1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

101 318 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/………… ….…./……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM VĂN ĐOÀN

ĐĂK LĂK – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/……… ….…./……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM VĂN ĐOÀN

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH – TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Bằng văn bản này, tác giả xin cam đoan rằng các nội dung được trình

bày trong Luận văn “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm

vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk” là công trình nghiên cứu khoa

học độc lập của tác giả

Tác giả xin cam đoan là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện Các số liệu trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực và được tác giả chú thích rõ ràng

Tác giả

Phạm Văn Đoàn

Trang 4

MỤC LỤC

trang

Lời cam đoan 3

Mục lục 4

Danh mục các chữ viết tắt 6

Danh mục các bảng 7

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 10

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 12

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 14

7 Kết cấu luận văn 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN

DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 16

1.1 Những khái niệm có liên quan 16

1.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính 21

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 47

2.1 Tình hình và đặc điểm của khiếu kiện hành chính trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk từ năm 2012 đến 2016 47

2.2 Đánh giá thực trạng thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính 49

Trang 5

2.3 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử

sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk 72

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THẨM

QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ

ÁN HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK 78

3.1 Tình hình khiếu kiện hành chính trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong những năm tới trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 78 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính 81

KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………100

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PLTTGQCVAH Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính QSDĐ Quyền sử dụng đất

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Kết quả xử lý đơn khiếu kiện của Tòa án nhân dân

cấp sơ thẩm tỉnh Đăk Lăk

47 2.2 Kết quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa

án nhân dân trong tỉnh Đăk Lăk

51

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự ra đời của Toà Hành chính và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân chính thức được pháp luật quy định Trải qua 20 năm hình thành và phát triển với những sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật, thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Toà án nhân dân (TAND) các cấp ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện cho Tòa phát huy vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước

So với các vụ án hình sự, dân sự đã có từ lâu đời trong lịch sử tố tụng tư pháp Việt Nam, việc giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta vẫn được coi là mới

mẻ cả về phương diện lý luận và cả về thực tiễn áp dụng pháp luật

Trong điều kiện phát triền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các khiếu kiện hành chính ngày càng gia tăng và trở nên gay gắt Trước tình hình đó, pháp luật Tố tụng hành chính (TTHC) ngày càng hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho người dân trong việc thực hiện quyền khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, Vì lý do này, số lượng vụ án hành chính được TAND các cấp thụ lý giải quyết hàng năm đều tăng nhiều về số lượng, tính chất tranh chấp ngày càng phức tạp

Mặc dù TAND các cấp đã có nhiều cố gắng trong công tác xét xử các vụ án hành chính nhưng kết quả giải quyết còn nhiều hạn chế Thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong thời gian vừa qua cho thấy, thời hạn giải quyết các vụ án hành chính thường bị kéo dài quá hạn pháp luật quy định, có những vụ án giải quyết qua nhiều năm chưa kết thúc, nhiều vụ án xét xử thiếu khách

Trang 9

quan, chưa chính xác đã gây tâm lý phản cảm, giảm sút niềm tin trong một bộ phận quần chúng nhân dân

Bên cạnh đó, ngày 8/12/2015 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, Luật tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội thông qua với nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung so với Luật TTHC năm 2010 Trong đó, có nguyên tắc tranh tụng trong TTHC đã được quy định tại Mục 3 (Tranh tụng trong phiên tòa) thuộc Chương XI (Phiên tòa sơ thẩm) nhằm bảo đảm tranh tụng công khai, dân chủ giữa bên khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân và bên bị kiện là cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý hành chính Những quy định này cần được nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính (đặc biệt

là thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hành chính) để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của đất nước

Đắk Lắk là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, trong những năm vừa qua do tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, một số công trình, nhà máy, xí nghiệp được xây dụng, lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, vui chơi giải trí phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì tình hình khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, nhà ở, các lĩnh vực thuế, xây dụng, môi trường đô thị, kinh doanh, dịch vụ du lịch ngày càng phức tạp Số lượng vụ án hành chính được TAND tỉnh thụ lý giải quyết ngày càng tăng nhưng chất lượng giải quyết các vụ án vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế dẫn đến việc các đương sự kháng cáo, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị, gây nên bức xúc trong quần chúng nhân dân

Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện

cả về cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử

Trang 10

sơ thẩm vụ án hành chính dưới góc độ luật Hiến pháp và Hành chính nhằm tìm ra những ưu điểm và những hạn chế, vướng mắc; rút ra những bài học kinh nghiệm đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là rất cần thiết và khách quan, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo quan điểm của Đảng được thể hiện tại

các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Vì vậy, tác

giả chọn nghiên cứu đề tài: “Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm

vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm Luận văn tốt nghiệp

Cao học Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính là cấp thiết, khách quan trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Để vụ án hành chính được xét xử kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, TAND đóng vai trò quyết định Do đó, vấn đề thẩm quyền của TAND trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

đã được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và những người hoạt động thực tiễn quan tâm Việc nghiên cứu đề tài này được thể hiện trong nhiều công trình khoa học được công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các Luận văn Thạc sỹ, một số giáo trình giảng dạy về pháp luật Có thể nêu ra các công trình, bài viết sau đây:

Tác giả Nguyễn Đức Chính “Thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính

theo Luật TTHC Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành “Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật”- Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 Luận

văn đã làm rõ một cách đầy đủ về cơ sở lý luận, nhận thức chung về thẩm

Trang 11

Tòa hành chính trước và sau khi có Luật TTHC năm 2010 đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành các quy định này trong hoạt động giải quyết vụ án hành chính của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện những quy định về thẩm quyền của Tòa hành chính Luận văn chưa cập nhật quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án theo Luật TTHC năm

2015 Luận văn đề cập đến thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính nói chung cho nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính chỉ được tác giả nêu lên

ở mức độ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của hoạt động thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Sách “Giáo trình Luật Hành chính và Tài phán hành chính Việt Nam”

(2008), Học việc Hành chính Quốc gia

Tác giả Vũ Thị Hòa (2011), “ Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền xét

xử theo Luật tố tụng hành chính 2010” Tạp chí kiểm sát, số 8, Hà Nội

Bài viết phân tích làm rõ quy định của Luật TTHC năm 2010 về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nói chung Bài viết không đề cập đến cơ sở lý luận về thẩm quyền xét xử nói chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính cũng như thực tiễn thực hiện thẩm quyền của Tòa án

TS Nguyễn Văn Thuân (2016), “Thẩm quyền của Tòa án theo Luật

TTHC năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bài viết đề cập đến sự cần

thiết về việc ban hành Luật TTHC năm 2015 đồng thời nêu lên một số điểm mới về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các vụ án hành chính như theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án Bài viết không đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của TAND

Nhìn chung, những công trình, tài liệu trên đây đã tập trung nghiên cứu các quy định chung về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án theo

Trang 12

quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 và Luật TTHC năm 2010 mà chưa đề cập đến quy định của Luật TTHC năm

2015 và chưa nghiên cứu một cách hệ thống về hoạt động thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của TAND Vì vậy, việc lựa chọn đề

tài “Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” của tác giả là hoàn toàn mới, chưa có một công

trình nào nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả mong muốn làm rõ

cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của đất nước trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc phân tích làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại tỉnh Đăk Lăk, luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của TAND trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra và thực hiện những nhiệm vụ như sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xác định những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu;

- Nghiên cứu, phân tích làm rõ các đặc điểm của thẩm quyền của

Trang 13

- Xây dựng một số khái niệm, nội dung của thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính;

- Khảo sát, thống kê, đánh giá thực trạng thực hiện Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn năm 2012 đến năm 2016;

- Tổng hợp kết quả nghiên cứu, dự báo những yếu tố ảnh hưởng và đề

xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện “Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thục hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước về thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan để làm

rõ tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận về thẩm quyền của

Trang 14

TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính Từ đó, xác định những nội dung nào của các công trình khoa học trước chưa đề cập đến để tiếp tục nghiên cửu, bổ sung hoàn thiện về lý luận

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng để thống kê

và phân tích tài liệu, báo cáo tổng kết thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong thực tiễn nhằm tổng hợp rút ra những

ưu điềm, hạn chế, vướng mắc

- Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để tiến hành nghiên cứu, phân tích hoạt động thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ một số vụ án cụ thể để tìm ra những ưu điểm và khuyết điểm, thiếu sót mang tính phổ biến Từ đó rút ra những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các vi phạm của TAND khi thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính để tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện về lý luận

- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia được sử dụng để tọa đàm, trao đổi với các chuyên gia nhằm tìm hiểu các kinh nghiệm trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của TAND trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục xét xử sơ thẩm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận vãn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học pháp lý chuyên ngành luật hành chính; làm rõ nội dung thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của TAND

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo,

Trang 15

pháp của luận văn là tài liệu để các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Luật TTHC hiện hành của Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 Chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Chương 2: Thực trạng thực hiện thẩm quyền của Toàn án nhân dân tỉnh Đăk Lăk trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Toàn án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

1.1 Những khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm thẩm quyền

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng “thẩm quyền”có nghĩa là “quyền xem xét, quyết định” [ 21]

Theo Từ điển Luật học, “thẩm quyền” là “Quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề

Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho

cơ quan Nhà nước, người nắm giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ"

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu “thẩm quyền” là quyền do pháp luật quy định một chủ thể nhất định (cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức) được xem xét, cân nhắc, quyết định một vấn đề; thẩm quyền là khả năng được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi theo quy định của pháp luật

Để bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động bình thường, không chồng chéo, dẫm đạp lên nhau, mỗi cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước có một chức năng, nhiệm vụ và những quyền hạn riêng biệt Thẩm quyền của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân được xác định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của họ Phạm

vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước được gọi là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước Thẩm quyền chính là thuộc tính tất yếu của cơ quan quyền lực Nhà nước là tổng thể quyền và nghĩa vụ và là cơ

sở để phân biệt cơ quan Nhà nước này với cơ quan Nhà nước khác

Trang 17

Như vậy, “thẩm quyền” là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một chủ thể trong việc thực thi quyền lực Nhà nước do pháp luật quy định

1.1.2 Khái niệm thẩm quyền của Tòa án

Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, Tòa án có chức năng,

nhiệm vụ riêng biệt Theo Hiến pháp năm 2013, “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, Tòa án “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [12]

Với chức năng xét xử, Tòa án có thẩm quyền và trách nhiệm xem xét giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, nhân danh Nhà nước ra các phán quyết nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội Thẩm quyền xét xử là quyền chuyên biệt được trao riêng cho cơ quan Tòa án, không phân biệt cấp Tòa án hay vùng lãnh thổ Bên cạnh đó, mỗi Tòa án lại được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính, theo vụ việc (ví dụ: thẩm quyền xét xử của Tòa sơ thẩm)

Vậy, “thẩm quyền xét xử của Tòa án” là “quyền xem xét và quyết định trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật”

Thẩm quyền của Tòa án trong việc xét xử các vụ án hành chính là phạm

vi thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, được pháp luật TTHC quy định để giải quyết các tranh chấp hành chính bằng thủ tục TTHC

1.1.3 Khái niệm “vụ án hành chính” và “xét xử sơ thẩm vụ án hành chính”

Trang 18

Theo Luật Tổ chức TAND, TA xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân - gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật” [ 13]

Khiếu kiện hành chính là biểu hiện của tranh chấp hành chính, phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước giữa một bên là cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức (được gọi là chủ thể quản lý) và một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân (gọi là đối tượng quản lý hành chính nhà nước) khi các chủ thể này tham gia vào quan hệ hành chính nhà nước

Khiếu kiện hành chính là quyền và là phương thức để bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc công chức…là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của mình thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn giữa việc khiếu nại đến cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính có thẩm quyền đề nghị xem xét lại quyết định, hành vi đó hoặc khởi kiện yêu cầu TA giải quyết Nói cách khác, khiếu kiện hành chính là hành vi

tự vệ và tự định đoạt của đối tượng quản lý hành chính nhà nước khi có sự xâm phạm của việc thực thi quyền hành pháp

Việc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quyết định hành chính, hành

vi hành chính đã làm phát sinh vụ án hành chính tại TA Nếu việc khởi kiện tuân thủ đúng điều kiện, đúng thủ tục do pháp luật TTHC quy định thì TA có thẩm quyền phải có trách nhiệm thụ lý, giải quyết vụ án hành chính để đảm bảo quyền, lợi hợp pháp của đương sự Để làm phát sinh vụ án hành chính phải hội đủ các điều kiện: (1) Có việc khởi kiện (theo quy định của Luật

Trang 19

Từ những vấn đề trên, có thể khái niệm vụ án hành chính là “vụ án phát

sinh tại TA có thẩm quyền do có cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho mình và được TAND thụ lý để giải quyết”

1.1.3.2 Khái niệm xét xử vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm

Theo Từ điển Luật học, “xét xử” là “hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp

lý của vụ việc, từ đó nhân danh nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” Xét xử sơ thẩm” là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một TA có thẩm quyền” [21]

Khiến kiện hành chính mang là hành vi tự vệ và tự định đoạt của cơ quan, tổ chức, cá nhân trước quyết định hành chính, hành vi hành chính mà họ cho rằng trái pháp luật Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lê nin, khiếu nại hành chính là mâu thuẫn cần được giải quyết để duy trì sự ổn định xã hội và là động lực cho sự phát triển Giải quyết khiếu kiện hành chính giúp cho cơ quan nhà nước nhận ra và khắc phục những thiếu sót, bất cập nhằm nâng cao năng lực quản lý của bộ máy hành chính, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Vì vậy, thẩm quyền và trách nhiệm của TAND là phải giải quyết khiếu kiện hành chính một cách khách quan, công bằng

Trình tự giải quyết vụ án hành chính trải qua các bước: Nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tổ chức đối thoại, giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, kháng cáo, kháng nghị và giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định của TA được xem xét một cách thận trọng để vụ án được giải quyết khách quan, công bằng Trong đó, xét xử sơ thẩm là thủ tục xét xử đầu

Trang 20

tiên, không thể thiếu và có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án Bản án, quyết định hành chính sơ thẩm không phải là phán quyết cuối cùng vì đương sự có quyền kháng cáo, VKSND có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định hành chính sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nếu việc giải quyết vụ án hành chính được khách quan, công bằng tại cấp sơ thẩm sẽ củng cố lòng tin của nhân dân đối với cơ quan xét xử; việc giải quyết vụ án sẽ không bị kéo dài do việc kháng cáo, kháng nghị, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của nhà nước và của đương sự

Vì vậy, “xét xử vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm” là thủ tục giải

quyết vụ án đầu tiên, trong đó TA áp dụng những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để xem xét giải quyết các yêu cầu của đương sự bằng một bản án hoặc quyết định về việc giải quyết vụ án

1.1.4 Khái niệm thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Khi có đơn khiếu kiện hành chính hợp pháp, TA cấp sơ thẩm có thẩm quyền có trách nhiệm thụ lý vụ án và tiến hành các biện pháp cần thiết theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để giải quyết vụ án hành chính Dựa trên những tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do TA thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán phải xem xét, đánh giá tính căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính để

ra phán quyết chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự

Như vậy, thẩm quyền của TA trong việc xét xử các vụ án hành chính là quyền hạn và nghĩa vụ của TA trong việc thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính TA có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện, thụ lý, lập hồ sơ để giải quyết

vụ án, ra các bản án, quyết định Trên cơ sở thực hiện những quy định của pháp luật TTHC và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, TA được

Trang 21

vụ án hành chính nhằm bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân và nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước

Khi giải quyết vụ án hành chính, TA có thẩm quyền xem xét tính tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện sau đây:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC năm 2015, quyết định

hành chính bị khởi kiện là “văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành; quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính; được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể; quyết định này làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [15]

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 thì hành vi

hành chính bị khởi kiện là “hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan,

tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [15]

1.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Nếu hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thành lập Tòa Hành chính và trao quyền xét xử vụ án hành chính cho Tòa Hành chính thì hệ thống pháp luật Anh – Mỹ lại không thành lập Tòa hành chính độc lập mà việc xét xử vụ án hành chính vẫn do TA thường (TA tư pháp giải quyết) Cùng quan điểm với các nước theo giải pháp trung gian (Nhật Bản, Trung Quốc…), Tòa Hành

Trang 22

chính của Việt Nam nằm trong hệ thống TAND các cấp, được trao quyền xét xử các vụ án hành chính và được phân cấp từ cấp huyện, cấp tỉnh, cấp cao và cấp tối cao Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của TA Việt Nam được xem xét với các nội dung: Thẩm quyền theo loại việc (những khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TA), thẩm quyền theo cấp TA, xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khiếu kiện

Bởi quản lý nhà nước là nhằm duy trì trật tự xã hội để bảo đảm lợi ích chung của xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Do đó, nó được thực hiện theo một hệ thống theo thứ bậc chặt chẽ, thông suốt từ trung ương đến địa phương Trong đó, cấp dưới phục tùng cấp trên, thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên Mỗi

cư quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền được giao Do vậy, khiếu kiện hành chính cũng phải được thực hiện từ dưới lên trên theo thứ bậc tương ứng nhằm bảo đảm cho TA hành chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Thẩm quyền theo cấp TA được quy định một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo hoặc tranh chấp thẩm quyết giữa các TA với nhau, tạo điều kiện cho TA giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ án hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan xét xử Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của TA có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ TA Trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng nhằm bảo đảm cho TA thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

1.2.1 Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Luật TTHC năm 2015 quy định những khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TA là cơ sở pháp lý để TA xác định trách nhiệm giải quyết của mỗi cấp TA đối với từng khiếu kiện hành chính cụ thể TA có

Trang 23

thuộc thẩm quyền của mình Quy định này tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ, tránh được việc chuyển đi chuyển lại giữa TA với các cơ quan nhà nước làm kéo dài thời gian giải quyết Quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TA cũng bảo đảm cho việc thực hiện quyền tiếp cận công lý của công dân Từ quy định của pháp luật, đương sự có căn cứ xác định những khiếu kiện hành chính được TA giải quyết và Tòa nào phải giải quyết khiếu kiện để gửi đơn khởi kiện Quy định này còn giúp đương sự được thuận lợi trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, tiết kiệm được thời gian và chi phí không cần thiết

Nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính” đã được quán triệt tại Nghị quyết

số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và để bảo đảm sự thống nhất của pháp luật (Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015); đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật TTHC năm 2015 quy định khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND gồm:

- “Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức

vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống

- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

- Khiếu kiện danh sách cử tri;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:

+ Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

Trang 24

+ Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử

lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng và quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” [15]

Quy định về các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo phương pháp loại trừ như đã nêu trên đây là sự kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (TTGQCVAHC) năm 1996 và Luật TTHC năm 2010 Quy định này tạo sự thuận lợi cho đương sự trong việc thực hiện quyền khiếu kiện, bảo đảm cho TAND bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng thời đảm

bảo tính khả thi và tạo nên sức sống lâu bền cho Luật TTHC năm 2015

1.2.2 Thẩm quyền theo cấp của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính

1.2.2.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Thẩm quyền của TA cấp huyện trong việc xét xử vụ án hành chính dựa

trên dấu hiệu về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính TA có thẩm quyền là TA có cùng phạm vi địa giới hành chính với người bị kiện Theo quy định tại Điều 31 Luật TTHC năm 2015,

TA cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, gồm:

“Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của

cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện” Các “khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm

Trang 25

quản lý của cơ quan, tổ chức đó và khiếu kiện danh sách cử tri của

cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA"[15]

Quy định này là cần thiết bảo đảm cho Luật TTHC phù hợp với các quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 và bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết khiếu kiện hành chính

1.2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tính trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính

Về cơ bản, Luật TTHC năm 2015 quy định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử hành chính sơ thẩm đối với các khiếu kiện không thuộc thẩm quyền xét xử hành chính sơ thẩm của TA cấp huyện, đối với những khiếu kiện có người bị kiện ở trung ương thì TA có thẩm quyền là TA có cùng phạm vi địa giới hành chính với người khởi kiện Ngoài ra, TA cấp tỉnh có thể lấy một số khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử hành chính sơ thẩm của TA cấp huyện lên để giải quyết Theo quy định tại Điều 32 Luật TTHC năm 2015 thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với những khiếu kiện hành chính sau:

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, TAND tối cao, VKSND tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi

cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc TA nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính

Trang 26

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan cấp tỉnh trở lên và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi

cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc TA nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam thì TA có thẩm quyền là TAND Thành phố (TP) Hà Nội hoặc TAND TP Hồ Chí Minh

- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu

cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành Trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA

- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA

- Trường hợp cần thiết, TA cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TA cấp huyện [15]

Trang 27

Luật TTHC năm 2015 quy định cho TAND cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện nhằm khắc phục tồn tại, bất cập từ thực tiễnnhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính theo tinh thần cải cách tư pháp, nhanh chóng lập lại trật tự trong quản lý hành chính nhà nước, kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn hành chính cấp huyện

Như vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định hợp lý về phân cấp thẩm quyền xét xử hành chính theo thủ tục sơ thẩm của Pháp lệnh TTGQCVAHC năm 1996 và Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC năm 2015 đã khắc phục một số khó khăn, bất cập cho cơ quan Tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính Căn cứ vào dấu hiệu về địa giới hành chính của người bị kiện và dấu hiệu về nơi ban hành quyết định hay thực hiện hành vi bị khiếu kiện để quy định phạm vi giải quyết các khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử hành chính sơ thẩm của mỗi Tòa án trong cùng một cấp cũng tạo thuận lợi cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính

1.2.2.3 Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khiếu kiện

“Khiếu nại hành chính” và “khởi kiện hành chính” được phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước “Khiếu nại” và “khởi kiện hành chính” đều là hành vi tự vệ và tự định đoạt do đối tượng quản lý hành chính nhà nước thực hiện nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại của quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, “khiếu nại hành chính” và “khởi kiện hành chính” là hai vấn đề khác biệt “Khiếu nại

Trang 28

hành chính” là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân “đề nghị” cơ quan hành chính (hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính) xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính làm xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của họ

‘Khởi kiện hành chính” là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân đưa vụ án ra tranh chấp tại TA, yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình khỏi sự xâm hại của quyết định hành chính, hành vi hành chính bằng thủ tục TTHC

Nhằm tôn trọng quyền của đương sự và tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, pháp luật TTHC cho phép đối tượng quản lý hành chính nhà nước được lựa chọn “khiếu nại” hoặc “khởi kiện”đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính làm thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của họ Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã khiếu nại đến cơ quan hành chính (hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính) mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại thì họ vẫn có quyền khởi kiện hành chính Trường hợp họ vừa có đơn khiếu nại đến cơ quan hành chính có thẩm quyền, vừa có đơn khởi kiện đến TA thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn (bằng văn bản) của người khởi kiện Nếu người khởi kiện lựa chọn TA giải quyết thì TA thụ lý giải quyết vụ án đồng thời làm văn bản thông báo, yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho TA Nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết hoặc không lựa chọn cơ quan giải quyết thì TA trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Quy định trên thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đồng thời là bước đổi mới căn bản về điều kiện, cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính theo tinh thần cải

cách tư pháp, tạo thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng

Trang 29

1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý xét xử sơ thẩm chuyển, nhập và tách vụ án hành chính

1.2.3.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý vụ kiện hành chính

Thụ lý vụ án hành chính là hoạt động của TA trong việc nhận đơn khởi kiện, vào sổ thụ lý để chính thức xác định trách nhiệm của TA trong việc giải quyết vụ án Đây là công việc đầu tiên và rất cần thiết nhằm đảm bảo cho vụ

án hành chính được giải quyết kịp thời và đúng pháp luật

1.3.1.1 Nhận và xử lý đơn khởi kiện

Nếu khởi kiện vụ án hành chính là sự bắt đầu của một quá trình tố tụng thì đơn khởi kiện là căn cứ đầu tiên để làm phát sinh vụ án hành chính TA chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi đương sự có đơn khởi kiện hợp pháp, đáp ứng được những điều kiện cần thiết Đơn khởi kiện hợp pháp phải làm trong thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định và phải do người khởi kiện viết (hoặc nhờ người khác viết), người khởi kiện phải ký tên, điểm chỉ Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục “Tên, địa chỉ của người khởi kiện” trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ1 Đơn khởi kiện hợp pháp phải có đủ các nội dung quy định tại Điều 118 Luật TTHC năm 2015 Kèm theo đơn khởi kiện, phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Nếu

Trang 30

vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện (Trừ tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm), người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của TA trong quá trình giải quyết vụ án

Đơn khởi kiện được nộp trực tiếp tại TA hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của TA TA nhận đơn khởi kiện phải cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện (nếu nhận đơn nộp trực tiếp) hoặc trả lời qua thư điện tử (nếu nhận đơn trực tuyến) Trường hợp nhận đơn qua bưu điện thì TA phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án TA phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét xử lý đơn kiện Nếu đơn kiện chưa có đủ nội dung quy định tại Điều 118 Luật TTHC, Thẩm phán ra quyết định yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TA khác thì Thẩm phán phải chuyển đơn khởi kiện cho TA có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TA khác Nếu đơn khởi kiện thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật TTHC thì Thẩm phán phải trả lại đơn khởi kiện Văn bản trả lại đơn kiện phải gửi ngay cho người khởi kiện và VKSND để đương sự thực hiện quyền khiếu nại, VKSND thực hiện quyền kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện Trường hợp nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án TA đã trả lại đơn khởi kiện phải phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm

Trang 31

xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện VKSND cùng cấp và đương sự có khiếu nại Trường hợp người khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp Sau khi xem xét tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc trả lại đơn kiện, ý kiến của Kiểm sát viên và khiếu nại của người khởi kiện tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định: Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận lại đơn khởi kiện

và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án

1.3.1.2 Thụ lý vụ án hành chính

Việc thụ lý vụ án hành chính phải đáp ứng các điều kiện về thủ tục khởi kiện, quyền khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện, đối tượng bị kiện, người bị kiện

Về quyền khởi kiện: Theo quy định tại Điều 115 Luật TTHC năm 2015

[15], người có quyền khởi kiện hành chính là cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính Trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính thì họ không có lý do để khởi kiện

Cá nhân khởi kiện phải có đủ năng lực pháp luật TTHC và năng lực hành vi TTHC Cơ quan, tổ chức khởi kiện phải thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự thông qua người đại diện theo pháp luật

Về đối tượng khởi kiện: Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là quyết

định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức; quyết định về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Hành vi hành chính bị khiếu kiện phải

là hành vi do chủ thể quản lý hành chính tiến hành khi thực hiện nhiệm vụ

Trang 32

công vụ; quyết định hành chính bị khiếu kiện phải là quyết định trực tiếp gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện Những quyết định hành chính không trực tiếp gây hậu quả bất lợi cho người khởi kiện hoặc những quyết định người khởi kiện không được quyền khởi kiện thì Tòa án không thể thụ lý việc khởi kiện đó

Về người bị kiện: Để xác định bên bị kiện là cá nhân hay cơ quan, tổ

chức, Thẩm phán phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thẩm quyền thực hiện hành vi hành chính bị khiếu kiện Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính Để xác định đúng người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định người bị kiện khi phải căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành;

Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 [15]

là người có chức vụ, chức danh cụ thể có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính Trường hợp quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do một người cụ thể ký hoặc thực hiện theo ủy quyền của một người có chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định hành chính, hành vi hành chính đó vẫn là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh

Về thẩm quyền giải quyết của TA: Để việc thụ lý vụ án có căn cứ, đúng

pháp luật, khi nhận đơn khởi kiện, TA phải xác định được thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính Việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án căn cứ vào quy định tại các Điều 30, 31, 32 Luật TTHC năm 2015 như đã nêu ở

Trang 33

Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính quy định

tại Điều 116 Luật TTHC năm 2015, được xác định theo đối tượng khởi kiện Nếu đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì thời hiệu khởi kiện là 1 năm kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi hành chính Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như

và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại, [15]

Khi xác định đơn kiện đủ điều kiện thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải làm văn bản thông báo thụ lý vụ án cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKSND cùng cấp đồng thời công bố trên Cổng thông tin điện

tử của TA (nếu có)

1.2.3.2 Thẩm quyền của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hành chính

Theo Điều 130 Luật TTHC năm 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ

án hành chính, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

“1 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với vụ kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

Trang 34

2 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với vụ kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định giải quyết vụ việc cạnh trạnh

3 Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án

TA có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” [15]

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án có thẩm quyền sau đây:

a) Lập hồ sơ vụ án hành chính

Hồ sơ vụ án hành chính bao gồm: Hồ sơ khởi kiện, các tài liệu chứng

cứ và tài liệu về áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong đó, hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kiện; thụ lý vụ án và thông báo thụ lý vụ án; văn bản ghi ý kiến của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ kèm theo Tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và tài liệu chứng cứ do Thẩm phán thu thập gồm: Biên bản ghi lời khai, Quyết định thu thập chứng cứ, biên bản về việc thu thập chứng cứ, tài liệu về kết quả thu thập chứng cứ Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại

b) Thu thập chứng cứ

Chứng cứ trong TTHC được thu thập công khai Đương sự có quyền được biết, được tiếp cận, sao chép chứng cứ do TA và các đương sự khác thu thập Thủ tục thu thập chứng cứ được quy định cụ thể tại các Điều 83 đến Điều 93 Luật TTHC Đương sự có quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ hoặc làm đơn yêu cầu TA thu thập tài liệu,

Trang 35

giám định, định giá tài sản TA có thể tiến hành áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau:

- Lấy lời khai đương sự: Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự

khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa rõ ràng, đầy đủ hoặc đương sự không thể tự viết được bản khai Thẩm phán có quyền lấy lời khai của đương sự; có quyền tự mình hoặc để Thư ký TA giúp việc ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản

- Lấy lời khai người làm chứng: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi

xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Việc lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa

- Đối chất: Là biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng nhằm giải quyết

các vấn đề mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án Chỉ khi có yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy có sự mâu thuẫn trong các lời khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán mới tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau Biên bản đối chất phải thể hiện đầy đủ nội dung đối chất, có đầy đủ chữ ký của những người tham gia đối chất

- Xem xét, thẩm định tại chỗ: Việc xem xét, thẩm định tại chỗ do Thẩm

phán tiến hành để nắm đầy đủ, rõ ràng các vấn đề mà đương sự trình bày đồng thời kiểm tra lại các chứng cứ trong hồ sơ, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải có mặt của đại diện UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định; đương sự được báo và được chứng kiến việc xem xét, thẩm định

- Trưng cầu giám định: Thẩm phán thực hiện quyền này khi có yêu cầu

của đương sự hoặc khi Thẩm phán thấy cần thiết Quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định,

Trang 36

những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại

- Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản: Thẩm phán ra quyết định định

giá, thẩm định giá tài sản khi đương sự có yêu cầu hoặc khi đương sự không thỏa thuận được về giá hay lựa chọn tổ chức thẩm định giá; hoặc khi có căn

cứ cho rằng giá do đương sự thỏa thuận với tổ chức thẩm định giá là không chính xác để mưu lợi bất chính đối với tài sản Nhà nước hoặc trốn tránh trách nhiệm bồi thường Hội đồng định giá tài sản gồm đại diện cơ quan tài chính là Chủ tịch Hội đồng định giá và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng Trường hợp cần thiết, đại diện UBND cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc

Hội đồng định giá

- Ủy thác thu thập chứng cứ: TA ra quyết định ủy thác cho TA khác

hoặc cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ

án hành chính TA được ủy thác phải thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho TA đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được phải thông báo bằng văn bản cho TA đã ra quyết định ủy thác

và nêu rõ lý do

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ: Khi có yêu cầu

của TA, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách

Trang 37

ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Về thời gian giao nộp chứng cứ: Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Thẩm phán ấn định thời hạn đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm Nếu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ mà TA yêu cầu không đúng thời hạn quy định thì phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó TA không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp và trình bày tại phiên tòa sơ thẩm

c) Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do TA thực hiện trước khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án hành chính nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án Trước khi mở phiên tòa, thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Thẩm phán xem xét, quyết định; tại phiên tòa thẩm quyền này thuộc về Hội đồng xét xử

Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ chứng minh sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu phải có văn bản thông báo, nêu rõ lý do không chấp nhận cho người yêu cầu biết

Trang 38

Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật TA không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng hoặc áp dụng không đúng biện pháp do đương sự yêu cầu hoặc không đúng thời hạn pháp luật quy định mà gây thiệt hại cho người yêu cầu áp dụng hoặc thiệt hại cho người thứ ba thì phải bồi thường

Chánh án TA phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định khẩn cấp tạm thời trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị

d) Quy định về thủ tục đối thoại

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, TA tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn Trường hợp vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được, Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành việc đối thoại

Phiên họp được tiến hành dưới sự chủ trì của Thẩm phán chủ trì phiên họp Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện Nếu các đương sự không thay đổi yêu cầu khởi kiện, hoặc ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án

1.2.3.3 Thẩm quyền của Tòa án trong chuyển, nhập hoặc tách vụ án hành chính

a) Chuyển vụ án cho Tòa án khác và giải quyết tranh chấp về thẩm

Trang 39

- Việc chuyển vụ án cho Tòa án khác trong trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính nhưng sau đó phát hiện đây là vụ án khác hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác đã được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP Các nội dung này đã được luật hóa tại các khoản 1, 2, 3,

4 và 5 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cụ thể là:

+ Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án xác định vụ án đó không phải là vụ án hành chính mà là vụ án dân sự

và việc giải quyết vụ án này thuộc thẩm quyền của mình, thì Tòa án giải quyết vụ án đó theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng dân sự quy định, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp

+ Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp

+ Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án phải mở phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền

+ Khi xét xử phúc thẩm vụ án hành chính mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và giao

hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật

+ Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Tòa án xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản

Trang 40

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Để thống nhất với các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về cơ cấu, tổ chức và thẩm quyền của các Tòa án, khoản 7 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án, cụ thể là:

+ Chánh án Tòa án cấp tỉnh giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

+ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau; giữa các Tòa án cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao;

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau, Tòa án cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau

b) Nhập hoặc tách vụ án hành chính

Để tránh việc áp dụng tùy tiện và phù hợp với thực tiễn, trên cơ sở hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP, Điều 35 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 [15] đã quy định cụ thể việc nhập hoặc tách vụ án hành chính là:

- Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết bằng một vụ án hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây:

Ngày đăng: 19/12/2017, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w