1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

206 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam (LÀ tiến sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HỒNG TRƯỜNG

CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HỒNG TRƯỜNG

CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 62 34 04 03

LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết

2 PGS.TS Lê Danh Tuyên

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các thông tin, số liệu của luận án được trình bày trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Việc sử dụng, trích dẫn tư liệu của một số công trình nghiên cứu đã công bố khi đưa vào luận án được thực hiện đúng theo quy định Kết quả nghiên cứu khoa học của luận

án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Hồng Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc Học

viện Hành chính Quốc gia, các thầy cô là giảng viên của Học viện, các thầy cô công

tác tại khoa Sau đại học, khoa Quản lý nhà nước về xã hội, đặc biệt là PGS.TS Đinh

Thị Minh Tuyết và PGS.TS Lê Danh Tuyên, những người thầy đã tận tình hướng dẫn

tôi trong suốt quá trình học tập, từ xây dựng đề cương, tổ chức nghiên cứu, khảo sát

thực địa đến phân tích số liệu và báo cáo hoàn thành luận án

Xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của Bộ Y tế (Viện Dinh dưỡng), Bộ Giáo

dục và Đào tạo (Vụ Công tác học sinh, sinh viên), uỷ ban nhân dân các tỉnh nơi đề

tài/khảo sát đã được thực hiện và sự giúp đỡ của các cơ quan y tế, cơ quan giáo dục, cơ

sở giáo dục tiểu học tại các địa phương, đội ngũ nghiên cứu viên và bạn đồng nghiệp

đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tham gia đóng góp ý kiến qua phiếu điều tra, trao đổi trực

tiếp những nội dung của đề tài nghiên cứu

Luận án đã được triển khai nghiên cứu nghiêm túc, khoa học và bản thân tác giả đã

có nhiều nỗ lực, song không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được những ý

kiến chỉ dẫn, đóng góp của các thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp để bổ sung, hoàn thiện

luận án, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện chính sách

dinh dưỡng học đường ở nước ta hiện nay

Hà Nội, tháng 08 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Hồng Trường

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 8

1.1 Các tài liệu, công trình nghiên cứu về dinh dưỡng 8

1.1.1 Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài 8

1.1.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở trong nước 10

1.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu về chính sách y tế, chính sách dinh dưỡng 19

1.2.1 Nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài 19

1.2.2 Nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở trong nước 22

1.3 Một số nhận xét về tổng quan và vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án 25

1.3.1 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan 25

1.3.2 Vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án 27

Kết luận Chương 1 28

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 29

2.1 Một số khái niệm liên quan đến chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 29

2.1.1 Giáo dục tiểu học và HSTH 29

2.1.2 Dinh dưỡng và vai trò của dinh dưỡng 32

2.1.3 Chính sách và chính sách dinh dưỡng cho HSTH 39

2.2 Sự cần thiết của chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 44

2.2.1 Thực hiện mục tiêu dinh dưỡng quốc gia về cải thiện thể lực và tầm vóc con người Việt Nam 44

2.2.2 Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng phù hợp nhu cầu dinh dưỡng cho HSTH 46

2.2.3 Huy động các nguồn lực hỗ trợ cho gia đình và nhà trường bảo đảm dinh dưỡng cho HSTH 46

2.3 Nội dung chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 47

2.3.1 Chính sách về bảo đảm năng lượng và khẩu phần dinh dưỡng cho HSTH 47

2.3.2 Chính sách về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho HSTH 51

2.3.3 Chính sách về ATTP cho học sinh tại các trường tiểu học bán trú 54

Trang 6

2.4.1 Thiết lập chương trình nghị sự về chính sách dinh dưỡng cho HSTH 57

2.4.2 Xây dựng chính chính sách dinh dưỡng cho HSTH 57

2.4.3 Tổ chức thực hiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH 59

2.4.4 Đánh giá chính sách dinh dưỡng cho HSTH 60

2.5 Các yếu tố tác động đến chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 63

2.5.1 Yếu tố chính trị, pháp lý 63

2.5.2 Hoạt động quản lý, điều hành 64

2.5.3 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục tập quán 65

2.5.4 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất 66

2.5.5 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và cộng tác viên thực hiện chuyên môn 67

2.6 Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở một số nước trên thế giới &và

bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 68

2.6.1 Chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở một số nước trên thế giới 68

2.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và tổ chức thực thi chính sách dinh dưỡng cho HSTH 76

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM 79

3.1 Thực trạng học sinh tiểu học và dinh dưỡng của học sinh tiểu học ở Việt Nam 79

3.1.1 Thực trạng HSTH ở Việt Nam 79

3.1.2 Thực trạng dinh dưỡng của HSTH ở Việt Nam 80

3.2 Phân tích thực trạng chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học tại Việt Nam 89

3.2.1 Thực trạng chính sách về bảo đảm năng lượng và khẩu phần dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 89

3.2.2 Thực trạng chính sách về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho HSTH 100

3.2.3 Thực trạng chính sách về ATTP cho học sinh tại các trường tiểu học bán trú 107

3.3 Đánh giá thực trạng chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 113

3.3.1 Kết quả đạt được 113

3.3.2 Hạn chế 115

3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 116

Kết luận Chương 3 119

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM 120

4.1 Phương hướng hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 120

4.1.1 Quan điểm của Đảng về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân 120

Trang 7

4.1.2 Định hướng về phát triển ngành Y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân 123 4.1.3 Định hướng chiến lược dinh dưỡng quốc gia và phát triển tầm vóc, thể lực người

Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 tầm nhìn đến 2030 127

4.2 Nguyên tắc hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 129

4.2.1 Bảo đảm tính chính trị, tuân thủ hiến pháp, pháp luật của nhà nước 129

4.2.2 Bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, gắn kết với các chính sách kinh tế, y tế với chính sách giáo dục và đào tạo 131

4.2.3 Bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trong thực hiện chính sách dinh dưỡng 131

4.2.4 Bảo đảm tính thực tiễn, hiệu quả và khả thi 132

4.3 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học133 4.3.1 Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách sữa học đường cho HSTH 133

4.3.2 Xây dựng và ban hành chính sách bữa ăn bán trú học đường cho HSTH 136

4.3.3 Xây dựng, ban hành chính sách kiểm soát thừa cân, béo phì ở HSTH 141

4.3.4 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách can thiệp dinh dưỡng đối với HSTH 144

4.3.5 Xây dựng chính sách giám sát dinh dưỡng đối với các cơ sở giáo dục tiểu học 147 4.5.6 Đưa mục tiêu dinh dưỡng học đường vào nghị quyết của Đảng ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm 149

4.5.7 Tăng cường cơ sở vật chất các trường tiểu học 151

Kết luận Chương 4 153

KẾT LUẬN 154

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

PHIẾU PHỎNG VẤN

Trang 8

CLQGDD Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng

CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức

Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)

GAIN Global Alliance for Improved Nutrition (Liên minh toàn cầu về

cải thiện dinh dưỡng) GVTH Giáo viên tiểu học

SEANUTS The South East Asian Nutrition Survey (Khảo sát về dinh dưỡng

Đông Nam Á) TC-BP Thừa cân, béo phì

UNICEF United Nations Children's Fund (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) KT-XH Kinh tế - xã hội

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị dành cho trẻ 6 - 11 tuổi 39

Bảng 3.1: Thống kê về số lượng, tỷ lệ HSTH theo vùng sinh thái đến 30/9/2016 79

Bảng 3.2: Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng dinh dưỡng của HSTH (thông qua phỏng vấn) tại 7 tỉnh, thành phố năm 2016 81

Bảng 3.3: Tỷ lệ trẻ nhỏ không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và một số chất dinh dưỡng theo giới và khu vực sống 82

Bảng 3.4: Thống kê tỷ lệ SDD thấp còi trẻ em tại Hà Nội có độ tuổi từ 6 - 11 tuổi 83

Bảng 3.5: Thống kê về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em từ 6 - 11 tuổi theo vùng sinh thái 85

Bảng 3.6: Tỷ lệ thiếu máu và thiếu sắt, thiếu vitamin A, D theo nhóm tuổi, giới tính và vùng sinh thái 88

Bảng 3.7: Khảo sát về thực trạng uống sữa ở trẻ em tiểu học 94

Bảng 3.8: Kết quả khảo sát về tình hình tổ chức bữa ăn bán trú tại các trường tiểu học trên 7 tỉnh, thành phố năm 2016 98

Bảng 3.9: Thống kê khảo sát về đơn vị tổ chức bữa ăn bán trú cho HSTH 98

Bảng 3.10: Kết quả khảo sát về đơn vị xây dựng thực đơn bữa ăn bán trú 99

Bảng 3.11: Kết quả khảo sát về nguồn gốc thực phẩm 99

sử dụng cho bữa ăn bán trú học sinh 99

Bảng 3.12: Quy định bổ sung vi chất dinh dưỡng vào bột dinh dưỡng trẻ em 102

Bảng 3.13: Quy định bổ sung vi chất dinh dưỡng vào bột mì 102

Bảng 3.14: Kết quả khảo sát thực tiễn về các chương trình can thiệp và bổ sung vi chất dinh dưỡng cho HSTH 106

Bảng 4.1: Khảo sát về tính cần thiết của chương trình sữa học đường tại 7 địa phương 2016 133

Bảng 4.2: Kết quả khảo sát ý kiến về tính cần thiết của việc xây dựng và ban hành chính sách bữa ăn học đường ở trường tiểu học 137

Bảng 4.3: Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các chính sách can thiệp 145

dinh dưỡng đối với HSTH 145

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Điều tra mức đáp ứng nhu cầu năng lượng và vi chất dinh dưỡng khẩu

phẩn ăn của trẻ 6 - 11 tuổi tại 6 tỉnh, thành phố (2011) 82

Biểu đồ 3.2: Thiếu vi chất dinh dưỡng lứa tuổi học đường tại 6 tỉnh (2011) 87

Biểu đồ 3.3: Các nguyên nhân dẫn đến chưa thực hiện được chính sách 94

sữa học đường tại các địa phương 94

Biểu đổ 3.4: Khảo sát chương trình can thiệp dinh dưỡng đối với HSTH 7 tỉnh, thành phố năm 2016 105

Biểu đồ 3.5: Kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đến chưa thực hiện tốt chính sách dinh dưỡng đối với HSTH 118

Biểu đồ 4.1: Khảo sát về tính cần thiết của chính sách kiểm soát TCBP ở HSTH 142

Biểu đồ 4.2: Kết quả khảo sát ý kiến GVTH và CBYT về sự cần thiết của chính sách giám sát dinh dưỡng đối với các cơ sở giáo dục tiểu học 148

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là một trong những chủ trương lớn, quan trọng của Đảng, Nhà nước, kể từ khi cách mạng Tháng 8 thành công cho đến nay, đây

là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm, ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Con người là vốn quý nhất của xã hội, quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó sức khoẻ là tài sản quý giá nhất của mỗi con người và của toàn xã hội” [5] Nhằm thực hiện tốt mục tiêu trên, trong những năm qua, bên cạnh những chính sách phát triển chung, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách, chiến lược quan trọng về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Nhiều chính sách, chương trình, dự án cụ thể trong lĩnh vực y tế, dinh dưỡng đã được ban hành và thực thi nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế về chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, tiêu biểu như: Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân; Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng; Chương trình mục tiêu quốc gia về

vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia về cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi và một số chương trình, dự án khác Nhờ

đó công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuổi thọ trung bình của nhân dân đã được nâng lên, tình trạng dinh dưỡng của người dân ngày càng được cải thiện

Để xây dựng nguồn nhân lực (NNL) đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc nâng cao sức khỏe, trí tuệ và tầm vóc con người Việt Nam, trong đó yếu tố nền tảng dinh dưỡng là cần thiết và cấp bách Nghị quyết số 37/CP ngày 20/6/1996 của Chính phủ về Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã đặt ra các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ

của nhân dân ta đến năm 2020 “Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 15% vào năm 2020 và chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam đạt 1m65 vào năm 2020 ” [45] Mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020,

tầm nhìn 2030 của Chính phủ cũng khẳng định: “Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng” [116]

Nhằm thực hiện nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho, ngành y tế đã

tổ chức triển khai lồng ghép chặt chẽ chiến lược dinh dưỡng với chiến lược chăm sóc và

Trang 12

nhiều bộ, ngành khác chỉ đạo các nội dung liên quan, huy động nguồn lực cho công tác dinh dưỡng Qua 15 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, tình trạng dinh dưỡng trẻ em Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân

ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 33.8 % năm 2000 đã giảm xuống dưới 15% năm 2014.[130] Tuy vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng (trong khi thiếu vi chất dinh dưỡng, SDD thể thấp còi ở trẻ em còn ở mức cao thì tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì ngày càng gia tăng), đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi học đường các hoạt động nghiên cứu

và can thiệp chưa được quan tâm đúng mức nên ảnh hưởng đến tầm vóc, thể lực của người Việt Nam khi trưởng thành Chiều cao nam thanh niên Việt Nam hiện nay chỉ đạt 164,4cm, [131] thấp hơn 11,6 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và chiều cao trung bình của nữ Việt Nam là 153,4 cm[131], thấp hơn 8,6 cm so với chuẩn Như vậy,

so với tầm vóc của thanh niên các nước trong khu vực: Nhật Bản 171.5 cm, Singapore 170.6 cm, Thái Lan 167.5 cm, chiều cao của thanh niên nước ta còn chênh lệch khá xa.[131]

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một trong những nguyên nhân được cho rằng có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề này là do chế độ dinh dưỡng và chính sách dinh dưỡng cho người Việt Nam, đặc biệt là chính sách dinh dưỡng cho trẻ em trong độ tuổi tiểu học chưa được thực hiện tốt trong những năm qua

Theo kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, sự phát triển về trí tuệ và khả năng học tập của một con người được hình thành và phát triển đến hơn 50% ở những năm đầu tiên của cuộc đời (từ 0-3 tuổi) Khoảng 30% tiếp theo được phát triển cho đến khi trẻ được 8 tuổi[139,157], từ đó trí tuệ con người sẽ tiếp tục phát triển trong quá trình học tập và làm việc Về thể lực, khoảng 54% chiều cao tối đa của trẻ đã đạt được khi được

3 tuổi, 32% chiều cao phát triển đến tuổi 12 và 14% còn lại đến tuổi 18 Như vậy, giai đoạn từ khi sinh ra đến 12 tuổi là giai đoạn phát triển chiều cao chủ yếu của trẻ, đây

là giai đoạn cần sự đáp ứng dinh dưỡng tối đa cho cơ thể [139,157] Vì vậy, để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em ở độ tuổi HSTH, góp phần nâng cao thể lực và tầm vóc của của người Việt Nam trong tương lai, ngoài những can thiệp cụ thể cho các đối tượng, cần thiết phải có những chương trình, chính sách dinh dưỡng phù hợp cho độ tuổi HSTH ở cấp độ quốc gia

Từ những lý do trên cho thấy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, đưa ra những giải pháp và đề xuất về chính sách dinh dưỡng phù hợp cho học sinh tiểu học, thế hệ tương lai của đất nước ta hiện nay là cần thiết và cấp bách cả về lý

luận và thực tiễn, là yêu cầu khách quan của công tác quản lý nhà nước Đề tài: “Chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam” đã được thực hiện làm luận án Tiến sĩ, chuyên

ngành Quản lý công

Trang 13

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách dinh dưỡng đối với học sinh tiểu học

ở Việt Nam trong giai đoạn tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan những tài liệu, dữ liệu, thông tin có liên quan

đến chủ đề của luận án

- Thứ hai, hệ thống hóa những cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn liên quan

đến chính sách dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học

- Thứ ba, điều tra, khảo sát thực tiễn các chính sách dinh dưỡng hiện hành đối

với học sinh tiểu học, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam

- Thứ tư, tổng hợp các quan điểm, định hướng, nguyên tắc và đề xuất các giải

pháp hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam trong giai đoạn tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án có đối tượng nghiên cứu là chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học, bao gồm 3 chính sách cơ bản: chính sách về bảo đảm năng lượng và khẩu phần dinh dưỡng cho học sinh tiểu học; chính sách về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho HSTH và chính sách về ATTP cho học sinh tại các trường tiểu học bán trú

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu thực trạng chính sách dinh dưỡng cho

HSTH ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay Định hướng hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam trong thời gian tới

- Về không gian: nghiên cứu, đánh giá chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu

học trên phạm vi cả nước

- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng một số chính sách dinh

dưỡng cơ bản cho HSTH ở Việt Nam, đó là: chính sách về bảo đảm năng lượng và khẩu phần dinh dưỡng cho HSTH; chính sách về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho HSTH và chính sách về ATTP cho học sinh tại các trường tiểu học bán trú

Trang 14

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin về phép biện chứng duy vật và lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dinh dưỡng nhằm phát triển nguồn lực con người Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với từng nội dung luận đề của đề tài, các phương pháp nghiên cứu

cơ bản đã được lựa chọn và vận dụng như sau:

Các phương pháp thu thập thông tin, số liệu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu lý thuyết về chính sách, phát triển, chính sách phát triển, các văn bản nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; số liệu và báo cáo kết quả thực hiện các chương trình, dự án chính sách có liên quan

- Phương pháp điều tra xã hội học: đề tài xây dựng các mẫu phiếu điều tra xã hội học, thực hiện đối với các nhóm nhà khoa học, cán bộ quản lý nhà nước về y tế, giáo dục tại trung ương và một số tỉnh, thành phố; các cơ sở y tế, cơ sở giáo dục tiểu học được chọn để thu thập thông tin, số liệu cho đề tài, luận án

Đối tượng và mẫu điều tra khảo sát: đối tượng khảo sát là các cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý y tế, giáo viên tiểu học, cán bộ y tế, phụ huynh học sinh; đối tượng khảo sát, phỏng vấn được tiến hành theo phương pháp xác suất Mẫu điều tra khảo sát, gồm 1.153 giáo viên tiểu học, cán bộ y tế, phụ huynh học sinh và 46 cán bộ quản lý giáo dục, 46 cán bộ quản lý y tế Điều tra khảo sát trên địa bàn của 7 tỉnh đại diện cho 6 vùng sinh thái (Lào Cai, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Gia Lai, Hồ Chí Minh, Đồng Tháp) Những địa phương được lựa chọn có tính đại diện cho đặc điểm vùng sinh thái cao, được lựa chọn qua phương pháp chuyên gia

Các phương pháp xử lý thông tin, số liệu

- Thông tin số liệu thu thập được xử lý bằng các phần mềm SPSS và EXCEL để thu được các thông tin đầu ra hữu ích, phục vụ nghiên cứu, phân tích

Các phương pháp phân tích, đánh giá

- Phương pháp thống kê, phân tích: chủ yếu là thống kê mô tả, thống kê so sánh

Sử dụng các chỉ tiêu thống kê đánh giá chính sách Các bảng, biểu số liệu, các sơ đồ, biểu đồ, số tuyệt đối, tương đối có liên quan

Trang 15

- Phương pháp nghiên cứu phân tích chính sách: áp dụng khi thực hiện xử lý số liệu lớn về chính sách không thể thực hiện được, từ đó phát hiện tính đặc thù, khác biệt, đơn

lẻ nhưng vẫn được phân tích, đánh giá và có thể đưa ra được những nhận định có giá trị khoa học cao Ngoài ra, trong một số khía cạnh, tác giả sử dụng thêm các phương pháp phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội, phân tích tác động đến chính sách

- Phương pháp đánh giá hệ thống chính sách: áp dụng phương pháp này dựa trên các tiêu chí về tính đồng bộ - hệ thống, tính hiệu lực - hiệu quả, tính kết nối và tương tác, tính kế thừa, phù hợp và công bằng giữa các chính sách

5 Giả thuyết khoa học của đề tài luận án

Theo báo cáo của ngành y tế và các tổ chức y tế quốc tế gần đây cho thấy: tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em ở Việt Nam còn khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới Tình hình thiếu vi chất dinh dưỡng của HSTH ở Việt Nam cũng là vấn đề cần được quan tâm, trong khi đó các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học những năm gần đây cho thấy HSTH bị thừa cân, béo phì ngày càng gia tăng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ hệ thống chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam trong thời gian qua chưa được các ngành, các cấp quan tâm và hoàn thiện; chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển của đối tượng HSTH Việc nghiên cứu và tìm ra các định hướng giải pháp chính sách dinh dưỡng mới khoa học, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam sẽ khắc phục những tồn tại, yếu kém trong chính sách dinh dưỡng cho HSTH hiện nay, từng bước nâng cao khả năng chăm sóc dinh dưỡng cho HSTH trong tương lai, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội song song với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

6 Những đóng góp mới của đề tài luận án

6.1 Về lý luận

Từ cơ sở nghiên cứu lý luận và được tiếp cận một cách hệ thống, có cơ sở khoa học, luận án đã củng cố, bổ sung về học thuật các khái niệm về chính sách dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam, làm rõ tính cần thiết của chính sách dinh dưỡng cho HSTH; các nội dung và quy trình của chính sách dinh dưỡng cho HSTH Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách dinh dưỡng cho HSTH; xác định nội hàm chính sách trên bao gồm cả chính sách tài chính, chính sách phát triển đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm, cán bộ y tế trường học và bảo đảm quyền tự chủ trong phối hợp, thực thi các chính sách cho học sinh tại các trường tiểu học

Trang 16

6.2 Về thực tiễn

- Luận án đã nghiên cứu và khái quát hóa về thưc trạng về tình hình dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam gồm: Thực trạng về khẩu phần ăn, thực trạng về SDD và TCBP

ở HSTH; thực trạng về tình hình thiếu vi chất dinh dưỡng ở HSTH

- Điều tra, tổng hợp, so sánh, phân tích và đánh giá thực tiễn các chính sách dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng cho HSTH hiện nay để làm rõ những ưu điểm, hạn chế bất cập và xác định các nguyên nhân cơ bản về thực trạng của những chính sách này, đồng thời trên cơ sở chọn lọc kinh nghiệm ở một số quốc gia để đề xuất các nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách về tài chính, chính sách phát triển đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm, cán bộ y tế trường học và bảo đảm quyền tự chủ trong phối hợp, thực thi các chính sách cho học sinh tại các trường tiểu học trong giai đoạn tới

- Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn và những quan điểm, tư tưởng của Đảng

và Nhà nước về dinh dưỡng và chính sách dinh dưỡng, luận án sẽ xây dựng những quan điểm về chính sách dinh dưỡng cho HSTH và các nguyên tắc để hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH phù hợp với điều kiện hiện nay; cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách dinh dưỡng cho HSTH phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và xu hướng phát triển về dinh dưỡng của các nước trên thế giới và mối liên quan, tác động của dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng đối với phát triển thể lực và trí tuệ của HSTH

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước, các bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam trong giai đoạn tới

- Bổ sung nguồn tư liệu cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, các doanh nghiệp về xây dựng, hoàn thiện và thực thi chính sách về dinh dưỡng trong tiến trình hội nhập quốc tế

7 Ý nghĩa của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống một cách cơ bản, có cơ sở khoa học,

bổ sung các khái niệm, nội hàm về chính sách và mối quan hệ giữa chính sách dinh dưỡng với chính sách phát triển quốc gia Đóng góp này không chỉ là nguồn tài liệu nhằm giúp cho nghiên cứu chính sách dinh dưỡng, nâng cao công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân mà còn là tài liệu khoa học cho các tổ chức, cá nhân tham khảo

- Luận án đã hệ thống và hoàn chỉnh thêm một bước về phương pháp bổ sung các tiêu chí đánh giá trong trường hợp nghiên cứu về chính sách dinh dưỡng Đóng góp này giúp cho các công trình nghiên cứu về sau tham khảo và kế thừa Luận án đã

Trang 17

cung cấp thông tin về bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội chung tại một số vùng, miền của đất nước tại thời điểm nghiên cứu, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp và nhận diện những đặc thù riêng của các vùng, miền cần được quan tâm trong xây dựng và thực hiện chính sách

- Luận án đưa ra cách tiếp cận, phân loại hệ thống chính sách về dinh dưỡng trong thời kỳ mới; đề xuất xây dựng chính sách và các nhóm giải pháp đổi mới nội dung, tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả chính sách cho các đối tượng ưu tiên (HSTH), trong đó đặc biệt là giải pháp đổi mới cách tiếp cận; thay đổi cách tiếp cận

từ chính sách mang tính bao cấp chuyển dần sang xã hội hóa

- Luận án tổng hợp, làm rõ quan điểm của Đảng về chính sách dinh dưỡng, đề xuất các định hướng xây dựng và hoàn thiện chính sách và các nhóm giải pháp đổi mới nội dung, tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dinh dưỡng nói chung và đặc biệt là chính sách cho HSTH tại Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học

Chương 2: Cơ sở khoa học về chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học

Chương 3: Thực trạng chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH

DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Các tài liệu, công trình nghiên cứu về dinh dưỡng

1.1.1 Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài

1.1.1.1 Nghiên cứu về vi chất dinh dưỡng ở trẻ em

Theo cách ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2000, ở bất cứ nơi nào, khi tỷ lệ SDD thể thấp còi (stunting) > 20%, nơi đó được coi là thiếu kẽm có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Khoảng 30% dân số thế giới bị thiếu kẽm và một tỷ lệ lớn trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu kẽm.[169, tr.55]

Một điều tra ở Mexico ở trẻ 1 - 11 tuổi năm 2006, kết quả cho thấy, thiếu kẽm vẫn

là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở đất nước này với tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ 1

- 4 tuổi là 28,1% và trẻ 5 - 11 tuổi là 25,8%[146, tr.81; 147, tr.87] Nghiên cứu trên trẻ em học đường 11 - 18 tuổi tại Delhi kết quả cũng cho thấy có 49,4% (50,8% nam và 48,2% nữ)

bị thiếu kẽm.[151, tr.73] Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1.375 trẻ em ở Trung Quốc cho thấy rằng: mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) đã giảm, nhưng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng vẫn còn tồn tại cao ở trẻ em Tỷ lệ chung thiếu kẽm trong huyết thanh (38,2%) và sắt (24,3%) Trẻ em ở trường mầm non khu vực nông thôn có tỷ lệ thiếu kẽm cao nhất, trong khi những ở khu vực thành thị có mức độ thiếu sắt cao hơn Trẻ em sống trong các gia đình (≤3 người) có tỷ lệ thiếu kẽm trong huyết thanh cao hơn so với trẻ em ở các gia đình có số người lớn hơn (41,8% so với 34,1%).[158, tr.23] Những phát hiện của các nhà nghiên cứu cho thấy trong việc phát triển kinh tế - xã hội gần đây của Trung Quốc cần có sự giám sát liên tục các yếu tố dinh dưỡng và làm nổi bật tầm quan trọng của ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở trẻ em ngay cả trong khu vực phát triển Năm 2010, một cuộc điều tra về tình hình thiếu kẽm ở 1.655 đối tượng trẻ em từ

6 - 60 tháng tuổi (836 nam và 819 nữ) tại một số bang ở Miền Bắc và Miền Nam Ấn

Độ cho thấy, tỷ lệ thiếu kẽm chung của quốc gia là 43,8% Tỷ lệ thiếu kẽm cao nhất

ở Orissa (51,3%), tiếp theo là Uttar Pradesh (48,1%), Gujarat (44,2%), Madhya Pradesh (38,9%) và Karnataka (36,2%).[154, tr72]

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, có khoảng một tỷ người thiếu vitamin D hoặc hàm lượng vitamin D thấp,[147, tr.87; 148, tr.8] thiếu vitamin D ở trẻ em có thể gây chậm phát triển và có các dấu hiệu và triệu chứng kinh điển của còi xương.[147,148] Ở người lớn, thiếu vitamin D sẽ làm giảm quá trình tạo xương, làm trầm trọng bệnh loãng xương

và làm tăng nguy cơ gẫy xương.[147,148] Các nghiên cứu trên trẻ em Đông Nam Á và

Trang 19

thanh thiếu niên ở châu Phi, châu Mỹ cho thấy hậu quả của chế độ ăn nghèo canxi sẽ làm tăng dị hóa viatamin D, thiếu vitamin D và còi xương.[146,147]

Nghiên cứu về vitamin D ở các nước trên thế giới và trong báo cáo kết quả nghiên cứu ở châu Á cho thấy, tình trạng thiếu vitamin D và vitamin D thấp vẫn đang là vấn

đề cần được quan tâm Nghiên cứu ở Pakistan và Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D

ở trẻ em rất cao.[138,151] Nghiên cứu cũng thấy rằng tỷ lệ thiếu vitamin D cao nhất ở Mông Cổ và Trung Quốc.[139, tr.75-87] Tỷ lệ thiếu vitamin D và vitamin D thấp ở phụ nữ Bắc Kinh, Hồng Kông, Indonesia,[179,144,] và ở trẻ em Malaysia, mặc dù họ đang sống ở gần xích đạo Nghiên cứu tình trạng thiếu vitamin ở trẻ từ 1 - 6 tháng tuổi tại Hàn Quốc cho thấy, trong 117 trẻ tham gia nghiên cứu có 48,7% số trẻ trong quần thể điều tra bị thiếu vitamin D Những trẻ bú mẹ hoàn toàn có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp hơn so với những trẻ được ăn thêm sữa công thức.[143, tr.3-14]

1.1.1.2 Nghiên cứu về thiếu máu, thiếu sắt ở trẻ em

Kết quả điều tra về tình hình thiếu máu, thiếu sắt ở một số nước cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em vẫn còn rất cao ở các nước phát triển 53%; ở Ấn Độ; 45%; ở Indonesia; 37,9% ở Trung quốc; và 31,8% ở Philipine Ở các nước phát triển, tỷ lệ thiếu máu tương đối thấp, ở Mỹ khoảng từ 3 - 20%; Hàn quốc là 15%.[176,177] Tại Iran, nơi

bổ sung sắt là một chính sách bắt buộc đối với phụ nữ có thai và trẻ em dưới hai tuổi, thì tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em 6 tháng đến 5 tuổi vẫn là 19,7%, cao hơn so với các nước phát triển.[153] Nghiên cứu ở Brazil thấy rằng, tỷ lệ thiếu máu là 60,4% ở trẻ 0 - 35,9 tháng và 54% ở trẻ 6 - 15,9 tháng.[163, tr.56-63]

1.1.1.3 Nghiên cứu về thừa cân, béo phì ở trẻ em

Trước đây thừa cân, béo phì (TCBP) được xem như là đặc điểm riêng của các nước có thu nhập cao, nhưng gần đây TCBP đã tăng lên một cách kỷ lục ở cả những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nhất là ở vùng đô thị Năm 2009, khoảng 300 triệu người ở các nước có thu nhập thấp, hơn 200 triệu người ở các nước có thu nhập trung bình và dưới 100 triệu người ở các nước có thu nhập cao bị tử vong có liên quan tới TCBP Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tử vong do các yếu tố liên quan đến béo phì cao hơn so với các yếu tố liên quan đến SDD, 65% dân số ở các nước có thu nhập trung bình và cao có tỷ lệ tử vong do căn nguyên béo phì cao hơn so với căn nguyên SDD Trên phạm vi toàn cầu thì TCBP gây tử vong nhiều hơn thiếu cân.[140, tr.64;170, tr.57-65] Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về TCBP của trẻ em

ở 144 nước trên thế giới cho thấy, có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TCBP (35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ

Trang 20

95%: 3,2% - 5,2%) năm 1990 lên 6,7% (CI 95%: 5,6% - 7,7%) vào năm 2010 Với xu hướng này thì dự kiến đến năm 2020 sẽ có 9,1% (CI 95%: 7,3% - 10,9%), tương đương với khoảng 60 triệu trẻ em bị TCBP Tỷ lệ TCBP của trẻ em châu Phi là 8,5% năm

2010, ước tính năm 2020 sẽ là 12,7%, tỷ lệ béo phì ở các nước phát triển cao gấp 2 lần các nước đang phát triển.[140, tr.64]

Hiện nay ở Mỹ, TCBP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và toàn xã hội Theo nghiên cứu từ năm 1971 - 1974, tỷ lệ béo phì ở trẻ nam 6 - 11 tuổi là 18,2%, trẻ em nữ là 13,9% Nhưng đến năm 1988 - 1991 thì tỷ lệ này đã là 22,3% và 22,7% Đáng chú ý là thừa cân ở trẻ em gái 4 - 5 tuổi tăng từ 5,8% năm 1974, lên 10,8% năm

1994 Cũng ở Mỹ, vào năm 2004, TCBP ở học sinh 6 -17 tuổi rất cao, tới 35,1% (nam)

và 36% (nữ).[142, tr.1723-1727]

Tại châu Á, tỷ lệ TCBP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng, tại Trung Quốc các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từ năm 1989 và 1997 cho thấy, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 - 6 tuổi tăng rất nhanh từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị.[159, tr.1-16] Ở Thái Lan, trong những năm 1990, tỷ lệ béo phì ở trẻ từ 6 -

12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2 năm.[134, tr.3-14] Hiện nay, béo phì ở trẻ

em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và

y tế Tại châu Phi, số lượng trẻ em bị TCBP tăng từ 4 triệu trẻ năm 1990 lên 13 triệu trẻ vào năm 2010 Ở châu Á, tuy tỷ lệ TCBP không cao như châu Phi, nhưng số lượng trẻ

bị TCBP thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên 18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 châu lục Ngoài việc phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng của TCBP thì các quốc gia ở châu Á còn phải đối mặt với sự gia tăng nhanh của SDD thể còm còi, tạo ra gánh nặng kép về dinh dưỡng.[143, tr.3-14]

Châu Mỹ La tinh có khoảng 2,4 triệu trẻ thừa cân và 1.591 trẻ SDD còm còi; riêng các nước đang phát triển có khoảng 3,3 triệu trẻ thừa cân và 50.593 trẻ SDD còm còi.[168, tr.3009-3016] Ở châu Mỹ La tinh, thừa cân và SDD còm còi có liên quan tỷ lệ nghịch với nhau Ở các nước có tỷ lệ SDD còm còi thấp, thì lại có tỷ lệ thừa cân cao Ngược lại ở các nước có tỷ lệ SDD còm còi cao thì có tỷ lệ thừa cân thấp Nhìn chung, tất cả các nước này đều phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, song song với vấn đề SDD còm còi là thừa cân của trẻ.[160, tr.73]

1 1.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở trong nước

Nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra về tình hình dinh dưỡng cũng là một chủ đề được nhiều bác sỹ và các nhà quản lý y tế ở nước ta rất quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu đặc biệt là trong những năm gần đây, có thể nói đến một số công trình khoa học sau:

Trang 21

Theo nội dung giáo trình “Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” của tác

giả Phạm Huy Tường, Nhà xuất bản Giáo dục 2012, dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sức khỏe và quá trình phát triển của cơ thể con người, dinh dưỡng có liên quan đến một số căn bệnh mãn tính như: béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh loãng xương và một số bệnh ung thư.[18, tr 20-35]

Cuốn sách giáo trình “Dinh dưỡng và VSATTP” của Trường Đại học Y Hà Nội,

Nhà xuất bản Y học 2012, dùng cho đối tượng là sinh viên chuyên khoa dinh dưỡng cộng đồng Thông qua giáo trình, học giả có thể hiểu rõ hơn về lịch sử dinh dưỡng, mối quan hệ của dinh dưỡng với sức khỏe, bệnh tật; vấn đề an ninh dinh dưỡng, an ninh thực phẩm và đường lối dinh dưỡng Về dinh dưỡng cơ sở, các tác giả đã cung cấp cho học viên, nghiên cứu viên và các đọc giả khác những kiến thức về cấu trúc cơ thể người, kiến thức cơ bản về năng lượng, protein, lipid, glucid, vitamin và các khoáng chất, nước

và điện giải Giáo trình cũng cung cấp những kiến thức về dinh dưỡng cộng đồng, các loại bệnh có liên quan đến chế độ dinh dưỡng như: suy dinh dưỡng protein năng lượng; thiếu vitamin A và bệnh khô mắt; thiếu máu do thiếu sắt; bệnh còi xương ở trẻ em; bệnh loãng xương, các rối loạn do thiếu kẽm, thiếu i-ốt; TCBP Bên cạnh đó, cuốn sách cũng tập trung làm rõ mối quan hệ của dinh dưỡng với một số những căn bệnh mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng như: bệnh đái tháo đường, các bệnh tim mạch, bệnh ung thư và bệnh gout.[52]

Nghiên cứu về dinh dưỡng cộng đồng, tác giả Hà Huy Khôi trong cuốn sách

"Một số vấn đề dinh dưỡng cộng đồng ở Việt Nam" Nhà xuất bản Y học 2006, cho

rằng, hiện nay nước ta là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ em vào loại thấp so với các nước có cùng điều kiện mức sống về kinh tế, tuy nhiên tỷ lệ suy dinh

dưỡng ở trẻ em còn cao Tác giả cũng cho rằng: “Người Việt Nam vốn không phải giống bé nhỏ, yếu ớt và trí tuệ kém cỏi về mặt di truyền Những nghiên cứu gần đây cho thấy cải thiện điều kiện dinh dưỡng trong thời kỳ bào thai và hai năm đầu đời có ảnh hưởng tích cực đến phát triển trí tuệ hơn là thời kỳ thanh thiếu niên 11 đến 24 tuổi” [7,9 tr 79-95] Theo tổng hợp của tác giả, nghèo và thiếu kiến thức là hai nguyên nhân

cơ bản của thiếu dinh dưỡng

Sách tham khảo “Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe” của tác giả Hà Huy Khôi -

Từ Giấy, Nhà xuất bản Y học 2012 Nội dung cuốn sách diễn giải về mối quan hệ giữa dinh dưỡng với bệnh tật, sức khỏe của cộng đồng; nhu cầu dinh dưỡng người và dinh dưỡng với sự tăng trưởng Nội dung cuốn sách cũng chỉ ra giá trị dinh dưỡng, đặc điểm vệ sinh của thức ăn; VSATTP và cách thức phòng chống ngộ độc thực phẩm

Trang 22

lý ở gia đình, những kiến thức khoa học về chế độ chăm sóc cho người mẹ trong quá trình mang thai và cho con bú, kiến thức về nuôi dưỡng trẻ.[81]

Cuốn sách chuyên khảo: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, của Viện Dinh dưỡng, NXB Y học năm 2012 cho thấy: “do bị ảnh hưởng bởi thiếu dinh dưỡng trường diễn, cân nặng và chiều cao của trẻ em Việt Nam vẫn còn thấp hơn khu vực và trên thế giới” [67, tr 22+23] Dựa trên những cơ sở khoa học và những khuyến nghị cũng như tính toán, các tác giả đã đưa ra một hệ thống bảng về nhu cầu protein khuyến nghị cho 3 đối tượng trẻ em khác nhau: trẻ em từ 0 - 12 tháng tuổi; trẻ

em từ 1 - 9 tuổi và trẻ em từ 10 - 18 tuổi Nghiên cứu về nhu cầu lipid khuyến nghị, các tác giả cho rằng tiêu thụ lipid quá thấp trong bữa ăn hàng ngày ảnh hưởng đến chức phận của nhiều cơ quan tổ chức trong cơ thể, đặc biệt là não bộ và thần kinh ở trẻ em và trẻ nhỏ, chậm tăng trưởng và tiêu thụ quá nhiều dẫn đến thừa cân, béo phì,

dễ mắc các bệnh mãn tính không lây.[67]

Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng gần đây cho thấy, Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp và đang phải đương đầu với gánh nặng kép về dinh dưỡng Bên cạnh tình trạng SDD đặc biệt là SDD thấp còi còn phổ biến ở trẻ em nông thôn, gần đây tình trạng TCBP ngày càng gia tăng ở thành phố Kết quả thống kê hàng năm về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi cho thấy, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi

đã giảm xuống còn dưới 15% năm 2014.[130] Tuy nhiên tỷ lệ SDD thể thấp còi vẫn còn

ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (25,9%), ảnh hướng đến tầm vóc thể lực người Việt Nam khi trưởng thành

Một kết quả của điều tra trên 450 trẻ 7 - 8 tuổi tại 3 trường tiểu học ở Bắc Ninh năm 2005 của Nguyễn Xuân Ninh và các cộng sự cho thấy, tỷ lệ trẻ em thấp còi ở đây

là 32 - 40% Kết quả điều tra tình trạng dinh dưỡng tại 6 tỉnh, thành phố của Việt Nam năm 2011 cho thấy, tỷ lệ thấp còi của trẻ em lứa tuổi 6 - 9 tuổi là 13,7% và ở lứa tuổi

9 - 11 tuổi là 18,2%.[93] Bên cạnh đó, có sự gia tăng nhanh chóng TCBP của trẻ em thành phố đặc biệt là các thành phố lớn Điều tra năm 2011 tại các trường của các quận nội thành Hà Nội cho thấy, tỷ lệ TCBP đã tăng từ 7,9% năm 2003 lên 40,7% năm 2011

1.1.2.1 Nghiên cứu về khẩu phần ăn của trẻ em

Về chủ đề khẩu phần ăn của trẻ em cũng là một vấn đề được nhiều nhà khoa học và các học giả quan tâm nghiên cứu Có thể khái quát những kết quả đạt được của các tác giả, học giả qua một số các số liệu, bài viết và kết quả của các công trình nghiên cứu sau:

Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Ngọc Anh (1985) trong luận án: Góp phần nghiên cứu chế độ dinh dưỡng điều trị trẻ suy dinh dưỡng Protein – Năng lượng dưới

Trang 23

bất kỳ trẻ lúc sinh có cân nặng cao hay thấp, điều này chứng tỏ rằng vấn đề SDD phụ thuộc vào hiểu biết của người mẹ nuôi con Phần lớn trẻ bị SDD đều có biểu hiện kém

ăn, chán ăn, rối loạn tiêu hóa và lượng protít trong máu rất thấp, do vậy cần phải có biện pháp kích thèm ăn ở trẻ, hạn chế tình trạng rối loạn tiêu hóa cho trẻ.[1]

- Từ Ngữ trong luận án tiến sỹ (1995), Đánh giá ảnh hưởng của giáo dục dinh dưỡng và tạo nguồn thực phẩm tới tình trạng dinh dưỡng và một số bệnh ở trẻ em cho rằng: “dinh dưỡng là môn khoa học nghiên cứu về mối liên hệ giữa thực phẩm và sức khỏe con người Đó là quá trình sử dụng thực phẩm để duy trì hoạt động sống, duy trì

sự phát triển và bảo đảm các chức năng của cơ thể, cơ quan, tổ chức, tế bào và sản sinh ra năng lượng cho hoạt động của cơ thể” [53, tr3] “Suy dinh dưỡng là hậu quả của chế độ ăn thiếu chất dinh dưỡng qua một quá trình nhất định, hiện tượng này có thể

là do thiếu ăn, ăn nhưng hấp thụ kém hoặc do rối loạn chuyển hóa” [53, tr7] Nghiên cứu của tác giả cho thấy, ở nước ta, hai căn bệnh có số lượng trẻ em mắc phải lớn nhất

là bệnh liên quan đến đường hô hấp và tiêu chảy Với quan điểm cho rằng, vấn đề SDD có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là do nhận thức của người mẹ nuôi con còn hạn chế; công tác giáo dục dinh dưỡng còn chưa phát huy hiệu quả dẫn đến việc trẻ bị SDD Thông qua hoạt động quan sát trực tiếp và theo dõi, tác giả cũng có những đánh giá về mức tiêu thụ thực phẩm, nhận thức của bà mẹ về dinh dưỡng và tình trạng thiếu vitamin A ở trẻ em. [53]

Một công trình nghiên cứu, điều tra, khảo sát tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (năm 1998) cho thấy, hiện trẻ em SDD ở nơi đây còn khá cao Trẻ em SDD phân

bố khác nhau giữa các vùng sinh thái và các xã có dư địa lý khác nhau, điều này khẳng định rằng yếu tố dinh dưỡng và môi trường có vai trò quan trọng, quyết định đối với

sự phát triển của trẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, 80% [58] trẻ SDD bị thiếu máu, thiếu vitamin A và vitamin nhóm B Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD ở trẻ

em tại Thái Bình, bao gồm: nhận thức của người mẹ, hố xí không bảo đảm vệ sinh, điều kiện nhà ở, tình trạng nhiễm trùng, tuổi đời của mẹ, tỷ lệ nhân khẩu/ lao động trong gia đình, truyền thông cho mẹ và chăm sóc trẻ ốm.[58]

Điều tra, đánh giá về khẩu phần ăn của trẻ từ 6 - 11 tuổi tại 6 tỉnh/thành phố năm

2011 cho thấy: năng lượng khẩu phần chỉ đạt khoảng 76% nhu cầu khuyến nghị, khẩu phần canxi ở nhóm trẻ 6-9 tuổi đạt 59%; nhóm tuổi 9 - 11 tuổi chỉ đạt 45%, khẩu phần sắt ở nhóm tuổi 6 - 9 tuổi đạt khoảng 68% và nhóm 9 - 11 tuổi đạt 54% nhu cầu khuyến nghị Khẩu phần vitamin A của nhóm tuổi 6 - 9 tuổi đạt khoảng 54% và nhóm tuổi 9 - 11 tuổi đạt 43% Khẩu phần vitamin C sau chế biến của nhóm 6 - 9 tuổi đạt khoảng 61% và

Trang 24

9 tuổi đạt 18% và nhóm 9-11 tuổi đạt 13% nhu cầu Trong khi đó khẩu phần protein và năng lượng của trẻ em TP Hồ Chí Minh vượt quá so với nhu cầu khuyến nghị.[97, tr77- 83] Nhìn chung khẩu phần ăn của trẻ lứa tuổi học đường chưa đa dạng, chưa đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt là vitamin và khoáng chất.[91]

1.1.2.2 Về vi chất dinh dưỡng ở trẻ em

Vi chất dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi học đường Các vi chất dinh dưỡng thường có nguy cơ cao thiếu hụt ở lứa tuổi học đường bao gồm: sắt, kẽm, vitamin A và vitamin D Nghiên cứu về vi chất dinh dưỡng và vai trò của vi chất dinh dưỡng đối với sự phát triển và sức khỏe của trẻ em cũng được nhiều học giả, đội ngũ y bác sỹ hết sức quan tâm, có thể kể đến một số bài viết và kết quả nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của tập thể tác giả Nguyễn Xuân Ninh, Jean-Paul Thinssen, Laurence Collette, Guy Gerard, Hà Huy Khôi, Jean-Marie Ketelslegers, năm 1996 cho thấy, hiện có khoảng 50% số trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển bị SDD, kém phát triển chiều cao và cân nặng Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do

thiếu các chất dinh dưỡng Theo các tác giả: “Thiếu kẽm làm giảm khả năng miễn dịch

ở trẻ em bị suy dinh dưỡng nặng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn tăng, ở Việt Nam tình trạng thiếu kẽm bắt đầu từ rất sớm khoảng 4 - 6 tháng tuổi, và tập trung nhiều nhất vào giai đoạn 2 tuổi.” [94, tr 514- 519] Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: “việc bổ sung kẽm cho trẻ em Việt Nam chậm phát triển thể lực thúc đẩy tăng trưởng, giảm số lần mắc bệnh nhiễm khuẩn, tăng nồng độ IGF-I huyết thanh, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng

có sự tăng cường phát triển dinh dưỡng ở trẻ trong thời gian bổ sung kẽm, việc bổ sung kẽm cũng làm tăng trưởng đồng thời cả cân nặng và chiều cao.” [94, tr514-519]

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hợp và Jacques Berger, năm 2005 cho thấy:

“thiếu dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng như vitamin A, sắt, i-ốt là những vấn đề dinh dưỡng quan trọng ở trẻ em Việt Nam, thậm trí nghiêm trọng hơn so với các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới.” [68] Ở các vùng nông thôn Việt Nam, thiếu đa vi chất dinh dưỡng là một thực trạng phổ biến ở mọi lứa tuổi đặc biệt là trẻ nhỏ Theo

các tác giả: “Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, ảnh hưởng đến mắt và vận động của trẻ, thiếu vitamin A trẻ nguy cơ mắc các bệnh tử vong cao, thiếu kẽm ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng, và tăng nguy cơ tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp.” [68] Kết quả nghiên cứu cho thấy, bổ sung đa vi chất dinh dưỡng hàng ngày cho nhóm trẻ có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển chiều dài của trẻ nhỏ Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng

có ảnh hưởng tốt nhất trong phác đồ bổ sung được kiểm chứng, giúp tăng trưởng chiều dài, ảnh hưởng tốt đến sinh hóa máu. [68]

Trang 25

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hà (năm 2011) trong luận án: Hiệu quả

bổ sung kẽm và Spinkles đa vi chất trên trẻ 6 đến 36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh chứng tỏ rằng: bổ sung các loại vitamin và các

khoáng chất bao gồm bổ sung đơn chất như sắt, acid folic, vitamin A, i-ốt, kẽm, hoặc phối hợp nhiều vi chất cho trẻ được coi là biện pháp tốt để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng và SDD thấp còi.[54] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc bổ sung vi chất dinh dưỡng cũng có hiệu quả tích cực tới các chỉ số sinh hóa ở trẻ, khắc phục hiện tượng thiếu máu, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và tiêu chảy ở trẻ em

Theo kết quả khảo sát tình trạng dinh dưỡng trẻ em Việt Nam và khu vực Đông Nam Á 2011 (SEANUTS) tại 6 tỉnh thành cho thấy: tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em độ tuổi tiểu học là 11,8%; tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng là 7,7% và khoảng một nửa trẻ

em (48,9%) ở tình trạng thiếu vitamin A giới hạn (retinol huyết thanh ≥0,7 và <1,05 umol/L) Tỷ lệ trẻ có dự trữ sắt cạn kiệt (Ferritin <15ug/L) là 6% Thiếu máu không chỉ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thể lực, mà còn ảnh hưởng tới kết quả học tập của trẻ Tỷ lệ thiếu vitamin D của trẻ em tiểu học dao động từ 46 - 58% Tỷ lệ vitamin

D huyết thanh thấp dao động từ 12 - 19%.[91, 183]

Thiếu kẽm cũng đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ảnh hưởng tới một tỷ lệ không nhỏ trẻ em tại Việt Nam Kết quả điều tra năm 2006 tại 3 trường tiểu học ở Bắc Ninh cho thấy, tỷ lệ thiếu kẽm khá cao, dao động từ 35,3 - 58,7%.[75] Đây

là một con số báo động cho tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở độ tuổi HSTH ở Việt Nam hiện nay; cần có những giải pháp can thiệp sớm và đồng bộ cho đối tượng này

có hiệu quả tốt để cải thiện tình trạng ỉa chảy, suy dinh dưỡng ở trẻ Nếu cho trẻ uống vitamin A liều cao thì quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng sẽ diễn ra tốt hơn, đặc biệt là hấp thu lipid do vitamin A giúp cho quá trình hồi phục niêm mạc đường tiêu hóa tốt hơn.[107] Kết quả nghiên cứu của tác giả là công trình khoa học có giá trị trong việc điều trị bệnh ỉa chảy ở trẻ SDD nặng, có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu các chính sách can thiệp dinh dưỡng cho trẻ em bị SDD nặng

Trang 26

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Trung, năm 2004 cho thấy: nếu so sánh với các nước có cùng thu nhập bình quân trên đầu người thì ở nước ta có tỷ lệ trẻ em

tử vong thấp hơn nhưng số lượng trẻ em SDD lại cao hơn Nguyên nhân dẫn đến SDD

ở trẻ em hàng đầu ở Việt Nam là số lượng và chất lượng ăn bổ sung, sau đó là do nhiễm khuẩn, tiêu chẩy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp.[124] Việc bổ sung kẽm có vai trò thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện tình trạng dinh dưỡng, tình hình mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp và sốt đơn thuần ở trẻ Việc bổ sung sắt cho thấy cải thiện rõ tình hình thiếu máu ở trẻ Việc bổ sung kẽm và sắt có vai trò thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện dinh dưỡng, khắc phục tình trạng tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp và thiếu máu ở trẻ nhỏ.[124]

Nhằm đánh giá về tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, năm 2009, tác giả Nguyễn Văn Ninh và các cộng sự đã tổ chức điều tra trên 1.175 trẻ Kết quả cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng (vitamin A huyết thanh <0,7 mcmol/L) vẫn tồn tại ở mức 29,8 % (cao nhất là Bắc Kạn 61,8%, thấp nhất là Bắc Ninh 17%, Hà Nội 18,4%, An Giang 18,9%, Huế 24,8% và Đắc Lắc 41,8%)[93] Một số nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin

A huyết thanh ở nhóm trẻ <6 tháng (35,1%) cao hơn so với những nhóm tuổi khác Những trẻ không uống vitamin A trong chiến dịch phòng chống thiếu vi chất có nguy

cơ bị thiếu vitamin A tăng 15 lần so với trẻ được uống.[93]

Tổng điều tra vi chất dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng năm 2009 kết luận: tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em dưới 5 tuổi là 14,2% và được nhận định là vấn

đề sức khỏe cộng đồng mức độ nhẹ (≥ 10% của dân số), có 11,8% ở trẻ em dưới 2 tuổi và 11,9% ở trẻ em 2 đến 5 tuổi bị thiếu vitamin A Điều tra cũng cho thấy, hơn một nửa số trẻ em có tình trạng thiếu vitamin A tiền lâm sàng (vitamin A huyết thanh

< 0,7 mcmol/L) hoặc trong ngưỡng giới hạn (vitamin A huyết thanh < 1,05 mcmol/L) gợi ý rằng những nỗ lực để phòng chống thiếu vitamin A phải được duy trì và thậm chí phải đặc biệt tăng cường.[128,131]

1.1.2.4 Về thừa cân và béo phì ở trẻ em

Ở Việt Nam, TCBP đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng của thế kỷ XXI Tình trạng TCBP ở trẻ em ngày càng tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Văn Trịnh, Phạm Văn Hán

đã thực hiện đề tài nghiên cứu về tình trạng TCBP ở trẻ em cho thấy tỷ lệ TCBP ở HSTH (từ 6 -11 tuổi) tại một số trưởng tiểu học tại quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng

là 10,4%.[59, tr47-49] Năm 2001, tỷ lệ TCBP ở HSTH TP Nha Trang là 5,8%, tại TP Hồ Chí Minh, điều tra của tác giả Lê Thị Kim Quý, Đỗ Thị Ngọc Diệp và các cộng sự về

Trang 27

TCBP ở HSTH năm 2003 cho thấy, tỷ lệ TCBP là 9,4% Đến năm học 2008 - 2009 thì tỷ lệ này đã lên tới 20,8% và 7,7% ở 2 trường thuộc quận 10.[105, tr.93-107]

Nghiên cứu tại TP Buôn Ma Thuột, năm 2004 cho thấy: tỷ lệ TCBP ở trẻ em tiểu học từ 6 - 11 tuổi là 10,4%, trong đó tỷ lệ TCBP ở trẻ trai là 11,1% và trẻ gái là 9,5%.[106, tr.49-53]

Kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Thị Bích Ngọc tại TP Huế, năm 2010 cho thấy, tỷ lệ TCBP ở trẻ từ 6 -10 tuổi là 7,98%, trong đó béo phì là 1,51%.[92] Nghiên cứu tại TP Huế năm 2008 của tác giả Võ Diệu Hiền cũng cho thấy, tỷ lệ TCBP ở trẻ

từ 11 - 15 tuổi là 8,3%.[60, tr.28-30] Nghiên cứu tại Đà Nẵng ở HSTH năm 2006 - 2007 cho thấy, tỷ lệ thừa cân là 4,9% và nguy cơ thừa cân là 8,7%.[97, tr.77-83]

Nghiên cứu về TCBP ở trẻ em năm 2003 của tác giả Lê Thị Hải và cộng sự cho thấy, tỷ lệ TCBP ở trẻ em từ 7 - 12 tuổi ở nội thành TP Hà Nội là 7,9% (nam: 8,5%, nữ: 7,2%).[55, tr.188-203] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đã có rối loạn lipit máu ở trẻ bị TCBP là: 66,7% tăng triglyxerit máu, 10,5% tăng cholesterol toàn phần và 5,7% tăng LDL-C.[55,56] Một công trình nghiên cứu cắt ngang năm 2007 tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh ở học sinh từ 9 -11 tuổi thấy tỷ lệ béo phì tại các trường ở trung tâm thành phố cao hơn các trường ở ngoại thành Cụ thể, tại Hà Nội thì tỷ lệ béo phì của HS ở trường quận Đống Đa là 7,1%, ở huyện Đông Anh là 1,1%.[88] Tại TP Hồ Chí Minh, trường học ở quận 1 có tỷ lệ béo phì là 41,1% và ở quận 7 có tỷ lệ là 10,8%.[49]

1.1.2.5 Nghiên cứu về dinh dưỡng và tăng trưởng

Dinh dưỡng và tăng trưởng cũng là một khía cạnh được nhiều nhà khoa học, các

y bác sỹ ở nước ta đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây, có thể kể đến một số những công trình khoa học sau:

Công trình nghiên cứu năm 1990 của tác giả Hà Huy Khôi cho thấy, ngày càng

có nhiều bằng chứng cho thấy vai trò của chế độ ăn đối với nhiều bệnh như béo phì,

xơ vữa động mạch, đái tháo đường và một số bệnh ung thư Theo dõi một cách có hệ thống khuynh hướng thế tục về tiêu thụ thực phẩm và các chỉ tiêu về tình trạng dinh dưỡng là một con đường có hiệu quả để phát hiện mối liên hệ giữa chế độ ăn, sức khỏe

và bệnh tật Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: “Cải thiện cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng hợp lý là nhiệm vụ cấp bách để cải thiện sức khỏe và chất lượng sinh học của người dân Việt Nam” [76, tr.89-90]

Năm 2007, Lê Thị Hợp và Hà Huy Khôi đã tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và kết quả nghiên cứu và điều tra trong

30 năm về mối quan hệ giữa dinh dưỡng và sự tăng trưởng của người Việt Nam

Trang 28

Nghiên cứu của các tác giả cho rằng: “Tăng trưởng của trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: Yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng, bệnh tật và môi trường sống.” [80, tr.21-39] Nghiên cứu cũng cho thấy tăng trưởng là tấm gương phản chiếu các điều kiện sống, tăng trưởng kém là biểu hiện của nghèo đói, thiếu dinh dưỡng và khi điều kiện sống tốt lên thì tăng trưởng được cải thiện Theo các tác giả:

“Bên cạnh những can thiệp dinh dưỡng và sức khỏe giai đoạn trẻ nhỏ có nguy cơ suy dinh dưỡng cao thì giai đoạn dậy thì và sau dậy thì cũng là cơ hội tốt để tác độngdinh dưỡng và rèn luyện thể lực giúp trẻ em tăng tốc về chiều cao, đặc biệt là trẻ em chậm phát triển khi nhỏ” [80, tr.21-39]

Nghiên cứu của Lê Nam Trà, Đại học Y Hà Nội với bài viết: “Khuynh hướng tăng trưởng thế tục về chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000”, thấy rằng: chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 1 đến 15 tuổi qua

các thời kỳ 1975, 1995 và 2000 đã có sự tăng trưởng thế tục rõ rệt, đặc biệt là trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX Theo tác giả sự tăng trưởng ở người là sản phẩm của mối tương tác liên tục giữa yếu tố di truyền và môi trường, trong yếu tố môi trường thì dinh dưỡng là quan trọng nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy, khuynh hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiều cao và cân nặng ở trẻ em thể hiện rất rõ nét phản ánh tình trạng kinh tế xã hội của đất nước, khuynh hướng này xuất hiện sớm ở trẻ, đặc biệt là ở tuổi vị thành niên (11 – 13 tuổi).[123, tr.6-7]

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, các chất dinh dưỡng chính để tăng trưởng

và phát triển trong giai đoạn lứa tuổi học sinh gồm protein, sắt, canxi, vitamin C và kẽm.[80] Thực tiễn nước ta từ năm 1938 – 1985, người Việt Nam không có các biểu hiện gia tăng về tầm vóc, thể lực và chiều cao ở người trưởng thành.Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng trên là do những khó khăn về điều kiện sống, đói nghèo trong thời kỳ chiến tranh.[76]

Nghiên cứu của Lê Danh Tuyên và cộng sự, năm 2010 về tình trạng SDD ở trẻ

em Việt Nam cho thấy: SDD thấp còi là một hiện tượng phổ biến trên thế giới, thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng được xem là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến SDD thấp còi.[127] Theo số liệu của các tác giả thống kê, hiện nay có khoảng 29,5% trẻ em

ở các nước đang phát triển bị SDD thấp còi Nguyên nhân chính của SDD thấp còi là đói nghèo, trình độ văn hóa thấp, ít tiếp cận đến dịch vụ thông tin và chăm sóc sức khỏe, thất nghiệp, tình trạng thiên tai và dịch bệnh Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hiện nay ở nước ta, trẻ em SDD thấp còi cũng thiếu các vi chất dinh dưỡng, nếu được can thiệp bổ sung vi chất dinh dưỡng thì chiều cao của trẻ em tăng lên rõ rệt.[127, tr3-4] Trong giai đoạn tiếp theo, các tác giả cũng khuyến nghị đối với Chính phủ cần ưu tiên cao cho

Trang 29

các chương trình chăm sóc y tế, muốn phòng, chống SDD có hiệu quả thì phải chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em ngay từ tuổi vị thành niên, đặc biệt là trẻ em gái.[127, tr.3-4]

Thực tế hiện nay dinh dưỡng cho lứa tuổi học đường và tuổi vị thành niên chưa nhận được sự quan tâm nhiều của xã hội Qua một số cuộc điều tra cho thấy có một thực trạng đáng lo ngại về dinh dưỡng và sức khỏe của nhóm đối tượng này.[73, tr.3-4]Chiều cao, cân nặng của trẻ luôn thấp hơn kích thước tham khảo (NCHS), tuổi càng lớn thì khoảng cách càng rõ rệt, trẻ em ở thành phố có chiều cao và cân nặng hơn trẻ

ở nông thôn Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực tế trên là do thiếu dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu hoặc chất lượng quá kém, bữa ăn của trẻ ở gia đình còn thiếu hàm lượng chất dinh dưỡng Đối với nước ta, hiện tượng trẻ em bị đói tạm thời

là khá phổ biến đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng thưỡng xuyên xảy ra thiên tai Nghiên cứu cho rằng các chất dinh dưỡng có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển thể lực, trí tuệ đối với trẻ tuổi học đường, đặc biệt là trẻ vị thành niên, việc thiếu vi chất dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến năng lực, thành tích học tập của trẻ tuổi học đường bao gồm: i-ốt, sắt, vitamin A.[73, tr.3-4]

1.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu về chính sách y tế, chính sách dinh dưỡng

1.2.1 Nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài

Sau Thế chiến thứ Nhất (sau năm 1918) các nhà khoa học mới bắt đầu nhận ra vai trò quan trọng của việc xây dựng chính sách về dinh dưỡng ở phạm vi quốc gia và khu vực Đến đầu những năm 70 thế kỷ XX, thế giới mới đưa ra được định nghĩa về chính sách và đường lối dinh dưỡng Theo đó, chính sách dinh dưỡng và thực phẩm

là một chuỗi các nguyên lý, mục tiêu, ưu tiên và các quyết định được quốc gia phê chuẩn và thực thi như là một bộ phận trong kế hoạch phát triển đất nước đó nhằm mục đích cung cấp cho toàn thể dân chúng trong một thời gian các thực phẩm đặc hiệu với điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa để có được chế độ dinh dưỡng đầy đủ Sau những năm 70, ở các nước bắt đầu thành lập cơ quan chuyên môn nhằm tham mưu cho chính phủ trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch và chính sách nhà nước về dinh dưỡng Theo Giáo sư Lawrence Haddad (Giám đốc Viện Nghiên cứu Chính sách Thực phẩm và Dinh dưỡng quốc tế) và Giáo sư Arne Oshaug (Trưởng ban Chính sách Dinh dưỡng của FAO) thì các nghiên cứu xây dựng chính sách dinh dưỡng thực sự ra đời cách đây mới chỉ trên 50 năm cùng với tuyên ngôn về quyền con người Tuy vậy, chỉ trong vòng 20 năm gần đây thì các chính sách dinh dưỡng ra đời mới thực sự phát huy hiệu quả trên phạm vi toàn thế giới Các tác giả Rosegrant (Trưởng khoa Viện Nghiên cứu Chính sách thực phẩm quốc tế IFPRI), MS Paisner, S Meijer và J Witcover

Trang 30

trên thế giới và chỉ rõ: xu hướng xây dựng chính sách hiện nay đang tách dần các

hướng để phù hợp với tình hình và bối cảnh của mỗi quốc gia khác nhau Có nước vẫn

phải tiếp tục đề ra các chính sách để chống lại đói nghèo và lạc hậu như ở hầu hết các

nước đang phát triển Còn ở các nước phát triển thì đường lối và chính sách dinh

dưỡng tập trung giải quyết các vấn đề phát triển con người, chống lại các bệnh chuyển

hóa và đi hẳn vào việc phòng ngừa các bệnh tật như ung thư, tim mạch, huyết áp cao

có liên quan trực tiếp đến ăn uống

Tại Mỹ, từ năm 1918 tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng dẫn đến thiếu máu dinh

dưỡng và tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong chung khá cao Năm 1920, chính sách

được Tổng thống Mỹ đưa ra là tự giác bổ sung vi chất dinh dưỡng vào các loại thức ăn

và sản phẩm dinh dưỡng sử dụng cho con người Từ năm 1920 - 1945, tình trạng thiếu vi

chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu máu giảm rõ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh và tử

vong chung không thay đổi nhiều Các nhà khoa học đã đề nghị hoạch định một chính

sách quyết liệt hơn là bắt buộc phải bổ sung vi chất dinh dưỡng vào các loại thức ăn và

sản phẩm dinh dưỡng sử dụng cho con người Hiệu quả cho thấy rõ rệt là tỷ lệ mắc bệnh

và tử vong chung giảm có ý nghĩa thống kê rõ rệt so với trước đó (29,8%)

Tại Nhật Bản, ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc (năm 1946), cuộc

điều tra về dinh dưỡng đã chỉ ra tình trạng SDD và sức khỏe kém ảnh hưởng đến trên

50% trẻ em trước tuổi học đường Chính phủ Nhật Bản đã lập tức ban bố chính sách cải

thiện dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em, kể cả trẻ vị thành niên tại các trường học phổ

thông các cấp Mọi huy động và ưu tiên cao nhất được dành cho mục tiêu cải thiện dinh

dưỡng Nhờ đó, chỉ sau 10 năm tỷ lệ SDD đã giảm đi gần 50% và góp phần quyết định

tăng trưởng chiều cao thanh niên Nhật Bản với mức tăng là 2,2 cm so với trước

Nhật Bản đã ban hành Luật về dinh dưỡng, đối với dinh dưỡng của trẻ em ở độ

tuổi đến trường cũng có đạo luật riêng “Luật bữa ăn học đường” Luật số 160, ngày

03/6/1954 và sửa đổi năm 2008.[98] Luật này nhằm xác định các vấn đề cần thiết liên

quan đến việc thực hiện các hướng dẫn về bữa ăn ở trường học và chế độ ăn uống sử

dụng bữa ăn tại trường, với mục đích tăng cường giáo dục hiểu biết về thực phẩm

trong trường học qua đó cải thiện bữa ăn tại trường Ý tưởng nền tảng của luật này là

các bữa ăn sẽ góp phần cho sự phát triển lành mạnh của tâm trí và cơ thể của học sinh và trẻ em và đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp phát triển khả

năng lựa chọn thực phẩm và sự hiểu biết về thực phẩm cho trẻ em và học sinh.[14,98,180]

Quy định bắt buộc các nhân viên chịu trách nhiệm về các vấn đề kỹ thuật liên quan

đến dinh dưỡng của bữa ăn tại cơ sở giáo dục được gọi là "người quản lý bếp ăn học

đường", phải là một trong những người có giấy phép về giáo dục dinh dưỡng theo quy

Trang 31

định của Luật Giáo viên (năm 1949) hoặc một người có chứng chỉ hành nghề chuyên viên dinh dưỡng theo quy định của Luật Dinh dưỡng (năm 1947) và có kinh nghiệm hoặc kiến thức cần thiết cho việc chuẩn bị bữa ăn cho học sinh Các chi phí cần thiết cho cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các bữa ăn học đường

và các chi phí cần thiết cho hoạt động của bữa ăn học đường được quy định bởi Nghị định của Chính phủ Nhật Bản, sẽ do cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm chi trả Chính phủ có thể hỗ trợ một số các chi phí cần thiết cho các cơ sở hoặc thiết bị cần thiết cho việc chuẩn bị các bữa ăn tại trường trong giới hạn của ngân sách theo quy định.[14,98]Tại Úc, cho đến năm 1980, có đến 1/4 dân số nam giới vẫn thiếu canxi gây chứng loãng xương Chính phủ Úc đã đề ra chính sách khống chế giá sữa và các bảo trợ nông dân nuôi

bò sữa Đến nay, nước Úc đã giải quyết vấn đề trên và đề ra chính sách mới nhằm chống bệnh tiểu đường gia tăng do chế độ ăn uống quá mức và các họat động thể lực hạn chế

Để từng bước đẩy lùi với tình trạng SDD ở trẻ em, năm 1992, Thái Lan đã thực hiện một chương trình bữa ăn trường học và cho uống sữa do chính phủ tài trợ Là

một trong những nước đầu tiên thực hiện “Chăm sóc sơ cấp” khuyến khích sự tham

gia của tình nguyện viên và cộng đồng Những tình nguyện viên Thái Lan được đào tạo để giải quyết tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn Sau 30 năm đi vào hoạt động, tình trạng SDD trẻ em ở Thái Lan đã giảm mạnh

từ 36% (năm 1975) xuống 8.42% (năm 2005) và Chương trình lương thực thế giới

-WFP gọi các chương trình dinh dưỡng của Thái Lan là “một trong những sự thành công nhất của châu Á”.[162]

Chương trình bữa ăn trường học của Thái Lan (SLP) có mục đích nhằm để “làm giảm những vấn đề liên quan đến dinh dưỡng của trẻ” bằng cách cung cấp bữa ăn

miễn phí cho những trẻ nghèo hay thiếu dinh dưỡng, đồng thời cũng giáo dục các học

sinh về “những giá trị, những thói quen ăn uống và những ứng xử xã hội” Chương

trình này tiến hành ở tất cả các nhà trẻ và trường tiểu học, bao gồm những khu vực nông thôn hẻo lánh (khoảng 30.000 trường học), chương trình đã giúp ích cho khoảng

2 triệu HSTH và 700.000 trẻ trước tuổi đi học vào năm 2011.[162]

Ở Hoa Kỳ, để chống nạn trẻ em béo phì và giúp học sinh có quyết định tốt hơn khi chọn thức ăn, Luật của Tiểu bang Texas quy định từ năm 2003 trong các trường học cần cung cấp các thực phẩm lành mạnh và khích lệ thói quen ăn uống tốt hơn và cho đến ngày 01/8/2009, các trường phải tuân theo các quy định của tiểu bang và đưa

ra các chương trình về dinh dưỡng đối với trẻ em tại các trường học như: chương trình thực phẩm chăm sóc trẻ em nhằm cung cấp các bữa ăn và đồ ăn nhẹ cho trẻ em, trẻ vị

Trang 32

cho học sinh lứa tuổi học đường đường, chương trình bữa ăn trường học quốc gia (NSLP) cung cấp bữa ăn trưa cho hơn 3 triệu trẻ em ở trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ Các bữa trưa cần phải đáp ứng các hướng dẫn về dinh dưỡng của bang, chi phí cho các trường dựa trên số lượng các bữa ăn được phục vụ Các chương trình kèm theo như chương trình bữa sáng trường học; chương trình cung cấp bữa ăn mùa hè (SFSP); chương trình rau quả tươi và chương trình phân phối thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ em Tất cả các trường tham gia vào chương trình dinh dưỡng học đường quốc gia có đủ tiêu chuẩn để được nhận thực phẩm hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA).

1.2.2 Nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở trong nước

Ở Việt Nam, trong những năm chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận thấy chính sách dinh dưỡng cho bộ đội có vai trò quan trọng nhằm bảo đảm sức khỏe cho cán bộ chiến sỹ, tăng cường sức chiến đấu của quân đội Đại tướng đã giao nhiệm

vụ cho Cục Hậu cần lo ăn cho chiến sỹ nhưng cần hoạch định ra các chính sách cụ thể Người được giao nhiệm vụ này là bác sĩ Từ Giấy, người mà sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng sau nhiều năm chiến tranh kéo dài đã trở thành vị giáo sư đầu tiên phát triển đường lối dinh dưỡng cho Việt Nam và chính việc này đã giúp ông

đoạt danh hiệu “Nhà dinh dưỡng xuất sắc nhất châu Á” năm 1990

Ngay từ đầu thập niên 80, Viện Dinh dưỡng đã tiến hành gần 30 cuộc điều tra về tình trạng dinh dưỡng trẻ em, khẩu phần hộ gia đình và tập quán ăn uống ở các vùng sinh thái khác nhau nhằm mô tả và phân tích vấn đề suy dinh dưỡng ở nước ta Đây

là những căn cứ khoa học cho kế hoạch dinh dưỡng và các dự án thức ăn bổ sung PAM-2651 và tiếp đó là PAM-3844 và những chương trình, dự án can thiệp về dinh dưỡng khác đã góp phần làm giảm nhanh tỷ lệ SDD ở nước ta, cụ thể như sau: năm

1985, tỷ lệ SDD trẻ em ở nước ta là 51,5%, đến năm 2001 là 31,9%, năm 2005 là 25,2% và năm 2014 tỷ lệ này là dưới 15%.[130]

Năm 1996, tại Hội nghị về tình hình dinh dưỡng và chiến lược hành động của Việt Nam, tác giả Hà Huy Khôi cho biết, năm 1978, nước ta bắt đầu triển khai chương trình nghiên cứu đầu tiên về cải tiến bữa ăn với sự tham gia của nhiều ban, ngành, trong đó có ngành y tế Kết quả nghiên cứu của chương trình này cho thấy trong điều kiện kinh tế khó khăn chúng ta vẫn phải có các chương trình nhằm cải thiện dinh dưỡng cho nhân dân, điều này đã tạo điều kiện cho sự ra đời của Viện Dinh dưỡng, một tổ chức có nhiệm vụ chuyên nghiên cứu và tham mưu những chủ trương, chính sách về dinh dưỡng cho ngành y tế, cho Đảng và Nhà nước Với sự tham mưu của Viện Dinh dưỡng, ngành y tế đã triển khai một số chính sách có liên quan đến dinh dưỡng như: giáo dục dinh dưỡng, sử dụng biểu đồ phát triển, khuyến khích nuôi con

Trang 33

bằng sữa mẹ, nâng thời gian nghỉ thai sản cho phụ nữ sinh con, khuyến khích hệ sinh thái VAC để cải thiện bữa ăn gia đình, bổ sung Vitamin A, dự án ăn bổ sung và một

số các chương trình, dự án khác nhằm hạn chế SDD ở trẻ em.[77, tr.1-8]

Dự án tạo nguồn thực phẩm tại hộ gia đình kết hợp với nâng cao hiểu biết về dinh dưỡng hợp tác với FAO (dự án GCP/VIE/013/AUL 1990-1993 và dự án GCP/VIE/021/AUL 1997-2000) Kết quả đánh giá các dự án nói trên đã cho thấy hệ sinh thái VAC kết hợp với giáo dục dinh dưỡng đã có ảnh hưởng tốt đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và cơ cấu bữa ăn gia đình Ý nghĩa của việc đề xuất và áp dụng

mô hình VAC trong thời điểm bấy giờ là một giải pháp đúng lúc, thiết thực trong điều kiện nhiều gia đình còn ở tình trạng nghèo và thiếu ăn Về phương diện kinh tế, VAC đã thừa kế kinh nghiệm lâu đời trong nhân dân, đồng thời có thể áp dụng một cách linh họat với các mô hình VAC sản xuất hàng hóa, hòa nhập với đường lối đổi mới kinh tế Về phương diện dinh dưỡng, có thể nói VAC đã đặt cầu nối giữa nông nghiệp và y tế trong việc giải quyết vấn đề dinh dưỡng ở Việt Nam và đưa ra được một mô hình cụ thể của họat động bảo đảm an ninh thực phẩm hộ gia đình ở Việt Nam Cùng với hoạt động cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

đã triển khai chương trình an ninh lương thực quốc gia, xây dựng hệ thống giám sát mất

an ninh lương thực (FIVIMS) Và đã xuất bản "Bảng cân đối lương thực thực phẩm Việt nam" làm cơ sở cho việc đề xuất các chính sách vĩ mô bảo đảm an ninh thực phẩm

Tác giả Nguyễn Xuân Thảo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: để đạt được mục tiêu Kế hoạch Hành động Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 1995 - 2000 nhất thiết phải đưa mục tiêu dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển kinh - tế xã hội ở trung ương và địa phương.[108, tr.19-22] Để thực hiện thành công chương trình, theo tác giả cần phải có sự phối hợp chương trình dinh dưỡng với các chương trình có liên quan, đưa mục tiêu dinh dưỡng vào trong mục tiêu các kế hoạch đó để tránh chồng chéo, giảm chi ngân sách xóa đói và giảm SDD Cần phải có sự phối hợp liên ngành trước hết là ngành nông nghiệp, ngành y tế và ngành giáo dục, đặc biệt là công tác truyền thông để nâng cao nhận thức của xã hội về ăn uống hợp lý.[108, tr.19-22]

Đánh giá về tình hình thực hiện Chiến lược dinh dưỡng Quốc gia 2001 - 2010, một

số nhà khoa học khẳng định chương trình này đã được thực hiện đầy đủ từ trung ương tới địa phương, mục tiêu chương trình đã được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Tỷ lệ trẻ SDD giảm rõ rệt, bền vững, các giải pháp đề xuất được đưa ra phù hợp và triển khai có hệ thống.[82, tr.11-128]

Bài học tổng kết việc thực hiện Chiến lược dinh dưỡng quốc gia cho thấy thực hiện

Trang 34

ủng hộ của các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, các địa phương đều phải xây dựng và

tổ chức kế hoạch thực hiện chiến lược dinh dưỡng quốc gia, đây là cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện tại địa phương về dinh dưỡng Phải tăng cường công tác vận động, thuyết phục và cung cấp thông tin đối với những tổ chức, cá nhân cơ thẩm quyền ở địa phương

về công tác dinh dưỡng, từ đó nâng cao nhận thức của địa phương trong việc thực hiện chiến lược dinh dưỡng quốc gia Để công tác truyền thông dinh dưỡng có hiệu quả cần

có những giải pháp phù hợp với đặc thù của từng địa phương, dân tộc, vùng miền, cần xây dựng các thông điệp dinh dưỡng và phát trên các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên Cần phải có sự ủng hộ, phối hợp và giúp đỡ của các cơ quan liên ngành, đặc biệt là các đoàn thể xã hội Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động dinh dưỡng, huy động mọi nguồn lực cho các hoạt động dinh dưỡng.[82, tr.11-128]

Nghiên cứu về nhân trắc và thể lực của người Việt Nam cho thấy, trong khoảng gần 50 năm (từ 1938 đến 1995) không có những biểu hiện gia tăng về tầm vóc và thể lực Chiều cao người trưởng thành gần như đứng yên, khoảng 160 cm ở nam và 150

cm ở nữ Đến nay chỉ số này có sự cải thiện theo khuynh hướng gia tăng khoảng 163,7

cm ở Nam và 153,0 cm ở nữ.[66] Để cải thiện tình trạng SDD thấp còi, nâng cao tầm vóc người Việt Nam Bên cạnh những giải pháp chuyên môn thì định hướng chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng Trong thời gian tới cần tập trung vào một số chính sách, chương trình dự án như: truyền thông, giáo dục dinh dưỡng, đào tạo NNL; tăng cường năng lực của cán bộ dinh dưỡng các cấp; thực hiện tốt các chương trình phòng chống SDD thấp còi, nâng cao tầm vóc người Việt Đối với chương trình dinh dưỡng học đường cần hoàn thiện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục dinh dưỡng

và thể chất từ mầm non đến đại học.[66]

Tiểu dự án Chính sách Dinh dưỡng và Vận động Xã hội (gọi tắt là Tiểu dự án Dinh dưỡng) thuộc Dự án Hỗ trợ chính sách Y tế và Dinh dưỡng, chương trình hợp tác về y tế và dinh dưỡng do UNICEF tài trợ trong chu kỳ hợp tác 2006 - 2010 Dự án này bao gồm các hoạt động hỗ trợ Bộ Y tế trong xây dựng chính sách dinh dưỡng quốc gia nhằm cải thiện và nâng cao tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của nhân dân Trong chu kỳ 2006 - 2010, Tiểu dự án Dinh dưỡng tập trung hỗ trợ nhằm góp phần xây dựng và triển khai các chiến lược và chính sách phù hợp về chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em, nâng cao chất lượng và tính sẵn có của các số liệu về tình hình dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em; phổ biến và sử dụng có hiệu quả các số liệu giám sát dinh dưỡng để phát triển các kế hoạch hành động ứng phó phù hợp ở địa phương

Trang 35

Bàn về chính sách dinh dưỡng và đường lối dinh dưỡng ở nước ta cũng đã được một số học giả, các nhà khoa học quan tâm tìm hiểu, có thể kể đến một số các công trình sau:

Nghiên cứu của Hà Huy Khôi cho rằng đường lối dinh dưỡng là một đường lối

về thực phẩm trong đó các mục tiêu về sức khỏe và dinh dưỡng nêu lên một cách rõ ràng Để xây dựng và triển khai văn kiện về đường lối dinh dưỡng, theo tác giả cần quan tâm tới các khía cạnh sau:[78, tr.8-9]

Đường lối dinh dưỡng là văn kiện của Nhà nước đề cập đến vấn đề dinh dưỡng một cách toàn diện do vậy nó mang tính liên ngành cao, cần chú ý tới các điểm sau: đưa các mục tiêu dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển chung của quốc gia và các ngành liên quan như: y tế, giáo dục, nông nghiệp, công thương…; giáo dục truyền thông, nâng cao nhận thức; quan tâm đến đối tượng ở các vùng miền có nguy cơ cao và giám sát dinh dưỡng

Để thực hiện tốt đường lối dinh dưỡng quốc gia, công tác theo dõi và đánh giá cần bám sát vào những mục tiêu đã định và tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng tới tiêu thụ thực phẩm; nhận thức và kỹ năng của cộng đồng và cán bộ chuyên môn y tế; những chỉ tiêu về tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật và tử vong

1.3 Một số nhận xét về tổng quan và vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án

1.3.1 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan

Qua tham khảo, nghiên cứu và phân tích một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các công trình nghiên cứu này đã có những giá trị hỗ trợ cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận án và đặt ra những vấn đề mà luận án cần tiếp tục giải quyết Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung mà các công trình chưa đề cập đến một cách toàn diện và trực diện nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:

Một là, đa số các nghiên cứu về dinh dưỡng trên thế giới và ở Việt Nam hiện

nay chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về những cơ sở lý luận về dinh dưỡng và thực trạng tình hình dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng cho một số đối tượng ưu tiên như bà mẹ có thai và trẻ em dưới 05 tuổi, kết quả của các nghiên cứu trên đều cho thấy sự cần thiết, cấp bách vấn đề dinh dưỡng hiện nay

Các số liệu, dữ liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề dinh dưỡng cho trẻ em khá đa dạng, phong phú Nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào vai trò của các loại vitamin, các chất năng lượng, vi chất dinh dưỡng, chất khoáng đối với sự phát triển của cơ thể con người Nghiên cứu về mối liên hệ giữa dinh

Trang 36

Một số công trình khoa học khác tập trung nghiên cứu về các loại bệnh tật

có nguyên nhân từ việc ăn uống không hợp lý, suy dinh dưỡng như thiếu máu, nhiễm khuẩn đường ruột, SDD thấp còi, gầy còm, nhẹ cân

Hai là, hiện nay ở nước ta, các công trình nghiên cứu tập trung nhiều vào tình

trạng TCBP ở lứa tuổi học sinh Thông qua nghiên cứu thực trạng TCBP ở HSTH các tác giả đã chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến TCBP ở trẻ nhỏ và HSTH Các nghiên cứu về chính sách cho các đối tượng này không nhiều, cơ bản là dựa trên số liệu của các cuộc điều tra về tình trạng dinh dưỡng và một số kinh nghiệm của nước ngoài để Chính phủ và các bộ, ngành đưa ra một số định hướng, chính sách áp dụng cho đối tượng trên, chưa có các nghiên cứu, đánh giá hiệu quả

và tác động của chính sách đối với đối tượng hưởng lợi từ chính sách

Đối tượng HSTH cũng vậy, các nghiên cứu mới dừng ở đánh giá thực trạng về dinh dưỡng ở HSTH của một số vùng, miền; chưa có nhiều nghiên cứu lớn mang tính đại diện cao cho toàn quốc và hiện nay ngành y tế mới chỉ đưa ra các đề xuất can thiệp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho đối tượng trên; chưa có nghiên cứu cơ bản nào về chính sách dinh dưỡng áp dụng đồng bộ cho nhóm đối tượng này Đây cũng là vấn đề cần thiết đặt ra cho các nghiên cứu trong thời gian tới

Ba là, các tài liệu, các công trình nghiên cứu ở ngoài nước đã chỉ ra số liệu về tình

trạng dinh dưỡng của trẻ em và đã ban hành và thực hiện một số chính sách và giải pháp can thiệp cho các đối tượng nói chung và đặc biệt là trẻ em ở độ tuổi HSTH nói riêng, nhưng chưa có các nhiều nghiên cứu cụ thể về hiệu quả của chính sách dinh dưỡng cho đối tượng này Tuy nhiên khi thực hiện các chính sách cho đối tượng, các số liệu theo dõi đã chứng minh được tính hiệu quả của chính sách đã áp dụng cho đối tượng trên tại một số nước Đây cũng là bài học kinh nghiệm để Việt Nam nghiên cứu, xây dựng và thực hiện các chính sách dinh dưỡng nói chung và đặc biệt là chính sách dành cho HSTH, nhằm góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em hiện tại và nâng cao thể lực, trí lực và tầm vóc của người Việt Nam trong tương lai

Bốn là, do điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước hoặc mỗi khu vực, vùng, miền

của mỗi nước cũng có đặc điểm khác nhau, do đó việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách cho các đối tượng ở mỗi nơi cũng có sự khác nhau Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học Đây là đối tượng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nhân lực tương lai của đất nước, các chính sách, chiến lược và giải pháp can thiệp về dinh dưỡng cho đối tượng này mang tính dài hạn, hiệu quả và bền vững

Trang 37

1.3.2 Vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án

Từ những vấn đề nêu trên, luận án cần nghiên cứu và làm rõ một số nội dung lý luận và thực tiễn sau:

Một là, nghiên cứu và hệ thống hóa những cơ sở lý luận về giáo dục tiểu học,

HSTH và đặc điểm phát triển tâm sinh lý của HSTH Nghiên cứu hệ thống những cơ

sở lý luận về dinh dưỡng; cơ sở lý luận về chính sách dinh dưỡng và chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu và làm rõ những khái niệm liên quan đến chính sách dinh dưỡng và các yếu tố tác động đến chính sách dinh dưỡng; nội dung và chu trình chính sách dinh dưỡng cho HSTH Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và tổ chức chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở các quốc gia trên thế giới và chỉ

ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Hai là, nghiên cứu những số liệu, dữ liệu thống kê về tình hình học sinh tiểu học

và thực trạng tình hình dinh dưỡng của HSTH ở Việt Nam hiện nay

Ba là, tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và phân tích các số liệu, dữ liệu về

thực trạng tình hình dinh dưỡng và chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam Nghiên cứu những đặc điểm của chính sách dinh dưỡng ở Việt Nam và sự khác biệt giữa tình hình dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng của một số nước trên thế giới để phân tích, so sánh tìm ra các mặt hạn chế trong việc thực hiện chính sách ở Việt Nam cần phải khắc phục để hội nhập quốc tế

Bốn là, nghiên cứu, phân tích và xác định những kết quả đạt được, các vấn đề

còn tồn tại trong việc ban hành và thực hiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam, qua đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những kết quả đạt được và những hạn chế của chính sách dinh dưỡng cho HSTH ở Việt Nam

Năm là, nghiên cứu các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác bảo

vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Nghiên cứu những định hướng của Chính phủ và của ngành y tế trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Nghiên cứu và khái quát hóa những định hướng chính sách dinh dưỡng quốc gia và định hướng của Chính phủ về xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới

Sáu là, nghiên cứu và chỉ ra những nguyên tắc trong việc xây dựng và tổ chức

thực hiện chính sách dinh dưỡng cho HSTH hiện nay, qua đó đề xuất các giải pháp, định hướng chính sách dinh dưỡng cho HSTH phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế hiện nay

Để giải quyết một cách toàn diện và bảo đảm tính khoa học trong việc ban hành

Trang 38

kế thừa; kết hợp các nghiên cứu, đánh giá các đề tài của các tác giả trong và ngoài nước, tham khảo ý kiến chuyên gia, các giáo trình khoa học về y học, về quản lý và các chính sách dinh dưỡng đã thực hiện ở trong nước, ngoài nước, các tư liệu số liệu

về tình trạng dinh dưỡng ở các nhóm đối tượng khác nhau, vùng, miền khác nhau để đưa ra những quan điểm của mình từ góc độ quản lý công một cách độc lập, có tính cần thiết và khả thi cao

Kết luận Chương 1

Nội dung Chương 1 tác giả đã nghiên cứu có hệ thống những những dữ liệu số liệu và các công trình nghiên cứu, bài viết về chính sách dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học, cụ thể:

- Tác giả đã nghiên cứu và khái quát hóa các số liệu, dữ liệu thống kê, các công trình nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết, bài báo được đăng trên những tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp thông qua các luận văn, luận án, giáo trình, sách tham khảo về dinh dưỡng và những vấn đề có liên quan đến dinh dưỡng cho trẻ em gồm: những nghiên cứu về dinh dưỡng,

vi chất dinh dưỡng; nghiên cứu về các loại vitamin và những vấn đề liên quan; nghiên cứu về tình trạng thiếu máu, thiếu sắt ở trẻ em; nghiên cứu về TCBP ở ngoài nước

- Nghiên cứu và tổng hợp hóa những dữ liệu, tài liệu, công trình khoa học về khẩu phần dinh dưỡng; về vi chất dinh dưỡng, vitamin A và nghiên cứu về TCBP và dinh dưỡng với tăng trưởng của các tổ chức và các học giả ở trong nước

- Tìm hiểu và nghiên cứu những tài liệu, dữ liệu, các bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về chính sách y tế, chính sách dinh dưỡng, chính sách dinh dưỡng cho HSTH

Kết quả nghiên cứu tài liệu thứ cấp cho thấy, các công trình khoa học nghiên cứu

về dinh dưỡng đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống những cơ sở khoa học về dinh dưỡng và các chủ đề có liên quan đến dinh dưỡng mang tính chuyên ngành, dưới góc nhìn của y học Tuy nhiên, nghiên cứu về dinh dưỡng cho HSTH dưới góc nhìn của các nhà quản lý chính sách thì còn chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều

- Qua thu thập số liệu, dữ liệu và nghiên cứu các công trình khoa học của các học giả đi trước, tác giả đã khái quát hóa và có những nhận xét khái quát về những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của các công trình Qua đó, xác định được những những mục tiêu, phương hướng đặt ra cho vấn đề nghiên cứu của luận án, là cơ sở cho việc triển khai những nội dung tiếp theo của luận án

Trang 39

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

2.1 Một số khái niệm liên quan đến chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học

2.1.1 Giáo dục tiểu học và HSTH

2.1.1.1 Giáo dục tiểu học

 Khái niệm giáo dục tiểu học

Hệ thống giáo dục của một quốc gia là toàn bộ các tổ chức và cấu trúc, các loại

cơ quan giáo dục và dạy học thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục hoặc đào tạo cho trẻ em và người lớn từ cấp độ, thứ bậc từ thấp đến cao Hệ thống này bao gồm nhiều tổ chức khác nhau, được thiết kế, tổ chức theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một mảng chỉnh thể thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia về giáo dục và đào tạo

Đối với nước ta, hệ thống giáo dục quốc dân, theo Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)[101] cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện theo một chỉnh thể thống nhất, là tập hợp các loại hình giáo dục, bao gồm các nhà trường, được sắp xếp theo một trình tự thống nhất từ bậc học mầm non đến bậc học đại học

Theo quy định của Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005, và Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Khung cơ cấu Hệ thống giáo dục Quốc dân, hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta như sau:[101]

- Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên

- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

- Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình

độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sỹ, trình độ tiến sỹ

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam về giáo dục, giáo dục tiểu học

là một bộ phận của hệ thống giáo dục Việt Nam, nằm trong cấp học giáo dục phổ

Trang 40

thông Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học từ lớp 1 đến lớp năm và tuổi học sinh bắt đầu vào lớp 1 là 6 tuổi

Đối với giáo dục tiểu học, đây là bậc học buộc phải phổ cập theo quy định của Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nhà nước quyết định

kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để phổ cập giáo dục tiểu học trong phạm vi cả nước.[101]

 Mục tiêu của giáo dục tiểu học

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha và gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa

“chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ” [4]

Như vậy, mục tiêu của giáo dục Việt Nam trong thời điểm hiện nay là đào tạo thế hệ trẻ một cách toàn diện, có đức, có tài, có trí tuệ thông minh, có lý tưởng thẩm

mỹ, có sức khỏe tốt, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ đối với tổ quốc Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các

kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

 Nội dung của giáo dục tiểu học

Nội dung dạy học đó là những kỹ năng, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà nắm được chúng sẽ bảo đảm quá trình làm phát triển năng lực, trí tuệ và thể chất của học sinh, hình thành thế giới quan và đạo đức, hành vi tương ứng với nó để chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và lao động

Ngày đăng: 19/12/2017, 11:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Ngọc Anh (1985), Góp phần nghiên cứu chế độ dinh dưỡng điều trị trẻ suy dinh dưỡng Protein – Năng lượng dưới 1 tuổi tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu chế độ dinh dưỡng điều trị trẻ suy dinh dưỡng Protein – Năng lượng dưới 1 tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Ngọc Anh
Năm: 1985
6. Bộ Giáo dục Anh, Tiêu chuẩn bữa ăn trưa tại các trường Tiểu học (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn bữa ăn trưa tại các trường Tiểu
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 14/2001/QĐ-BGD&amp;ĐT ngày 03/5/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về giáo dục thể chất và y tế trường học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/5/2001 của
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tự nhiên và xã hội 1, 2, 3 (2015), (Sách học sinh lớp 1 đến lớp 3), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nhiên và xã hội 1, 2, 3
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tự nhiên và xã hội 1, 2, 3
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khoa học 4, 5 (2015), (sách học sinh lớp 4, lớp 5), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học 4, 5 (2015)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khoa học 4, 5
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
21. Bộ Y tế, Quyết định số 2689/2003/QĐ-BYT Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế Ngày 19/12/2003 về việc Ban hành quy định bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2689/2003/QĐ-BYT Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế Ngày
34. Chính phủ Việt Nam, Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2015, phương hướng nhiệm vụ kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội
49. Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Lân (2008), Tình trạng béo phì ở HSTH 9-11 tuổi và các yếu tố liên quan tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 4, số 1, tr.39 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng béo phì ở HSTH 9-11 tuổi và các yếu tố liên quan tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Lân
Năm: 2008
51. Đại học Y Hà Nội (2008), Tổ chức và quản lý y tế. (Tài liệu lưu hành nội bộ) 52. Đại học Y Hà Nội (2012), Dinh dưỡng và VSATTP, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý y tế. (Tài liệu lưu hành nội bộ)" 52. Đại học Y Hà Nội (2012), "Dinh dưỡng và VSATTP
Tác giả: Đại học Y Hà Nội (2008), Tổ chức và quản lý y tế. (Tài liệu lưu hành nội bộ) 52. Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
53. Từ Ngữ (1995), Đánh giá ảnh hưởng của giáo dục dinh dưỡng và tạo nguồn thực phẩm tới tình trạng dinh dưỡng và một số bệnh ở trẻ em, luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân y 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của giáo dục dinh dưỡng và tạo nguồn thực phẩm tới tình trạng dinh dưỡng và một số bệnh ở trẻ em
Tác giả: Từ Ngữ
Năm: 1995
54. Nguyễn Thanh Hà (2011) Hiệu quả bổ sung kẽm và Spinkles đa vi chất trên trẻ 6 đến 36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh, Luận án Tiến sỹ Dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả bổ sung kẽm và Spinkles đa vi chất trên trẻ 6 đến 36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh
55. Lê Thị Hải và các cộng sự (2002), Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở học sinh 6-12 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội, Đề tài cấp Bộ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở học sinh 6-12 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Hải và các cộng sự
Năm: 2002
56. Lê Thị Hải, Nguyễn Thị Lâm và cộng sự (2002), Theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ thừa cân, béo phì ở Hà Nội, Hội nghị khoa học thừa cân và béo phì với sức khoẻ cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ thừa cân, béo phì ở Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Hải, Nguyễn Thị Lâm và cộng sự
Năm: 2002
57. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2013), Đại cương về chính sách công, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về chính sách công
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
58. Trần Minh Hậu (1998), Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và hiệu quả một số biện pháp can thiệp tại 5 xã tỉnh Thái Bình, Luận án Tiến sỹ Y Dược Đại, Đại học Y khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và hiệu quả một số biện pháp can thiệp tại 5 xã tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Minh Hậu
Năm: 1998
59. Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Văn Trịnh, Phạm Văn Hán (2002), Nghiên cứu tình trạng béo phì, các yếu tố liên quan ở lứa tuổi 6 - 11 tuổi tại một quận nội thành Hải phòng, Tạp chí Y học thực hành, số 418, tr.47 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu tình trạng béo phì, các yếu tố liên quan ở lứa tuổi 6 - 11 tuổi tại một quận nội thành Hải phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Văn Trịnh, Phạm Văn Hán
Năm: 2002
60. Võ Thị Diệu Hiền, Hoàng Khánh (2008), Nghiên cứu tình hình thừa cân, béo phì của học sinh từ 11 - 15 tuổi tại một số trường trung học cơ sở thành phố Huế, Tạp chí Y học thực hành, số 1, tr.28 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình thừa cân, béo phì của học sinh từ 11 - 15 tuổi tại một số trường trung học cơ sở thành phố Huế
Tác giả: Võ Thị Diệu Hiền, Hoàng Khánh
Năm: 2008
61. Vũ Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Ngọc Diệp, Trần Quốc Cường, Trần Thị Minh Hạnh, Nguyễn Như Loan, Nguyễn Thị Việt Thu (2013). Can thiệp dinh dưỡng và vận động phòng chống thừa cân, béo phì trên HSTH, một số kết quả ban đầu, Tạp chí DD&amp;TP, Tập 9, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp dinh dưỡng và vận động phòng chống thừa cân, béo phì trên HSTH, một số kết quả ban đầu
Tác giả: Vũ Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Ngọc Diệp, Trần Quốc Cường, Trần Thị Minh Hạnh, Nguyễn Như Loan, Nguyễn Thị Việt Thu
Năm: 2013
62. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Tìm hiểu về CSC, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về CSC
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
63. Học viện Hành chính Quốc gia (2006), Giáo trình QLNN về văn hóa, giáo dục, y tế, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình QLNN về văn hóa, giáo dục, y tế
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm