Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ -/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
TS LƯU ANH ĐỨC
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn,
Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … tầng … Hội trường bảo vệ Luận văn Thạc sĩ
Học viện Hành chính Quốc gia Số: 77, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi …h ngày … tháng … năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia
hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học,
Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ mà trước hết là cách mạng thông tin, truyền thông đã tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội Sự phát triển của truyền thông đã trở thành một trong những tiêu chí thể hiện trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia Thu nhận và truyền phát thông tin là chức năng cơ bản của truyền thông,
là cửa sổ nhìn ra thế giới Nguồn thông tin của truyền thông không chỉ đa dạng mà còn nhiều cung bậc Với các phương tiện như Internet, phát thanh, truyền hình, báo giấy Truyền thông có khả năng cung cấp thông tin cho công chúng một cách nhanh chóng, cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí từng phút Do vậy, hầu hết các quốc gia đều chú ý đầu tư phát triển lĩnh vực này Hơn nữa, do tính đại chúng của truyền thông, đây là lĩnh vực thu hút các nhà đầu tư thông qua quảng cáo và tiếp thị sản phẩm của mình
Ở Việt Nam, truyền thông đang có sự thay đổi nhanh chóng Trước sức ép ngày càng tăng đến từ các phương thức truyền thông khác nhau đã đưa ngành vừa
là dịch vụ công quan trọng vừa là ngành có thể hạch toán kinh doanh, nhất là lĩnh vực phát thanh và truyền hình
Phát thanh và truyền hình Việt Nam đang trong cuộc cách mạng số hóa Việc đổi mới về công nghệ là xu thế tất yếu của các đài phát thanh truyền hình trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Ngày 27/12/2011 Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 2451/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm 2020 Với mục tiêu: Chuyển đổi hạ tầng truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất từ công nghệ tương tự sang công nghệ số theo hướng hiện đại, hiệu quả, thống nhất về tiêu chuẩn và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng số lượng kênh chương trình, nâng cao hiệu quả sử dụng tần số truyền hình, đồng thời giải phóng một phần tài nguyên tần số để phát triển các dịch vụ thông tin di động và vô tuyến băng rộng Mở rộng vùng phủ sóng truyền hình số mặt đất nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cung cấp các dịch
vụ truyền hình đa dạng, phong phú, chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu và thu nhập của người dân và đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước
Để thực hiện được mục tiêu trên đồng thời giữ vững và khẳng định được thương hiệu đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình phải rất nỗ lực, trong đó nhân tố con người là đặc biệt quan trọng Họ cần là những người có trình độ chuyên môn tốt, được đào tạo bải bản, tốt nghiệp tại các trường đại học có chuyên ngành báo chí, điện ảnh, phát thanh truyền hình, quay phim, công nghệ thông tin… có kỹ năng làm việc chuyên nghiệp Tuy nhiên, các đài phát thanh truyền hình nói chung và Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội nói riêng đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng viên chức Công tác tuyển dụng viên chức chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển, việc tuyển dụng viên chức chỉ là tìm kiếm và tuyển chọn cho nhu cầu hiện tại mà chưa đáp ứng cho nhu cầu tương lai
Trang 4Là một đơn vị sự nghiệp công lập, Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội là
cơ quan thực hiện chức năng đặc biệt quan trọng: Cơ quan báo chí của Đảng bộ, chính quyền Thành phố Hà Nội Bởi vậy, việc lựa chọn nguồn nhân lực có chất lượng của nhà Đài nhằm đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về tuyên truyền chính sách, phản ánh sự vận động, phát triển nhanh chóng kinh tế - xã hội của đất nước của Thủ đô, là tiếng nói của Thủ đô, diễn đàn để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Thủ đô trở nên vô vùng bức thiết
Xuất phát từ vai trò của công các tuyển dụng viên chức, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội”
nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng chính sách tuyển dụng của cơ quan và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tuyển dụng viên chức của Đài
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu về công tác tuyển dụng thuộc các khu vực, các đơn
vị khác nhau Điều này là do công các tuyển dụng ngày càng được chú trọng quan tâm nhiều hơn
Nguyễn Chơn Trung (2011), Vai trò của công tác tuyển dụng nhân lực trong
tổ chức, Tạp chí khoa học Trường Đại học Đà Nẵng số 7, năm 2011
Trần Văn Trung (2015), Chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây
Bắc Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc
gia, Hà Nội
Trần Văn Ngợi (2015), Thu hút và trọng dụng người có tài trong cơ quan Hành
chính Nhà nước, Luận án tiến sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội
Kim ngọc Anh (2014), Phát triển nguồn nhân lực phát thanh – truyền hình
Việt Nam đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ Kinh tế
chính trị, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Đài Tiếng nói Việt Nam (dịch), Cẩm nang quản lý phát thanh truyền hình
của Keith Jackson, Phil Charley Tom Hogan
Nhìn chung, các bài viết, các công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu về viên chức, tuyển dụng viên chức tại nhiều khía cạnh theo sự thay đổi của pháp luật về đội ngũ này Tuy nhiên, vấn đề chính sách tuyển dụng viên chức ngành thông tin và truyền thông vẫn chưa được nghiên cứu sâu cả về lý luận lẫn thực tiễn Với mong muốn nghiên cứu sâu những vấn đề về chính sách tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin
và truyền thông nói chung và chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội nói riêng, tác giả hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp nhất định nhằm hoàn thiện chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về chính sách tuyển dụng viên chức và từ phân tích thực trạng chính sách tuyển dụng đội ngũ viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội đưa ra giải pháp về chính sách nhằm tuyển dụng được những viên chức có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu của công việc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tuyển dụng viên chức
Trang 5- Phân tích và làm rõ thực trạng chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội qua đó phát hiện những bất cập còn tồn tại trong hoạt động trên, tìm ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015
- Về không gian: Tại Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống - cấu trúc
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày với 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chính sách tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin và truyền thông
Chương 2: Thực trạng chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài Phát thanh
và Truyền hình Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tuyển dụng viên chức tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
Trang 6Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC
TRONG NGÀNH THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập
Theo quy định tại Chương 1, Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 15 tháng 11
năm 2010 thì đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu: Là tổ chức do cơ quan có thẩm
quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [15] Đơn vị sự nghiệp công lập gồm đơn vị sự nghiệp công lập
được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực thông tin và truyền thông
Đài Phát thanh và Truyền hình thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương: Là đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện
chức năng cơ quan báo chí của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Đài Phát thanh và Truyền hình cấp tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước về báo chí, về truyền dẫn phát sóng của Bộ Thông tin và Truyền thông; Sở Thông tin và truyền thông thực hiện quản lý nhà nước trên địa bàn theo phân công của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh Đài Phát thanh truyền hình có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng [4]
Phân loại đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông:
- Phân loại theo mức độ tự chủ về tài chính:
+ Đơn vị tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư;
+ Đơn vị tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên;
+ Đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên;
+ Đơn vị được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí chi thường xuyên
- Phân loại theo phân cấp quản lý:
+ Đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông do các cơ quan Trung ương quản lý, bao gồm: Các đơn vị do Quốc hội, Chính phủ; các Bộ, Ngành và các cơ quan Trung ương khác quản lý theo quy định của pháp luật;
+ Đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông do cấp tỉnh quản lý, bao gồm: Đơn vị sự nghiệp do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; các Sở, ban ngành cấp tỉnh và các cơ quan khác thuộc cấp tỉnh quản lý theo quy định của pháp luật;
+ Đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông do huyện quản lý theo quy định của pháp luật
1.1.3 Viên chức và viên chức ngành thông tin và truyền thông
1.1.3.1 Viên chức
Theo Luật Viên chức 2010 thì: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển
dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [16]
Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ thì viên chức được phân loại như sau:
Trang 7- Phân loại theo vị trí việc làm
- Theo chức danh nghề nghiệp
1.1.3.2 Viên chức ngành thông tin và truyền thông
Theo cách tiếp cận về viên chức tại Luật Viên chức số 58/2010/QH12, có thể hiểu: Viên chức ngành thông tin và truyền thông là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các phòng/ban thuộc đơn vị theo chế
độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị theo quy định của pháp luật
Viên chức ngành thông tin và truyền thông có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Phân loại viên chức theo độ tuổi;
- Phân loại viên chức theo trình độ chuyên môn;
- Phân loại viên chức theo chức danh nghề nghiệp;
- Phân loại theo trình độ lý luận chính trị;
- Phân loại theo trình độ ngoại ngữ
1.1.4 Tuyển dụng viên chức
Tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn những công dân Việt Nam có năng lực, phẩm chất, trình độ làm công tác chuyên môn tại các đơn vị sự nghiệp công lập, việc tuyển dụng được thực hiện qua ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm mà đơn vị yêu cầu Đây là công việc có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một đơn vị, bên cạnh đó còn tác động tới công tác quản lý của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức
1.1.5 Chính sách
Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý
đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Chính sách công thực chất là công cụ cơ bản, là phương thức chủ yếu, chính danh để thực hiện và thể hiện quyền lực Nhà nước – quyền lực của giai cấp cầm quyền
Chính sách công là phương thức cơ bản thực hiện và thể hiện sự gắn bó lợi ích của giai cấp, lực lượng xã hội cầm quyền Dù thực chất, chính sách công là phương tiện để thực hiện lợi ích của giai cấp, lực lượng xã hội cầm quyền, nhưng với tư cách là chính sách do Nhà nước - cơ quan quyền lực công - ban hành, chính sách công luôn phải đảm bảo yêu cầu về sự công bằng đối với các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau trong cộng đồng xã hội [10]
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: Hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách
1.1.6 Chính sách tuyển dụng viên chức
Chính sách tuyển dụng viên chức là những quy định của Nhà nước nhằm tìm kiếm và chọn lựa trong thị trường lao động những người có đủ điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ của hạng được tuyển dụng theo quy định của pháp luật, có kỹ năng chuyên môn đáp ứng được yêu cầu của vị trí công việc, có hiểu biết về pháp luật chuyên ngành và đạo đức nghề nghiệp
Trang 8Chính sách tuyển dụng viên chức chuẩn xác, khoa học là điều kiện tiên quyết, quyết định hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông Chính sách này sẽ giúp cho các đơn vị sự nghiệp thông tin và truyền thông chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với trình độ của công nghệ, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, tận dụng mọi cơ hội và ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong quá trình thực thi nghiệm vụ
1.2 Những vấn đề chung về chính sách tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin và truyền thông
1.2.1 Khái niệm chính sách tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin
và truyền thông
Chính sách tuyển dụng viên chức là những định hướng của Nhà nước nhằm tuyển chọn được những người phù hợp với vị trí làm việc ở vị trị trí viên chức trong bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập, có kiến thức, có kỹ năng, năng lực phù hợp với yêu cầu ở vị trí công việc, có hiểu biết về pháp luật chuyên ngành và đạo đức nghề nghiệp
Tuyển dụng viên chức ngành thông tin và truyền thông phải tuân thủ theo các quy định của tuyển dụng viên chức nói chung: Nghị định 29/2012/NĐ-CP, Thông tư 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc đã đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 04/2015/TT-BNV ngày 31/8/2015 sửa đổi Thông tư 15/2012/TT-BNV và Luật Viên chức 2010
1.2.2 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin và truyền thông
1.2.2.1 Quan điểm về chính sách tuyển dụng viên chức
Chính sách tuyển dụng viên chức phải đảm bảo các quan điểm sau:
Thứ nhất, việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo đúng theo các quy định,
quy trình về tuyển dụng viên chức theo quy định của pháp luật
Thứ hai, xây dựng chính sách phải đồng bộ từ khâu phát hiện, thu hút, bồi
dưỡng, đến trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với viên chức nói chung và nguồn viên chức chất lượng cao nói riêng
Thứ ba, thực hiện tuyển dụng rộng rãi các đối tượng, không phân biệt tôn
giáo, dân tộc Những người có đủ trình độ, có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu công việc đều có cơ hội được tuyển dụng
Thứ tư, chính sách tuyển dụng viên chức phải được thực hiện liên tục, thống
nhất, công bằng, khách quan, có tính đến đặc thù của ngành là ngành thông tin và truyền thông
Thứ năm, thực hiện đánh giá chính sách, đánh giá, khen thưởng và chế độ đãi
ngộ nhằm tạo điều kiện cho viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Thứ sáu, tiếp thu có chọn lọc, vận dụng kinh nghiệm phù hợp của các nước
trên thế giới và các tổ chức trong nước trong xây dựng, thực thi chính sách tuyển dụng viên chức
1.2.2.2 Mục tiêu của chính sách tuyển dụng viên chức
Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông đến năm 2020 nhằm đảm bảo về số lượng và chất lượng nhằm hoàn thành các nhiệm vụ:
- Đưa bưu chính trở thành ngành kinh tế hoạt động độc lập, có hiệu quả;
Trang 9- Thiết lập hạ tầng viễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước với các loại hình dịch vụ đa dạng;
- Xây dựng công nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghiệp phần mềm, nội dung số và dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu;
- Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, góp phần tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử;
- Xây dựng và phát triển một nền báo chí chuyên nghiệp, hiện đại, thực hiện tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức
xã hội và diễn đàn của nhân dân, có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin phục
vụ sự nghiệp phát triển đất nước, nâng cao dân trí, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
- Phát triển lĩnh vực xuất bản theo hướng độc lập, tự chủ, tiên tiến, hiệu quả, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân, phổ biến được nhiều tác phẩm có
giá trị của Việt Nam với thế giới
1.2.3 Nguyên tắc, điều kiện tuyển dụng
1.2.3.1 Nguyên tắc tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin và truyền thông phải tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu thực tế công việc;
- Nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật ;
- Nguyên tắc công bằng, bình đẳng;
- Nguyên tắc khách quan;
- Nguyên tắc tuân thủ theo quy định của Pháp luật;
- Nguyên tắc cạnh tranh;
- Nguyên tắc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL;
- Nguyên tắc ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số
1.2.3.2 Điều kiện tuyển dụng
Người đăng ký dự tuyển vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp phải có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của hạng viên chức tuyển dụng và có đủ các điều kiện cụ thể theo quy định tại Điều 22 Luật Viên chức số 58/2010/QH12
Điều 8, Mục 2, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện miễn thi một số môn
Trang 10Xét tuyển
Tại Điều 11, Mục 2, Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định rõ: Xét tuyển viên chức căn cứ vào kết quả học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển; kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành về năng
lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển
Đối với những trường hợp được xét tuyển đặc cách cũng được quy định rất
Điều 15, Mục 4, Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ: Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, thời hạn và địa điểm tiếp nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển
1.2.5.3 Tổ chức tuyển dụng viên chức
- Tuyển dụng viên chức bằng hình thức thi tuyển: Hoạt động tuyển dụng đặt dưới
sự chỉ đạo của Hội đồng tuyển dụng viên chức bao gồm các công việc cụ thể sau:
+ Niêm yết danh sách thí sinh dự thi tại các phòng thi trước ngày thi một ngày và tổ chức khai mạc kỳ thi;
+ Thông báo công khai thể lệ, quy chế, tiêu chuẩn, điều kiện dự tuyển, kế hoạch tổ chức tuyển dụng, môn thi, hình thức, thời gian và địa điểm thi;
+ Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ dự tuyển, thông báo danh sách những người
đủ điều kiện, tiêu chuẩn dự thi và những người không đủ điều kiện dự thi;
+ Tổ chức hướng dẫn quy chế thi và các tài liệu tham khảo cho ứng viên; + Tổ chức ra đề, chọn đề thi, coi thi, chấm thi và công bố kết quả;
+ Báo cáo kết quả thi lên cơ quan có thẩm quyền để ra quyết định tuyển dụng
- Tuyển dụng viên chức bằng hình thức xét tuyển: Ngoài các bước giống
như thi tuyển thì hình thức xét tuyển có những điểm khác biệt: Xét tuyển thông qua việc xét kết quả học tập, kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực của người dự tuyển
1.2.5.4 Thông báo kết quả tuyển dụng
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phê duyệt kết quả tuyển dụng và gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký, nội dung thông báo phải ghi rõ thời gian và địa điểm người trúng tuyển đến ký hợp đồng làm việc [24]
1.2.6 Tiêu chuẩn vị trí việc làm
Mỗi vị trí tuyển dụng đều có những yêu cầu, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất khác nhau Vì vậy, chính sách tuyển dụng viên chức ngoài việc đưa ra các yêu cầu chung thì cần phải đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với
từng vị trí việc làm Đó chính là khung năng lực cho các vị trí việc làm
Trang 111.2.7 Chính sách thu hút người lao động
Tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh và tình hình thực tế, ngành thông tin
và truyền thông sẽ có chính sách thu hút người lao động cụ thể cho từng thời kỳ nhằm đảm bảo cho ngành thông tin và truyền thông có đủ số lượng và chất lượng nguồn viên chức với cơ cấu phù hợp để thực hiện các công việc, mục tiêu, nhiệm
vụ của mình
1.2.8 Chế độ bố trí, sử dụng nguồn viên chức
Là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến chính sách tuyển dụng viên chức trong thông tin và truyền thông, là tiền đề vững chắc cho tuyển dụng viên chức trong ngành thông tin và truyền thông
1.2.9 Chính sách đào tạo và bồi dưỡng
Sau khi tuyển dụng được viên chức, các đối tượng có điều kiện để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ hay không? Đây là một nội dung rất quan trọng để ứng viên, đặc biệt là những ứng viên có trình độ chuyên môn cao, người tài năng quan tâm, xem xét có nên tham gia dự tuyển hay không
12.10 Chế độ đãi ngộ
Các chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với viên chức là một trong những yếu tố cốt lõi để thu hút được những ứng viên giỏi, phù hợp với yêu cầu công việc của ngành thông tin và truyền thông, gìn giữ và động viên họ thực hiện công việc tốt nhất
1.2.11 Môi trường và điều kiện làm việc
Người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt thường có mong muốn trước hết là được làm việc và cống hiến Chính vì vậy, tạo ra được môi trường làm việc hấp dẫn, thân thiện là vấn đề quan trọng để thu hút lực lượng này tham gia
1.3.2 Những yếu tố chủ quan
- Chính sách nhân sự của cơ quan;
- Môi trường văn hóa tổ chức;
- Tiềm lực tài chính;
- Năng lực công nghệ
1.4 Kinh nghiệm về chính sách tuyển dụng ở trong nước và quốc tế
1.4.1 Tuyển dụng theo tiêu chuẩn vị trí việc làm
1.4.2 Chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài
1.4.3 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng
Trang 12Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC
TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội là cơ quan truyền thông báo chí trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội Đài được thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1954 Ngày 25-8-1989, UBND Thành phố ra quyết định đổi tên Đài Phát thanh Hà Nội thành Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, chính thức ghi nhận Đài là tờ báo nói và tờ báo hình của Thành phố
Ngày 01/8/2008, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội và Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Tây hợp nhất thành Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội Như vậy, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội hiện có: 2 kênh truyền hình quảng bá (H1 và H2) với thời lượng 24 giờ/ngày; 1 kênh truyền hình cáp (HCaTV); 2 kênh phát thanh: 1 kênh FM 18 giờ 30’/ngày và 1 kênh phát thanh FM phát sóng 2 giờ/ngày; 1 trang báo điện tử; 1 tạp chí truyền hình; 1 mạng truyền hình cáp
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
- Ban Tổng giám đốc gồm có: Tổng giám đốc – Tổng biên tập và các Phó tổng giám đốc – Phó tổng biên tập
- Các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ và tương đương được chia làm 3 khối: Khối quản lý, khối biên tập, khối kỹ thuật
2.1.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đài được quy định cụ thể trong Quyết định 118/2009/QĐ-UBND ngày 17-12-2009 của UBND Thành phố Hà Nội
2.1.4 Đội ngũ viên chức của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
Tính đến hết năm 2015 viên tổng số viên chức, lao động hợp đồng của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội là 739 người Trong đó, số người đã vào viên chức là 572 người, chiếm tỷ lệ 77%, lao động hợp đồng là 167 người, chiếm tỷ lệ 23%
Trang 13Bảng 2.1 Thống kê số lượng viên chức Đài Phát thanh
và Truyền hình Hà Nội năm 2015
Theo chức danh nghề nghiệp
Chuyên viên chính, phóng viên
chính, biên tập viên chính, kỹ sư
chính
Chuyên viên, phóng viên, biên tập
viên, kỹ sư, phát thanh viên, quay
Nguồn: Phòng TCCB, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội
Theo độ tuổi: Viên chức dưới 30 tuổi là 102 người chiếm 17,8%, từ 30 đến
49 tuổi là 375 người chiếm 65,6%, từ 50 đến 60 tuổi là 95 người chiếm 16,6%
Theo trình độ chuyên môn: Trên đại học 48 người chiếm 8,4%, đại học
484 người chiếm 84,6%, cao đẳng 33 người chiếm 5,8%, trình độ khác 7 người (1,2%)
Theo chức danh nghề nghiệp: Chuyên viên chính, phóng viên chính, biên
tập viên chính, kỹ sư chính là 138 người chiếm 24,1%; Chuyên viên, phóng viên, biên tập viên, kỹ sư, phát thanh viên, quay phim là 385 người chiếm 67,3%; Kỹ thuật viên và tương đương là 18 người chiếm 3,2%; Nhân viên là 31 người chiếm 5,4%