1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

chuong3 Cac nguyen tac co ban cua Luat to tung hinh su Viet Nam

16 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chuong3 Cac nguyen tac co ban cua Luat to tung hinh su Viet Nam tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án,...

Trang 1

Chơng III

Các nguyên tắc cơ bản của luật tố

tụng hình sự Việt Nam

I Khái niệm và ý nghĩa của các

nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng

hình sự

1 Khái niệm các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

Với t cách là một ngành độc lập trong hệ thống

pháp luật nớc ta, vì vậy Luật tố tụng hình sự phải tuân

theo các nguyên tắc chung của pháp luật Tuy nhiên,

xuất phát từ các chức năng, nhiệm vụ đặc thù của mình

pháp luật tố tụng hình sự còn có các nguyên tắc riêng

Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động liên

quan đến các quyền và lợi ích của các chủ thể khác nhau

trong xã hội Để thực hiện mục đích phát hiện nhanh

chóng, kịp thời, xử lý đúng ngời, đúng tội, đúng pháp

luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân quá trình giải quyết vụ án hình sự phải đợc tiến hành

trên cơ sở tuân thủ các t tởng, quan điểm chỉ đạo nhất

định Các t tởng, quan điểm chỉ đạo đó xuyên suốt quá

trình nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng

hình sự Việc nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản của

Luật tố tụng hình sự là góp phần vào việc làm sáng tỏ

các t tởng, quan điểm chỉ đạo đó

Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

là những t tởng, quan điểm chỉ đạo quá trình nhận thức,

xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

có các thuộc tính, đặc điểm sau:

- Đó là các t tởng, quan điểm về các hình thức

và phơng pháp tiến hành tố tụng hình sự tồn tại một cách

khách quan, đợc hình thành trong quá trình phát triển

của xã hội, do các điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống

xã hội qui định và phù hợp với các điều kiện đó Các nguyên tắc - nh P Ăngghen chỉ rõ: "không phải là

điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng của nó, những nguyên lý ấy không phải đợc ứng dụng vào giới tự nhiên và lịch sử loài ngời, mà đợc rút

ra từ giới tự nhiên và loài ngời phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử"

Những luận điểm nói trên nói lên tính khách quan của các nguyên tắc pháp luật nói chung và của các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự nói riêng

Điều đó có nghĩa rằng các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự đợc "lấy ra" từ chế độ kinh tế, xã hội và chính trị của xã hội, từ các qui luật phát triển của nó, từ các quan hệ sản xuất và các quan hệ khác Đó là những t t-ởng, quan điểm tồn tại một cách khách quan đợc con ngời nêu lên, mô tả, tổng kết do kết quả của sự nhận thức, nghiên cứu thực tiễn xã hội khách quan Bởi bản thân các nguyên tắc không phải cái gì khác mà đó chính là những biểu hiện của qui luật khách quan đợc con ngời nhận thức

- Đó là các t tởng, quan điểm mang tính dân chủ sâu sắc, tạo điều kiện cho quá trình giải quyết vụ án hình sự thực hiện đợc nhiệm vụ của mình

và đạt hiệu quả cao Điều này có nghĩa là các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự chứa đựng những nội dung thể hiện quan điểm, định hớng của hoạt động tố tụng hình hình sự của Đảng và Nhà nớc ta là nhân đạo, dân chủ, công bằng, kỷ cơng Quan điểm, định hớng đó

đ-ợc thể hiện rất rõ trong việc nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động tố tụng hình

sự, nếu không tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật

tố tụng hình sự thì sẽ dễ rơi vào tình trạng chỉ chú ý

đến việc giải quyết vụ án nhanh chóng mà xem nhẹ việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến mất dân chủ, không đảm bảo công bằng

Trang 2

- Đó là các t tởng, quan điểm đợc ghi nhận và thể hiện trong các qui phạm pháp luật Dấu hiệu

này nói lên tính pháp lý làm cho các nguyên tắc đó có ý

nghĩa bắt buộc, mang tính xác định và tính đảm bảo đợc

tuân thủ Các nguyên tắc đó đợc ghi nhận và thể hiện

trong các văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nớc nh:

Hiến pháp, các luật tổ chức, Bộ luật Tố tụng hình sự

- Đó là các t tởng, quan điểm chỉ đạo, chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử hoặc một số giai đoạn đặc biệt quan trọng, trung tâm

của quá trình giải quyết vụ án hình sự

2 ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của

Luật tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự có rất nhiều ý nghĩa khác nhau và chúng tập

trung ở các điểm cơ bản sau:

- Các nguyên tắc đó thể hiện bản chất và các đặc điểm đặc trng của Luật tố tụng hình sự Bản

chất, nội dung cơ bản của Luật tố tụng hình sự đợc thể

hiện trớc hết và tập trung, khái quát nhất ở các t tởng,

quan điểm chỉ đạo việc nhận thức, xây dựng và áp dụng

pháp luật tố tụng hình sự Những nguyên tắc đó có liên

quan chặt chẽ với cá nhân, với các quyền và lợi ích hợp

pháp của họ, thể hiện mối quan hệ giữa công dân và Nhà

nớc, giữa cá nhân và xã hội, thể hiện trạng thái dân chủ

và các giá trị nhân đạo đợc thừa nhận trong xã hội

- Các nguyên tắc đó là hệ thống các qui phạm pháp luật mang tính chất chung và khái quát nhất,

tạo thành cơ sở của pháp luật tố tụng hình sự Các

nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự thể hiện nh một cấu

trúc quan trọng xung quanh đó các qui phạm, chế định

và toàn bộ hệ thống ngành Luật tố tụng hình sự đợc hình

thành, cấu thành nên "cái lò xo t tởng" của tất cả cơ chế

điều chỉnh pháp luật tố tụng hình sự

II Hệ thống các nguyên tắc cơ

bản của Luật tố tụng hình sự

1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp chế là nguyên tắc quan trọng trong sinh hoạt xã hội, trong tổ chức và hoạt động của Nhà nớc, của các tổ chức xã hội ở nghĩa này pháp chế

đợc hiểu là việc thờng xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành các qui định của Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản qui phạm pháp luật khác phù hợp với Hiến pháp, với các đạo luật của tất cả các cơ quan nhà nớc và các tổ chức xã hội, của những ngời có chức

vụ, quyền hạn, của mọi công dân Đây là nguyên tắc hiến định Các luận điểm, nội dung cơ bản của nguyên tắc này đợc qui định ở Điều 12 Hiến pháp năm 1992 của nớc ta

Nguyên tắc pháp lý chung này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Luật tố tụng hình sự Trong pháp luật tố tụng hình sự nguyên tắc pháp chế

đợc cụ thể hoá trong việc xác lập trật tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định: "mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng và ngời tham gia tố tụng phải đợc tiến hành theo qui định của Bộ luật này" Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động tố tụng hình sự phải đợc luật điều chỉnh chặt chẽ, cụ thể

và các qui định của luật phải đợc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

là t tởng chỉ đạo đợc quán triệt trong toàn bộ quá trình nhận thức, xây dựng và áp dụng Luật tố tụng hình sự

ở khía cạnh lập pháp, nguyên tắc này

đòi hỏi Nhà nớc phải qui định chặt chẽ, rõ ràng trình

tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình

sự, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; quyền và nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng hình sự và của các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và công dân

Điều đó có nghĩa rằng các hoạt động tố tụng hình sự, trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án

Trang 3

hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ

giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; quyền và

nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng hình sự và của

các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và công dân phải

đ-ợc qui định trong pháp luật tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự có mục đích phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời

mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm

oan ngời vô tội và mục đích đó có thể đạt đợc khi các

chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng hình sự tuân thủ

nghiêm chỉnh, triệt để các qui định của pháp luật tố tụng

hình sự Do vậy, ở khía cạnh áp dụng pháp luật nguyên

tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và

những ngời tiến hành tố tụng hình sự, những cơ quan và

những ngời tham gia tố tụng hình sự phải tuân thủ triệt

để, nghiêm chỉnh và thống nhất các qui định của Bộ luật

Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan

khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong

tr-ờng hợp có sự vi phạm pháp luật các cơ quan có trách

nhiệm phải áp dụng biện pháp để khắc phục vi phạm đó

Những đảm bảo quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc pháp chế là kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong tố tụng hình sự và giám đốc việc xét xử

Trong hoạt động tố tụng hình sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật thuộc chức năng của Viện

kiểm sát Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định:

1 Viện kiểm sát thực hành quyền công

tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố ngời

phạm tội ra trớc Toà án;

2 Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp

thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố

tụng, ngời tiến hành tố tụng và ngời tham gia tố tụng, áp

dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại

trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá

nhân này;

3 Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải đợc xử

lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ngời phạm tội, không làm oan ngời vô tội

Việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đợc Viện kiểm sát thực hiện bằng các biện pháp của pháp luật tố tụng hình sự qui định nh: phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra, huỷ bỏ các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, tự mình tiến hành một số hoạt động hoặc ra các quyết

định cần thiết trong việc giải quyết vụ án, kháng nghị các bản án và quyết định của Toà án, đa ra các biện pháp khắc phục hậu quả Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp trên là nhằm đảm bảo cho các hoạt động tố tụng hình sự đợc tuân thủ đúng các qui định của pháp luật, loại trừ các vi phạm pháp luật của các cá nhân và

tổ chức, góp phần vào việc bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự

Trong hoạt động tố tụng hình sự, giám

đốc việc xét xử thuộc thẩm quyền của Toà án cấp trên

Điều 21 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định: "Toà án cấp trên giám đốc việc xét xử của Toà án cấp dới, Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp để đảm bảo việc áp dụng pháp luật đợc nghiêm chỉnh và thống nhất" Theo

điều luật này thì chỉ có Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà

án quân sự cấp quân khu trở lên mới có quyền giám

đốc việc xét xử đối với bản án của Toà án cấp dới và Toà án tối cao có quyền giám đốc việc xét xử đối với bản án của tất cả các Toà án

Toà án cấp trên tiến hành giám đốc việc xét xử bằng việc xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dới thông qua các hoạt động nh: kiểm tra, phát hiện những sai lầm, thiếu sót của Toà án cấp

Trang 4

dới; giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà

n-ớc, tổ chức xã hội và của công dân đối với các bản án

hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật; tổng kết kinh

nghiệm xét xử; hớng dẫn Toà án cấp dới áp dụng pháp

luật thống nhất; kháng nghị bản án hoặc quyết định đã

có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc Thông qua

các hoạt động này Toà án cấp trên kịp thời uốn nắn,

khắc phục những sai lầm trong công tác xét xử của Toà

án cấp dới góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

2 Nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con ngời và của công

dân

Các quyền và tự do cơ bản của con ngời

và của công dân là những giá trị xã hội cao nhất có ý

nghĩa to lớn về nhiều mặt Các quyền và tự do đó đợc

ghi nhận trong Hiến pháp nớc ta Điều 50 Hiến pháp

năm 1992 của nớc ta ghi nhận: "ở nớc Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con ngời về chính trị,

dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội đợc tôn trọng, thể hiện

ở các quyền công dân và đợc qui định trong Hiến pháp

và Luật"

Hoạt động tố tụng hình sự là loại hoạt

động liên quan trực tiếp đến các quyền và tự do của con

ngời và của công dân, đặc biệt là các quyền và tự do cơ

bản đợc qui định trong Hiến pháp nh: quyền tự do thân

thể, quyền đợc bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản,

danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở,

an toàn và bí mật th tín Việc xây dựng và áp dụng pháp

luật tố tụng hình sự phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng

và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con ngời và của

công dân

Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo các quyền và tự do cơ bản của công dân có hai khía cạnh

Thứ nhất, danh dự, nhân phẩm, các quyền và tự do của

con ngời đợc coi là những giá trị cao nhất Thứ hai, tất

cả các cơ quan nhà nớc, các tổ chức xã hội và những

ng-ời có chức vụ, quyền hạn, đặc biệt các cơ quan tiến hành

tố tụng hình sự và những ngời tiến hành tố tụng hình

sự có trách nhiệm tôn trọng con ngời, bảo vệ các quyền và tự do của họ

Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự qui

định:

"Khi tiến hành tố tụng, Thủ trởng, Phó Thủ trởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trởng, Phó Viện trởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh

án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thờng xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa"

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện

ở các điểm sau:

- Khi tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng và những ngời tiến hành tố tụng phải tôn trọng và đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật th tín,

điện thoại, điện tín của công dân Việc hạn chế các quyền và tự do nói trên chỉ có thể đợc tiến hành trên cơ

sở và trong sự phù hợp với các qui định của pháp luật

- Các cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự, những ngời tiến hành tố tụng hình sự chỉ đợc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ khi có đầy đủ các căn cứ và trong giới hạn đợc pháp luật tố tụng hình sự qui định

- Khi những căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ không còn hoặc không cần thiết nữa thì các cơ quan và những ngời có thẩm quyền phải kịp thời huỷ bỏ quyết

định áp dụng các biện pháp đó

Trang 5

- Thờng xuyên kiểm tra, kiểm sát tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn

chặn, các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, nếu phát

hiện thấy có vi phạm pháp luật phải huỷ bỏ ngay các

quyết định đó

- Không đợc tiến hành các hoạt động tố tụng gây thiệt hại vể thể chất, đạo đức và các thiệt hại

khác đối với những ngời tham gia tố tụng hình sự

Nh vậy, pháp luật tố tụng hình sự qui

định trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do

của con ngời và của công dân thuộc về các cơ quan tiến

hành tố tụng hình sự và ngời tiến hành tố tụng hình sự

Đó là những cơ quan, những ngời đợc giao trách nhiệm

giải quyết vụ án hình sự, có quyền áp dụng các biện

pháp cỡng chế tố tụng hình sự Còn những ngời tham gia

tố tụng hình sự có quyền đòi hỏi những cơ quan và

những ngời tiến hành tố tụng hình sự phải tôn trọng và

bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của họ

3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình

đẳng của mọi công dân trớc pháp luật và trớc Toà án

Trong xã hội dân chủ thực sự, bình đẳng của mọi công dân trớc pháp luật và trớc Toà án là quyền

có ý nghĩa nền tảng trong tất cả các lĩnh vực của đời

sống xã hội Nguyên tắc này xác định vị trí nh nhau của

mọi công dân trong lĩnh vực hoạt động nhà nớc và xã

hội, cũng nh trong việc tham gia các quan hệ tố tụng

hình sự, không có sự phân biệt, u tiên và u đãi

Cơ sở Hiến định của nguyên tắc này là

Điều 52 Hiến pháp năm 1992 của nớc ta Trong lĩnh vực

tố tụng hình sự nguyên tắc đó đợc cụ thể hoá ở các điều

5 và 19 Bộ luật Tố tụng hình sự

Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định:

"Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công

dân đều bình đẳng trớc pháp luật, không phân biệt dân

tộc, nam nữ, tín ngỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa

vị xã hội Bất cứ ngời nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật"

Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự qui

định bảo đảm quyền bình đẳng trớc Toà án nh sau:

"Kiểm sát viên, bị cáo, ngời bào chữa, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngời đại diện hợp pháp của họ, ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự đều có quyền bình đẳng trong việc đa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trớc Toà án Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ

án"

Nh vậy, bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, trong tố tụng hình sự mọi công dân đều bình đẳng trớc pháp luật và trớc Toà án Toà án không

có quyền dành sự u tiên, u đãi hoặc phân biệt đối xử theo các dấu hiệu nam, nữ, dân tộc, tín ngỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội và các dấu hiệu khác

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện

ở các điểm cơ bản sau:

- Nhà nớc qui định hệ thống pháp luật thống nhất và việc áp dụng pháp luật giống nhau đối với mọi ngời trong khi tiến hành tố tụng Các chủ thể

đều giữ địa vị tố tụng bình đẳng, đều có quyền sử dụng các quyền bình đẳng và thực hiện nghĩa vụ nh nhau Trong cùng một vai trò của ngời tham gia tố tụng nh:

bị can, bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự thì họ có quyền và nghĩa vụ nh nhau do pháp luật tố tụng hình sự qui định

- Bất kỳ ngời nào có hành vi phạm tội

đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo các điều khoản tơng ứng của Bộ luật hình sự, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội

- Việc giải quyết các vụ án hình sự

đều đợc tiến hành theo một trật tự, thủ tục thống nhất

Trang 6

mang tính bắt buộc chung do pháp luật tố tụng hình sự

qui định

- Bên buộc tội và bên gỡ tội bình đẳng trớc Toà án Họ bình đẳng với nhau trong việc đa ra

chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đa ra yêu cầu và tranh luận

tr-ớc phiên toà

4 Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những

biểu hiện của dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự

Do vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thực hiện chế

độ hai cấp xét xử với t cách là một trong những nguyên

tắc cơ bản của tố tụng hình sự nớc ta Điều 20 Bộ luật Tố

tụng hình sự quy định nguyên tắc đó nh sau:

1 Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị

kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này

Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo,

kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có

hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị

kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải đợc xét xử phúc

thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật

2 Đối với bản án, quyết định của Toà án đã có

hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật

hoặc có tình tiết mới thì đợc xem xét lại theo thủ tục

giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Nguyên tắc này có những nội dung cơ bản sau:

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp

theo của quá trình tố tụng hình sự đợc tiến hành theo

trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định,

trong đó Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu toàn

diện, khách quan và đầy đủ hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đa

vụ án hình sự ra xét xử công khai trớc phiên toà hình sự

nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một

ngời có phải là ngời phạm tội hay không để từ đó đa ra

bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

là xét xử vụ án đó ở cấp đầu tiên, cấp xét xử cơ bản nhất, là cấp xét xử bắt buộc đối với bất kỳ vụ án hình

sự nào

Xét xử phúc thẩm là hoạt động đợc tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy

định của Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử thứ hai, cấp xét xử lại vụ án, mà bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

Việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nhằm:

- Bảo đảm tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định của Toà án đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị lẫn những bản án không bị kháng cáo, kháng nghị;

- Bảo đảm để không cho phép đa ra thi hành các bản án và quyết định không đúng pháp luật và không có căn cứ;

- Thực hiện việc giám sát của Toà án cấp trên

đối với hoạt động xét xử của Toà án cấp dới;

- Bảo đảm sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị

đơn dân sự

Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể

bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Bản án quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì có hiệu lực pháp luật Trong trờng hợp, bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải đợc xét xử phúc thẩm Bản

án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật

Khoản 2 Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự quy

định: đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu

Trang 7

lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có

tình tiết mới thì đợc xem xét lại theo thủ tục giám đốc

thẩm hoặc tái thẩm Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không

phải là cấp xét xử

5 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Quá trình giải quyết vụ án hình sự thông qua các

giai đoạn khác nhau đều có mục đích chung là xác định

sự thật của vụ án Xác định sự thật của vụ án là t tởng

chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án

hình sự Do vậy, đó là một trong những nguyên tắc cơ

bản của Luật tố tụng hình sự

Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự qui

định nguyên tắc này nh sau: "Cơ quan điều tra, Viện

kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp

để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn

diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội

và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,

bị cáo

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có

quyền nhng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

Nguyên tắc này có những nội dung cơ

bản sau:

- Trong quá trình tiến hành tố tụng hình

sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp

dụng mọi biện pháp hợp pháp, tức là các biện pháp do

pháp luật tố tụng hình sự qui định để xác định sự thật

của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Các biện pháp đó bao gồm các biện pháp ngăn chặn, các

biện pháp điều tra thu thập chứng cứ và các biện pháp

khác do pháp luật qui định Khi sử dụng các biện pháp

đó, các cơ quan nói trên phải tuân thủ và trong giới hạn

của pháp luật, không đợc sử dụng các biện pháp bất hợp

pháp để tiến hành làm rõ vụ án

- Để xác định sự thật của vụ án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các vấn đề nh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc

điểm về nhân thân bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

- Các quyết định do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đa ra trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự phải dựa trên việc thu thập, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ theo qui

định của pháp luật

- Các cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, xác định sự thật của vụ án Bởi vì, các cơ quan tiến hành tố tụng đợc Nhà nớc thành lập và giao quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự qui

định mới có điều kiện để xác định sự thật khách quan của vụ án Mặt khác, để buộc một ngời phải chịu trách nhiệm hình sự thì Nhà nớc thông qua các cơ quan chuyên trách của mình có trách nhiệm đa ra các chứng

cứ chứng minh họ đã thực hiện hành vi phạm tội xâm hại đến lợi ích chung Do vậy, trách nhiệm thu thập chứng cứ xác định sự thật của vụ án thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và ngời tiến hành tố tụng Và theo lôgic của mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hình sự qui định để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị can, bị cáo có quyền đa ra các chứng cứ và yêu cầu chứng minh mình là vô tội Do vậy, các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để bị can, bị cáo đa ra các chứng cứ và giải quyết các yêu cầu mà họ đa ra, phải

Trang 8

xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ các

chứng cứ và yêu cầu đó, không đợc có thái độ thiên vị

hoặc bỏ qua

6 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Trong hệ thống các cơ quan nhà nớc thì

chỉ có Toà án mới có quyền xét xử về hình sự Hiến

pháp nớc ta ở Điều 127 qui định: "Toà án nhân dân tối

cao, các Toà án nhân dân địa phơng, các Toà án quân sự

và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử

của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Qui định

đó có nghĩa rằng, ở nớc ta chỉ có các Toà án mới có chức

năng và thực hiện chức năng xét xử Các Toà án thực

hiện chức năng xét xử nhân danh nớc Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam Do đó, ngoài Toà án, không một cơ

quan nhà nớc nào khác có thể nhận về mình chức năng

xét xử và không có quyền bằng cách này hay cách khác

can thiệp vào hoạt động xét xử của Toà án

Để cho hoạt động xét xử của Toà án đợc tiến hành một cách khách quan, vô t, không chịu sự tác

động hay phụ thuộc vào bất kỳ ai pháp luật nớc ta qui

định nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc

lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 Bộ luật Tố tụng

hình sự)

Nguyên tắc này có những nội dung cơ

bản sau:

Thứ nhất, khi xét xử, Thẩm phán và Hội

thẩm độc lập Nội dung này đảm bảo tính khách quan,

công bằng của các quyết định do Toà án đa ra, đề cao

trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm,

bảo đảm chất lợng của hoạt động xét xử Thẩm phán và

Hội thẩm độc lập khi xét xử có nghĩa là khi hoạt động

xét xử họ không bị lệ thuộc vào ý kiến và sự tác động

của những cơ quan, tổ chức, ngời có chức vụ, quyền hạn

hay một ngời nào đó, không phụ thuộc vào ý kiến và kết

luận của những cơ quan, những ngời tiến hành tố tụng và

tham gia tố tụng Không ai, không một cơ quan, tổ chức

nào có quyền can thiệp vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm; không ai, không một cơ quan, tổ chức nào có thể dùng áp lực và tác động đối với họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Nội dung độc lập còn thể hiện ở sự

độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giá chứng cứ và

đa ra các kết luận về sự việc phạm tội và ngời thực hiện tội phạm, không bị lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử Theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trờng hợp đặc biệt của xét

xử phúc thẩm thành phần của Hội đồng xét xử có Thẩm phán và Hội thẩm Tuy là ngời không chuyên làm công tác xét xử, nhng khi thực hiện quyền xét xử Hội thẩm phải độc lập với Thẩm phán trong mọi khâu của quá trình xét xử, tránh sự phụ thuộc vào Thẩm phán Để bảo đảm điều đó, pháp luật tố tụng hình sự qui định Thẩm phán phải là ngời phát biểu sau cùng để không ảnh hởng đến tính độc lập của Hội thẩm Các vấn đề của vụ án đều phải đợc giải quyết bằng cách biểu quyết và quyết định theo đa số Ngời có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và đợc lu vào hồ sơ vụ án Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử đợc bảo đảm bởi một loạt các yếu tố, trong đó có chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và chế độ bầu Hội thẩm; tính tự chủ của họ trong khi tiến hành xét xử

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn đợc thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử Toà án cấp trên không đợc quyết định hoặc gợi ý cho Toà án cấp dới trớc khi xét xử một vụ

án cụ thể Đồng thời, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, Thẩm phán cũng không bị phụ thuộc bởi các nhận định, những phán quyết của Toà án cấp dới

Thứ hai, khi xét xử, Thẩm phán và

Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật Điều này có nghĩa

Trang 9

rằng khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ,

phải dựa vào các qui định của pháp luật để giải quyết vụ

án, chứ không đợc tuỳ tiện, chủ quan trong việc áp dụng

pháp luật Thực hiện hoạt động xét xử - hoạt động gắn

liền với việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, Thẩm

phán và Hội thẩm càng phải nghiêm chỉnh tuân theo

pháp luật Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự

là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán và Hội thẩm

xem xét, đối chiếu với sự việc đã xảy ra, với hành vi đợc

đa ra xét xử Trên cơ sở các qui định của pháp luật Hội

đồng xét xử sẽ đa ra các phán quyết của mình về sự việc

phạm tội và hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính

xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án đã xảy ra

Ngoài việc tuân theo pháp luật, khi xét xử, Thẩm phán

và Hội thẩm không bị phụ thuộc bởi bất kỳ điều kiện

nào

Nh vậy, Thẩm phán và Hội thẩm dân

độc lập khi xét xử, nhng độc lập trong khuôn khổ và

tuân theo pháp luật Nội dung độc lập khi xét xử và nội

dung chỉ tuân theo pháp luật có mối liên hệ rất chặt chẽ

và bổ sung cho nhau

7 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử

có Hội thẩm tham gia

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân tham gia là

nguyên tắc Hiến định Nguyên tắc hiến định đó đợc ghi

nhận và thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự, là

nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự qui

định: "Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm nhân dân,

của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia

theo qui định của Bộ luật này Khi xét xử, Hội thẩm

ngang quyền với Thẩm phán"

Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét

xử và tạo điều kiện cho việc xét xử đợc khách quan,

công bằng, chính xác Sự tham gia của Hội thẩm vào

hoạt động xét xử là một trong những biểu hiện, hình thức quan trọng nhất của việc thực hiện nguyên tắc đó

Nội dung của nguyên tắc này đợc thể hiện nh sau:

- Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm tham gia Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân là ngời đợc bầu hoặc cử tham gia vào hoạt động xét xử Với kinh nghiệm sống của mình, cùng với kiến thức chuyên môn, Hội thẩm góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ, xác định sự thật của vụ án Hội thẩm là ngời trực tiếp làm việc, sống và tham gia sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ mang đến phiên toà những suy nghĩ và ý kiến quần chúng về vụ án góp phần giúp Toà án xử lý vụ án chính xác, công minh

- Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Khi xét xử vụ án hình sự, mọi vấn đề phải đợc Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Trong khi giải quyết các vấn đề phát minh trong quá trình xét xử cũng nh khi quyết

định bản án, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán

Để bảo đảm cho Hội thẩm tham gia hoạt động xét xử có hiệu quả, một mặt các cơ quan nhà nớc, các tổ chức xã hội, hợp tác xã, địa phơng nơi Hội thẩm công tác và c trú có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thẩm thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, và mặt khác, Hội thẩm phải tự mình tìm kiếm, bồi dỡng kiến thức pháp lý, nâng cao ý thức trách nhiệm tham gia công tác xét xử

Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần vào việc củng cố mối quan hệ giữa Toà án và nhân dân, nâng cao tính chính xác, bảo đảm công minh trong công tác xét xử và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm

8 Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể

và quyết định theo đa số

Trang 10

Đây là nguyên tắc Hiến định và đợc thể hiện đầy đủ trong Điều 17 Bộ luật Tố tụng hình sự nh

sau: "Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số"

Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của

việc nghiên cứu, thẩm vấn, giải quyết các vụ án hình sự

và bảo đảm tính đúng đắn, công bằng, khách quan của

các bản án và quyết định của Toà án, tránh đợc tính chủ

quan, độc đoán và sự tuỳ tiện trong hoạt động xét xử

Nội dung của nguyên tắc này đợc thể hiện nh sau:

- Việc xét xử của Toà án do Hội đồng xét xử đợc thành lập theo quy định của pháp luật tiến

hành Hội đồng xét xử đợc hình thành với các thành viên

nh sau:

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trờng hợp vụ án có

tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử

gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Đối với vụ án mà

bị cáo bị đa ra xét xử về tội mà khung hình phạt cao nhất

là tử hình, thì Hội đồng xét xử s thẩm gồm hai Thẩm

phán và ba Hội thẩm Hội đồng xét xử sơ thẩm mà bị

cáo là ngời cha thành niên phải có một Hội thẩm là giáo

viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán, trong trờng hợp cần thiết có thể có hai Hội

thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao hoặc Toà án quân

sự Trung ơng gồm ba Thẩm phán Nếu uỷ ban Thẩm

phán hoặc Hội đồng Thẩm phán giám đốc thẩm hoặc tái

thẩm thì thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần

ba tổng số các thành viên của uỷ ban Thẩm phán hoặc

hội đồng Thẩm phán

- Khi xét xử, Toà án quyết định theo

đa số Các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo

đa số từng vấn đề, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Ngời có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và đợc để vào hồ sơ

9 Nguyên tắc xét xử công khai

Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng trong xã hội dân chủ Trong t pháp nói chung và t pháp hình sự nói riêng công khai đợc thể hiện nh một t tởng xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động của nó Do vậy, Hiến pháp nớc ta đã ghi nhận nguyên tắc đó Tiếp đến Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự cụ thể hoá nguyên tắc đó nh sau: "Việc xét xử của Toà án đợc tiến hành công khai, mọi ngời đều có quyền tham dự, trừ trờng hợp do Bộ luật này quy định

Trong trờng hợp đặc biệt, cần giữ gìn bí mật Nhà nớc, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ

bí mật của đơng sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhng phải tuyên án công khai"

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện

ở các khía cạnh sau:

- Phiên toà xét xử của Toà án đợc tiến hành một cách công khai, mọi ngời đạt độ tuổi nhất

định đều có quyền tham dự phiên toà xét xử Phiên toà xét xử có thể đợc tiến hành tại phòng xét xử trong trụ

sở của Toà án, nhng cũng có thể đợc tổ chức xét xử lu

động tại nơi xảy ra việc phạm tội hoặc nơi c trú của bị cáo nếu thấy cần thiết

- Nội dung phiên toà, thời gian địa

điểm mở phiên toà phải đợc niêm yết công khai trớc khi xét xử, các thủ tục và kết quả xét xử của phiên toà

có thể đợc công bố trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình hoặc bằng các phơng tiện thông tin đại chúng khác cho mọi ngời biết

Ngày đăng: 19/12/2017, 10:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w