầu thực tế qua đó cần có bước đánh giá công chức sau bồi dưỡng và gắn liền với đánh giá khả năng thực hiện công việc được giao

Nhưng hiện nay, công tác đánh giá trước và sau khi bồi dưỡng công chức chưa được các địa phương, cơ sở đào tạo, cơ quan sử dụng cán bộ, công

Trang 38

chức quan tâm đúng mức, dẫn đến khó khăn trong xác định hiệu quả bồi dưỡng công chức, nhất là đối với công chức sau đại học Thực tế cho thấy nếu

cơ quan quản lý công chức chỉ quan tâm đến hàng năm có bao nhiêu công chức được cử đi bồi dưỡng mà không chú trọng đến hiệu quả sau bồi dưỡng cùng với việc không có chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc thích hợp thì sẽ dẫn đến việc sử dụng nhân lực không hiệu quả, lãng phí nhân lực; đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sẽ rất khó trong việc giữ chân công chức, hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám" trong cơ quan hành chính Nhà nước

1.4 Một số vấn đề cơ bản của công tác bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.4.1 Mục đích của bồi dưỡng

Bồi dưỡng có hiệu quả sẽ cung cấp cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện các kỹ năng, kiến thức quan trọng để làm việc tốt hơn để đạt hiệu suất công việc cao hơn và cũng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giúp công chức nâng cao hơn về chất lượng Chính vì vậy, công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện luôn hướng đến những mục đích sau:

- Trước hết, bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

UBND cấp huyện nhằm chuẩn bị cho công chức theo kịp với sự thay đổi cơ cấu của tổ chức khi có sự thay đổi và phát triển trong tương lai Bồi dưỡng công chức nhằm mục đích nâng cao tay nghề và kỹ năng của đội ngũ công chức đối với công việc hiện hành hay trước mắt

- Thứ hai, công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn

thuộc UBND cấp huyện đảm bảo có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và

có kiến thức phù hợp chức năng, nhiệm vụ được giao Xây dựng được đội ngũ

Trang 39

công chức có bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, có phẩm chất và đạo đức cách mạng, tác phong làm việc có khoa học và hiệu quả

- Thứ ba, bồi dưỡng chính là bổ sung những kiến thức, trình độ chuyên

môn hay cung cấp, hoàn thiện những kiến thức, kỹ năng mới cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện

- Thứ tư, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường hiệu lực, hiệu quả

quản lý của chính quyền cấp huyện nói chung và chính quyền thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nói riêng, đáp ứng như cầu trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.4.2 Nội dung bồi dưỡng

Theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được ban hành kèm theo Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Quyết định số 1374/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 8 năm 2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015, Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn

2016 – 2025, thì nội dung bồi dưỡng công chức gồm những nội dung cơ bản sau đây: Lý luận chính trị; Kiến thức pháp luật, kiến thức và kỹ năng quản lý Nhà nước; Kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; Kiến thức tin học, ngoại ngữ và các kỹ năng bổ trợ khác Các nội dung bồi dưỡng này được xây dựng và chuyển tải qua hệ thống các giáo trình, tài liệu học tập gồm những kiến thức cơ bản, quan trọng nhằm giúp người học lĩnh hội các tri thức một cách tốt nhất để phục vụ cho công việc của họ

Về lý luận chính trị: công chức được trang bị các kiến thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo xây dựng

Trang 40

đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất đạo đức tốt

Về kiến thức quản lý Nhà nước, kiến thức pháp luật: công chức được cung cấp các thông tin, văn bản pháp luật mới để giúp đội ngũ công chức hiểu, nắm bắt, tuyên truyền và thực hiện tốt các quy định của pháp luật Các kiến thức về quản lý Nhà nước như: tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy hành chính Nhà nước, pháp luật và pháp chế

xã hội chủ nghĩa, công vụ, công chức và viên chức, cải cách hành chính, quy chế làm việc của cơ quan Nhà nước,… Những nội dung bồi dưỡng đó nhằm xây dựng một đội ngũ công chức vững mạnh, theo kịp những thách thức mà nền kinh tế thị trường đặt ra

Kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ: Đây là một trong nội dung bồi dưỡng vô cùng quan trọng, không thể thiếu Bởi nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc Do đó, tuỳ từng vị trí công việc, chức danh cụ thể

mà xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng cho phù hợp, nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ công chức

Khối kiến thức về tin học, ngoại ngữ và các kỹ năng bổ trợ khác: từ xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiện đại, chính phủ điện tử thì hơn bao giờ hết các kiến thức, kỹ năng về tin học và ngoại ngữ ngày càng trở nên quan trọng Đặc biệt đối với đội ngũ công chức làm công tác quan hệ quốc tế Ngoài kiến thức, kỹ năng về tin học, ngoại ngữ, công chức còn cần trang bị cho mình rất nhiều những kỹ năng khác như: kỹ năng quản lý hồ sơ, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng làm việc nhóm,… Đó chính là các công cụ đắc lực giúp đội ngũ công chức thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Ngày đăng: 19/12/2017, 12:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
8. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
10. C.Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
11. Ngô Thành Can (1999), Những thành tố cơ bản của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tố cơ bản của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 1999
12. Ngô Thành Can (2001), Công chức hành chính - Những vấn đề và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức hành chính - Những vấn đề và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2001
13. Ngô Thành Can (2007), Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2007
14. Ngô Thành Can (2014), Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công (sách chuyên khảo)
Tác giả: Ngô Thành Can
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2014
19. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, ngày 08/11/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
20. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1950), Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 ban hành Quy chế Công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 ban hành Quy chế Công chức
Tác giả: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm: 1950
22. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007) Tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước (tập 2), NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
23. Học viện Hành chính (2008), Giáo trình Lý luận quản lý Hành chính nhà nước, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận quản lý Hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2008
24. Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định số 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 về công chức nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 về công chức nhà nước
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1991
25. Nguyễn Khánh Hoàng (2016), Đào tạo, bồi dưỡnng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đáp ứng nhu cầu công việc, Luận văn thạc sĩ Quản lý công – Học viện hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡnng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đáp ứng nhu cầu công việc
Tác giả: Nguyễn Khánh Hoàng
Năm: 2016
26. Nguyễn Ngọc Hùng (2012), Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng
Năm: 2012
27. Lê Việt Hùng (2013), Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên, tỉnh thanh hóa – Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục – Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên, tỉnh thanh hóa
Tác giả: Lê Việt Hùng
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm