1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)

131 221 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)Chất lượng công chức xã huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng (Lv thạc sĩ)

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI TIẾN VIẾT

CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ

HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

…/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI TIẾN VIẾT

CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN MINH SẢN

LÂM ĐỒNG - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được học tập và rèn luyện tại môi trường Học viện Hành chính Quốc gia đã cho tác giả những kiến thức bổ ích về chuyên ngành mà tác giả theo học Hai năm tại trường là một hành trang kiến thức cho tương lai sau này để trưởng thành hơn trong cuộc sống, làm việc trong hoạt động quản lý Nhà nước Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện, Quý Thầy Cô của Học viện trong hai năm qua đã quan tâm dạy

dỗ và truyền đạt cho tác giả những kiến thức quý báu

Trong thời gian tác giả thực hiện luận văn để hoàn thành hai năm học Cao học tại Học viện và sự nghiên cứu nghiêm túc về đề tài thực hiện Tác giả đã được sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Nguyễn Minh Sản cùng tập thể UBND huyện Đam Rông đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Vì vậy, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Minh Sản; tập thể cán bộ, công chức huyện Đam Rông đã dành những tình cảm ấm áp, kinh nghiệm làm việc và hướng dẫn tận tình tác giả thực hiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những Thầy Cô đã có nhiều góp ý chỉnh sửa cho luận văn của tác giả trong quá trình hoàn thiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Thầy Cô cùng gia đình, đồng nghiệp, tập thể lớp HC20.TN6 đã động viên, quan tâm tác giả hoàn thành luận văn Trân trọng cảm ơn./

Lâm Đồng, tháng 03 năm 2017

Học viên thực hiện

Bùi Tiến Viết

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn “Chất lượng công chức cấp xã

huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng” là công trình nghiên cứu khoa học

của riêng tác giả, chưa từng được công bố, các số liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính tin cậy, chính xác và trung thực, xuất phát từ thực tế điều tra kỹ năng của đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình./

Tác giả Luận văn

Bùi Tiến Viết

Trang 5

02 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

03 HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số

2.1 Bảng thống kê số lượng,chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông 61

2.2 Thống kê trình độ học vấn của công chức xã huyện Đam Rông 63

2.3 Thống kê trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức xã huyện Đam Rông 64

2.4 Thống kê trình độ Lý luận chính trị của công chức xã huyện Đam Rông 65

2.5 Thống kê trình độ quản lý Nhà nước của công chức xã huyện Đam Rông 67

Trang 7

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài luận văn 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 13

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 15

1.1 Công chức xã 15

1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã 15

1.1.2 Đặc điểm công chức cấp xã 17

1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã 20

1.1.4 Tiêu chuẩn của công chức cấp xã 21

1.1.5 Nhiệm vụ của các chức danh công chức cấp xã 23

1.2 Chất lượng công chức xã 31

1.2.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã 31

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã 34

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công chức cấp xã 49

1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức chính quyền cấp xã 51

1.4.1 Các yếu tố khách quan 51

1.4.2 Yếu tố chủ quan 57

Tiểu kết chương 1 59

Trang 8

2

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN ĐAM

RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 60

2.1 Khái quát về huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng 60

2.1.1 Lịch sử hình thành và điều kiện tự nhiên 60

2.1.2 Khái quát về kinh tế - xã hội 61

2.2 Phân tích thực trạng chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng hiện nay 62

2.2.1 Khái quát về công chức cấp xã huyện Đam Rông 62

2.2.2 Về phẩm chất của công chức cấp xã huyện Đam Rông 63

2.2.3 Về trình độ của công chức cấp xã huyện Đam Rông 65

2.3 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 78

2.3.1 Kết quả đạt được 78

2.3.2 Những hạn chế, yếu kém 80

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 82

Tiểu kết Chương 2 85

Chương 3 QUAN ĐIÊM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 86

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 86

3.1.1 Quan điểm chung về nâng cao chất lượng công chức cấp xã 86

3.1.2 Quan điểm, định hướng đối với tỉnh Lâm Đồng 89

3.1.3 Quan điểm, định hướng đối với huyện Đam Rông 91

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 94

Trang 9

3

3.2.1 Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu về phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức 95 3.2.2 Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng công chức cấp xã 99 3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 100 3.2.4 Bố trí, sử dụng công chức cấp xã hợp lý và thực hiện tốt công tác phân công công việc cho công chức cấp xã 105 3.2.5 Thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật công bằng, kịp thời, nghiêm minh

……….… 108

3.2.6 Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đánh giá năng thực thi công vụ của công chức cấp xã 109 3.2.7 Đổi mới chính sách tiền lương, chế độ phúc lợi cho công chức cấp xã112

Tiểu kết chương 3 114KẾT LUẬN 115DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 10

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Khi nói về vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn

việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [23, tr.269]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về “Chiến lược phát triển cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước” cũng khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” Thực tế

lịch sử cách mạng đã chứng minh đội ngũ cán bộ, công chức nước ta từng bước phát triển và trưởng thành trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn vượt qua thử thách và khó khăn để lãnh đạo cách mạng vững bước đi lên Như vậy, vai trò của cán bộ, công chức đặc biệt quan trọng trong xã hội, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của công cuộc xây dựng đất nước

Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu rộng, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải ngang tầm, có

đủ đức, đủ tài, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, được trang bị đầy đủ kiến thức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý Nhà nước, điều hành

xã hội có hiệu quả, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở (cán bộ

xã, phường, thị trấn)

Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam; có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng của bộ máy Nhà nước, là chỗ dựa, là công cụ sắc bén để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cơ sở cho chiến lược

Trang 11

5

ổn định và phát triển đất nước, là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư trên địa bàn Trong đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước Sở dĩ như vậy vì họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Sự nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ sở, mà sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc rất quan trọng ở chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là CBCC cấp xã

Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng được thành lập ngày 17/11/2004 theo Quyết định số 189/2004/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ

sở tách và nhập 5 xã vùng sâu, vùng xa của huyện Lâm Hà và 3 xã của huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) Khi mới thành lập, tình hình kinh tế - xã hội của huyện hết sức khó khăn: hạ tầng cơ sở thấp kém, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo cao (73,2%), trình độ dân trí thấp, điều kiện canh tác lạc hậu Do yêu cầu của nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo ổn định an ninh - quốc phòng, năm 2005 huyện Đam Rông được thành lập trong bối cảnh cán bộ chủ chốt được điều động từ huyện Lạc Dương, Lâm Hà đến và được “đôn” từ các xã, thôn lên Từ một địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn của 2 huyện Lạc Dương và Lâm Hà, nên khi được thành lập, bộ máy tổ chức của huyện mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu về trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ là một thực tế khách quan

Trang 12

Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại nhiều bất cập, đó là đứng trước yêu cầu nhiệm vụ mới đội ngũ CBCC cấp xã còn bộc lộ nhiều yếu kém về phẩm chất, năng lực còn thấp Do vậy, việc xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã và đưa ra một hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng có đủ phẩm chất, trình độ năng lực để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp bách Nhận thức được tầm quan trọng của

vấn đề trên, em lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ CC cấp

xã của huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng” làm luận văn tốt nghiệp

chương trình Thạc sĩ Quản lý công, niên khóa 2015 - 2017

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề “Chất lượng đội ngũ CBCC” đã có rất nhiều tác giả

trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể các công trình nghiên cứu có liên quan như sau:

Trang 13

7

- Cuốn sách “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ

CBCC” do TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (đồng chủ

biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu ra những cơ sở lý luận về xây dựng CBCC theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Phân tích sâu sắc về khái niệm của CBCC; nêu ra các văn bản pháp luật về CBCC; thể chế quản lý CBCC; phân tích tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; phân tích vị trí, vai trò của đội ngũ công chức trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và sự cần 3 thiết phải xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh; những khó khăn, thách thức đối với việc xây dựng đội ngũ CBCC Ngoài ra, trong cuốn sách này các tác giả còn nêu ra thực trạng đội ngũ CBCC và thể chế quản lý CBCC ở Việt Nam hiện nay qua các giai đoạn như: Giai đoạn từ năm 1945 - 1954; Giai đoạn từ năm 1954 - 1975; Giai đoạn từ năm 1975

- 1986; Giai đoạn từ năm 1986 - hiện nay Sau khi đánh giá chung những

ưu điểm chủ yếu, những hạn chế và nguyên nhân về thực trạng đội ngũ CBCC ở Việt Nam hiện nay các tác giả còn đưa ra những kinh nghiệm xây dựng CBCC của một số nước trên thế giới để vận dụng kinh nghiệm các nước vào việc xây dựng đội ngũ CBCC ở Việt Nam.[Tài liệu tham khảo số 26]

- Cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (đồng

chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Cuốn sách này đã luận chứng sâu sắc về vị trí, vai trò và yêu cầu khách quan cấp bách của việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Mỗi chế độ xã hội muốn đứng vững

Trang 14

8

và phát triển đều phải được xây dựng nên bởi những con người hết lòng trung thành với chế độ, có trí tuệ và năng lực Trong xã hội ngày nay, đó

là những CBCC, những người trực tiếp phục vụ chế độ của dân, do dân

và vì dân Họ là người đại diện cho nhà nước để xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách Họ là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam giờ đây đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, những thay đổi về KT-XH đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Một mặt, phải huy động mọi tiềm năng để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao; mặt khác, lại phải luôn tỉnh táo, cảnh giác để hướng sự phát triển này không đi chệch mục tiêu xã

hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Muốn xây dựng chủ

nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” Cán bộ,

công nhân viên chức là những người gánh trên vai trọng trách nặng nề

của đất nước, vì vậy họ phải thực sự là những “con người xã hội chủ

nghĩa” Ngay từ khi Đảng ta ra đời, vấn đề CBCC đã được coi là mối

quan tâm hàng đầu và ngày càng được chú trọng Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về vấn đề công chức, cán bộ nhằm củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng của đội ngũ này Tuy nhiên, muốn đưa ra được những chủ trương, chính sách đúng đắn và thực hiện một cách có hiệu quả, thì cùng với việc tăng cường công tác tổng kết thực tiễn cần nắm thật vững lý luận, đi sâu vào bản chất của khái niệm, thấy được những nét đặc thù và vai trò của CBCC Việt Nam qua từng giai đoạn cách mạng, đồng thời nhận rõ những thuận lợi cũng như khó khăn mà giai đoạn phát triển mới đang đặt ra, cũng như yêu cầu cấp bách về việc nâng cao chất lượng đối với đội ngũ CBCC hiện nay… Cuốn sách này đã góp phần lý giải, hệ thống hóa các

Trang 15

9

căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu hiện nay [Tài liệu tham khảo số 27]

- Luận án Tiến sĩ, đề tài “Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công

chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam” của Nghiên cứu

sinh Chu Xuân Khánh, năm 2010, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung luận án tác giả chủ yếu đề cập đến những quan niệm về công chức Nhà nước một số quốc gia khác nhau, làm cơ sở cho việc phân tích, so sánh với thực tiễn ở Việt Nam, từ đó góp phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về đội ngũ công chức hành chính Nhà nước và tính chuyên nghiệp của đội ngũ này Luận án đưa ra quan niệm

về tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước, những biểu hiện của tính chuyên nghiệp và hệ thống chuẩn mực của đội ngũ công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp Tác giả đã hệ thống lại quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công chức ở Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng; phân tích đánh giá thực trạng về xây dựng

và phát triển đội ngũ công chức hành chính Nhà nước ở Việt Nam trên cơ

sở đó rút ra các nguyên nhân cản trở việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà nước Đồng thời, tác giả đã nêu một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam, phục vụ cho công cuộc cải cách hành chính Nhà nước [Tài liệu tham khảo số 28]

- Nguyễn Minh Sản, “Pháp luật về cán bộ, công chức chính

quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009 Trong sách chuyên khảo này,

Trang 16

10

tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về công chức, chính quyền cấp xã thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về cán

bộ, công chức chính quyền cấp xã của một số nước trên thế giới Trên cơ

sở đó, đánh giá thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và đề xuất quan điểm phương hướng hoàn thiện pháp luật về cán

bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam.[Tài liệu tham khảo số 29]

- Bài báo “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

(DTTS) ở Lâm Đồng” Trong nội dung bài báo tác giả đưa ra tổng quan

về tình hình đồng bào dân tộc thiểu số, chất lượng cán bộ người DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, quan điểm của các cấp chính quyền tỉnh Lâm Đồng về chính sách đối với cán bộ người DTTS Mặc dù, chất lượng của cán bộ người DTTS còn nhiều hạn chế về số lượng và chất lượng nhưng tác giả chưa đưa ra một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng cán bộ người DTTS tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới khá sát với tình hình thực tế của tỉnh [Tài liệu tham khảo số 30]

- Bài báo “Đam Rông đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống

chính trị” Với nội dung chính là từ một huyện nghèo của tỉnh Lâm Đồng,

ngay từ khi thành lập đã có nhiều khó khăn về tổ chức bộ máy về nhân lực Nhận thức được tầm quan trọng của chính quyền cơ sở, huyện Đam Rông đã kiện toàn, cũng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bằng nhiều biện pháp sát với thực tiễn của huyện Sau 10 năm thực hiện, bên cạnh, nhiều chuyển biến tích cực về trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm của CBCC, chính quyền cơ sở vẫn bộc lộ một số mặt hạn chế, tồn tại cần khắc phục

Trang 17

11

Tuy nhiên bài viết không đưa ra những biện pháp cụ thể là gì [Tài liệu tham khảo số 31]

Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học,

đề tài nghiên cứu, luận văn, sách chuyên khảo đều đã tiếp cận ở nhiều nội dung cụ thể khác nhau để giải quyết tốt mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

đề ra Trong chừng mực nhất định, các nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về chất lượng công chức cấp xã ở Việt Nam trong tình hình mới

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một

cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống về “Chất lượng công chức cấp

xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng” Luận văn là công trình khoa học

đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống về vấn đề này dưới góc độ của khoa học quản lý công Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khắc phục trình trạng nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng của công chức cấp xã của huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng trong những năm tiếp theo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới

Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn có 3 nhiệm vụ chủ yếu:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã;

Phân tích thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, qua đó xác định ưu điểm, những vấn đề còn tồn tại của hoạt động này

Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Trang 18

12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng: chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về nội dung, nghiên cứu chất lượng của 7 chức danh công chức sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Gồm chất lượng công chức cấp xã của 8 xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về cán bộ

và chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức nói chung; chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng và kế thừa, vận dụng

có chọn lọc những kết quả của các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này

- Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thu thập tài liệu: Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng trong phần lớn các nghiên cứu Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các tài liệu đã được xuất bản, tài liệu của cơ quan lưu trữ, tài liệu trên Internet

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Nhìn chung, các tài liệu về nâng cao chất lượng CBCC đều viết một cách khái quát, có nhiều nguồn số liệu khác nhau…Do đó, cần phải có sự chọn lọc tư liệu để tổng

Trang 19

13

hợp thành các dữ liệu mang tính khái quát hóa Đồng thời, khi sử dụng phương pháp so sánh, bản chất của sự việc sẽ được làm rõ và người nghiên cứu có cơ sở để phân tích thực trạng, nhận xét và đánh giá, định hướng xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

+ Về lý luận:

- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đặc biệt nêu bật những cơ sở khách quan để xây dựng đội ngũ công chức cấp xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Đánh giá đúng mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó làm tiền đề để xây dựng và nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ công chức cấp xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

- Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay

+ Về thực tiễn:

- Những kết luận và những giải pháp rút ra từ Đề tài có thể giúp cấp ủy Đảng, chính quyền của huyện trong công tác xây dựng, hoạch định chính sách và quy hoạch đào tạo cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

và giảng dạy ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện hoặc tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến nội dung này

Trang 20

14

- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan sau này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Trang 21

15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Công chức xã

1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã

Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính Nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cấp đến đội ngũ công chức Mặc dù hiện nay quan điểm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau Có nhiều nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những thành viên trong bộ máy hành chính Nhà nước, tất cả những người tham gia làm các dịch vụ công; hay hẹp hơn như tại Anh: công chức là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công việc công, nhất là tại Trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều

Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính Nhà nước, có thể đi qua nhiều giai đoạn khác nhau:

Theo Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hòa thì: “Công chức là những công dân Việt Nam

được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Như vậy,

phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa

án, Viện kiểm sát…

Trang 22

16

Sau một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80 của

thế kỷ 20), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung

chung không phân biệt công chức và viên chức

Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thuật ngữ và khái niệm này được quy định tại Nghị

định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 như sau: “Công dân Việt Nam được

tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi

là công chức” Tuy nhiên, tại Điều 2 Nghị định này quy định những đối

tượng là công chức và không phải là công chức thì lại có một số đối tượng như: công an, những người làm công tác nghiên cứu khoa học, nhà báo, nghệ sỹ, giáo viên… chưa được xếp vào loại nào

Tháng 2 năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Điều 1 của Pháp lệnh quy định:

“Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Quy định này

khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán

bộ với công chức

Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật cán bộ, công chức ngày

13/11/2008 Khoản 2, Điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công

dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh

Trang 23

17

trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, xã; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay công chức cấp xã đã được xác định rõ ràng về địa vị pháp lý là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Là những chức danh chuyên môn được tuyển dụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã Theo quy định tại Khoản

3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 “… Công chức cấp xã là

công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương

từ ngân sách nhà nước” Công chức cấp xã làm công tác chuyên môn

thuộc biên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao

1.1.2 Đặc điểm công chức cấp xã

Từ quan niệm về công chức cấp xã trên đây, có thể nhận thấy công chức cấp xã cũng có những đặc điểm pháp luật chung là: Phải là

Trang 24

18

công dân Việt Nam; Được hình thành do tuyển dụng, việc tuyển dụng có thể thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển; Được giao giữ một chức danh, chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Được xác định biên chế thuộc UBND cấp xã

Công chức cấp xã phải có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể được quy định tại Nghị định số 112/2001/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức cấp xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về chức danh, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xã phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ trung cấp trở lên Đối với các xã thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thì UBND tỉnh quyết định giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã

Được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Như vậy, công chức cấp xã đã được xác định bình đẳng như công chức các cơ quan ở các cấp trên, được hưởng lương theo ngạch, bậc thống nhất

Việc thực thi trách nhiệm, nhiệm vụ của công chức được xác định là hoạt động công vụ

Ngoài những đặc điểm pháp luật như trên, công chức cấp xã có một số đặc điểm riêng: Đa số công chức cấp xã hoạt động nghề nghiệp không tách rời hoạt động sản xuất kinh tế nông nghiệp nông thôn Do tính chất của kinh tế nông thôn, nên hoạt động nghề nghiệp của công chức cấp

xã không hoàn toàn mang tính “công chức chuyên nghiệp” mà nó còn mang tính nông nghiệp, nông thôn Một số mặt hoạt động bị chi phối khá

Trang 25

19

lớn bởi tính chất nông nghiệp, nông thôn như: bị ảnh hưởng bởi văn hóa nông thôn, nông dân, tính mùa vụ, cả nể, tùy tiện,…

Cơ cấu tổ chức cấp xã: theo quy định của Luật cán bộ, công chức

2008 và các văn bản quy định có liên quan thì công chức cấp xã bao gồm

7 chức danh chuyên môn sau: Công chức Văn phòng - thống kê; Công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; Công chức Tài chính - kế toán; Công chức Tư pháp - hộ tịch; Công chức Văn hóa - xã hội; Chỉ huy trưởng Quân sự; Trưởng Công an xã

Hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã rất đa dạng và phức tạp Môi trường hoạt động tiếp xúc với các đối tượng rất rộng, từ những việc đơn giản nhất như cấp giấy khai sinh, khai tử, cho đến những việc quan trọng như việc thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, việc thực hiện các chính sách nhà nước cho mục tiêu phát triển các loại hình kinh tế ở địa phương cũng đều cần đến vai trò của công chức chuyên môn

Từ những phân tích trên, có thể nhận diện về những đặc điểm riêng của công chức cấp xã, một bộ phận của công chức nước ta, có một

số đặc điểm:

Thứ nhất, công chức cấp xã là chủ thể thực thi công vụ Việc thực thi công vụ phải theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND

xã và tuân theo pháp luật

Thứ hai, công chức cấp xã là người gần dân nhất Họ là những người trực tiếp làm với dân, góp phần đưa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời, họ là những người tham mưu cho cơ quan chức năng để các

cơ quan này ban hành các chính sách phù hợp với thực tế

Trang 26

20

Thứ ba, hoạt động quản lý của công chức cấp xã là hoạt động đa dạng và phức tạp nên đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có phẩm chất, trình độ, kỹ năng và thái độ hành vi đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm

vụ

1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã

Công chức cấp xã là những người trực tiếp thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước ở xã trên 2 phương diện:

Thứ nhất, là người tham mưu, giúp việc cho cán bộ chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cơ sở Công chức cấp

xã là lực lượng “nòng cốt” trong quản lý và tổ chức công việc ở xã Thông qua việc trực tiếp tiếp xúc làm việc với nhân dân, công chức cấp

xã là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trên quan hệ hành chính, giải quyết công việc Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Vì vậy, cũng như vị trí của cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Hoạt động công vụ của công chức cấp xã góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã

Thứ hai, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Họ

là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm

Trang 27

1.1.4 Tiêu chuẩn của công chức cấp xã

Kết quả hoạt động của công chức phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ công chức Chất lượng đội ngũ công chức được hình thành dựa trên cơ sở tiêu chuẩn công chức và chịu ảnh hưởng của các nội dung quy định trong tiêu chuẩn công chức Trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan quản lý công chức đều căn cứ vào tiêu chuẩn công chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý công chức

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có những quy định mới về phương thức quản lý công vụ, công chức Một số nguyên tắc quản lý cán

bộ, công chức mang tính cải cách đã được thể hiện tại Điều 5 của Luật,

đó là: “kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên

chế”, “việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thực thi công vụ” Bên cạnh đó,

Luật cũng quy định việc “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút,

bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”

(Điều 6) Các quy định này của Luật cán bộ, công chức đã khẳng định: việc quản lý công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn, đặc biệt chú trọng đến năng lực, tài năng Nội dung này phải thực hiện song song với xác định vị trí việc làm gắn với chỉ tiêu biên chế Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn công chức

Hơn nữa, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Nhà nước trong bối cảnh hiện nay đặt ra sự cần thiết phải sớm hoàn thiện hệ

Trang 28

22

thống tiêu chuẩn công chức cấp xã, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ của chính quyền cấp xã trong thời kỳ thực hiện CNH-HĐH đất nước

Tiêu chuẩn công chức bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn

cụ thể Tiêu chuẩn chung là điều kiện cần, mang tính chất “cứng” mà bất

cứ công dân nào muốn tham gia công vụ đều phải hội đủ Tại Điều 6, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, quy định về tiêu chuẩn chung của công chức cấp xã như sau: Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực và tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân; không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý thức kỷ luật trong công tác; trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có trình độ hiểu biết về Lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn,

đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ được giao

Bên cạnh các tiêu chuẩn chính nói trên, căn cứ vào từng ngành, từng lĩnh vực của hoạt động công vụ, người dự tuyển vào công chức phải đạt được tiêu chuẩn cụ thể tương ứng với mỗi chức danh công tác Tiêu chuẩn cụ thể là điều kiện đủ, gắn với từng vị trí việc làm cụ thể Nó thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của ngành, lĩnh vực và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể

Tại Mục 2, Chương II, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về tiêu chuẩn,

Trang 29

23

nhiệm vụ cụ thể đối với công chức cấp xã Theo đó, các chức danh công chức cấp xã ở khu vực đồng bằng và đô thị có những tiêu chuẩn cụ thể giống nhau, đó là:

Về độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu;

Về học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

Về Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng Lý luận chính trị tương đương sơ cấp trở lên Riêng đối với hai chức danh công chức: Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Quân sự, do yêu cầu của nhiệm vụ nên sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên;

Về chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp ngành chuyên môn trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn (đối với Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Quân sự xã phải biết sử dụng thành thạo các trang, thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn)

1.1.5 Nhiệm vụ của các chức danh công chức cấp xã

Phối hợp với các cơ quan, đoàn thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan tới an ninh trật tự cho nhân dân, hướng dẫn tổ chức quần chúng làm công tác an ninh, trật tự trên địa bàn quản lý

Trang 30

24

Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của Công an cấp trên

Tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ trật tự công cộng và an toàn giao thông, quản lý vũ khí, chất nổ dễ cháy, quản lý

hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền

Xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định; tổ chức việc quản lý, giáo dục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Chỉ đạo việc bảo vệ môi trường, bắt người phạm tội quả tang, tổ chức bắt người có lệnh truy nã, người có lệnh truy tìm hành chính theo quy định của pháp luật; tiếp nhận và dẫn giải người bị bắt lên công an cấp trên; cấp cứu người bị nạn

Tuần tra, bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở địa bàn theo hướng dẫn của Công an cấp trên

Xây dựng nội bộ lực lượng công an xã trong sạch, vững mạnh và thực hiện một số nội dung nhiệm vụ khác do cấp ủy Đảng, UBND xã, Công an cấp trên giao

1.1.5.2 Chỉ huy trưởng Quân sự

Chỉ huy Trưởng Quân sự có nhiệm vụ tham mưu đề xuất với cấp

ủy Đảng, chính quyền cấp xã về chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo

và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên

Xây dựng kế hoạch lực lượng, giáo dục chính trị và pháp luật, huấn luyện quân sự, hoạt động chiến đấu, trị an của lực lượng dân quân; xây dựng kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; huy động lực

Trang 31

Chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục

vụ chiến đấu và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn

Phối hợp với các đoàn thể trên địa bàn giáo dục toàn dân ý thức quốc phòng quân sự và các văn bản pháp luật liên quan tới quốc phòng, quân sự

Có kế hoạch phối hợp với tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội thực hiện nền quốc phòng gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân

Thực hiện chính sách hậu phương quân đội; các tiêu chuẩn, chế

độ, chính sách cho dân quân, tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định

Tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp; thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã, phường, thị trấn

1.1.5.3 Công chức Văn phòng - Thống kê

Công chức Văn phòng - Thống kê có nhiệm vụ giúp UBND cấp

xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo dõi thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; tổng hợp báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân trong việc chỉ đạo thực hiện

Trang 32

và Ủy ban nhân dân hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết

Đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của HĐND, cho công việc của UBND

Giúp UBND về công tác thi đua, khen thưởng ở xã, phường, thị trấn

Giúp HĐND và UBND thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu HĐND và UBND theo quy định của pháp luật và công tác được giao

Nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ chức và công dân theo cơ chế “một cửa”

1.1.5.4 Công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã)

Công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) có nhiệm vụ lập sổ địa chính đối với chủ sử dụng đất hợp pháp, lập sổ mục kê toàn bộ đất của xã, phường, thị trấn

Giúp UBND cấp xã hướng dẫn thủ tục, thẩm tra để xác nhận việc

tổ chức, hộ gia đình đăng ký đất ban đầu, thực hiện các quyền công dân liên quan tới đất trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp

Trang 33

Thu thập tài liệu số liệu về số lượng đất đai; tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê đất đai theo thời gian và mẫu quy định

Bảo quản hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ địa giới địa chính, bản đồ chuyên ngành, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sổ theo dõi biến động đất đai, sổ thống kê, kiểm kê, quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, các mốc địa giới

Tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương

Tuyên truyền, giải thích, hòa giải tranh chấp về đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai, để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết thường xuyên kiểm tra nhằm phát hiện các trường hợp

vi phạm đất đai để kiến nghị UBND cấp xã xử lý

Phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng

Tham gia tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật đất đai

Trang 34

28

1.1.5.5 Công chức Tài chính - Kế toán

Công chức Tài chính - Kế toán có nhiệm vụ xây dựng dự toán thu chi ngân sách trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, giúp UBND trong việc tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã

Thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại xã, phường, thị trấn theo quy định

Tham mưu cho UBND trong khai thác nguồn thu, thực hiện các hoạt động tài chính, ngân sách đúng quy định của pháp luật

Kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách theo đúng quy định,

tổ chức thực hiện hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên

Thực hiên chi tiền theo lệnh chuẩn chi; thực hiện theo quy định

về quản lý quỹ tiền mặt và giao dịch với Kho bạc Nhà nước về xuất nhập quỹ

Báo cáo tài chính, ngân sách đúng quy định

1.1.5.6 Công chức Tư pháp - Hộ tịch

Công chức Tư pháp - Hộ tịch có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã soạn thảo, ban hành các văn bản quản lý theo quy định của pháp luật; giúp UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự án luật, pháp lệnh theo kế hoạch của UBND cấp xã và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn cấp trên; giúp UBND cấp xã phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân xã, phường, thị trấn

Giúp UBND cấp xã chỉ đạo cộng đồng dân cư tự quản xây dựng hương ước, quy ước, kiểm tra việc thực hiện hương ước, quy ước; thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật; phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hòa giải

Trang 35

Giúp UBND cấp xã trong việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Giúp UBND cấp xã thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất, bất động sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật

Chấp hành quy chế làm việc của cơ quan, các chế độ quản lý hồ

sơ, tài liệu, chế độ báo cáo công tác theo quy định

Thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật

1.1.5.7 Công chức Văn hóa - Xã hội

Công chức Văn hóa - Xã hội có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã trong việc thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế, chính trị ở địa phương

và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch; báo cáo thông tin về dư luận quần chúng về tình hình môi trường văn hóa ở địa phương lên Chủ tịch UBND cấp xã

Trang 36

30

Giúp UBND trong việc tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hóa, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương

Giúp UBND trong việc tổ chức vận động để xã hội hóa các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí ở địa phương

Hướng dẫn, kiểm tra đối với các tổ chức và công dân chấp hành pháp luật trong hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội trình Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt

Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động - thương binh và xã hội

Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình UBND xã giải quyết theo thẩm quyền

Theo dõi và đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động, thương binh và xã hội

Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách, quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt

Trang 37

31

sĩ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội tại cộng đồng

Theo dõi thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo

Giúp UBND cấp xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn

Việc quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng Đó là cơ sở đầu tiên đảm bảo lựa chọn những người

đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ, tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã

Tuy nhiên, xem xét một cách tổng thể, hệ thống tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã hiện nay bước đầu đã bộc lộ những điểm còn chưa phù hợp Trên thực tế, có nhiều sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, do đó yêu cầu về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã giữa các khu vực cũng cần có sự khác nhau

Đối với công chức làm việc ở phường, thị trấn (đô thị), tính phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội, như đông dân cư, thành phần dân cư đa dạng tình hình an ninh, trật tự diễn biến phức tạp hơn ở vùng nông thôn; từ đó đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của họ phải cao hơn so với người làm việc ở địa bàn nông thôn (xã) Vì vậy, bên cạnh tiêu chuẩn chung cần phải quy định những tiêu chuẩn cụ thể cho từng đối tượng công chức cấp xã ở đô thị (phường, thị trấn) và nông thôn (xã)

1.2 Chất lượng công chức xã

1.2.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã

Chất lượng là một phạm trù phức tạp, có nhiều định nghĩa khác nhau Thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng

Trang 38

ISO-9000 định nghĩa “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực

thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu

đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”

Một quan niệm khác, gắn với đối tượng là con người, “chất

lượng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của

một con người, một sự vật, sự việc”

Nói đến chất lượng là ta nói đến phẩm chất, giá trị của con người hay của một sự vật nào đó, là những cái có ích, là tính chất tốt đẹp của con người hay vật dụng, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định Khi nói đến chất lượng là chúng ta thường nghĩ ngay đến những cái tốt đẹp, để ta phân biệt với cái chất lượng xấu hoặc kém chất lượng Như vậy, chất lượng là cái tạo nên bản chất sự vật, là thuộc tính căn bản, ổn định, vốn có bên trong của mỗi con người hay sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật này khác với sự vật kia

Chất lượng của cá nhân được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ,chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức, ý chí, năng lực, Nhưng để xác định chất lượng của một cá nhân ngoài phẩm chất,

Trang 39

33

giá trị của chính bản thân con người đó thì một yếu tố nữa đó là sự đánh giá của xã hội Hay nói cách khác, phẩm chất, giá trị đó có đáp ứng nhu cầu của xã hội hay không Và rõ ràng trong từng giai đoạn phát triển của

xã hội thi nhu cầu cũng có sự biến động khác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu về nội hàm khái niệm chất lượng của công chức cấp xã ta phải xét dưới hai đặc tính:

Một là, là phẩm chất, giá trị của công chức cấp xã bao gồm kiến thức, năng lực, các kỹ năng, phẩm chất đạo đức Đó là tổng hợp các yếu

tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm để nâng cao khả năng làm việc

Hai là, trên cơ sở phẩm chất là khả năng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Ở khía cạnh này là sự đánh giá của xã hội nói chung và nhân dân địa phương nơi công chức công tác

Bên cạnh đó, để có đánh giá một cách toàn diện, khi nghiên cứu chất lượng công chức cấp xã cần phải xác định trong mối tương quan giữa số lượng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao Chất lượng đội ngũ công chức trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có một số lượng, cơ cấu hợp lý so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Tính hợp lý được biểu hiện ở sự tinh giảm ở mức tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong

đó mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và đạt hiệu quả cao nhất Một đội ngũ quá đông sẽ gây ra sự trì trệ trong công việc, trong điều hành, gây ra sự dư thừa, lãng phí nhân lực và

do đó thiếu sự thúc đẩy tích cực của mỗi cá nhân

Tính hợp lý về số lượng biểu hiện ở sự cân đối và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu của công việc, nhiệm vụ đặt ra Còn được thể hiện ở một cơ cấu hợp lý,

Trang 40

34

đó là sự cân đối giữa các thành phần giai cấp, dân tộc, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi, thế hệ,… Sự hợp lý trong cơ cấu công chức sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả đội ngũ, sẽ tạo nên tính năng động, sự phối hợp nhịp nhàng và hài hòa trong hoạt động

Từ việc phân tích những quan niệm khác nhau trên đây có thể rút ra quan niệm như sau: Chất lượng công chức cấp xã là tổng hợp các tiêu chí về phẩm chất, kiến thức, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm

vụ được giao của công chức cấp xã

Như vậy, nói tới chất lượng công chức cấp xã là nói tới phẩm chất chính trị, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất đạo đức; trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ Lý luận chính trị, trình độ quản lý hành chính Nhà nước, trình độ tin học và ngoại ngữ và năng lực của người công chức nó quy định mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của người công chức xã trong quá trình thực thi công vụ của mình

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã

Ngày đăng: 19/12/2017, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tài liệu học tập các Nghị quyết hội nghị Trung ương 5, khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết hội nghị Trung ương 5
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
27. Cuốn sách “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ CBCC” do TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ CBCC”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
28. Cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
29. Nguyễn Minh Sản, “Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb.Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
30. Bài báo “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) ở Lâm Đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) ở Lâm Đồng
31. Bài báo “Đam Rông đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đam Rông đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đam Rông khóa II (2011), Nghị quyết số 03-NQ/TU về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã giai đoạn 2011-2015 Khác
3. Bộ Nội vụ (2007), Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương Khác
4. Bộ Nội vụ (2005), Thông tư số 04/2005/TT-BNV về hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung đối với cán bộ, công chức, viên chức Khác
5. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
7. Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2005), Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương Khác
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn Khác
10. Chính phủ (2004), Nghị định số 114/2004/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
11. Chính phủ (2004), Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Khác
12. Chính phủ (2003), Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Khác
13. Chính phủ (2006), Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội Khác
14. Chính phủ (2009), Nghị định số 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế Khác
15. Chính phủ (2009), Nghị định số 76/2009/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Khác
16. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
17. Chính phủ (2010), Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w