1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chuong 12 Xet lai ban an va quyet dinh chua co hieu luc pl theo thu tuc phuc tham

28 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm có thể có trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự, bảo đảm thực hiện mục đích của tố tụng đã đặt ra là xét xử đúng ngời, đúng tội, đúng pháp lu

Trang 1

chơng XII

xét lại bản án và quyết định cha có hiệu lực

pháp luật theo thủ tục phúc thẩm

I Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của xét xử phúc thẩm

Bộ luật hình sự nớc ta quy định rõ ràng, chặt chẽ trình tự, thủ tục tố tụnghình sự là nhằm phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thờihành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội Toà án khixét xử sơ thẩm một vụ án hình sự phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác

định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ nhữngchứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng

và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và trên cơ sở đó rabản án hoặc quyết định hợp pháp và có căn cứ

Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, ởgiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn có những sai lầm trong việc địnhtội danh, quyết định hình phạt, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự hoặcsai lầm khi đánh giá các chứng cứ và các tình tiết khác nhau về vụ án

Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm có thể có trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự, bảo đảm thực hiện mục đích của tố tụng đã đặt ra là xét

xử đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt ngời phạm tội, không làmoan ngời vô tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật Tốtụng hình sự nớc ta quy định trình tự xét xử phúc thẩm nhằm xét lại bản án vàquyết định của cấp sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, khángnghị

Xét lại bản án và quyết định cha có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúcthẩm là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hình sự Giai đoạn này vừa thể hiệnnội dung dân chủ, nhân đạo của pháp luật nớc ta, vừa là điều kiện để cơ quan xét

xử cấp trên sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, sai lầm của cơ quan xét xử cấpdới

Một bản án hoặc quyết định sơ thẩm chỉ đợc xem xét lại theo thủ tục phúcthẩm khi hội đủ hai điều kiện sau: 1, Bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lựcpháp luật; 2, có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp của những ngời đợc quyềnkháng cáo, kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định ấy

Nh vậy, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là hoạt động do pháp luật quy

định của Toà án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án hoặc quyết định cha có hiệu lực pháp luật của cấp sơ thẩm đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Trang 2

Xét xử phúc thẩm thực hiện các nhiệm vụ quan trọng sau đây:

- Bảo đảm tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết địnhcủa Toà án đã bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị lẫn những bản án không bịkháng cáo hoặc không bị kháng nghị Bởi vì khả năng có thể kháng cáo, khángnghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án sơ thẩm, việc xét lại bản án vàquyết định cha có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm có tác động phòngngừa rất lớn, buộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải tuân thủ nghiêmchỉnh pháp luật Xét xử phúc thẩm làm sáng tỏ các vi phạm pháp luật trớc khibản án và quyết định có hiệu lực pháp luật một cách có hiệu quả hơn so với việcxét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốcthẩm hoặc tái thẩm;

- Bảo đảm để không cho phép đa ra thi hành các bản án và quyết địnhkhông đúng pháp luật và không có căn cứ;

- Thực hiện việc giám sát của Toà án cấp trên đối với hoạt động xét xử củaToà án cấp dới Khi xét lại bản án và quyết định cha có hiệu lực pháp luật theothủ tục phúc thẩm, các Toà án cấp trên làm sáng tỏ các sai lầm, các vi phạmpháp luật, các nguyên nhân của các sai lầm, các vi phạm đó của Toà án cấp dới

đối với vụ án cụ thể, đa ra các kiến nghị, biện pháp khắc phục chúng, khẳng địnhcác kháng cáo, kháng nghị có căn cứ pháp luật và bằng cách đó bảo đảm chopháp luật đợc áp dụng thống nhất và tuân thủ nghiêm chỉnh trong hoạt động điềutra, truy tố và xét xử;

- Bảo đảm sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân- bị cáo,ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bởi vì những ngời đó có quyềnkháng cáo về bất kỳ vấn đề gì trong vụ án mà Toà án cấp dới giải quyết làm ảnhhởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ và Toà án cấp phúc thẩm phải cótrách nhiệm xem xét các khiếu nại đó, làm sáng tỏ các vi phạm các quyền và lợiích của những ngời đó, đa ra các biện pháp khắc phục các vi phạm đó và phòngngừa các vi phạm trong tơng lai Xét xử phúc thẩm là một bảo đảm pháp lý tốtụng hình sự quan trọng cho việc thực hiện các quyền và lợi ích của cá nhân;

- Với t cách là hình thức tố tụng của sự giám sát về tính pháp chế tronghoạt động của các Toà án, của các Cơ quan điều tra, xét xử phúc thẩm bảo dảmtính pháp chế trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung;

- Xét xử phúc thẩm có nhiệm vụ củng cố trật tự pháp luật trong Nhà nớcpháp quyền xã hội chủ nghĩa

ý nghĩa của xét xử phúc thẩm đợc thể hiện thông qua việc thực hiện cácnhiệm vụ nói trên

Trang 3

II Kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

1 Chủ thể có quyền kháng cáo

Trong vụ án hình sự có sự tham gia của rất nhiều loại ngời khác nhau Một

số ngời tham gia giúp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án một cáchchính xác, khách quan, còn một số ngời khác lại tham gia tố tụng hình sự vì cóquyền lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan tới vụ án Để tránh những thiệt hại có thể

có cho những ngời tham gia tố tụng khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết

định, Bộ luật Tố tụng hình sự nớc ta quy định bị cáo, ngời bị hại, ngời bào chữa,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ

án và những ngời đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo

Trong giai đoạn xét xử, bị cáo là ngời bị buộc tội Tất cả các hành vi tốtụng tại phiên toà sơ thẩm đều xoay quanh một trục là chứng minh sự có tội haykhông có tội, tội nhẹ hay tội nặng để từ đó lựa chọn cách giải quyết về tráchnhiệm hình sự cũng nh trách nhiệm dân sự của họ Chính vì vậy, bản án, quyết

định của Toà án cấp sơ thẩm trớc hết ảnh hởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của

bị cáo Bị cáo có quyền kháng cáo đối với toàn bộ nội dung bản án của cấp sơthẩm hoặc một phần trong bản án đó Ví dụ: kháng cáo về tội danh, về loại vàmức hình phạt, về mức bồi thờng dân sự v.v…

Bị cáo có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo hoặc cũng có thể uỷquyền cho ngời bào chữa, ngời đại diện hợp pháp của mình thực hiện quyền đó

Đối với các bị cáo là ngời cha thành niên hoặc ngời có nhợc điểm về thể chất vàtâm thần, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo, pháp luật tố tụng hình sự quy địnhngời bào chữa của họ đợc quyền chủ động kháng cáo mà không cần có sự uỷquyền của bị cáo

Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự không nói về quyền kháng cáo của đạidiện hợp pháp của bị cáo cha thành niên nhng theo qui định của Điều 305BLTTHS thì đại diện hợp pháp của bị cáo cha thành niên cũng có quyền khángcáo để bảo vệ lợi ích cho bị cáo

Nếu trong tố tụng hình sự có sự tham gia của luật s với t cách là ngời bảo

vệ quyền lợi của ngời bị hại, khi có sự uỷ quyền của ngời bị hại thì luật s với tcách là ngời đại diện cho ngời bị hại cũng có quyền kháng cáo Kháng cáo củangời bị hại, của ngời đại diện hợp pháp của họ, của luật s đợc uỷ quyền có thểliên quan tới toàn bộ bản án (tính từ khi toà sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội)hoặc liên quan tới một phần bản án của toà sơ thẩm (ví dụ kháng cáo với mục

đích tăng hoặc giảm hình phạt cho bị cáo, tăng hoặc giảm mức bồi thờng thiệthại hoặc những nội dung khác)

Trang 4

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và ngời đại diện hợp pháp của họ cóquyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan tới việc bồi thờngthiệt hại Khác với các chủ thể trên, thì nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và ngời

đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo ở phạm vi hẹp hơn, tức là chỉ cóquyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến phầnbồi thờng thiệt hại

Ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngời đại diện hợp phápcủa họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyềnlợi, nghĩa vụ của họ

Ngời đợc Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơthẩm đã tuyên là họ vô tội Đây là một quy định mang tính u việt của pháp luật

tố tụng hình sự nớc ta Điều quy định trên chỉ rõ rằng không chỉ Toà án tuyên là

họ vô tội là mọi việc đã xong, vì trong thực tế có nhiều trờng hợp Toà án tuyênmột ngời vô tội, nh trong phần nhận định có những lý do không phù hợp thực tế

và ở những mức độ nhất định ảnh hởng đến danh dự, nhân phẩm của họ, do vậypháp luật quy định họ có quyền kháng cáo đối với những lý do đó

2 Chủ thể có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự nớc ta quy định: Viện kiểm sát cùng cấp

và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị đối với bản án hoặcquyết định sơ thẩm Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năngthực hành quyền công tố tại phiên toà và chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật trong hoạt động tố tụng hình sự Sau khi xét xử sơ thẩm, nếu Viện kiểm sátthấy bản án hoặc quyết định sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp, tính có căn

cứ, tội danh, hình phạt, mức bồi thờng thiệt hại và các biện pháp khác do Toà sơthẩm áp dụng không phù hợp với thực tế khách quan, tính chất và mức độnghiêm trọng của vụ án hình sự, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấptrên trực tiếp ra quyết định kháng nghị Kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấphoặc của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thể liên quan đến một phần hoặctoàn bộ nội dung của bản án hoặc quyết định sơ thẩm Kháng nghị của Việnkiểm sát có thể theo hớng tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, tăng nặng, giảm nhẹmức bồi thờng đối với tất cả các bị cáo hoặc đối với một số bị cáo

Kháng nghị cũng có thể theo hớng đề nghị xử bị cáo không có tội hoặc đềnghị xử bị cáo có tội Để làm căn cứ cho việc xem xét các nội dung trong khángnghị tại phiên toà phúc thẩm, trong kháng nghị của mình, Viện kiểm sát phải nêu

lý do kháng nghị và mục đích của việc kháng nghị

3 Thủ tục, thời hạn kháng cáo và kháng nghị

Trang 5

Thủ tục, thời hạn kháng cáo

Thủ tục kháng cáo đợc quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự tạo điềukiện cho bị cáo sử dụng quyền kháng cáo một cách dễ dàng Điều 233 Bộ luật

Tố tụng hình sự quy định: ngời kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xét xử sơthẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm Trong trờng hợp bị cáo đang bị tạm giam, Bangiám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo Ngờikháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã xử sơ thẩm về việc khángcáo Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó

Nội dung của kháng cáo là cơ sở để Toà án cấp phúc thẩm xét lại bản ánhoặc quyết định sơ thẩm Do đó, ngời kháng cáo phải làm đơn kháng cáo và gửi

đến Toà án đã xét xử sơ thẩm hoặc Toà án nơi mà Toà án có thẩm quyền xét xửphúc thẩm vụ án đó Đơn kháng cáo phải ghi rõ ngày kháng cáo, tên ngời khángcáo; t cách trong tố tụng của ngời kháng cáo; kháng cáo về vấn đề gì trong bản

án hoặc quyết định sơ thẩm; lý do kháng cáo và yêu cầu của ngời kháng cáo ờng hợp đối với bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảmcho họ thực hiện quyền kháng cáo, tức là phải để cho họ viết đơn kháng cáo,không đợc ngăn cản việc kháng cáo của họ Ban giám thị phải tiếp nhận ngay

Tr-đơn kháng cáo, ghi rõ ngày nhận Tr-đơn và phải gửi ngay Tr-đơn đó cho Toà án cấp sơthẩm đã xử vụ án để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho Toà án cấp phúc thẩm Ngờikháng cáo cũng có thể không viết đơn kháng cáo mà trình bày trực tiếp với Toà

án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo Trờng hợp này Toà án phải lập biên bản vềviệc kháng cáo, nội dung kháng cáo, lý do kháng cáo và những yêu cầu của ngờikháng cáo Để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm giải thích

rõ khi tuyên bản án hình sự sơ thẩm cho bị cáo và những ngời tham gia tố tụngbiết

- Thời hạn kháng cáo đợc quy định tại điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự.Thời hạn kháng cáo là mời lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Đối với

bị cáo, đơng sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án

đợc giao cho họ hoặc đợc niêm yết

Việc kháng cáo có thể đợc thực hiện bằng hai hình thức: kháng cáo bằng

đơn hoặc kháng cáo bằng cách trình bày trực tiếp Ngời kháng cáo bằng cáchtrình bày trực tiếp đến trụ sở Toà án đã xử sơ thẩm và trình bày ý kiến của mình

về lý do và nội dung kháng cáo Trong trờng hợp này Toà án phải lập biên bản vềviệc kháng cáo đó

Ngời kháng cáo bằng đơn có thể gửi đơn tới Toà án đã xử sơ thẩm hoặcToà án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử phúc thẩm Ngày kháng cáo là ngày Toà án đã

Trang 6

nhận đợc đơn của ngời kháng cáo Nếu đơn kháng cáo gửi qua bu điện thì ngàykháng cáo đợc tính từ ngày đóng dấu phong bì nơi bu điện gửi đi Trờng hợp bịcáo đang trong trại giam thì Ban giám đốc trại giam có trách nhiệm bảo đảm do

bị cáo thực hiện quyền kháng cáo (ví dụ, giải thích quyền kháng cáo, cung cấpgiấy bút và nhận đơn kháng cáo của bị cáo để chuyển cho Toà án) Trong trờnghợp này ngày kháng cáo đợc tính từ ngày Ban giám thị trại giam nhận đợc đơnkháng cáo

Để khắc phục những trờng hợp bất khả kháng làm cho ngời có quyềnkháng cáo không thực hiện đợc quyền đó trong thời gian luật định, Điều 235 Bộluật Tố tụng hình sự quy định việc kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng

có thể đợc Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận Pháp luật không quy định cụ thểcác trờng hợp đó, nhng từ thực tế thấy rằng đó là các trờng hợp thiên tai, địchhoạ, lý do sức khoẻ của bản thân hoặc gia đình ngời có quyền kháng cáo làm cho

họ không thể thực hiện đợc quyền kháng cáo trong thời hạn luật định

Ngời kháng cáo quá hạn phải làm đơn kháng cáo ngay sau khi những cảntrở đã đợc khắc phục và trong đơn này phải nói rõ lý do kháng cáo quá hạn, gửiToà án đã xử sơ thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét việc kháng cáo quáhạn và ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.Nếu việc kháng cáo quá hạn đợc chấp nhận thì Toà án cấp phúc thẩm tiến hànhxét xử phúc thẩm theo thủ tục chung Nếu đơn kháng cáo quá hạn không chấpnhận thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật

Thủ tục, thời hạn kháng nghị

Thủ tục kháng nghị của Viện kiểm sát đợc quy định trong Bộ luật Tố tụnghình sự Khoản 2 Điều 233 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Viện kiểm sátkháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do Kháng nghị đợc gửi đến Toà án đã xửsơ thẩm

Trong bản kháng nghị của Viện kiểm sát phải nêu rõ ngày kháng nghị;kháng nghị về vấn đề gì trong bản án hoặc quyết định; lý do kháng nghị và yêucầu của Viện kiểm sát

Bản kháng nghị của Viện kiểm sát cần có nội dung cụ thể bao gồm: phầnphát hiện những thiếu sót, sai lầm trong bản án sơ thẩm về mặt đánh giá chứng

cứ, xác định thật khách quan của vụ án, về mặt vận dụng chính sách, viện dẫnpháp luật, những đề nghị cụ thể

Việc pháp luật tố tụng hình sự quy định cùng một lúc Viện kiểm sát cùngcấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết địnhsơ thẩm là xuất phát từ nguyên tắc tập trung thống nhất trong tổ chức và hoạt

Trang 7

động của ngành kiểm sát Khi chỉ có một trong hai Viện kiểm sát nêu trên cókháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng nghị đó, nếu cảhai Viện kiểm sát đều có nội dung giống nhau thì Toà án phúc thẩm xem xét cảhai kháng nghị, còn nếu cả hai kháng nghị của hai Viện kiểm sát trái ngợc nhauthì Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trêntrực tiếp.

- Về thời gian kháng nghị của Viện kiểm sát Theo Điều 234 Bộ luật Tốtụng hình sự thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mời lămngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mơi ngày, kể từ ngày tuyên án.Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày lễ, cơ quan nhà nớc không làm việc thìngày cuối cùng của thời hạn đợc tính là ngày cơ quan Nhà nớc làm việc lại nh đãnêu ở phần kháng cáo Nghĩa là ngày tuyên án tính từ ngày thứ nhất và ngày cuốicùng sẽ là ngày thứ mời lăm tiếp theo ở đây, pháp luật không quy định cáchtính thời hạn trong trờng hợp Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản gửi qua bu

điện, nhng nếu văn bản kháng nghị đợc gửi qua bu điện thì cách tính thời hạnkháng nghị cũng nh cách tính thời hạn đơn kháng cáo đợc gửi bằng con đờng đó

Thời hạn kháng nghị và kháng cáo quy định nh hiện nay là đủ để bảo đảmthực hiện quyền kháng nghị, kháng cáo Quá thời hạn quy định mà không cókháng nghị, kháng cáo thì mặc nhiên bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật vàphải đa ra thi hành

4 Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị

Hậu quả của việc kháng cáo hoặc kháng nghị là bản án sơ thẩm (nếukháng cáo hoặc kháng nghị đối với toàn bộ bản án) hoặc những phần bản án đó(nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với những phần đó) cha đợc đa ra thihành Sau khi nhận đợc kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp sơ thẩm thông báocho Viện kiểm sát và những ngời tham gia tố tụng biết để họ chuẩn bị tham giaphiên toà phúc thẩm Sau khi đợc thông báo về việc kháng cáo hoặc kháng nghị,những ngời này có quyền gửi ý kiến của mình cho Toà án cấp phúc thẩm

Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mặc dù bản án bị kháng cáohoặc kháng nghị nhng vẫn đợc thi hành ngay sau khi tuyên án Đối với các trờnghợp qui định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì bản án hoặc quyết

định của Toà án đợc thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo

Điều này có nghĩa là, kể từ sau khi tuyên bản án sơ thẩm hoặc công bố quyết

định sơ thẩm, ngời đang bị tạm giam phải đợc trả tự do ngay, kể cả trờng hợp saukhi Toà án tuyên án hoặc ra quyết định thì có kháng nghị hoặc kháng cáo ngay.Chẳng hạn, Toà án sơ thẩm tuyên bố trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên toà, thì

Trang 8

kể từ giờ phút đó họ hoàn toàn đợc tự do, cơ quan Công an không đợc tiếp tụctạm giam họ hoặc tiếp tục đối xử với họ nh ngời đang bị tạm giam.

Nh vậy, theo luật tố tụng hình sự quy định là chỉ những phần của bản ánsơ thẩm bị kháng cáo, hoặc bị kháng nghị thì mới đợc đa ra thi hành, còn nhữngphần của bản án không bị kháng cáo hoặc không bị kháng nghị sẽ có hiệu lựcpháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và đợc đa ra thi hành

Để chuẩn bị cho công việc xét xử phúc thẩm vụ án đợc nhanh chóng phápluật quy định trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị,Toà án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cùng kháng cáo, kháng nghị cho Toà áncấp phúc thẩm

5 Việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị

Sau khi có kháng cáo kháng nghị và tại phiên Toà phúc thẩm, cho đến trớckhi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, ngời kháng cáo có quyền bổ sung, thay

đổi, rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền bổsung, thay đổi, rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng nghị.Ví dụ: Viện kiểmsát kháng nghị đề nghị giảm hình phạt cho cả bị cáo khác; Viện kiểm sát chỉ đềnghị giảm hình phạt, nhng sau đó lại đề nghị miễn giảm hình phạt; rút toàn bộkháng nghị; rút kháng nghị đối với một bị cáo và vẫn giữ nội dung kháng nghị

đối với các bị cáo khác v.v…

Tuy nhiên, việc thay đổi và bổ sung kháng cáo hoặc kháng nghị không

đ-ợc làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Về vấn đề này thông t liên ngành số TTLN ngày 8/12/1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao hớng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự nêu rõ:

01-“Ngời đã kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị về tội nào thì có quyền

bổ sung hoặc thay đổi kháng nghị của mình về tội đó Còn đối với những tội cha

có kháng cáo, kháng nghị thì không bổ sung hoặc thay đổi"

Làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là làm cho bị cáo có thể bị Toà án cấpphúc thẩm phạt nặng hơn, áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự nặng hơnhoặc tăng mức bồi thờng so với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm Do đó, ngời

đã có kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã có kháng nghị theo hớng giảm nhẹ cho

bị cáo so với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm thì không đợc bổ sung hoặcthay đổi theo hớng tăng nặng cho bị cáo Nếu đã kháng cáo hoặc kháng nghịtheo hớng tăng nặng hình phạt thì không đợc bổ sung thêm hình phạt khác hoặcthay bằng loại hình phạt khác nặng hơn

Trớc khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, ngời đã có kháng cáo, hoặcViện kiểm sát đã kháng nghị có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng

Trang 9

nghị Nếu rút một phần kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xemxét phần kháng cáo, kháng nghị còn lại, nếu rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghịthì việc xét xử phúc thẩm phải đợc đình chỉ và bản án sơ thẩm có hiệu lực thihành.

Ngoài việc kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, những ngời cóquyền kháng cáo và Viện kiểm sát có thể kháng nghị đối với một số quyết địnhcủa Toà án cấp sơ thẩm Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Viện kiểmsát cùng cấp có quyền kháng nghị tất cả các quyết định của Toà án cấp sơ thẩmtrong thời hạn bảy ngày Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị tấtcả các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn mời lăm ngày, kể từngày ra quyết định và quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ đi vụ án của Toà áncấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo cũng trong bảy ngày kể từ ngày những ngời đợcquyền kháng cáo nhận đợc quyết định đó

III Xét xử phúc thẩm

1 Phạm vi và thời hạn xét xử phúc thẩm

Phúc thẩm là một giai đoạn của một quá trình tố tụng hình sự và là mộttrong các hình thức chủ yếu của hoạt động kiểm tra của Toà án cấp trên đối vớiviệc xét xử của Toà án cấp dới; có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp và tính cócăn cứ của bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm, phát hiện và khắc phụckịp thời các sai sót về xét xử của Toà án cấp sơ thẩm, ngăn chặn việc đa ra thihành bản án sơ thẩm có vi phạm pháp luật và bảo đảm cho việc áp dụng phápluật đúng đắn và thống nhất

Để đạt đợc mục đích của việc xét xử phúc thẩm, pháp luật tố tụng hình sự

đã giành cho Toà án phúc thẩm những quyền hạn nhất định trong việc xem xét

và giải quyết vụ án Những quyền hạn đó tạo thành thẩm quyền xét xử của Toà

án cấp phúc thẩm và bị giới hạn ở một phạm vi nhất định

Phạm vi xét xử phúc thẩm là giới hạn mà pháp luật cho phép Toà án cấpphúc thẩm có quyền xem xét và ra các quyết định về vụ án theo căn cứ của phápluật quy định Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Toà án cấp phúc thẩmxem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấpphúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị củabản án Từ quy định đó cho thấy việc xem xét phần bản án sơ thẩm có khángcáo, kháng nghị không chỉ là quyền hạn mà còn trách nhiệm của Toà án cấpphúc thẩm, còn việc xem xét các phần không có kháng cáo, kháng nghị của bản

án là quyền hạn của Toà án cấp phúc thẩm Hay nói cách khác là Toà án cấpphúc thẩm có quyền xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm cả phần kháng cáo, kháng

Trang 10

nghị lẫn phần không có kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, đối với phần bản ánkhông có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa đổi, huỷ

bỏ nếu có lợi cho bị cáo; còn trờng hợp khác chỉ có quyền xem xét để kiến nghịvới ngời có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Nh vậy, có thể khẳng định rằng cơ sở làm phát sinh thẩm quyền xét xử củaToà án cấp phúc thẩm đối với toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm không phải là nộidung của kháng cáo, kháng nghị hợp pháp của các chủ thể có quyền kháng cáo,kháng nghị theo quy định của pháp luật Đó chính là sự kiện pháp lý làm phátsinh các quan hệ tố tụng cùng các quyền hạn và nghĩa vụ giữa các chủ thể (trong

đó có Toà án) ở giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án

Phạm vi xét xử phúc thẩm không chỉ xác định phơng hớng mà cả nội dungcủa hoạt động xét xử phúc thẩm Mỗi bản án sơ thẩm có kháng cáo kháng nghị,Toà án cấp phúc thẩm phải kiểm tra một cách đầy đủ, toàn diện và khách quancả về tính hợp pháp, tính có căn cứ cúng nh lý do của bản án sơ thẩm không chỉ

đối với các bị cáo có kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị mà đối với tất cảcác bị cáo

Phạm vi xét xử phúc thẩm còn xác định cả giới hạn thẩm quyền của Toà

án cấp phúc thẩm trong trờng hợp phát hiện ra các vi phạm pháp luật của Toà áncấp sơ thẩm mà chúng là căn cứ để huỷ bỏ hoặc sửa bản án sơ thẩm Những tr-ờng hợp này, Toà án phúc thẩm phải ra quyết định nhằm khắc phục các sai sótcủa Toà án cấp sơ thẩm theo quy định tại các điều 249, 250 và 251 của Bộ luật

Tố tụng hình sự, bất kể những sai sót đó có đợc nêu trong kháng cáo, kháng nghịhay không Tuy nhiên, việc huỷ hoặc sửa bản án sơ thẩm phải bảo đảm nguyêntắc không đợc làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và không vi phạm quyền bàochữa của họ Nếu có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (khoản 2 Điều 250

Bộ luật Tố tụng hình sự) thì Toà án phúc thẩm phải huỷ bản án sơ thẩm để tiếnhành lại tố tụng từ giai đoạn điều tra hoặc xét xử sơ thẩm, đối với tất cả các bịcáo mà phạm vi đó liên quan đến, không phụ thuộc vào việc ai trong số họ đãkháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị và vi phạm đó có đợc nêu trong khángcáo, kháng nghị hay không?

Trang 11

Toà án cấp phúc thẩm mà chỉ có thể hạn chế thẩm quyền trong việc ra quyết

định vè vụ án theo hớng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo

Căn cứ vào quy định của khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự thìToà án cấp phúc thẩm chỉ có thể ra quyết định theo hớng tăng nặng đối với bịcáo trong trờng hợp, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo củangời bị hại theo hớng tăng nặng Mặc dù vậy, Toà án cấp phúc thẩm vẫn có thểgiảm hình phạt, áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảmmức bồi thờng thiệt hại Điều đó cũng có nghiã là pháp luật không hạn chế Toà

án cấp phúc thẩm trong việc xem xét lại toàn bộ vụ án chỉ hạn chế trong việc raquyết định về vụ án theo hớng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Và nh vậycũng không có nghĩa là hạn chế thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trongviệc phát hiện các vi phạm pháp luật ở bản án sơ thẩm mà chỉ hạn chế thẩmquyền về khắc phục các vi phạm pháp luật đó

Để khắc phục tất cả các vi phạm pháp luật đợc phát hiện trong mọi trờnghợp nếu điều đó không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, thì Toà án cấp phúcthẩm có quyền ra quyết định về vấn đề này Trờng hợp các quyết định đó có thểlàm cho tình trạng của bị cáo xấu hơn thì Toà án cấp phúc thẩm không có quyền

ra quyết định mà chỉ có thể phát hiện để cấp giám đốc thẩm xem xét, giải quyết.Nếu phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Toà án cấp sơ thẩmthì cấp phúc thẩm đều phải ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành lại tốtụng từ giai đoạn điều tra hoặc xét xử sơ thẩm lại vụ án

Phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ hạn chế thẩm quyền của Toà án cấp phúcthẩm trong trờng hợp ra các quyết định về vụ án theo hớng làm xấu hơn tìnhtrạng của bị cáo, còn trong các trờng hợp khác, nếu có căn cứ mà pháp luật qui

định để ra các quyết định theo hớng có lợi cho bị cáo thì Toà án cấp phúc thẩmhoàn toàn không bị hạn chế

Tóm lại, phạm vi xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp phúc thẩm xem xétnội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy càn thiết thì Toà án cấp phúcthẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án

Về thời hạn xét xử phúc thẩm, Điều 242 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

"Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu phải mở phiên toà phúcthẩm trong thời hạn sáu mơi ngày; Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Toà

án quân sự Trung ơng, phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn chín mơingày, kể từ ngày nhận đợc hồ sơ vụ án

Trang 12

Chậm nhất là mời lăm ngày trớc ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩmphải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những ngời thamgia tố tụng về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án".

Nh vậy, thời hạn phải mở phiên toà phúc thẩm tính từ ngày Toà án cấpphúc thẩm nhận đợc hồ sơ vụ án do Toà án cấp sơ thẩm gửi lên là sáu mơi ngày

đối với Toà án cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu, là chín mơi ngày đốivới Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự Trung ơng Theoquy định tại Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu Toà án cấp phúc thẩm nhận

đợc hồ sơ vụ án, nhng Toà án cấp sơ thẩm cha thông báo việc kháng nghị thì Toà

án cấp phúc thẩm không trả lại hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm mà chỉ yêu cầuToà án cấp sơ thẩm thực hiện việc thông báo kháng cáo, kháng nghị Về thời hạnxét xử phúc thẩm trong trờng hợp này vẫn tính từ ngày Toà án cấp phúc thẩmnhận đợc hồ sơ vụ án Trờng hợp hồ sơ vụ án đợc chuyển cho Viện kiểm sát cấpphúc thẩm điều tra bổ sung thì thời hạn xét xử phúc thẩm vẫn theo quy định tại

điều luật này Tuy nhiên, trong trờng hợp Toà án cấp phúc thẩm đã xét xử xong,nhng lại có ngời kháng cáo quá hạn, có lý do chính đáng, thì tuỳ trờng hợp, Toà

án cấp phúc thẩm xét lại phần của bản án mới bị kháng cáo hoặc đề nghị Chánh

án Toà án cấp trên kháng nghị bản án phúc thẩm của mình theo thủ tục giám đốcthẩm để Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ bản án phúc thẩm, giao lại cho Toà ánphúc thẩm xét xử phúc thẩm lại vụ án về các vẫn đề có kháng cáo, kháng nghị

2 áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét

xử phúc thẩm.

Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc

áp dụng, thay đổi, hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Việc thực hiện những biệnpháp ngăn chặn là sự hạn chế tự do cá nhân của công dân, do vậy, những biệnpháp ngăn chặn chỉ đợc thực hiện căn cứ vào Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự

Điều 243 BLTTHS quy định: “Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Toà án cấp phúcthẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngănchặn” Việc quy định nh vậy, bởi vì có khi các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

và Toà án cấp sơ thẩm đã không áp dụng biện pháp ngăn chặn cần thiết hoặc ápdụng nhng sau đó lại không cần thiết nữa hoặc có thể thay đổi bằng biện phápngăn chặn khác

Về quyền ra lệnh tạm giam theo Điều 80 và Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình

sự thì chỉ có Chánh án hoặc Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sựcác cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa án phúc thẩmTòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử mới có quyền ra quyết định

Trang 13

Theo quy định tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì thời hạn tạm giam

là không đợc vợt quá thời hạn xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 242 của

Bộ luật này Tuy vậy, “đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiêntoà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thànhviệc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà (Điều

án hoặc quyết định sơ thẩm, nghĩa là phải xem xét việc Toà án cấp sơ thẩm có ápdụng đúng pháp luật, đúng đờng lối xét xử hay không Việc Hội đồng xét xửphúc thẩm gồm ba Thẩm phán chính là nhằm bảo đảm chuyên môn pháp lý đầy

đủ để hoàn thành đợc yêu cầu nêu trên của Toà án cấp phúc thẩm Tuy nhiên,trong những trờng hợp cần thiết, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán

và hai Hội thẩm Trờng hợp này đợc áp dụng khi Toà án cấp phúc thẩm xét thấythành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm là cần thiết khi vụ án có tính chấtphức tạp Chẳng hạn nh trong vụ án có nhiều bị cáo, những vụ án có ảnh hởngchính trị lớn, xảy ra ở vùng thiên chúa giáo tập trung ở miền núi…

3 Những ngời tham gia phiên toà phúc thẩm

Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung, do đó cũng nh ở cấp sơthẩm, việc xét xử phải công khai, trực tiếp bằng lời nói, có thẩm vấn và tranhluận Những ngời tham gia phiên toà xét xử ở cấp phúc thẩm cũng là những ngời

đã tham gia phiên toà xét xử ở cấp sơ thẩm Tuy nhiên, điểm khác nhau là sựtham gia của họ ở phiên toà phúc thẩm không phải bao giờ cũng mang tính chấtbắt buộc

Để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Toà án cấpphúc thẩm, Viện kiểm sát có đại diện của mình đến phiên toà trình bày rõ thêmnội dung bản kháng nghị và kết luận của mình Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểmsát viên còn đồng thời tham gia kiểm tra để phát biểu ý kiến của mình về tínhhợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm Do đó, sự tham gia của Kiểm sát viêntại phiên toà phúc thẩm cũng là bắt buộc Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, thì Toà

án cấp phúc thẩm phải hoãn phiên toà

Trang 14

Những ngời có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đều phải đợc gọi

đến phiên toà để làm sáng rõ thêm những điểm đa ra trong kháng cáo hoặc để có

ý kiến đối với những điểm kháng cáo, kháng nghị, nói chung là để bảo đảmquyền bào chữa và bênh vực quyền lợi hợp pháp của họ

Các bị cáo có kháng cáo, hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đều phải gọi đếnphiên toà Trờng hợp Toà án cấp phúc thẩm thấy sự có mặt của họ là cần thiết

mà họ không có mặt thì Toà án hoãn phiên toà Ngợc lại, nếu thấy sự việc đã rõràng, chứng cứ đầy đủ, vì họ vắng mặt, Toà án xét thấy sự vắng mặt của họkhông ảnh hởng đến nội dung của phiên toà thì Toà án vẫn xét xử

Đối với những vụ án quan trọng hay những vụ án mà sự chỉ định ngời bàochữa là bắt buộc và những vụ án có Luật s, bào chữa viên nhận bào chữa tạiphiên toà phúc thẩm thì sự có mặt của Luật s, bào chữa viên là bắt buộc tại phiêntoà phúc thẩm Trong những trờng hợp này, nếu ngời bào chữa vắng mặt có lý dochính đáng thì Toà án hoãn việc xét xử Trong những trờng hợp khác nếu sựvắng mặt không có lý do chính đáng thì tuỳ tình hình vụ án, Toà án cấp phúcthẩm quyết định vẫn tiến hành xét xử hay phải hoãn việc xét xử

Những ngời khác tham gia tố tụng nh ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, ngờichịu trách nhiệm bồi thờng có kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị cũng đềuphải triệu tập đến phiên toà Trờng hợp họ vắng mặt mà Toà án thấy sự có mặtcủa họ là cần thiết thì Toà án hoãn phiên toà Ngợc lại thấy sự vắng mặt của họkhông ảnh hởng đến phiên toà thì Toà án vẫn tiến hành xét xử

Trong trờng hợp bị cáo là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về thểchất hoặc tâm thần, hoặc là ngời bị truy tố về tội theo khung hình phạt có mứccao nhất là tử hình mà bị cáo hoặc ngời đại diện hợp pháp của họ không mời ng-

ời bào chữa, thì Toà án cấp phúc thẩm phải yêu cầu đoàn luật s cử ngời bào chữacho họ, trừ trờng hợp họ từ chối không mời ngời bào chữa

Toà án cấp phúc thẩm có quyền hoãn phiên toà phúc thẩm theo quy địnhtại các khoản 1 và 2 của Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự nhng thời hạn hoãnphiên toà không đợc quá ba mơi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà

Việc tham gia phiên toà phúc thẩm của ngời làm chứng, ngời giám định

do Toà án quyết định căn cứ vào yêu cầu xét hỏi tại phiên toà có cần sự có mặtcủa những ngời đó hay không Nếu đã đợc triệu tập mà họ vắng mặt thì tuỳ trờnghợp Toà án vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên toà

4 Bổ sung xem xét chứng cứ tại toà án cấp phúc thẩm

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bất kỳ ở giai đoạn nào của tốtụng, chứng cứ luôn đợc coi là phơng tiện để chứng minh một ngời phạm tội hay

Ngày đăng: 19/12/2017, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w