Mô hình tài chính - Bùi Ngọc Toản ď Bài tập mẫu 03 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
******
BÀI TẬP MẪU 03 MÔN MÔ HÌNH TÀI CHÍNH
Đề tài: Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Việt Nam
Giảng viên: ThS Bùi Ngọc Toản
Lưu ý:
Bài tập mẫu này chỉ mang tính chất tham khảo, các bạn Sinh viên có thể chọn
một đề tài khác phù hợp với môn học và chuyên ngành đào tạo để làm (khuyến
khích chọn đề tài nghiên cứu về doanh nghiệp);
Với phạm vi một bài tập lớn, các bạn Sinh viên chỉ cần thực hiện được các bước xây dựng mô hình, cụ thể như sau:
Tổng quan về đề tài nghiên cứu;
Tổng hợp kết quả của một số bài nghiên cứu có liên quan;
Các khái niệm và cách đo lường các biến;
Xây dựng giả thuyết nghiên cứu;
Mô hình nghiên cứu đề xuất;
Tài liệu tham khảo
Mọi thắc mắc, các bạn Sinh viên vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: buitoan.hui@gmail.com
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2016
Trang 2Đề tài: Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
cơ quan quản lý Nhà nước về tín dụng lẫn các ngân hàng thương mại, song khó tránh khỏi trong thực tiễn Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng phải đối mặt và cũng là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng khủng hoảng của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn vừa qua (Sufian & Chong, 2008, trích bởi Poudel, 2013) Thật vậy, rủi ro tín dụng ngân hàng là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cũng như đến nền kinh tế (Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012) Trong nghiên cứu khác của Trần Chí Chinh (2012) có nêu rõ vấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng đã gây hậu quả rất lớn đối với các ngân hàng thương mại và đối với nền kinh tế ở Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng cao có thể làm giảm lợi nhuận hoặc gây thua lỗ đối với
ngân hàng do tăng trích lập dự phòng rủi ro, làm xói món niềm tin đối với những người gửi tiền, các nhà đầu tư và nếu không sớm cải thiện sẽ gây nên rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng rất lớn đến an toàn của hệ thống ngân hàng
Thứ hai, rủi ro tín dụng sẽ gây bất ổn cho kinh tế vĩ mô, rủi ro tín dụng là một
trong những tác nhân gây ra lạm phát cao và sau đó kéo theo là lãi suất cũng tăng
Trang 3lạm phát Một khi lạm phát và lãi suất cao sẽ gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có
tỷ trọng vốn vay lớn
Vấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng đang được chú ý, tranh luận và nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh các ngân hàng thương mại bắt đầu thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” mới được ban hành theo Quyết định 254/QĐ-TTG ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ Thật vậy, vấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng được thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam năm 2007 là 2%, năm
2008 là 3.5%, tỷ lệ này tăng cao nhất trong giai đoạn vừa qua vào năm 2012 và đạt 8.6% (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2013) Thực tế này cho thấy khả năng kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại nước ta còn hạn chế và đang là ẩn số chưa có lời giải đáp cũng như biện pháp xử lý thuyết phục
Tuy nhiên, rủi ro tín dụng ngân hàng là yếu tố khó xác định Hiện nay, chưa có
sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về cách xác định rủi ro tín dụng ngân hàng Thật vậy, rủi ro tín dụng ngân hàng thể hiện tập trung nhất thông qua tỷ lệ nợ xấu chia cho tổng dư nợ cho vay (Sufian & Chong, 2008; Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012; Said & Tumin, 2011; Thiagarajan & ctg, 2011; Olweny & Shipho, 2011).Đối với cách làm này, đòi hỏi các ngân hàng thương mại được nghiên cứu phải công bố đầy đủ nợ xấu của mình, có như vậy bài nghiên cứu mới đạt được kết quả đáng tin cậy Ở một số nghiên cứu khác, Laeven & Majnoni (2002), Zribi & Boujelbène (2011) cho rằng rủi ro tín dụng được thể hiện thông qua tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng tài sản của ngân hàng, vì các tác giả quan niệm rằng dư nợ cho vay chiếm chủ yếu trong tổng tài sản nên có thể lấy trực tiếp giá trị tổng tài sản để tính rủi ro Trong khi đó, Foos & ctg (2010), Hess
& ctg (2009) (trích bởi Daniel Foos & ctg, 2010), San & Heng (2012) đã kết hợp hai cách tính trên, rủi ro tín dụng được đo lường bằng cách sử dụng tỷ lệ giá trị
Trang 4trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm t chia cho dư nợ cho vay năm t-1 Theo các tác giả, khách hàng vay thông thường không phát sinh rủi ro tín dụng ngay trong năm vay vốn nên việc trích lập dự phòng là trích lập cho các năm trước
Vì vậy, việc đánh giá một cách đáng tin cậy về thực tế rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam cũng như tìm ra các yếu tố chủ quan lẫn khách quan tác động tới rủi
ro tín dụng ngân hàng để từ đó đưa ra những gợi ý nhằm hạn chế rủi ro này trong thời gian tới là hết sức cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng trên, tác giả đã
chọn đề tài “Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín
dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu Với đề tài này,
tác giả tiến hành đánh giá về thực tế rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, thu thập kết quả các nghiên cứu trước và kết hợp với việc khảo sát ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam để làm tiền
đề xây dựng mô hình phù hợp với thực tiễn tại nước ta nhằm nhận dạng cũng như xác định mức độ tác động của một số yếu tố đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu nhận dạng các yếu tố tác động và mức độ tác động của các
yếu tố này đến rủi ro tín dụng ngân hàng ở Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu sẽ rút ra một số gợi ý nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Trang 51.3 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tiến hành trả lời các câu hỏi sau:
Thứ nhất, các yếu tố nào sẽ tác động và mức độ tác động ra sao đến rủi ro tín
dụng ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua?
Thứ hai, làm thế nào để hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam?
1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này nhằm vào các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu nhận dạng các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu xác định mức độ tác động của các yếu tố đến rủi ro tín dụng
ngân hàng ở Việt Nam
Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu có được, tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm
hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên cơ sở thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy
Thống kê mô tả: Tập hợp dữ liệu và phân tích tổng quan về dữ liệu thu thập
được
Phân tích tương quan: Xác định mức độ tương quan giữa các biến
Phân tích hồi quy tuyến tính: Thực hiện hồi quy tuyến tính theo phương pháp
bình quân bé nhất (OLS) Sau đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp GMM để khắc
Trang 6phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng biến nội sinh để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả
1.5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là rủi ro tín dụng ngân hàng, mức độ tác động của các yếu tố đến rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các yếu tố phù hợp với thực tiễn và có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Rủi ro tín dụng ngân hàng được xét chủ yếu thông qua vấn đề nợ xấu và việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài là một nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Qua đó, nghiên cứu cho thấy hoạt động ngân hàng ở Việt Nam có những đặc thù khác biệt với các nền kinh
tế khác trên thế giới
Trang 72 Tổng hợp kết quả của một số bài nghiên cứu có liên quan
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả của một số bài nghiên cứu có liên quan
Các biến độc lập tác động có ý nghĩa STT Tác giả Dữ liệu nghiên
cứu
Biến phụ thuộc phản ánh rủi ro tín dụng ngân hàng
Tên biến
Chi
ều tác động
Rủi ro tín dụng ngân hàng với
Tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
Tỷ lệ tăng trưởng tín với
độ trễ 2 và 3 năm
(+)
Châu Âu
Rủi ro tín dụng ngân hàng năm trước
(+)
Thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản
(+)
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (-)
02 Laeven &
Majnoni
(2002)
Số ngân hàng nghiên cứu: 1.419;
Giai đoạn nghiên cứu: 1988-1999;
Quốc gia nghiên cứu: 45 quốc gia
(Châu Âu, Mỹ, Nhật, Châu Mỹ La Tinh, một số nước Châu Á)
Tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản
Mỹ
Trang 8Rủi ro tín dụng ngân hàng năm trước
(+)
Thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản
(+)
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (+)
Tỷ lệ tăng
Nhật
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (-)
Tỷ lệ tăng
Châu Mỹ La Tinh
Thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản
(+)
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (-)
Một số nước Châu Á
Tỷ lệ tăng
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 9Qua quá trình tham khảo một số bài nghiên cứu trước có liên quan, tác giả thấy rằng có một số yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng ngân hàng ở hầu hết các nghiên cứu trên, có thể phân loại chúng thành hai nhóm: nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngoài Cụ thể:
- Nhóm yếu tố bên trong gồm: rủi ro tín dụng ngân hàng với độ trễ một năm, tỷ lệ
tăng trưởng tín dụng (tại năm hiện hành và với độ trễ hai, ba năm), tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản
- Nhóm yếu tố bên ngoài gồm: tỷ lệ tăng trưởng GDP
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này chưa có sự thống nhất về cách xác định rủi
ro tín dụng ngân hàng
Biến tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản thể hiện dấu hiệu che giấu thu nhập của ngân hàng bằng việc chuyển lợi nhuận vào dự phòng Nhưng thực tế ở nước ta, công tác quản lý nợ xấu và phân loại nợ phải tuân thủ theo qui định chung của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên chúng ta có thể coi là không có hiện tượng tăng dự phòng rủi ro tín dụng để giảm lợi nhuận như một số bài nghiên cứu trước đã đề cập Vậy, biến tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản sẽ không được đưa vào bài nghiên cứu này
Do đó, tác giả chọn được các biến tác động đến rủi ro tín dụng ngân hàng cho bài nghiên cứu của mình là: rủi ro tín dụng ngân hàng với độ trễ 1 năm, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ tăng trưởng GDP
3 Các khái niệm và cách đo lường các biến
3.1 Rủi ro tín dụng ngân hàng (LLR i,t )
Rủi ro tín dụng ngân hàng là yếu tố khó xác định Hiện nay, chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về cách xác định rủi ro tín dụng ngân hàng Thật vậy, rủi ro tín dụng ngân hàng thể hiện tập trung nhất thông qua tỷ lệ nợ xấu chia
Trang 10cho tổng dư nợ cho vay (Sufian & Chong, 2008; Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012; Said & Tumin, 2011; Thiagarajan & ctg, 2011; Olweny & Shipho, 2011) Đối với cách làm này, đòi hỏi các ngân hàng thương mại được nghiên cứu phải công bố đầy đủ nợ xấu của mình, có như vậy bài nghiên cứu mới đạt được kết quả đáng tin cậy Ở một số nghiên cứu khác, Laeven & Majnoni (2002), Zribi & Boujelbène (2011) cho rằng: rủi ro tín dụng được thể hiện thông qua tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng tài sản của ngân hàng, vì các tác giả quan niệm rằng dư nợ cho vay chiếm chủ yếu trong tổng tài sản nên có thể lấy trực tiếp giá trị tổng tài sản để tính rủi ro Trong khi đó, Foos & ctg (2010), Hess & ctg (2009) (trích bởi Daniel Foos & ctg, 2010), San & Heng (2012) đã kết hợp hai cách tính trên, rủi ro tín dụng ngân hàng được đo lường bằng cách sử dụng tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm t chia cho tổng dư nợ cho vay năm t-1 Theo các tác giả, khách hàng vay thông thường không phát sinh rủi ro tín dụng ngay trong năm vay vốn nên việc trích lập dự phòng là trích lập cho các năm trước Vì vậy, nếu xác định rủi ro tín dụng bằng cách so sánh giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng với tổng dư nợ cho vay trong cùng một năm là không hợp lý Trong bài nghiên cứu này, rủi ro tín dụng ngân hàng được tính bằng cách sử dụng giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm t chia cho tổng dư nợ cho vay năm t-1 Đây
là cách làm khá phù hợp với dữ liệu được thu thập tại Viêt Nam vì tỷ lệ này đã xét đến vấn đề trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể nên phản ánh khá chính xác về rủi ro tín dụng, chứ không xét một cách chung chung giữa giá trị nợ xấu (nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5) so với tổng dư
nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 như trong tỷ lệ nợ xấu
Ngoài ra, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013) thì nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3 đến nhóm 5 Tuy nhiên, cũng trong văn bản này Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại quy định nợ từ nhóm 2 trở đi phải trích lập dự phòng Đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem nợ có vấn đề và phải trích lập dự phòng
Trang 11chọn cách tính rủi ro tín dụng ngân hàng của Foos & ctg (2010), Hess & ctg (2009) (trích bởi Foos & ctg, 2010), San & Heng (2012) cho đề tài này
Công thức tính như sau:
Giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
ngân hàng i năm t Rủi ro tín dụng
Tổng dư nợ ngân hàng i năm (t-1) Theo Ngân hàng Nhà nước (2013), dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hoạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi ngánh ngân hàng nước ngoài Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung
- Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ, cụ thể như sau:
Trang 12+ Khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam
3.2 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (LG i,t )
Khái niệm
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng giá trị khoản cho vay qua các năm Đây
là biến được rất nhiều bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ với rủi ro tín dụng như
của Foos & ctg (2010), Laeven & Majnoni (2002), Clair (1992), Thiagarajan & ctg
(2011)
Cách đo lường
Trong các bài nghiên cứu của Laeven & Majnoni (2002), Clair (1992),
Thiagarajan & ctg (2011), tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được tính bằng cách lấy tổng
dư nợ của năm sau trừ tổng dư nợ của năm trước, tất cả chia cho tổng dư nợ của năm trước Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu của Foos & ctg (2010), các tác giả lại cho rằng không phải tất cả các ngân hàng có tăng trưởng tín dụng đều tiềm ẩn rủi
ro tín dụng, chỉ các ngân hàng có mức tăng trưởng khác biệt so với mức tăng trưởng tín dụng trung bình của từng quốc gia mới có thể có rủi ro tín dụng Khi sử dụng cách tính này, Foos & ctg (2010) phải loại trừ khá nhiều ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng bằng mức tăng trưởng tín dụng trung bình của quốc gia đó ra khỏi quan sát Điều đó có nghĩa là bài nghiên cứu phải sử dụng rất nhiều số liệu từ các ngân hàng (với 16.000 ngân hàng) ở nhiều quốc gia (Mỹ, Canada, Nhật và 13 nước Châu Âu) để đảm bảo bài nghiên cứu có ý nghĩa Cách tính này không phù hợp khi áp dụng cho bài nghiên cứu với dữ liệu hạn chế về số lượng ngân hàng thương mại như ở Việt Nam Do vậy, bài nghiên cứu sử dụng cách tính như của Laeven & Majnoni (2002), Clair (1992), Thiagarajan & ctg (2011), với công thức tính tỷ lệ tăng trưởng tín dụng như sau: