Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (LÀ tiến sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-
ĐẶNG MINH TƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CAM THEO HƯỚNG HÀNG HÓA VÙNG HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-
ĐẶNG MINH TƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CAM THEO HƯỚNG HÀNG HÓA VÙNG HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trên bất kỳ một Tạp chí khoa học nào ở trong và ngoài nước hoặc đã sử dụng trong các luận văn, luận án để bảo vệ và nhận học vị
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Đặng Minh Tơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của nhiều tập thể, các nhà khoa học, đồng nghiệp và bạn bè Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đến tập thể các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên, Bộ phận đào tạo sau Đại học Phòng Quản lý đào tạo, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Toàn - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quy hoạch Nông nghiệp, Nông thôn và GS.TS Đặng Văn Minh - Phó Giám đốc Đại học Thái Nguyên, là những Thầy hướng dẫn khoa học cho
đề tài luận án, đã có định hướng về nội dung, phương pháp giải quyết vấn đề trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi trường, Chi cục Quản lý Đất đai tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành luận án, Cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Yên, Uỷ ban nhân dân huyện Chiêm Hoá, các Phòng Ban chuyên môn của 2 huyện và các xã nằm trong vùng cam Hàm Yên đã tạo thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu, tài liệu và thực hiện các nghiên cứu mô hình điểm của đề tài luận án
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè và những người thân đã luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện cả về vật chất để tôi hoàn thành luận án này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Đặng Minh Tơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5 Đóng góp mới của Luận án 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá đất đai, sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả và sản xuất nông sản hàng hoá 4
1.1.1 Một số khái niệm về đất, đất đai, đánh giá đất 4
1.1.2 Các phương pháp đánh giá, phân hạng đất đai trên thế giới và trong nước 5
1.1.3 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả bền vững và tiêu chí đánh giá tính hiệu quả bền vững của sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 11
1.1.4 Một số lý luận về sản xuất nông sản hàng hoá ở trong và ngoài nước 15
1.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam và yêu cầu về đất đai của cây cam trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam ở Việt Nam 21
Trang 61.2.3 Những nghiên cứu về yêu cầu đất đai của cây cam trên thế giới và Việt Nam 23
1.3 Những nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO phục vụ sản xuất cam theo hướng hàng hoá tại Việt Nam 26
1.4 Những nghiên cứu về đất và đánh giá đất phục vụ phát triển sản xuất cam hàng hoá trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 32
1.5 Những nhận xét rút ra từ tổng quan các vấn đề nghiên cứu đã có và vấn đề cần nghiên cứu 35
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Nội dung nghiên cứu 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất trồng cam theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Hàm Yên 37
2.1.2 Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng cam, các loại sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam 37
2.1.3 Đánh giá khả năng thích hợp của đất đai với cây cam trên địa bàn vùng Hàm Yên 37
2.1.4 Kết quả đánh giá mô hình sử dụng đất trồng cam có mức độ thích hợp đất đai khác nhau tại vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 37
2.1.5 Đề xuất phát triển cam theo hướng hàng hoá đến năm 2030 và giải pháp phát triển trên địa bàn vùng Hàm Yên 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 38
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 38
2.2.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 39
2.2.4 Phương pháp xây dựng các bản đồ đơn tính phục vụ xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và phân hạng mức độ thích hợp của đất đai với cây cam 43
2.2.5 Phương pháp theo dõi mô hình 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất trồng cam theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Hàm Yên 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 53
Trang 73.1.3 Nhận xét chung 603.2 Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng cam, các loại sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam 613.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam và các loại sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam 613.2.2 Hiệu quả của sử dụng đất trồng cam và các LUT có khả năng chuyển đổi sang trồng cam 653.2.3 Một số tồn tại và khó khăn trong sản xuất cam theo hướng hàng hoá trên địa bàn vùng Hàm Yên 833.2.4 Nhận xét chung 953.3 Đánh giá khả năng thích hợp của đất đai với cây cam trên địa bàn vùng Hàm Yên 963.3.1 Các nhóm đất, loại đất chính, phân bố và tính chất 963.3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 1013.3.3 Phân hạng khả năng thích hợp của đất đai với trồng cam trên địa bàn vùng Hàm Yên 1103.3.4 Nhận xét chung 1183.4 Kết quả đánh giá mô hình sử dụng đất trồng cam có mức độ thích hợp đất đai khác nhau tại vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 1203.4.1 Mô hình trồng cam trên đất rất thích hợp của nhà ông Lộc Văn Nhém, thôn 2 Thuốc Thượng, xã Tân Thành, huyện Hàm Yên 1203.4.2 Mô hình trồng cam trên đất thích hợp nhà ông Vũ Văn Thành thôn 4 xã Bằng Cốc, huyện Hàm Yên 1233.4.3 Mô hình trồng cam trên đất ít thích hợp của ông Bàn Thái Dương, xã Minh Hương, Hàm Yên 1273.4.4 Nhận xét chung 1303.5 Đề xuất phát triển cam theo hướng hàng hoá đến năm 2030 và giải pháp phát triển trên địa bàn vùng Hàm Yên 1303.5.1 Đề xuất phát triển cam theo hướng hàng hoá đến năm 2030 1303.5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cam theo hướng sản xuất hàng hoá 134
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
1 KẾT LUẬN 143
2 KIẾN NGHỊ 144DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐCÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁNTÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9CLN Đất cây lâu năm
CPTG Chi phí trung gian
GIS Hệ thống thôn tin địa lý
GTGT Giá trị gia tăng
GTNC Giá trị ngày công
GTSP Giá trị sản phẩm
GTSX Giá trị sản xuất
GTGT Giá trị gia tăng
HQĐV Hiệu quả đồng vốn
HQKT Hiệu quả kinh tế
HQMT Hiệu quả môi trường
Trang 10LĐ Lao động
MCE Multi Criteria Evaluation – Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu NKH Đất nông nghiệp khác
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SXNN Sản xuất nông nghiệp
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
RSX Đất rừng sản xuất
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TDMNBB Trung du miền núi Bắc bộ
TKNN Thiết kế nông nghiệp
TNHH Thu nhập hỗn hợp
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
VC Chi phí vật chất
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích đất sử dụng đất và kết quả sản xuất cam của thế giới và châu lục
giai đoạn 2005-2013 20
Bảng 1.2: Khối lượng, Kim ngạch xuất khẩu cam của thế giới và các châu lục giai đoạn 2005-2013 21
Bảng 1.3 Thống kê diện tích đất trồng cam, quýt, năng suất, sản lượng ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 22
Bảng 1.4 Yêu cầu về khí hậu và ngưỡng phân cấp theo mức độ thích hợp của cây cam 24
Bảng 1.5: Yêu cầu về đặc tính vật lý, mảnh vụn thô, độ sâu tầng đất và độ phì theo mức độ thích hợp của cây cam 25
Bảng 2.1 Phân cấp đánh giá chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất trên địa bàn vùng cam Hàm Yên 39
Bảng 2.2 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của sản xuất cam vùng cam huyện Hàm Yên 41
Bảng 2.3 Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường trồng cam vùng Hàm Yên 42
Bảng 3.1: Tình hình biến động dân số qua một số năm 56
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu so sánh về dân số của vùng cam Hàm Yên 57
Bảng 3.3: Tình hình lao động, việc làm và thu nhập và việc làm tại vùng nghiên cứu 58
Bảng 3.4 Hiện trạng, biến động sử dụng đất trồng cam và kết quả sản xuất giai đoạn 2005- 2015 62
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam và các loại, kiểu sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam trên địa bàn vùng Hàm Yên năm 2015 64
Bảng 3.6 Kết quả tổng hợp ý kiến của chuyên gia đánh giá mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí hiệu quả kinh tế 65
Bảng 3.7 Ma trận so sánh tổng hợp đối với các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế và trọng số của các chỉ tiêu 66
Bảng 3.8 Phân cấp hiệu quả kinh tế của trồng cam và các loại sử dụng, kiểu sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam vùng Hàm Yên 67
Bảng 3.9 Kết quả tổng hợp ý kiến của chuyên gia đánh giá mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong tiêu chí xã hội 69
Trang 12Bảng 3.10 Ma trận so sánh tổng hợp đối với các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội và trọng
số của các chỉ tiêu 69 Bảng 3.11 Phân cấp hiệu quả xã hội của trồng cam và các loại sử dụng gắn với kiểu
sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam vùng Hàm Yên 70 Bảng 3.12 Tổng hợp kết quả điều tra về tỷ lệ thời gian che phủ của các loại sử dụng, kiểu sử dụng đất vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 72 Bảng 3.13 Hiện trạng một số tính chất hoá học của các loại đất dưới các loại sử dụng đất khác nhau tại vùng Hàm Yên 74 Bảng 3.14 Phân cấp đánh giá một số tính chất của đất dưới các loại sử dụng đất tại vùng Hàm Yên 76 Bảng 3.15 Lượng phân bón thực tế sử dụng cho cây trồng so với khuyến cáo trên địa bàn vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 77 Bảng 3.16 Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng so với khuyến cáo vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 78 Bảng 3.17 Kết quả tổng hợp ý kiến của chuyên gia đánh giá mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí hiệu quả môi trường 79 Bảng 3.18 Ma trận so sánh tổng hợp đối với các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường và trọng số của các chỉ tiêu 80 Bảng 3.19 Phân cấp hiệu quả môi trường của sử dụng đất trồng cam và các loại sử dụng đất, kiểu sử dụng đất có khả năng chuyển đổi sang trồng cam vùng Hàm Yên 80 Bảng 3.20 Kết quả điều tra lấy ý kiến chuyên gia về tầm quan trọng của các tiêu chí trong phát triển bền vững của các loại sử dụng, kiểu sử dụng đất vùng Hàm Yên 81 Bảng 3.21 Ma trận so sánh tổng hợp đối với các tiêu chí tính bền vững của các kiểu sử dụng đất vùng Hàm Yên 82 Bảng 3.22 Tính bền vững của trồng cam so với các LUT và kiểu sử dụng đất có khả năng chuyển sang trồng cam hoặc cạnh tranh về đất vùng Hàm Yên 82 Bảng 3.23 Tình trạng chặt phá rừng để trồng cam và các mục đích khác 84 Bảng 3.24 Kết quả điều tra về hiện trạng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất cam 85 Bảng 3.25 Hiện trạng sử dụng phân bón cho 1 ha cam thời kỳ kinh doanh tại vùng cam Hàm Yên 87
Trang 13Bảng 3.26 Liều lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất cam tại vùng cam
Hàm Yên 88
Bảng 3.27 Các loại sâu hại cam và biện pháp phòng trừ tại vùng Hàm Yên 89
Bảng 3.28 Các loại bệnh hại cam và biện pháp phòng trừ tại vùng Hàm Yên 90
Bảng 3.29 Thời điểm bán cam và lý do chọn thời điểm bán cam 92
Bảng 3.30 Kết quả điều tra về điều kiện giao thông đến vườn cam 93
Bảng 3.31 Nhu cầu vay vốn của người dân 94
Bảng 3.32 Thực trạng nguồn nhân lực sản xuất cam vùng nghiên cứu 94
Bảng 3.33 Nhu cầu về tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cam 95
Bảng 3.34 Tổng hợp diện tích nhóm đất, loại đất trên địa bàn vùng Hàm Yên 96
Bảng 3.35 Diện tích và đặc tính của các đơn vị đất đai vùng Hàm Yên 109
Bảng 3.36: Yêu cầu sử dụng đất đai của cây cam sành 110
Bảng 3.37 Kết quả phân hạng mức độ thích hợp của đất đai với cây cam theo xã, huyện của vùng Hàm Yên 114
Bảng 3.38 Khả năng thích hợp của đất đai theo hiện trạng đã trồng cam 116
Bảng 3.39 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng cam trên đất thích hơp tại nhà ông Lộc Văn Nhém 121
Bảng 3.40 Hiệu quả xã hội mô hình trên đất rất thích hơp trồng cam tại nhà ông Lộc Văn Nhém 122
Bảng 3.41 Một số tính chất hoá học và kim loại nặng của đất trồng cam trong mô hình tại thời điểm tháng 1 năm 2015 và tháng 1 năm 2017 123
Bảng 3.42 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng cam trên đất thích hợp nhà ông Vũ Văn Thành, xã Bằng Cốc, huyện Hàm Yên 125
Bảng 3.43 Hiệu quả xã hội mô hình cam trên đất thích hợp tại nhà ông Vũ Văn Thành xã Bằng Cốc 125
Bảng 3.44 Một số tính chất hoá học và kim loại nặng của đất trồng cam trong mô hình tại thời điểm tháng 1 năm 2015 và tháng 1 năm 2017 126
Bảng 3.45 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng cam trên đất ít thích hợp nhà ông Bàn Thái Dương, xã Minh Hương 128
Bảng 3.46 Hiệu quả xã hội mô hình cam trên đất ít thích hợp tại nhà ông Bàn Thái Dương xã Minh Hương, Hàm Yên 128
Trang 14Bảng 3.47 Kết quả theo dõi một số tính chất trước hoá học và kim loại nặng của đất ít thích hợp trồng cam tại mô hình nhà ông Bàn Thái Dương 129 Bảng 3.48: Đề xuất diện tích đất trồng cam theo hiện trạng đến năm 2030 từng xã, huyện và toàn vùng Hàm Yên 133 Bảng 3.49 Đề xuất diện tích mở rộng trồng cam theo mức độ thích hợp đến từng xã, huyện và toàn vùng Hàm Yên 134
Trang 15DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính vùng cam Hàm Yên 47
Hình 3.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng từ năm 2005-2015 tại Trạm khí tượng Hàm Yên và Trạm Khí tượng Chiêm Hóa 49
Hình 3.3 Biểu đồ lượng mưa trung bình theo tháng từ năm 2005-2015 tại trạm Hàm Yên và Trạm khí tượng Chiêm Hóa 50
Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu kinh tế vùng Hàm Yên năm 2010 và 2015 53
Hình 3.5 Kênh tiêu thụ cam trên địa bàn vùng cam Hàm Yên 91
Hình 3.6 Hình ảnh mô hình trồng cam của ông Lộc Văn Nhém 120
Hình 3.7 Hình ảnh mô hình trồng cam của ông Vũ Văn Thành 124
Hình 3.8 Hình ảnh mô hình trồng cam của ông Bàn Thái Dương 127
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có khí hậu đa dạng bao gồm cả khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới nên thích hợp với phát triển cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng Do vậy sản xuất cam đã có những bước tiến rõ rệt, ngoài việc cung cấp loại quả có giá trị dinh dưỡng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước còn tham gia tích cực và có hiệu quả vào thị trường xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu rau quả, trong đó quả là sản phẩm chủ yếu trong 3 năm gần đây đều đạt trên một tỷ đô la Mỹ, riêng 6 tháng đầu năm 2016, giá trị xuất khẩu quả đạt mức kỷ lục, trên dưới 1,2 tỷ đô la, được liệt vào nhóm 10 loại sản phẩm nông nghiệp có vị trí xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam
Theo thống kê năm 2015 diện tích trồng cam của cả nước có 67,9 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 12,52 tấn/ha và sản lượng đạt 579,5 nghìn tấn Cùng với nhiều loại nông sản khác, cam đã được trồng thành những vùng chuyên canh lớn, tập trung mang tính hàng hoá như vùng cam Hà Giang, Cao Phong, Hoà Bình, cam Vinh tỉnh Nghệ An ở phía Bắc và tại phía Nam, cam được trồng nhiều ở Vĩnh Long, Tiền giang, Bến Tre thuộc ĐBSCL [48] Sự phát triển của các vùng cam nói chung và cam sành nói riêng đã gắn liền với địa danh của làng, bản hoặc huyện hay tỉnh Chính những điều kiện địa lý đặc trưng bao gồm cả thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán canh tác tạo cho cam có đặc tính chất lượng riêng biệt của vùng đất ấy, cho giá trị sản phẩm cao hơn so với cùng loại nên đã góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên sản xuất cam vẫn còn hạn chế, chưa khai thác hết quỹ đất nên quy mô còn nhỏ, manh mún, hiệu quả sản xuất còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng
Vùng cam sành ở Hàm Yên cũng đã được nhiều người biết đến với thương hiệu
“cam sành Hàm Yên” là một trong 10 loại quả nổi tiếng ở Việt Nam Đây là vùng có điều kiện sinh thái phù hợp với trồng cam và đã được xác định ở 20 xã, trong đó có 18
xã thuộc huyện Hàm Yên và 2 xã thuộc huyện Chiêm Hoá Diện tích tự nhiên toàn vùng có 108.123,48 ha Trong đó đất nông nghiệp có 100.213,90 ha, chiếm 92,68% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đất nông nghiệp thì đất sản xuất nông nghiệp có 18.660,02 ha; đất lâm nghiệp 80.784,47 ha còn lại là các loại đất khác Mặc dù cây cam
Trang 17đã được xác định là cây trồng chủ lực, cây làm giàu cho nhiều hộ gia đình, mỗi năm thu nhập trên dưới 500 triệu đồng nhưng đến nay mới chỉ giới hạn ở 17 xã, trong đó 15/18 xã ở huyện Hàm Yên và 2 xã thuộc huyện Chiêm Hoá So với cả nước, vùng cam Hàm Yên có diện tích lớn thứ 3 nhưng năng suất thấp hơn năng suất trung bình của cả nước và sản lượng chỉ đứng thứ 14 Diện tích cam tuy lớn nhưng manh mún chưa hình thành vùng sản xuất hàng hoá lớn, và chất lượng của các vườn cam khác nhau nên giá tiêu thụ cũng có sự khác biệt đáng kể Nguyên nhân của tình trạng nói trên là do sự hình thành vùng cam hoàn toàn tự phát dựa trên những kinh nghiệm của người dân Chính vì vậy năm 2014, Uỷ ban nhân tỉnh Tuyên Quang đã có Quyết định
số 388/QĐ-UB Phê duyệt Đề án phát triển vùng cam sành tỉnh Tuyên Quang giai đoạn
2014 đến năm 2020” [37] với mục tiêu đến năm 2020 sẽ hình thành được vùng cam cam sành với quy mô 5000 ha nhưng chỉ dựa vào kết quả điều tra, phân loại và lập bản
đồ đất do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp tiến hành năm 2012 mà chưa tính đến các điều kiện về khí hậu và điều kiện nước tưới, trong khi đó đây là vùng có điều kiện sinh thái rất đa dạng, chưa xác định dược khả năng thích hợp của đất đai với trồng cam Do vậy nhiều vấn đề đặt ra là quy mô diện tích đất trồng cam có mức thích hợp của cả vùng là bao nhiêu, trồng ở những xã nào và quy mô diện tích có mức thích hợp tối đa có thể phát triển? Mặt khác để phát triển cam theo hướng hàng hóa cần những
giải pháp gì? Để giải quyết những vấn đề nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu đánh giá đất phục vụ phát triển cam theo hướng hàng hoá vùng Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”
Trang 18- Đề xuất sử dụng đất cho trồng cam theo hướng sản xuất hàng hóa đến năm
2030 và các giải pháp thực hiện
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất trồng cam, các loại đất có khả năng chuyển đổi sang đất trồng cam và những vấn đề có liên quan đến sản xuất cam theo hướng hàng hoá
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Các xã thuộc huyện Hàm Yên và 2 xã thuộc huyện Chiêm Hoá là Trung Hà và Hà Lang (gọi tắt là vùng Hàm Yên)
- Phạm vi thời gian: Các số liệu thu thập về sản xuất cam từ 2005 đến 2015
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất cho cây cam trên bản đồ tỉ lệ lớn 1/25.000, phục vụ đề xuất sử dụng đất trồng cam theo hướng hàng hoá tại vùng Hàm Yên và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự tại Trung du miền núi Bắc Bộ;
- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch sử dụng đất phát triển cam theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển nông thôn mới
5 Đóng góp mới của Luận án
- Đề xuất mở rộng thêm 2.343,79 ha cam trên đất rất thích hợp và thích hợp từ đất rừng sản xuất 1.554,06 ha; cây lâu năm khác 564,33 ha; cây hàng năm 224,95 ha, đất nông nghiệp khác 0,45 ha, tạo thành vùng sản xuất cam hàng hoá tập trung có quy
mô 6.898,99 ha vào năm 2030 gắn với 9 nhóm giải pháp để thực hiện
- Xây dựng được một bộ dữ liệu đầy đủ về đất đai bao gồm cả dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính phục vụ công tác quản lý chất lượng đất và chỉ đạo sản xuất cam theo hướng hàng hoá
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá đất đai, sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả và sản xuất nông sản hàng hoá
1.1.1 Một số khái niệm về đất, đất đai, đánh giá đất
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) [11], Nguyễn Thế Đặng, Đặng Văn Minh (2014) [18] đất (Soils) hay “lớp phủ thổ nhưỡng” là phần trên cùng của vỏ phong hoá trái đất, là thể tự nhiên đặc biệt được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố gồm sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian (tuổi tương đối) Những đất đã sử dụng có tác động của con người nên được xếp yếu tố thứ 6 Đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với toàn
bộ hoạt động của các ngành như xây dựng, giao thông, ngư nghiệp, diêm nghiệp…
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) [11], Bộ Khoa học và Công nghệ (2012) [5], Nguyễn Ngọc Nông và cs (2014) [31], Đất đai được định nghĩa
là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có thể ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người
Đánh giá đất đai được Dent D, Yuong A (1987) [66] định nghĩa “Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đấtđai cho một hoặc một số loại sử dụng đất đai đã được lựa chọn FAO, 1976 [67], Đào Châu Thu, Nguyễn Khang (1998) [51], Bộ khoa học và Công Nghệ (2012) [5], Nguyễn Ngọc Nông và cs (2014) [31] cũng thống nhất với định nghĩa trên nhưng nêu cụ thể hơn “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai theo yêu cầu của đối tượng sử dụng”
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) thì coi đất đai là vật mang (Carreer) của hệ sinh thái (EcoSystems) Trên quan điểm này, Brinkman.R and Smyth A.J (1973) [64] định nghĩa đánh giá phân hạng đất đai như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính
Trang 20tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất (Soils), điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai” Như vậy đánh giá, phân hạng đất đai phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế và xã hội Đặc điểm của đất đai được sử dụng trong đánh giá phân hạng đất là những tính chất của đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng được Tuy có rất nhiều đặc điểm nhưng chỉ lựa chọn ra những đặc điểm chính có tác động trực tiếp và có ý nghĩa tới đất đai của vùng nghiên cứu Trong đánh giá, phân hạng đất, thổ nhưỡng (Soils) là thành phần đặc biệt quan trọng, nhưng còn bao hàm cả các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế xã hội khác Vì vậy cần phải có sự kết hợp liên ngành
Từ những bước sơ khai, ngành khoa học đánh giá đất đai đã dần dần trưởng thành và hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn Từ năm 1978, công tác đánh giá đất đai
đã được biên chế thành một tổ thuộc Hội đồng chuyên ngành: Công nghệ về đất của Hội đồng khoa học đất quốc tế (Trần Kông Tấu và cs 1991) [40]
1.1.2 Các phương pháp đánh giá, phân hạng đất đai trên thế giới và trong nước
Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (1980) [55] cho thấy, việc đánh giá đất đai tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi nước đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất riêng cho quốc gia mình nhưng tựu chung có hai khuynh hướng chính gồm: Đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên có xem xét đến những điều kiện kinh
tế xã hội và đánh giá kinh tế đất có xem xét đến những điều kiện tự nhiên Tuy nhiên
dù áp dụng phương pháp nào thì cũng cần phải lấy đất làm nền hay cơ sở và loại sử dụng đất đai cụ thể để đánh giá, phân hạng Kết quả được thể hiện bằng các bản đồ, báo cáo và các số liệu thống kê
Theo Tổng cục quản lý ruộng đất (1981) [47] tại Liên Xô cũ, theo quyết định của Chính phủ, công tác đánh giá đất đai được tiến hành trên toàn liên bang và do Bộ nông nghiệp chủ trì (Bộ nông nghiệp Liên Xô -1980) [9] Mục đích chính của đánh giá đất đai là: (1) Xác định hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai; (2) Đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp nông nghiệp; (3) Dự kiến số lượng sản phẩm thu
Trang 21được, sản phẩm cần giao nộp và giá thành sản phẩm, giá thu mua, đảm bảo sự công bằng giữa các xí nghiệp và mục đích cuối cùng là để hoàn thiện kế hoạch sản xuất và xây dựng các đồ án quy hoạch Đánh giá đất đai được thực hiện theo hai hướng gồm Đánh giá chung và đánh giá riêng (theo hiệu quả của từng loại cây trồng) Chỉ tiêu đánh giá là: năng suất và giá thành sản phẩm tính bằng Rúp/ha; mức hoàn vốn; địa
tô cấp sai (phần lãi thuần) Cây trồng lấy làm gốc để đánh giá nhất thiết phải là cây ngũ cốc và cây họ đậu Đơn vị đánh giá là các chủng đất
Quá trình đánh giá đất ở Liên Xô được thực hiện qua 7 bước:
- Chuẩn bị
- Tổng hợp tài liệu
- Phân vùng đánh giá đất đai
- Xác định đơn vị đánh giá đất đai
- Xác định các thông số cơ bản cho từng nhóm chủng đất
- Xây dựng thang đánh giá đất đai
- Xác định các tiêu chuẩn đánh giá đất đai cho từng cơ sở sản xuất
Ngoài ra còn có những quy định đánh giá cụ thể cho: Đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ cắt và đồng cỏ chăn thả…
Cũng theo Tổng cục Quản lý ruộng đất (1981) [47] thì tại Hoa Kỳ, phân hạng đất đai được ứng dụng rộng rãi theo hai phương pháp gồm:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý đi vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng (chọn cây lúa mì là đối tượng chính)
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để
so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánh với các đất khác
Tại Hoa Kỳ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đất phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp Toàn bộ đất đai của Hoa Kỳ được phân thành 8 nhóm, trong
đó có 4 nhóm có khả năng sản xuất nông nghiệp (từ mức thích hợp cao đến thấp), có 2 nhóm có khả năng lâm nghiệp, còn 2 nhóm hiện tại không có khả năng sử dụng
Trang 22Nhiều nước châu Âu thực hiện theo cả 2 hướng: Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, xác định tiềm năng sản xuất của đất đai (phân hạng định tính) và nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng) Thông thường áp dụng phương pháp so sánh bằng tính điểm hoặc tính theo giá trị tương đối là% Điển hình trong số các nước này là Bungari Nội dung, phương pháp phân hạng tóm tắt như sau:
Các yếu tố đất đai được chọn để đánh giá là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì nhiêu và sự sinh trưởng phát triển của cây trồng như thành phần cơ giới, hàm lượng hữu cơ, độ dày tầng đất mịn, hệ số cấu trúc đoàn lạp, pH, độ sâu mạch nước ngầm… Mỗi yếu tố đều được phân cấp và cho điểm cụ thể theo mức độ thích hợp Ví dụ: Độ dày tầng mùn dưới 20cm: 40 điểm; 20-40cm: 80 điểm; và trên 40cm:
100 điểm
Phân hạng đất được tiến hành theo từng loại cây trồng nên mỗi cây trồng đã được xác định một hệ thống chỉ tiêu cụ thể gắn với điểm tương ứng như nếu đất sét nặng trên 75% sét với lúa mì là 80 điểm, với ngô là 50 điểm Từ đó hệ thống nhóm và hạng đất được phân cấp rất chi tiết thành 10 hạng (với mức chênh lệch 10 điểm) thuộc
5 nhóm: Rất tốt, tốt, trung bình, xấu và không sử dụng được
Tại Ấn Độ, các nước tại vùng nhiệt đới ẩm, châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng cũng được thể hiện dưới dạng% hoặc điểm
Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đánh giá, phân hạng đất đối với quy hoạch sử dụng đất đai, Tổ chức Nông – Lương của Liên hợp quốc (FAO) đã chủ trì với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực đã tổng kết kinh nghiệm của nhiều nước xây dựng thành công bản: Đề cương đánh giá đất đai (FAO, 1976) [67] Đây là tài liệu được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai Tiếp theo đó, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đã được xuất bản như: Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời (FAO,1983) [68]; cho các vùng nông nghiệp được tưới (FAO,1985) [69]; cho đất rừng (FAO,1985) [70]; cho đồng cỏ (FAO,1989) [71]; đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (FAO,1994) [72] và hướng dẫn Quy hoạch sử
Trang 23dụng đất đai (FAO,1998) [73]; …
Trước hết cần xác định: Hướng dẫn của FAO chỉ mang tính khái quát toàn bộ những nội dung, các bước tiến hành, những gợi ý, ví dụ nêu ra để minh họa và tham khảo Trên cơ sở đó, tùy điều kiện cụ thể của từng nước mà vận dụng cho sát đúng và phù hợp Đề cương đã đề ra những nguyên tắc đánh giá đất như sau:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá, phân hạng cho các loại sử dụng đất hoặc kiểu sử dụng đất cụ thể chứ không chung chung
- Đánh giá đất phải dựa trên việc so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau và giữa các loại sử dụng đất với nhau
- Trong đánh giá đất phải có quan điểm hệ thống
- Các yếu tố chỉ tiêu sử dụng trong đánh giá phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu
- Các loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất có khả năng thích hợp được lựa chọn để đưa vào sử dụng phải đáp ứng được tiêu chí bền vững
Đề cương cũng đã giới thiệu 3 mức độ đánh giá: Sơ lược, bán chi tiết và chi tiết; hai phương pháp đánh giá gồm: phương pháp hai bước và phương pháp song song tùy theo điều kiện cụ thể mà vận dụng Phân hạng đất được chia ra các kiểu:
- Phân hạng định tính và phân hạng định lượng
- Phân hạng thích hợp hiện tại và tiềm năng
Cấu trúc phân hạng gồm 4 cấp: Bậc (Orders), hạng (Classes), hạng phụ (Subclasses) và đơn vị đất thích hợp (Units) Có 2 bậc:
- Bậc thích hợp (Suitability orders)
- Bậc không thích hợp (Not suitability orders) và một pha thích hợp có điều kiện (Conditionally suitable)
Trong bậc thích hợp được chia làm 3 hạng:
- Thích hợp cao (Highly suitable)
- Thích hợp trung bình (Moderately suitable)
- Kém thích hợp (Marginally suitable)
Bậc không thích hợp được chia làm 2 hạng:
Trang 24- Không thích hợp hiện tại (Currently not suitable)
- Không thích hợp vĩnh viễn (Permanently not suitable)
Từ lớp thích hợp trung bình và kém được chia ra nhiều hạng phụ để chỉ rõ bản chất của các yếu tố giới hạn Để chỉ rõ những yêu cầu chi tiết hơn về quản lí, sử dụng đất đai, từ hạng phụ chia nhỏ ra các đơn vị đất thích hợp Ngoài ra, các hướng dẫn cụ thể khác như: Xác định loại sử dụng đất đai, xác định đơn vị đất đai, phân hạng mức
độ thích hợp Tuy nhiên có thể nhận thấy, đề cương, hướng dẫn của FAO rất đầy đủ, chặt chẽ và dễ dàng vận dụng trong mọi hoàn cảnh
Tại Việt Nam, khái niệm đánh giá, phân hạng đất đai đã có từ lâu qua việc phân chia “Từ hạng điền, Lục hạng thổ” để thu thuế Đặc biệt từ năm 1970, Bùi Quang Toản và nhiều nhà khoa học của Viện Thổ nhưỡng nông hóa như: Vũ Cao Thái, Nguyễn Cao Thân… đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá, phân hạng đất đai
ở 23 huyện, 286 hợp tác xã Kết quả nghiên cứu đã góp phần thiết thực phục vụ cho công tác tổ chức lại sản xuất và xây dựng cấp huyện Từ kết quả nghiên cứu và kiểm nghiệm trên thực tiễn, Bùi Quang Toản đã đề xuất: Quy trình kỹ thuật phân hạng đất đai áp dụng cho HTX và các vùng chuyên canh Nội dung quy trình gồm 4 bước:
- Thu thập tài liệu
- Vạch khoảng đất (với HTX) hoặc khoanh đất (với vùng chuyên canh)
- Đánh giá và phân hạng chất lượng đất
- Xây dựng bản đồ phân hạng đất
Các yếu tố tham gia trong đánh giá, phân hạng đất đai vùng đồng bằng gồm có: Loại đất, độ dày tầng đất, mức độ chặt, xốp, hạn, úng, mưa, mặn, chua… Các yếu tố được chia thành 4 mức độ thích hợp theo chiều thuận và ngược lại, mức độ hạn chế theo chiều nghịch gồm: Rất tốt; Tốt; Trung bình và mức độ IV: Kém
Đất được phân thành 4 hạng theo các tiêu chuẩn sau:
Hạng I: Gồm các khoanh đất có 50% yếu tố thuận lợi ở mức độ I và 20% yếu tố nghịch ở mức độ IV
Hạng II: Gồm các khoanh đất có 30% yếu tố thuận ở mức độ I và 20-30% yếu
tố nghịch ở mức độ IV
Trang 25Hạng IV: Gồm các khoanh đất có 50% yếu tố nghịch ở mức độ IV và chỉ có 20% yếu tố nghịch ở mức độ I và II
Hạng III: Gồm các khoanh đất còn lại, tức là có tiêu chuẩn giữa hạng II và hạng IV Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài Hạn chế của quy trình
là không đề cập đến các chỉ tiêu về kinh tế xã hội và môi trường
Để thực hiện chỉ thị 299/TTg, Tổng cục Quản lý Ruộng đất (1981) [47] đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất với 5 nguyên tắc cơ bản gồm:
- Phân hạng đất phải dựa vào vùng địa lý thổ nhưỡng
- Phân hạng đất tùy thuộc vào loại, nhóm cây trồng
- Phân hạng đất phải mang đặc thù của địa phương
- Phân hạng đất tùy thuộc vào trình độ thâm canh
- Phân hạng đất và năng suất cây trồng có tương quan chặt chẽ
Quy trình đã hướng dẫn trình tự tiến hành phân hạng đất lúa nước ở cấp huyện gồm 4 bước:
- Chuẩn bị ban đầu ở huyện
- Điều tra nghiên cứu điểm trên địa bàn thực tế của huyện
- Điều tra toàn bộ đất trồng cây lương thực trong huyện
- Tổng hợp, xây dựng tài liệu phân hạng đất phạm vi huyện
Đây là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn, có thể áp dụng trên diện rộng nhưng không tránh khỏi tính chủ quan
Phương pháp đánh giá đất của FAO chính thức được áp dụng vào Việt Nam năm 1986 và đã được triển khai nghiên cứu ứng dụng Theo đó năm 1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10TCN 343-98 về quy trình đánh giá đất phục vụ nông nghiệp [10] Quy trình được xây dựng trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO trong điều kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam Quy trình này đã được ứng dụng rộng rãi trên nhiều quy
mô và tỉ lệ bản đồ khác nhau Năm 2010, Quy trình này lại được bổ sung hoàn thiện và được ban hành theo tiêu chuẩn Việt Nam và chính thức trở thành Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 8409:2010[4], năm 2012 lại được bổ sung và được ban hành lại TCVN
Trang 268409-2012[5] Đây được coi là cẩm nang trong đánh giá đất sản xuất nông nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện Tuy nhiên đây cũng chỉ là khung cơ bản để hướng dẫn thống nhất nội dung, trình tự đánh giá đất và gợi ý các nhóm yếu tố gắn với chỉ tiêu cần lựa chọn, riêng chỉ tiêu cụ thể sử dụng để phân hạng đất phải tùy thuộc từng địa phương, từng vùng, khả năng bổ sung và nguồn tài liệu thứ cấp sẵn có tại địa phương có thể kế thừa
1.1.3 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả bền vững và tiêu chí đánh giá tính hiệu quả bền vững của sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
Theo Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN, 2003) [76] thì “Phát triển bền vững” xuất hiện đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới cho rằng “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động của nó đến môi trường sinh thái học” Tiếp theo Ủy ban môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới, 1987 chỉ ra rằng “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Khái niệm “Nông nghiệp bền vững” được Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WOED): Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Và dĩ nhiên để sản xuất nông nghiệp bền vững thì cần phải bào tồn quỹ đất cả về số lượng và chất lượng Điều này đã được Smyth A.J and Dumanski J, (1993) [84] thì nền tảng của một nền nông nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng sinh học Nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo được 3 yêu cầu: (1) Quản lý đất bền vững; (2) Cải tiến công nghệ; (3) Nâng cao hiệu quả kinh tế Trong đó quản lý đất bền vững được đặt lên hàng đầu Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động, thực vật để không bị suy thoái môi trường, sử dụng kỹ thuật thích hợp, tạo sinh lợi về kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (Mankin, 1998) [77] Tại cuộc họp thượng đỉnh tháng 11 năm 1996, Tổ chức FAO đã đề xuất một số tiêu chí cho nông nghiệp bền vững bao gồm:
Trang 27- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về
số lượng và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp
- Cung cấp việc làm lâu dài, đủ thu nhập và các điều kiện sống
- Duy trì và tăng cường khả năng tái sản xuất các loại tài nguyên nông nghiệp (đất, nước, cây trồng, động vật nuôi)
- Giảm thiểu rủi ro và khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp
Vấn đề đặt ra là khi đánh giá hiệu quả hay tính bền vững với nhiều tiêu chí và chỉ tiêu như vậy thì sử dụng phương pháp nào trong khi vai trò của các tiêu chỉ và từng chỉ tiêu khác nhau? Để giải quyết bài toán phân tích đa chỉ tiêu này, Saaty (1991, 1996, 2000
và 2008) [80] [81] [82] [83] đã đưa ra phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process, thường gọi là phương pháp AHP), trình tự của phương pháp này bắt đầu từ ý kiến của chuyên gia xác định tầm quan trọng của từng yếu tố hay từng chỉ tiêu, bước tiếp theo là lập ma trận so sánh cặp đôi để xác định trọng số và bước thứ 3 là tính điểm cho từng chỉ tiêu hay tiêu chí và tiến hành phân cấp đánh giá hiệu quả Phương pháp này không những chỉ được sử dụng trong đánh giá tính bền vững cho từng tiêu chí và đánh giá tổng hợp HQKT, HQXH, HQMT mà còn được tích hợp với Hệ thống thông tin (GIS) để phân tích không gian gắn với từng khoanh đất, vạt đất nhằm xác định tính bền vững Đáng chú ý là các nghiên cứu của Motuma và cs 2016 [78], Pramanik 2016 [86], Zabihi và cs,
2015 [88]
Tại Việt Nam, theo Viện Quy hoạch & TKNN (2006) [62], Nông nghiệp bền vững có sức sống về mặt kinh tế, môi trường và công bằng về xã hội, nghĩa là phải đáp ứng được nhu cầu về thức ăn, nước uống sạch cho con người, tạo ra việc làm nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng không làm tổn hại đến nguồn lợi tự nhiên và cho các thế
hệ tương lai Nông nghiệp bền vững không chỉ tiếp thu những tri thức, kỹ thuật của các nền nông nghiệp khác mà còn phải kế thừa kinh nghiệm của nền nông nghiệp truyền thống Theo Trần An Phong (1995)[36], Việc sử dụng đất hợp lý, bảo vệ, bồi dưỡng đất
và bảo vệ môi trường phải thực sự là một bộ phận hợp thành của chiến lược nông nghiệp Quan điểm mang tính chất trung tâm và chỉ đạo trong chiến lược sử dụng đất ở nước ta là quan điểm đầu tư theo chiều sâu, thực sự là mũi nhọn trong việc đầu tư vào
nông nghiệp Lê Văn Khoa, Lê Đức (2015) [29], Phạm Hoàng Hải (2015) [23] đều
thống nhất cho rằng để sử dụng đất bền vững không chỉ đòi hỏi về công nghệ, kỹ thuật
Trang 28đơn thuần mà cần có sự kết hợp giữa kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, luật pháp, chủ trương chính sách, xã hội, nhân văn và môi trường Đồng thời cũng chỉ ra rằng để đánh giá tính bền vững hay hiệu quả cần phải dựa vào 3 tiêu chí là kinh tế, xã hội và môi trường
Như vậy phần lớn các nghiên cứu đều chỉ ra rằng muốn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững hay không bền vững phải dựa vào 3 tiêu chí đó là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Tuy nhiên các chỉ tiêu của từng tiêu chí lại rất khác nhau trong các nghiên cứu Cụ thể:
1.1.3.1.Về hiệu quả kinh tế:
Được tính trên 1 ha đất nông nghiệp dựa trên các chỉ tiêu sau:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH)
TNHH = GTGT - Thuế (T) - chi phí lao động thuê ngoài (L)
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp
Trang 29Đa số các nghiên cứu đều sử dụng các chỉ tiêu nói trên nhưng khi đánh giá tổng hợp lại rất khác nhau như dựa vào tỉ lệ tương đối của số lượng chỉ tiêu đạt mức
A, xếp mức A (Nguyễn Tuấn Anh, 2012) [1]; Bùi Thanh Hải và cs (2015) [25], SomPhanh Phengsida (2016) [38] Theo Lê Cảnh Định (2011) [19]; Lê Tấn Lợi (2017) [30], hiệu quả kinh tế được đánh giá bằng 3 chỉ tiêu là tổng giá trị sản phẩm, lãi thuần và hiệu suất đầu tư tính bằng lần nhưng khi đánh giá hiệu quả tổng hợp, tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE), trong đó áp dụng phương pháp xác định thứ bậc hay tầm quan trọng của từng chỉ tiêu trong tiêu chí (phương pháp thứ bậc - AHP), điểm đánh giá là tích số của giá trị từng chỉ tiêu tương ứng với mức phân cấp cao thấp nhân với trọng số Phân cấp điểm tổng số của từng chỉ tiêu theo mức rất cao (VH), cao (H), trung bình (M), thấp (L) và rất thấp (VL)
1.1.3.2 Về hiệu quả xã hội
Theo Nguyễn Văn Toàn (2010), để đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất nên chọn 3 hoặc 4 chỉ tiêu gồm khả năng thu hút lao động, giá trị gia tăng trên ngày công lao động thu được khi thực hiện kiểu sử dụng đất đã chọn, khả năng tiêu thụ sản phẩm và mức độ chấp nhận của người dân Các chỉ tiêu này được phân cấp thành 3 mức độ, cao thấp và trung bình [44] Đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu phải dựa trên trọng số của từng chỉ tiêu chứ không áp đặt chủ quan Lê Thị Giang và Nguyễn Khắc Thời (2012) [22], Đỗ Thị Tám (2013) [39] chọn 2 chỉ tiêu là số ngày công thu hút và giá trị ngày công để đánh giá HQXH Lê Cảnh Định (2011) [19] thì lựa chọn 5 chỉ tiêu bao gồm: Lao động, văn hoá địa phương, phù hợp với chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và phù hợp với vốn đầu tư của chủ hộ Như vậy số lượng chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá HQXH cần được lựa chọn phụ thuộc vào điều kiện của từng vùng và khả năng thu thập hoặc kế thừa
1.1.3.3 Về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải (1999) [24] hiệu quả môi trường được phân ra theo nhiều nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường
và hiệu quả sinh học môi trường Hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp gồm: sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật bảo đảm cho cây trồng sinh trưởng tốt, năng suất cao, không bị sâu bệnh và không
Trang 30gây ô nhiễm môi trường Hiệu quả sinh học môi trường được đánh giá thông qua quan
hệ giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả vật lý môi trường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu phản ánh việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được năng suất cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Các nghiên cứu của Nguyễn Khang (2004) [28], Nguyễn Văn Toàn (2005, 2010) [43] [44] cũng đều cho rằng đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất phải thông qua 3 nhóm chỉ tiêu chính gồm khả năng che phủ đất, nhóm thứ 2 là khả năng duy trì độ phì nhiêu của đất và nhóm thứ 3 là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất và nước Tất nhiên trong những trường hợp cho phép còn phải xem xét khả năng ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của vùng nghiên cứu đó là đồng bằng hay vùng đồi núi Đối với đồng bằng thì chỉ tiêu độ che phủ không quan trọng bằng vùng đồi núi
1.1.4 Một số lý luận về sản xuất nông sản hàng hoá ở trong và ngoài nước
1.1.4.1.Một số lý luận chung
Theo Michael E Porter (Dẫn theo Nguyễn Chí Trung, 2008) [52] thì sản xuất nông sản hàng hoá nói riêng và sản xuất hàng hoá nói chung là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển xã hội và gắn liền với nền kinh tế thị trường nên chịu sức cạnh tranh khốc liệt của sản phẩm cùng loại Cũng theo tác giả thì quá trình toàn cầu hóa đi đôi với sự tự do hóa thương mại phát triển nhanh chóng nhờ sự thúc đẩy bởi các tiến
bộ của khoa học và công nghệ, đã làm thay đổi quan trọng diện mạo của đời sống kinh
tế, chính trị và xã hội ở tất cả các nước Quá trình này đã mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức mới với nguy cơ phát triển thiếu bền vững Do vậy, phát triển sản phẩm nông sản chủ lực nhất thiết phải cân nhắc đến tính bền vững, lâu dài của chúng
và đặt chúng trong mối quan hệ tam giác “triple bottom line”, với 3 cạnh nối các đỉnh: kinh tế, xã hội và môi trường
- Liên quan đến yếu tố con người: Phát triển sản phẩm nông sản hàng hoá
chủ lực phảiđáp ứng các yêu cầu về xã hội và công bằng.Phát triển sản phẩm chủ lực sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động ở nông thôn, cải thiện chất
Trang 31lượng cuộc sống và giảm thiểu tình trạng mất cân bằng trong thu nhập giữa thành
thị và nông thôn
- Liên quan đến yếu tố tài nguyên: Phát triển sản phẩm nông sản hàng hoá chủ
lực trong giới hạn khả năng cho phép của tài nguyên, nguồn lực và hệ sinh thái Phát triển sản phẩm chủ lực phải góp phần hạn chế sử dụng các hóa chất gây ô nhiễm đất và nước, chặn đứng phá rừng, xói mòn đất, rửa trôi chất màu và phá hủy hệ sinh thái, giảm đốt củi
- Liên quan đến yếu tố lợi nhuận: Phát triển nông sản hàng hoá chủ lực phải tạo
ra giá trị một cách công bằng cho người tiêu dùng và các bên liên quan trong chuỗi giá trị Phát triển sản phẩm nông sản chủ lực cần bảo đảm khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp và các bên liên quan, tạo ra giá trị hữu dụng cao cho người tiêu dùng, đảm bảo kết nối giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các công ty lớn và các công ty đa quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và không ngừng tăng quy mô sản xuất hợp lý
Cũng liên quan đến sản xuất dựa trên điều kiện lợi thế, Adam Smith 1790) đã đưa ra Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage) Trong mô hình kinh
(1723-tế cổ điển, các nhà học giả cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Trong điều kiện đó,
A Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương (Dẫn theo Nguyễn Chí Trung, 2008) [52]
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí nguồn lực để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm Khi một nước sản xuất sản phẩm
có chi phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác
có chi phí sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực) Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại hiệu quả Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước
Trang 32Ngày nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là công nghệ sản xuất với chi phí chấp nhận được mà phải nhập khẩu công nghệ Khi nhập công nghệ sản xuất, lao động trong nước sẽ học được cách sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển (có lợi thế tuyệt đối về công nghệ) và các nước đang phát triển (có lợi thế tuyệt đối về nguồn lực) thông qua bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất
và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá
là lợi thế tuyệt đối (Dẫn theo Nguyễn Chí Trung, 2008) [52]
David Ricardo (1772-1823) cũng đã đưa ra Học thuyết lợi thế so sánh dựa trên
nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia mà nền tảng học thuyết về giá trị lao động Theo học thuyết này thì ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh Nghĩa là việc chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia Muốn xác định lợi thế so sánh phải xác lập lợi thế tuyệt đối Toàn bộ phân tích của
D Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động khác nhau (Dẫn theo Nguyễn Chí Trung, 2008) [52]
Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ như nhau: các nước phát triển có cung về tư bản nhiều hơn các nước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế
so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công
Quốc gia nào, địa phương nào sản xuất nông sản hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất
Trang 33được nông sản hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những nông sản hàng hóa này Tại Việt Nam các sản phẩm chủ lực trong nông nghiệp như cao
su, cà phê, chè, luá gạo là những sản phẩm có lợi thế (Dẫn theo Nguyễn Chí Trung, 2008) [52]
Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về lý luận nông sản hàng hoá Theo Trần Thị Lan Hương (2008)[27], Hoàng Văn Cường (2014) [14] thì sản xuất nông sản hàng hóa là việc sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp để bán hoặc trao đổi Nông sản hàng hóa nói chung bao gồm toàn bộ số nông sản được đem ra trao đổi, bất luận nó trao đổi cho ai, thuộc ngành nào, kể cả số nông sản trao đổi giữa những người hoạt động trong ngành nông nghiệp Trần Thị Lan Hương (2008) [27] thì sản xuất hàng hoá
là kiểu tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm làm ra không phải để thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà để thoả mãn nhu cầu của xã hội thông qua trao đổi mua bán.Trình tự của hoạt động sản xuất hàng hoá đi từ sản xuất- phân phối- trao đổi –tiêu dùng Sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai đều thông qua mua và bán, thông qua thị trường và đều do thị trường quyết định
1.1.4.2.Chỉ tiêu đo lường sản xuất nông sản hàng hoá
Theo Trần Thị Lan Hương (2008) [27], Hoàng Văn Cường (2014) [14] để đánh
giá trình độ sản xuất của một cơ sở sản xuất dựa vào 3 chỉ tiêu gồm:
+ Chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa: Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trình độ của sản xuất hàng hóa Chỉ tiêu này có thể tính bằng tỷ lệ về mặt hiện vật, nếu trong cơ cấu sản phẩm là đồng nhất, có thể so sánh được về lượng hiện vật
+ Chỉ tiêu tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa: Để tính chỉ tiêu này, có thể so sánh giữa tổng giá trị sản phẩm hàng hóa nói chung với tổng giá trị sản lượng của doanh nghiệp Nếu muốn so sánh chỉ tiêu này qua các năm thì người ta có thể dùng giá cố định, hoặc cũng có thể dùng giá hiện hành
+ Chỉ tiêu quy mô giá trị sản phẩm hàng hóa: Thông thường khi sử dụng chỉ tiêu tỷ suất hàng hóa đều kèm theo chỉ tiêu quy mô giá trị sản phẩm hàng hóa
1.1.4.3.Các đặc trưng cơ bản của nông sản hàng hóa
Theo Hoàng Văn Cường (2014) [14], thì sản xuất nông sản hàng hóa có các
Trang 34đặc trưng cơ bản như tính thời vụ: Quá trình sản xuất, thu hoạch, buôn bán hàng nông sản mang tính thời vụ bởi vì các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định Đồng thời quá trình sản xuất nông sản hàng hóa cũng chịu sự tác động của:
- Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên: Mặt hàng nông sản chịu tác động và ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết
- Chất lượng của nông sản hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng: Chất lượng hàng nông sản sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng Chính vì vậy, nó luôn là yếu tố đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm
1.1.4.4 Vai trò của phát triển sản xuất nông sản hàng hóa với phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân
Theo Hoàng Văn Cường (2014) [14] thì sản xuất NSHH có vai trò đặc biệt đối
với sự phát triển kinh tế, xã xã hội có thể nhận xét dưới 3 góc độ:
Một là: Thúc đẩy khai thác tốt hơn tiềm năng vốn có của từng địa phương, từng
chủ thể sản xuất để tạo ra nhiều nông sản nhằm trao đổi thu lợi cao hơn
Hai là: Tạo ra những vùng chuyên môn hóa cao, làm cơ sở thúc đẩy tiến bộ
khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp
Ba là: Tạo ra ưu thế trong việc nâng cao phúc lợi, cải thiện một cách căn bản
đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn, nâng cao trình độ văn minh của xã hội
Bốn là: Tạo ra sản phẩm để trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu khác
1.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam và yêu cầu về đất đai của cây cam trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam trên thế giới giai đoạn 2005-2013
Số liệu tổng hợp của FAOSTAT (2015) [75] cho thấy, diện tích đất được sử dụng
để trồng cam cho thu hoạch của cả thế giới cũng không ổn định trong giai đoạn
2005-2013, năm cao nhất là năm 2010 có diện tích đạt 4.127.075 ha, năm 2005-2013, giảm 110.812
Trang 35ha Tuy nhiên nếu so với năm 2005, diện tích sử dụng đất cho trồng cam đã tăng lên 225.604 ha (từ 3.790.659 ha lên 4.016 623 ha) Trong các châu lục, châu Mỹ có diện tích lớn nhất, lần lượt qua các năm 2005, 2010 và 2013 là 1.777.899 ha, 1.742.146 ha, 1.585.567 ha, đây cũng là khu vực có mức giảm về diện tích lớn nhất Trong khi đó châu
Á mặc dù xét về diện tích là khu vực lớn thứ 2 nhưng trong giai đoạn này, diện tích cam liên tục tăng, từ 1.325.556 ha (năm 2005) lên 1.657.706 ha (năm 2013) và 1.657.894 ha Châu Đại Dương có diện tích đất trồng cam nhỏ nhất
Năng suất cam của Thế giới liên tục tăng nhưng không nhiều, từ 166,6 tạ/ha năm 2005 lên 168,4 tạ/ha năm 2010 và 179 tạ/ha năm 2013 Trong các Châu lục, Châu Đại Dương có năng suất cao nhất vào năm 2005 nhưng lại không ổn định nhưng năng suất vẫn vào loại cao Châu Mỹ có năng suất cao và liên tục tăng, năm 2013 đạt 211,6 tạ/ha Châu Âu cũng là châu lục có năng suất cam cao, năm 2003 đạt 219,6 tạ/ha Châu
Á có năng suất cam thấp, năm 2013 đạt cao nhất với 139,1 tạ/ha Sản lượng cam của Thế giới liên tục tăng, từ 63.167.854 tấn năm 2005 lên 63.167.854 tấn năm 2010 lên 71.909.516 tấn năm 2013 Trong các Châu lục, Châu Mỹ có sản lượng lớn nhất, tiếp theo là Chau Á, các châu còn lại có sản lượng nhỏ
Bảng 1.1 Diện tích đất sử dụng đất và kết quả sản xuất cam của thế giới
và châu lục giai đoạn 2005-2013
Năm Hạng mục ĐVT
Diện tích theo châu lục
Toàn Thế giới
Đại Dương
2005
Diện tích Ha 357.043 1.777.899 1.325.556 307.137 23.026 3.790.659 Năng suất Tạ/ha 167,2 195,5 121,7 189 220,7 166,6 Sản lượng Tấn 5.970.204 34.753.818 16.130.740 5.804.943 508.148 63.167.854
2010
Diện tích Ha 391.827 1.742.146 1.657.706 314.023 21.373 4.127.075 Năng suất Tạ/ha 181,8 195,9 128,1 211 188,6 168,4 Sản lượng Tấn 7.123.550 34.132.373 21.230.520 6.626.606 403.031 69.516.079
2013
Diện tích Ha 457.305 1.585.567 1.657.894 293.731 21.766 4.016.263 Năng suất Tạ/ha 184,1 211,6 139,1 219,6 189,5 179,0 Sản lượng Tấn 8.420.380 33.556.392 23.068.576 6.451.657 412.511 71.909.516
Nguồn: FAOSTAT (2015) [75]
Trang 361.2.1.2 Tình hình xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu cam trên thế giới và Châu lục giai đoạn 2005-2013
Cam là cây trồng cho sản phẩm hàng hoá nên cũng được trao đổi khá nhiều trên
thế giới, theo số liệu thống kê của FAOSTAT (2015) [75], trong giai đoạn 2005-2013,
khối lượng cam trao đổi trên thế giới tăng từ 4.953.451 tấn lên 7.131.003 tấn, tăng 1,44 lần, kim ngạch xuất nhập đạt 4.858.730 nghìn US, trong đó khu vực có xuất khẩu lớn nhất
là châu Phi với 1.473.960 tấn năm 2005 và tăng lên 2.480.704 tấn (2015), tăng hơn 1,68 lần, mức độ tăng cao hơn so với mức tăng của thế giới trong cùng giai đoạn Châu Đại dương có mức xuất khẩu thấp nhất với 151.003 tấn năm 2005, đạt giá trị 97.939 nghìn USD Năm 2015 xuất khẩu tăng không đáng kể với 136.333 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 133.295 nghìn USD Như vậy cam cũng là sản phẩm trao đổi nhiều trên thị trường thế giới cả về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu
Bảng 1.2: Khối lượng, Kim ngạch xuất khẩu cam của thế giới và các châu lục giai
Thế giới 4.953.451 2.580.982 6.524.169 4.515.875 7.131.003 4.858.730
Nguồn: FAOSTAT (2015) [75]
1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng cam ở Việt Nam
Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2016 [48], diện tích sử dụng đất trồng cam trong giai đoạn 2010 đến 2015 tăng, giảm không ổn định Mặc dù cây cam được xác định là một trong những cây ăn quả chủ lực mang tính hàng hoá không chỉ tiêu dùng nội địa mà còn xuất khẩu Năm 2010, diện tích đất trồng cam đạt 67.700 ha, sau đó giảm và đến năm 2015, diện tích đất trồng cam đã được khôi phục và có tăng chút ít, đạt 67.900 ha, tăng 200 ha so với năm 2010 Tuy diện tích đất trồng cam không ổn định nhưng
Trang 37năng suất và sản lƣợng cam liên tục tăng: năm 2010 đạt 1.308.393,7 tấn, năm 2011 đạt 1.350.220 tấn, năm 2012 đạt 1.382.263,0 và năm 2013 đạt 1.399.702,4 tấn Sự gia tăng năng suất cam là do có sự đầu tƣ thâm canh
Bảng 1.3 Thống kê diện tích đất trồng cam, quýt, năng suất, sản lƣợng ở Việt
Nam giai đoạn 2010 - 2015
ha nhƣng năm 2015 chỉ còn 368 nghìn ha, giảm 78 nghìn ha Năng suất cam của vùng này 13,01 tấn/ha năm 2010 tăng lên 13,42 tấn/ha và sản lƣợng từ 130.100 tấn lên 384.100 tấn năm 2015, tăng 2,95 lần trong vòng 5 năm
Trang 381.2.3 Những nghiên cứu về yêu cầu đất đai của cây cam trên thế giới và Việt Nam
Trong phần lý luận về đánh giá đất đã đề cập đến khái niệm đất đai, theo đó đất đai không chỉ giới hạn với các chỉ tiêu về đất như loại đất, tầng dày, thành phần cơ giới… mà còn có các chỉ tiêu thuộc về yếu tố khí hậu, các chỉ tiêu thuộc yếu tố nước Nghiên cứu yêu cầu về đất đai của cây cam không nhiều, đáng chú ý là nghiên cứu của FAO (1998) [73]
1.2.3.1.Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ phù hợp cho cam phát triển là từ 27 – 320C (theo Walter Reuther et al.,
1973 [79]; Swingle W T and Reece P C., 1967 [85]), tác giả Chapot H., 1975 [65] lại cho rằng nhiệt độ thích hợp nhất với cam là từ 26 - 300C Nhiệt độ và biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hưởng khá lớn đến phẩm chất cam, thông thường cam vùng á nhiệt đới lạnh có chất lượng, mã quả tốt hơn so với cam vùng nhiệt đới Nhiệt độ cao ở vùng
xứ nóng thường làm vỏ cam vẫn còn xanh khi quả đã chín Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng ảnh hưởng khá lớn đến phân hoá chồi hoa, khi nhiệt độ ban ngày và đêm là 20 -
150C thì tỷ lệ chồi hoa nhiều hơn so với nhiệt độ ngày đêm là 20 - 180C hoặc 21 -
170C Khi nhiệt độ xuống dưới -30C hoặc -40C thì lá bắt đầu bị chết do rét, nếu xuống dưới - 70C thì cây bị chết hoàn toàn Tuy nhiên, nhiệt độ cao lại thuận lợi cho việc ra lộc Cam ngọt Valencia ở nhiệt độ trung bình 30 - 320C chỉ cần 20 - 30 ngày là ra xong một đợt lộc mới, trong khi đó nếu ở nhiệt độ 200C thì cần 40 - 50 ngày theo (Phí Văn
Ba, 1976) [2]
Theo FAO (1998) [73] tại bảng 1.4, Phí Văn Ba (1976) [2], cam có thể sinh trưởng và phát triển ở những vùng có nhiệt độ trung bình từ 13-390C Nếu nhiệt độ trung bình năm dưới 130C hoặc >390C đều không thể trồng cam được Nhiệt độ trung bình năm thích hợp nhất dao động trong khoảng 26-330C hoặc 19-260C, thích hợp với nhiệt độ 33-360C hoặc 16-190C Tại thời kỳ sau thu hoạch 2 tháng, đây là thời kỳ phân hóa mầm hoa, cam cần nhiệt độ thấp từ 10-130C hoặc từ 8-100C hoặc 13-150C Nếu nhiệt độ của thời kỳ này <4 hoặc >250C thì không thể trồng cam được
Trang 39Bảng 1.4 Yêu cầu về khí hậu và ngưỡng phân cấp theo mức độ
thích hợp của cây cam
1/2 PET)
2,5-3 2,5-2
3-4 2-0
C) 26-30
26-22
30-33 22-19
33-36 19-16
36-39 16-13
tháng sau khi thu hoạch (o
C)
13-10 13-15
10-8 15-8
8-6 18-20
6-4 20-25
< 4
> 25 Nhiệt độ trung bình giai đoạn ra
cổ, bazan, phiến thạch, dốc tụ cam vẫn phát triển tốt Cũng theo Trần Thế Tục (1998) [49] cho rằng nếu cam quýt trồng trên các loại đất nặng (đất sét hoặc đất thịt pha sét) thì
tỷ lệ đường/axít giảm, cây phát triển kém quả thô vỏ dày, hàm lượng vitamin C tăng, và chín muộn hơn Trồng trên đất cát, khả năng thoát nước nhanh, keo đất ít, khả năng giữ
và hấp thu chất dinh dưỡng kém, rễ sẽ phát triển mạnh, quả chín muộn hơn, nhiều nước, khô hạn dễ bị xốp, tỷ lệ đường/axít cao hơn và vỏ mỏng hơn Vũ Công Hậu (1999) [26] khi đề cập đến các yếu tố cần quan tâm khi lựa chọn địa điểm phát triển cây ăn quả thì cho rằng đất cây ăn quả cần trước hết phải có kết cấu tốt, tơi xốp, thoáng khí và giữ được nước Đất phải có tầng dày, dễ thoát nước Nghiên cứu cũng cho thấy cam có thể trồng ở các vùng có địa hình cao nhưng cứ lên 100 m, cam sẽ chín muộn 1 tuần Theo Đào Thanh Vân (2011) [54], cam thích hợp nhất (S1) trên đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), đất đỏ vàng trên đá sét (Fs) thích hợp với đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) và ít thích hợp với đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf), đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa)
Trang 40Tầng dày đất thích hợp nhất là lớn hơn 100 cm, thích hợp 70-100 cm Độ dốc từ 8- 250thích hợp nhất để trồng cây có múi nói chung và cam nói riêng.
Theo FAO (1998) [73] tại bảng 1.5 với đất rất thích hợp trồng cam phải có tầng dày tổi thiểu 150 cm, đất thích hợp từ 100-150 cm và ít thích hợp từ 75-100 cm và <75
cm thì không trồng đƣợc cam trồng cam Thành phần cơ giới thích hợp nhất từ thịt pha cát đến thịt pha sét limon, đất có thành phần cơ giới sét chặt hoặc sét pha limon chặt không thích hợp Trong đất lẫn 15% mảnh đá vụn thô là thích hợp nhất còn nếu trên 55% thì không thích hợp FAO cũng chỉ ra các mức thích hợp của một số chỉ tiêu dinh dƣỡng trong đất nhƣ hàm lƣợng các bon hữu cơ, tổng kiềm trao đổi, dung tích hấp thu
Bảng 1.5: Yêu cầu về đặc tính vật lý, mảnh vụn thô, độ sâu tầng đất và độ phì
theo mức độ thích hợp của cây cam
Thịt pha sét cát, sét pha thịt, cát mịn pha thịt
Sét cấu trúc cục tảng, sét pha cát, cát, cát mịn, sét pha limon cấu trúc cục tảng, sét
Sét có cấu trúc các mặt trƣợt, sét mịn cấu trúc cục tảng
Sét chặt, sét pha limon chặt, sét mịn, cấu trúc mặt trƣợt
2 Mảnh vụn
thô (% thể tích) 0-3 3-15 15-35 35-55 >55 3.Độ sâu tầng
5,8-5,5 7,0-7,6
5,5-5,2 7,6-8,0
5,2-5,0 8,0-8,2
-
> 8,2
OC (%) > 1,5 1,5-0,8 < 0,8 - -
Nguồn: FAO (1998) [73]